Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộ
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH PHỐ HIẾN TỈNH HƯNG YÊN
Cơ sở lý luận
Một số khái niệm cơ bản
Di sản văn hóa
Luật Di sản văn hóa Việt Nam định nghĩa:
“Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của một cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới; Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; Luật này quy định về di sản văn hóa” [21;tr5].
Trang 2Luật Di sản văn hóa (2009) được Quốc hội nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua số 32/2009/QH12ngày 18 tháng 6 năm 2009 quy định tại điều 1:
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và disản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất cógiá trị lịch sử văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trịlịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm các di tích lịch sử vănhóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm gắn với cộngđồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa có liênquan; có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắccộng đồng, không ngừng tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề,trình diễn và các hính thức khác
Dù vậy, sự phân biệt các loại di sản trên chỉ mang tínhchất tương đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêngcủa từng di sản Trên thực tế thì yếu tố vật thể và phi vật thểgắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trịcủa một di sản Khi đó, di sản văn hóa phi vật thể là linh
Trang 3hồn, là cốt lõi, biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vậtthể; còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể tồntại như là biểu hiện vật chất của di sản phi vật thể ấy.
Ngoài ra, người ta phân loại di sản văn hóa căn cứ trêngiá trị của di sản để phân biệt chúng thành những nhóm disản có giá trị đặc biệt quan trọng hay mức độ quan trọngcấp quốc tế, có giá trị cấp quốc gia và di sản có giá trị cấpđịa phương
Đặc trưng nhất của di sản văn hóa là tính truyền thống,được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không chỉ
di sản văn hóa vật thể mà cả những giá trị di sản phi vật thểcũng được lưu truyền lại cho thế hệ sau bằng mô phỏng,phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản cũ
Khi thời gian và năm tháng qua đi, nhiều di tích đượcngười xưa để lại bị mai một, xuống cấp, có những di tíchbiến mất do ảnh hưởng của khí hậu, chiến tranh,…vì vậyvấn đề đặt ra là xây dựng các chính sách phù hợp để bảo tồn
di tích ở trong nước nói chung, của khu di tích Phố Hiến nóiriêng
b Quản lý di sản văn hóa
Trang 4Quản lý di sản văn hóa tại Việt Nam đã được quy địnhrất rõ ràng tại chương V luật Di sản văn hóa bao gồm 15điều, từ điều 54 đến điều 68 và được chia thành 4 mục:
Mục 1: Nội dung quản lý Nhà nước và cơ quan quản
lý Nhà nước về di sản văn hóa, gồm 3 điều từ điều 54 đếnđiều 56 Trong đó điều 54 quy định rõ ràng nội dung quản
lý Nhà nước về di sản văn hóa:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch
kế hoạch chính sách và phát triển sự nghiệp bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hóa; Ban hành và tổ chức thực hiệncác văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; tuyêntruyền phổ biến, giáo dục huy động quản lý, sử dụng cácnguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa; Tổ chứcchỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị disản văn hóa; Tổ chức và hợp tác quốc tế về bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểm tra việc chấphành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý viphạm pháp luật về di sản văn hóa Điều 55, 56 quy địnhtrách nhiệm của Chính phủ, Bộ Văn hóa Thể thao và Dulịch, các cơ quan thuộc chính phủ UBND các cấp trong việcquản lý nhà nước về di sản văn hóa
Trang 5Mục 2: Nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ, phát huygiá trị di sản văn hóa, gồm 6 điều từ điều 57 đến điều 62,quy định những nội dung:
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các hội
