Đề bài: Tìm hiểu về 3 nhạc sĩ là nghệ sĩ nhân dân (cuộc đời, sự nghiệp, các tác phẩm, được trao tặng nghệ sĩ nhân dân năm bao nhiêu ) Nghệ sĩ nhân dân Cao Việt Bách Nghệ sĩ nhân dân Viễn Châu Nghệ sĩ nhân dân Thanh Hải
Trang 1Đề bài: Tìm hiểu về 3 nhạc sĩ là nghệ sĩ nhân dân (cuộc đời, sự nghiệp,
các tác phẩm, được trao tặng nghệ sĩ nhân dân năm bao nhiêu )
BÀI LÀM
1) Nghệ sĩ nhân dân Cao Việt Bách
- Cuộc đời: Ông sinh tại thôn Nhân Dục, xã Hiến Nam, thị xã Hưng
Yên, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình cách mạng Cha ông là Tỉnh uỷ viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động từ những năm 1930, đã bị thực dân Pháp xử tử hình Năm 1952, ông được chuyển lên chiến khu Việt Bắc Khi 13 tuổi, ông được đưa sang học ở Lư Sơn, rồi đến Quế Lâm (Trung Quốc) Năm 1954, ông học trường Thiếu nhi Việt Nam ở Moskva Ngoài học văn hoá, ông tỏ ra có năng khiếu về âm nhạc Sau khi học hết phổ thông, năm 1959 ông vào học Khoa chỉ huy hợp xướng ở Nhạc viện Gnesin của Moskva Ngoài ra ông còn học thêm cả lí luận và sáng tác
- Sự nghiệp: Năm 1962, sau khi tốt nghiệp loại ưu và trở về nước, ông
tham gia chỉ huy dàn nhạc tại Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương (nay
là Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam) Năm 1969, ông chuyển sang chỉ huy dàn nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam cho đến khi về hưu
Với cương vị nhạc sĩ chỉ huy, ông có một cá tính chỉ huy rất riêng và rõ nét Ông đã điều khiển nhiều dàn nhạc lớn trên sân khấu cũng như trên sóng phát thanh và trên màn ảnh nhỏ Đáng kể nhất là nhạc kịch Phiđêliê do Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam dàn dựng Ông đã nhiều lần chỉ huy dàn nhạc đi biểu diễn tại nhiều nước như Liên Xô, Cuba, Indonesia, Campuchia Ông còn chỉ huy nhiều dàn nhạc kèn Trong liên hoan ca nhạc Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam do Bộ Văn hoá Thông tin, Hội Nhạc sỹ Việt Nam tổ chức vào
Trang 2năm 1994 tại Nhà hát lớn Hà Nội, ông là người chỉ huy dàn dựng hơn 1/3 trong chương trình gồm 80 ca khúc tiêu biểu Đóng góp lớn nhất của ông là việc chỉ huy dàn nhạc của Đài và giới thiệu, dàn dựng các chương trình trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam Ông được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú năm 1984 và Nghệ sĩ nhân dân năm 2001
Ngoài công việc chỉ huy, ông còn là một nhạc sĩ sáng tác nhiều ở cả hai lĩnh vực: khí nhạc và thanh nhac Ở khí nhạc, ngoài tác phẩm viết cho piano và dàn nhạc Bức tranh người Việt cổ, ông chủ yếu viết nhạc cho múa, sân khấu và điện ảnh
-Các tác phẩm : ông có nhiều ca khúc như: Gửi Huế thành phố thép
anh hùng, Mang hình Bác chúng ta lên đường, Vầng trán Bác Hồ, Cung đàn mùa xuân (thơ Lưu Trọng Lư), đặc biệt là ca khúc: Tiếng hát từ thành phố mang tên Người (thơ Đăng Trung) Ông còn viết một số ca khúc binh vận, kêu gọi người lính Việt Nam Cộng hoà như Thức tỉnh, Khi người chiến hữu, Hỏi người lính Cộng hoà đã được dịch sang tiếng Anh, cùng một số ca khúc
ca khúc thiếu nhi như Gặp bạn, Bé đi sơ tán, Bàn tay em, Hoa điểm 10, Em yêu mùa thu Ông còn viết hợp xướng: Mảnh đất quê hương, Rộn ràng tiếng trống Đông Xuân, Mặt em là quê hương (Hợp xướng không nhạc đệm)
-Vinh danh :Được trao tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân vào năm 2001 2) Nghệ sĩ nhân dân Viễn Châu :
- Cuộc đời,sự nghiệp : Ông tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh ngày 21
tháng 10 năm 1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Xuất thân trong gia đình vọng tộc, thân phụ là Hương cả[1], là con thứ sáu trong gia đình,
ông còn có tên là Bảy Bá theo thông lệ người miền Nam.