về văn học và nghệ thuật, khoa học và công nghệ tham giacác hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo vệ di sản văn hóa;nguồn tài chính chính sách nhà nước đầu tư ngân sách, huyđộng các nguồn lực xã hội hóa cho các hoạt động bảo vệ vàphát huy giá trị di tích; việc thu phí tham quan và lệ phí sửdụng di tích, sưu tập, bảo tàng theo quy định của pháp luật;chính sách khuyến khích tổ chức các cá nhân đóng góp tàitrợ; quản lý và sử dụng đúng mục đích và có hiệu quảnguồn tài chính cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hóa,…
Mục 3: Hợp tác quốc tế về di sản văn hóa, gồm 3 điều
từ điều 63 đến điều 65 quy định về chính sách và biện phápđẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế với các nước và tổ chức,
cá nhân nước ngoài tham gia các hoạt động bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hóa Việt Nam theo quy định của phápluật
Trang 6Mục 4: Thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo về di sảnvăn hóa, gồm 3 điều từ điều 66 đến điều 68, quy định nhiệm
vụ của thanh tra Nhà nước về VHNT thực hiện chức năngthanh tra chuyên ngành về di sản văn hóa; quyền và nghĩa
vụ của thanh tra; quyền khiếu nại, khởi kiện và tố cáo đốivới quyết định hành chính, hành vi hành chính của tổ chức
cá nhân; thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo
Như vậy mà nói, quản lý Nhà nước về di sản văn hóa
là sử dụng cơ chế, chính sách thông qua bộ máy quản lý tácđộng có tính chất định hướng tới cộng đồng xã hội nhằmđạt tới mục tiêu đề ra mà không làm thay và đặc biệt không
khoán trắng cho dân
Tác giả Farooq Haq-John Jackson cho rằng “Khách dulịch tâm linh là đối tượng đi đến một nơi cụ thể ngoài môitrường sinh sống của mình với ý định gia tăng ý nghĩa cho
Trang 7đời sống tinh thần; có thể họ có tôn giáo hoặc không tôngiáo, thông qua chuyến đi họ có trải nghiệm với môi trường
tự nhiên tại điểm đến nhưng được đặt trong bối cảnh có sựliên hệ với một đấng nhân vật năng quyền nào đó”[34;tr142]
Tại Việt Nam, có thể nhắc đến khái niệm du lịch tâmlinh của tác giả Nguyễn Văn Tuấn “Xét về nội dung và tínhchất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình dulịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừalàm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của conngười trong đời sống tinh thần Theo cách nhìn nhận đó, dulịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trongquá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giátrị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thànhnhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đứctin, tôn giáo tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệtkhác Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc vàtrải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trongkhi đi du lịch”[30;tr1]
Từ các quan điểm trên có thể nhận định du lịch tâmlinh là một hình thức biểu hiện của du lịch văn hóa Các giátrị văn hóa tâm linh là yếu tố cốt lõi để hình thành nên các
Trang 8hoạt động du lịch và sản phẩm du lịch phục vụ cho dukhách Thông qua việc thụ hưởng các giá trị văn hóa tâmlinh, du khách sẽ hình thành nên những suy nghĩ tích cựchướng đến sự cần bằng và phát triển tinh thần.
Khái niệm du lịch tâm linh mà tác giả Nguyễn VănTuấn đưa ra, có nét tương đồng với nhóm tác giả NguyễnTrọng Nhân- Cao Mỹ Khanh, cụ thể hai tác giả này chorằng: “Phát triển du lịch văn hóa tâm linh ngoài mang lạicác lợi ích về kinh tế, xã hội, văn hóa cho nơi đến nhưnhững loại hình du lịch khác, còn giúp những người thựchiện chuyến du lịch hướng tinh thần của mình lên cao trongviệc tìm kiếm mục đích cao cả và những giá trị có khả năngnâng cao phẩm giá cho cuộc sống và bản thân họ nếu sựphát triển du lịch diễn ra đúng hướng”[20;tr122]
Gần đây nhất, có thể nhắc đến khái niệm du lịch tâmlinh của tác giả Hồ Kỳ Minh, Hồ Kỳ Minh cho rằng: “Dulịch tâm linh hiện nay được thể hiện trên nhiều cung bậc,nhiều dạng Dạng thứ nhất, đó là những hoạt động thamquan, vãn cảnh tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Đây làdạng hẹp nhất, chưa thể hiện được ý nghĩa của loại hình dulịch này, nhưng lại là hoạt động phổ biến nhất hiện nay.Dạng thứ hai được mở rộng hơn với cách hiểu là tìm đến
Trang 9các địa điểm, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh thamquan vãn cảnh thì còn để cúng bái, cầu nguyện Dạng này
có mở rộng hơn nhưng mới chỉ phù hợp với những đốitượng theo tôn giáo, tín ngưỡng Dạng thứ ba có mục đíchchính là tìm hiểu các triết lý, giáo pháp khiến cho con ngườitrầm tĩnh, để tâm hồn thư thái, cải thiện sức khỏe và cảmnhận chính bản thân mình”[16;tr5]
Từ khái niệm du lịch của Hồ Kỳ Minh, có thể thấy cáchình thức của du lịch tâm linh được phân cấp thông quamức độ tham quan của du khách Nền tảng để có thể hìnhthành và phát triển du lịch tâm linh là các sơ sở tôn giáo, tínngưỡng Nói cách khác, giá trị cốt lõi để xây dựng hoạtđộng du lịch tâm linh là các sơ sở tín ngưỡng tôn giáo Dukhách có thể thực hiện các hoạt động được phân cấp từ thấpđến cao tại các sơ sở tôn giáo này bao gồm: Ngắm, nhìn,thực hiện nghi thức tôn giáo; tìm hiểu và vận dụng các triết
lý và niềm tin tôn giáo để hoàn thiện đời sống tinh thần vànâng cao thể chất cho bản thân Mặt khác, có thể thấy,không gian chứa đựng các giá trị văn hóa tâm linh bao gồmcác nhà thờ, thánh đường, thánh tích, đình, chùa, miếu,phủ… Các công trình này một mặt chứa đựng các giá trịvăn hóa tâm linh, một mặt lưu giữ các giá trị nghệ thuật
Trang 10kiến trúc đặc sắc,ấn tượng Liên kết các giá trị vật chất vàcác giá trị tinh thần thông qua các lễ hội gắn liền với niềmtin tôn giáo, tín ngưỡng và đức tin Du khách vừa có cơ hộitìm hiểu, vừa có cơ hội thực hành nghi lễ, đây là một yếu tốrất quan trọng để sản phẩm du lịch tâm linh trở nên ấntượng.
Như vậy, du lịch tâm linh thực chất là một hình thứcbiểu hiện của du lịch văn hóa Các giá trị văn hóa tínngưỡng, tôn giáo là nền tảng quan trọng để hình thành vàphát triển du lịch tâm linh Mục đích của du khách có thểchia thành nhiều thang bậc nhưng đều có nền tảng chung là
sự tôn kính niềm tin với một lực lượng siêu nhiên gắn liềnvới không gian văn hóa tín ngưỡng xác định Trải nghiệmcủa du khách sẽ đem lại ý nghĩa quan trọng nhằm nâng caonhận thức, sự hiểu biết hoặc gia tăng niềm tin cho chínhmình hoặc du khách kỳ vọng nhiều hơn về mặt đạt được sứcmạnh trí lực và thể lực
d Khái quát du lịch tâm linh tại Việt Nam
Đặc điểm du lịch tâm linh Việt Nam
Tổng cục du lịch Nguyễn Văn Tuấn cho rằng: “Du lịch tâm linh lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống
Trang 11tinh thần Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong quá trình phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại” Qua đó có thể hình
dung ban đầu du lịch tâm linh là một biểu hiện của du lịchvăn hóa
Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn thì du lịch tâm linh tạiViệt Nam có những đặc trưng khá riêng biệt, cụ thể:
Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin, tại ViệtNam Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùngtồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao Đài,Hòa Hảo,… Triết lý phương Đông, đức tin, giáo pháp,những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế,công trình tôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòathánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các ditích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh
Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờcúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có
Trang 12công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch vềcội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với các bậc sinh thành
Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt độngthể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng,thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng vàtiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền pháiTrúc Lâm Yên Tử
Ngoài ra du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có nhữnghoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền
bí[30;tr2]
Từ nội hàm quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Tuấn,thấy được du lịch Việt Nam có tính đặc sắc và hấp dẫn, cótính đặc trưng độc đáo Lý giải điều này bằng cách, du lịchtâm linh mang tính chất đặc thù địa phương vì thường gắnliền với văn hóa tộc người Bởi mỗi cộng đồng dân tộc lại
có những biểu hiện văn hóa riêng thông qua việc tổ chứcđời sống, sản xuất và sinh hoạt tinh thần
Do đó, đặc điểm dễ dàng nhận thấy, du lịch tâm linh
có tính mùa vụ rõ nét bởi bất cứ tôn giáo và tín ngưỡng nàođều có những sự kiện lớn trong năm Trở thành mùa cao
Trang 13điểm, kèm theo nhiều tính toán kỹ càng cho hoạt động dulịch.