Thuở nhỏ, ông học quốc văn ở trường làng và học Hán văn với những bậc túc nho ở tại nhà Ngoài ra, khi còn học ở trường, ông đã mê đờn ca, cả
Trang 3tân lẫn cổ, thường có mặt trong các buổi đờn ca tài tử, hoặc cùng bạn bè tổ chức đờn ca Ông mày mò những ngón đờn học lỏm qua đĩa hát nhựa cũng như các nhóm đờn ca tài tử ở làng quê[1] Đến năm 19 tuổi, ông đàn thạo các loại đàn tranh, violon, guitar và được nhiều người khen ngợi
Năm 1942, ông tham gia Ban cổ nhạc Ðài Phát thanh Pháp Á Sài Gòn Tuy nhiên, dấu ấn đầu tiên trong sự nghiệp văn hóa nghệ thuật của ông là truyện ngắn đầu tay “Chàng trẻ tuổi” được đăng trên báo Dân Mới và bài thơ
“Thời mộng” được đăng trên báo Tổng xã mới trong năm đó
Cuối năm 1943, ông theo đoàn Tố Như lưu diễn Hai tháng sau, ông tham gia gánh ca kịch của Năm Châu ra Hà Nội lưu diễn Trên bước đường nghệ thuật của mình, ông có cơ hội tiếp xúc với các nghệ sĩ tài danh bấy giờ như Năm Châu, Lê Hoài Nở, Trần Hữu Trang, Duy Lân và học hỏi được nhiều kỹ năng về tư duy sáng tác
Tuy nhiên, "chuyến lưu diễn" của ông nhanh chóng kết thúc khi đoàn vừa về tới Sài Gòn thì một người anh kế của ông là Huỳnh Thanh Tòng bắt ông về quê, không cho theo đoàn hát nữa
Năm 1945, Pháp nổ súng tái chiếm Đông Dương Bấy giờ, ông đã viết
vở cải lương đầu tay “Hồn chiến sĩ”, với nội dung cổ vũ cho cuộc Kháng chiến chống Pháp Vở tuồng đã được Ủy ban Kháng chiến hành chánh quận Trà Cú (lúc bấy giờ là quận Trần Chí Nam) tổ chức biểu diễn bán vé để góp quỹ kháng chiến
Năm 1946, Tại Sài Gòn, ông bí mật hoạt động cho Ban công tác thành ở Sài Gòn Không lâu sau, ông bị người Pháp bắt giữ cùng với 4 người khác để khai thác Mặc dù không đủ bằng chứng kết tội, ông vẫn bị giam giữ mà không xét xử, sau đó bị đày đi an trí ở Cẩm Giang (Tây Ninh)
Trang 4Mãi đến cuối năm 1949, ông mới được trả tự do Ông mới trốn thoát và
trở lại Sài Gòn, lại tìm đến đoàn Con Tằm với cái tên mới Trương Văn Bảy Năm 1950, ông viết vở cải lương “Nát cánh hoa rừng” với bút danh Viễn Châu, phóng tác từ truyện đường rừng của Khái Hưng Đây là vở cải lương
đầu tiên của ông được đoàn Việt kịch Năm Châu trình diễn trên sân khấu đại ban tại Sài Gòn cũng trong năm 1950, được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt
Từ đó, tên tuổi Viễn Châu bắt đầu được giới mộ điệu chú ý Các tác phẩm biểu diễn đàn tranh của ông được nhiều hãng đĩa thu thanh và phát hành liên tục Đương thời, ngón đờn tranh Bảy Bá được xem là một trong 3 ngón đờn cổ nhạc đã được giới mộ điệu đánh giá cao và coi như bậc thầy là Năm
Cơ (đàn sến) - Bảy Bá (đàn tranh) - Văn Vỹ (guitar phím lõm) Ngoài đoàn Việt kịch Năm Châu, ông còn cộng tác với các đoàn hát
Sau năm 1975, ông cộng tác với Đoàn Văn công (1975), hãng băng Sài Gòn Audio (1978) và nhiều đoàn hát ở các tỉnh Năm 1984, ông cùng đoàn nghệ thuật 284 lưu diễn ở các nước Tây Âu như: Đức, Bỉ, Pháp, Ý
Cả cuộc đời ông từ năm 1950 trở đi toàn tâm ý dồn hết cho nghệ thuật cải lương Mặc dù tuổi cao và bệnh trọng, nhưng ông vẫn miệt mài sáng tác Ông đang hoàn tất quyển hồi ký về cuộc đời và sự nghiệp của mình
-Những tác phẩm : Hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác
phẩm đồ sộ Trên 50 vở cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu đại ban và trên 2000 bản vọng cổ đã được các hãng đĩa, băng thu thanh và phát hành Toàn bộ tác phẩm đều đã được đăng ký bản quyền.Dưới đây chỉ là một
số tác phẩm tiêu biểu
+)Tuồng cải lương :Nát cánh hoa rừng,Tình mẫu tử,Đời cô Nga,Sau bức màn nhung,Bông ô môi, Chuyện tình Hàn Mặc Tử, Chuyện tình Lan và