Đến với du lịch tâm linh, khách du lịch có thành phần
đa dạng từ mức chi trả thấp đến chi trả cao Riêng đối vớikhách du lịch ra nước ngoài thường là khách có khả năngchi trả cao và khi họ hoàn thành chuyến đi họ có nhữngniềm tin và vị thế phát triển một cách vượt trội trong cộngđồng có niềm tin về tôn giáo
Đối với du khách tham gia tuyến du lịch tâm linh có
sự phân hóa theo đặc điểm tôn giáo của họ Nếu như đoàn
du khách có cùng một niềm tin tôn giáo và có mục đíchthực hành nghi lễ tôn giáo thì tuyến du lịch đó có bản chất
là du lịch chuyên đề Từ đó, mâu thuẫn về niềm tin tôn giáotrong chuyến đi rất hạn chế Ngược lại nếu đoàn du kháchtham gia vào hoạt động du lịch tâm linh không có nhu cầuthực hành nghi lễ, chỉ dừng lại ở mức độ tham quan, tìmhiểu thì lúc này du lịch tâm linh là một biểu hiện thườnggặp của loại hình văn hóa và có thể kết hợp nhiều điểmtham quan tương đồng hoặc khác biệt trong chuyến đi
Đặc điểm cuối cùng dễ nhận ra rằng du lịch tâm linh
có mục đích hướng thiện, tích cực nhằm điều chỉnh thái độ,nhận thức và hành vi của người tham gia
Trang 14Thực tiễn du lịch tâm linh tại Việt Nam
Với sự xuất hiện dày đặc của các công trình tôn giáotín ngưỡng Việt Nam có lợi thế lớn trong việc phát triển dulịch tâm linh Hiện nay, tại Việt Nam xuất hiện nhiều hìnhthức du lịch tâm linh: tham quan và tìm hiểu các công trìnhkiến trúc tín ngưỡng tôn giáo, tham dự vào các sự kiện lễhội gắn liền với niềm tin tín ngưỡng và tôn giáo; du lịchhành hương, du lịch thiền, hay du lịch tâm linh tưởng nhớcác anh hùng dân tộc
Vào dịp Tết Đinh Dậu 2017 được nghỉ 7 ngày, lại sátvới Tết dương lịch Theo ghi nhận tại các công ty du lịch:Saigontourist- chi nhánh Hà Nội Viettran tour,Hanoitourist, Hanoi Restour, APT Travel, TransViet,Golddentourr… lượng khách đăng lý tour du lịch tâm linh,
lễ hội lại tăng mạnh với khoảng 30% so với cùng kỳ nămngoái Điển hình như Yên Tử (Quảng Ninh) thu hút hơn 1triệu lượt khách, chùa Hương (Hà Nội), chùa Bái Đính(Ninh Bình) đón hàng trăm lượt du khách[1]
Từ đó có thể thấy được, du lịch tâm linh đóng một vaitrò rất quan trọng trong loại hình du lịch văn hóa ở nước ta.Với thế mạnh sẵn có Việt Nam hoàn toàn có thể khai thác
và phát triển du lịch tâm linh sao cho gia tăng lợi ích kinh tế
Trang 15nhưng vẫn cần đảm bảo hài hòa về vấn đề bảo tồn cảnhquan thiên nhiên và các giá trị văn hóa xã hội.
Nội dung quản lý của nhà nước
Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là dấu tích, vết tích còn lại.Mỗi đất nước đưa ra những khái niệm về di tích lịch sử vănhóa của dân tộc mình, có hàm nghĩa khá phong phú
Điều 1, Hiến chương Vermice quy định: “DTLS-VH bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố về lịch sử” [33;tr12].
Ở Việt Nam có nhiều khái niệm quy định về
DTLS-VH, theo từ điển Bách Khoa ghi rằng: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa-lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [8;tr667].