Trang 5Điệp,Quân vương và thiếp, Qua cơn ác mộng.Nợ tình,Hoa Mộc Lan,Con gái Hoa Mộc Lan,Hai nụ cười xuân,Ai điên ai tỉnh
+)Bản vọng cổ :Tình anh bán chiếu, Sầu vương ý nhạc,Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài,Tần Quỳnh khóc bạn, Lá trầu xanh, Lòng dạ đàn bà,Lan và Điệp,Hàn Mặc Tử,Tâm sự Mai Đình,Tâm sự Mộng Cầm, Xuân đất khách,Tu là cội phúc,Gánh nước đêm trăng, Đêm khuya trông chồng, Mẹ dạy con, Phạm Lãi biệt Tây Thi, Phàn Lê Huê,Tự Đức khóc Bằng Phi, Ai ra xứ Huế,…
-Vinh danh : Ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ
sĩ Ưu tú năm 1988 và Nghệ sĩ Nhân dân năm 2012 để tôn vinh những đóng góp và thành tựu nghệ thuật của ông
3) Nghệ sĩ nhân dân Thanh Hải :
- Cuộc đời, sự nghiệp :NSND - nhạc sĩ Thanh Hải tên thật là Nguyễn Kim Hải, sinh năm 1957, sinh ra và lớn lên tại TP Hải Phòng (1957) trong
một gia đình có truyền thống nghệ thuật, nhưng anh có nhiều cơ hội thành danh thì ở TPHCM Sau ngày miền Nam giải phóng, anh theo soạn giả Trần Nam Dân và nhạc sĩ Trần Kiết Tường vào Nam (Đài TNVN II) công tác Vừa vào TPHCM, anh tìm đến hai danh cầm cổ nhạc đương thời của miền Nam, nhạc sĩ Văn Vĩ và Văn Giỏi là hai thần tượng của anh và nhiều danh cầm khác nữa Anh đã có dịp tiếp cận để học hỏi các danh cầm : NSƯT - nhạc sĩ Bảy
Bá (Tranh), Văn Vĩ, Văn Giỏi (Guitar), Năm Cơ (Sến), Hai Thơm (Violon) Anh bắt đầu bước vào SKCL chuyên nghiệp (1978) qua các đoàn : Văn công TPHCM, 284 rồi về Nhà hát CL Trần Hữu Trang cho đến nay Anh là một nhạc sĩ cải lương có khá nhiều biệt tài sáng tạo trong quá trình lớn lên với nghề
Về tân nhạc (nhạc quãng tám) anh đã tự mày mò học hỏi rồi hòa âm phối khí nhiều chương trình dân ca và đã sáng tác thành công nhạc nền cho hàng
Trang 6chục vở cải lương: sân khấu, truyền hình, phát thanh, video Là một trong những nhạc sĩ đầu tiên đờn vọng cổ, cải lương bằng nhạc khí Organ (sử dụng cần Pel) rất hiệu quả Đặc biệt, trong khoảng thời gian (1977-1989) anh và danh cầm Văn Giỏi kết thành liên danh “Văn Giỏi - Thanh Hải” - trong các chương trình ca nhạc cải lương của Đài TNND – TPHCM và để lại ấn tượng đẹp trong lòng công chúng cho đến bây giờ Tiêu biểu nhất là giai điệu Vọng Kim Lang do anh và nhạc sĩ Văn Giỏi cải biên, nhiều đài phát thanh đã chọn lớp đầu của giai điệu này để làm nhạc hiệu cho chương trình ca nhạc cải lương Từ năm 1984 đến năm 1998, anh còn được mời đi biểu diễn nhiều nước trên thế giới như : Đức, Pháp, Bỉ, Úc
Ngoài việc đảm nhận vai trò nhạc sĩ chính của Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang, Thanh Hải còn làm giám khảo cho nhiều cuộc thi cải lương có uy tín của cả nước Ngoài ra, anh cũng đảm nhận việc giảng dạy, rèn ca, luyện nghề những giọng ca trẻ của lớp trung cấp diễn viên thuộc Nhà hát Trần Hữu Trang, Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật TP.HCM, Trường ĐH Sân khấu điện ảnh
- Các tác phẩm :
Các vở sân khấu cải lương: Đời cô Lựu, Thượng Dương hoàng hậu, Lục Vân Tiên…
Ông sáng tác khoảng 20 ca khúc mang âm hưởng dân ca, trong đó có các điệu lý mới như : Lý mỹ hưng, Lý trăng soi, Lý tương phùng, Lý qua cầu, Lý đêm trăng, Lý bông trang
- Vinh danh : tài năng của nhạc sĩ Thanh Hải đã được khẳng định với
danh hiệu NSND do Nhà nước trao tặng năm 2012 Tiếng đàn của nhạc sĩ Thanh Hải điêu luyện qua rất nhiều loại nhạc cụ tân lẫn cổ Đặc biệt, anh là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Việt Nam đàn vọng cổ, cải lương bằng nhạc khí organ (sử dụng cần Pel) rất hiệu quả