Theo Luật di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXHchủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sungLuật Di sản văn hóa 2009 quy định:
Trang 16“DTLS-VH là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [15;tr13] Trong
đó danh lam thắng cảnh được hiểu là “là cảnh quan thiênnhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiênnhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹkhoa học” Cổ vật được hiểu là “là hiện vật được lưu truyềnlại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từmột trăm năm tuổi trở lên” Bảo vật quốc gia được hiểu “làhiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếmtiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học”
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về di tích lịch sửvăn hóa, nhưng các khai niệm đó đều có một điểm chung đólà: “Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụthể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hìnhcủa lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử
để lại” [2;tr17]
Từ khái niệm của các tác giả, nhà nghiên cứu đi trước,chúng tôi nhận thức về DTLSVH như sau: “DTLSVH là tàisản quý giá của dân tộc, là bộ phận cấu thành của di sản vănhóa dân tộc và nhân loại, có đặc trưng phản ánh văn hóadân tộc qua các thời kỳ lịch sử, được các thế hệ đi trước
Trang 17sáng tạo và bảo vệ gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước”
Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chiathành 3 loại:
-Di tích quốc gia đặc biệt
-Di tích quốc gia
-Di tích cấp tỉnh
Các di tích được hình thành từ hoạt động lao độngsáng tạo của con người trong quá trình dựng nước và giữnước, tuy phong phú về loại hình nhưng đều dưới dạng vậtchất cụ thể Trải qua thăng trầm của thời gian để tồn tại đếnngày nay đều mang những giá trị nhất định
Quản lý di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của
di sản văn hóa dân tộc Đó là lịch sử còn lại qua thời gian,
là nguồn sử liệu trực tiếp, cung cấp những thông tin quantrọng để khôi phục các thời kì phồn thịnh của một quốc gia
Đó là những tài sản quý giá mà cha ông ta đã để lại cho hậuthế, qua di tích lịch sử văn hóa, chúng ta hiểu sâu sắc hơn
về bản sắc cũng như lịch sử tồn tại của dân tộc
Trang 18Nhà văn hóa Đặng Văn Bài cho rằng: Về bản chất,quản lý di sản văn hóa là quản lý các hoạt động của conngười/ cộng đồng xã hội (nghiên cứu, kiểm kê, xếp hạng, tu
bổ, tôn tạo, phát huy giá trị…) có thể tác động ở cả haichiều thuận và nghịch tới di sản văn hóa Như vậy cũng cóthể hiểu quản lý di sản văn hóa là thiết lập mối quan hệ gắn
bó giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cộng đồngdân cư địa phương nơi có di sản cần được bảo vệ, phát huy
Từ nội hàm khái niệm trên có thể khái quát rằng: Quản
lý di sản văn hóa là việc cơ quan quản lý nhà nước địnhhướng, điều tiết và khuyến khích tạo điều kiện để tổ chứcđiều hành các hoạt động bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sửvăn hóa, làm cho các giá trị của di tích được bảo tồn và pháthuy theo chiều hướng tích cực phù hợp với bối cảnh xã hộicũng như chuẩn mực văn hóa dân tộc
Nội dung quản lý di tích quốc gia đặc biệt
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô cùng quý báu màcha ông ta đã để lại cho hậu thế Vì vậy gìn giữ DTLS-VHchính là tiếp tục kế thừa những truyền thống tốt đẹp của chaông đó là việc quan trọng và cần thiết Đảng và nhà nước đãban hành và hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp luật
Trang 19Tại Điều 54, Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001,nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và pháthuy giá trị của di sản văn hóa
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạmpháp luật về di sản văn hóa
Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giátrị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục phápluật về di sản văn hóa
Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản vănhóa
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa
Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giảiquyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sảnvăn hóa
Trang 20Điều 55, Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 quyđịnh:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản vănhóa
Bộ VHTT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về di sản văn hóa
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
có trách nhiệm quản lý về di sản văn hóa theo phân côngcủa Chính phủ
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ VHTT để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ vàquyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về disản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ
Năm 2009, Quốc hội đã chủ động rà soát và ban hànhLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóanăm 2001
Ngoài ra, để tiến hành công tác quản lý dựa vào cácvăn bản của Chính phủ như:
Trang 21Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18-9-2012 củaChính phủ về việc Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tụclập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồiDTLSVH, danh lam thắng cảnh; Nghị định này có hiệu lực
từ ngày 15-11-2012 thay thế Quyết định số BVHTT ngày 6-2-2003 về bảo quản, tu bổ và phục hồi ditích văn hóa, danh lam thắng cảnh; Nghị định 158/2013NĐ-
05/2003/QĐ-CP ngày 12-11-2013 quy định xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực văn hóa, thể thao , du lịch, quảng cáo trong
đó có quy định chi tiết mức xử phạt những vi phạm quyđịnh về bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLSVH
Các văn bản của Bộ Văn hóa thông tin và du lịch:Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của
Bộ trưởng Bộ VHTT (nay là BộVHTTDL) phê duyệt quyhoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH vàdanh lam thắng cảnh đến năm 2020; Thông tư số13/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2010 của Bộ VHTTDLquy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốcgia; Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011của Bộ VH,TT,DL về hồ sơ khoa học để xếp hạngDTLSVH; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28-12-2012 của Bộ VHTTDL về quy định chi tiết một số quy
Trang 22định về bảo quản,tu bổ, phục hồi di tích Thông tư số20/2012/TT-BVHTTDL ngày 28-12-2012 của VHTTDLquy định về hồ sơ và thủ tục gửi, nhận gửi tư liệu di sảnVHPVT, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Thông tư này cóhiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2013 quy định về điều kiệnnăng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân thamgia lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, báo cáokinh tế-kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, thẩmquyền thẩm định hồ sơ thiết kế tu bổ thi công tu bổ di tích.Thông tư 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 của BộVHTTDL Hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự
án, báo cáo kinh tế-kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi ditích
Các văn bản của tỉnh Hưng Yên: Nhận thức được giátrị to lớn và tầm quan trọng của hệ thống di tích nói chung,
hệ thống di tích Phố Hiến nói riêng trong sự nghiệp pháttriển xây dựng tỉnh
Vì vậy, tỉnh Hưng Yên đã ban hành các văn bản liênquan đến hoạt động quản lý DTLSVH trên địa bàn tỉnh như:
Ngày 17-6-1997, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hànhNghị quyết số 05/NQTV về việc tiếp tục xây dựng đời sốngvăn hóa cơ sở, đẩy mạnh cuộc vận động nếp sống văn minh,
Trang 23xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa trong đó có nhiệm
vụ và nội dung: “Chú ý tu bổ, tôn tạo các DTLSVH, tổ chứcquản lý các lễ hội, động viên, giáo dục mọi người giữ, bảo
vệ di tích lịch sử, cảnh quan văn hóa của mỗi địa phương”.Ngày 25-7-1997, UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 28/CT-UBND về quản lý, bảo vệ và sử dụng DTLSVH, danh lamthắng cảnh Ngày 28-5-1999, UBND tỉnh ban hành Quyếtđịnh số 949/1999/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh HưngYên về việc thành lập Ban quản lý di tích và danh thắng;Ngày 31-8-2004, Ban Thường Vụ Tỉnh ủy ban hànhChương trình hành động số 99/CTr-TU về tiếp tục thực hiệnNghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) với 8 nội dung trong
đó có 3 nội dung về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của disản; Ngày 31-8-2004, UBND tỉnh ban hành Quyết định số2142/2004/QĐ-UB về việc ban hành quy chế xếp hạng ditích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp tỉnh; Ngày11-01-2005 ,UBND tỉnh ban hành Quyết định số 01/2005/QĐ-UB về việc kiện toàn Bàn quản lý di tích và danh thắngtrực thuộc Sở VHTT tỉnh Hưng Yên; Ngày 23-11-2016UBND tỉnh ban hành Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND vềviệc Ban hành quy định quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảovật quốc gia trên địa bàn tỉnh; Ngày 06-10-2016, UBNDtỉnh ban hành quyết định số 145/2016/QG-UBND về việc
Trang 24phê duyệt Đề án đầu tư tu bổ, chống xuống cấp di tích xếphạng cấp tỉnh, cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giaiđoạn 2016-2020; Ngày 28-7-2017, UBND tỉnh ban hànhQuyết định số 2156/QĐ-UBND về việc thành lập Ban quản
lý Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến
Tóm lại, những văn bản trên chính là việc cụ thể hóanhững chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và củatỉnh, là cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành công tác quản
lý di tích lịch sử tỉnh Hưng Yên nói chung và Khu di tíchPhố Hiến nói riêng
Trang 25Đã từ lâu, vấn đề hình thành, tồn tại của đô thị cổ PhốHiến là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứuhàng đầu tìm hiểu và thảo luận Đặc biệt, năm 1992 một hộithảo quy mô quốc tế được tổ chức tại thành phố Hưng Yênnhằm tìm ra câu trả lời chính xác nhất về lịch sử hình thành,tồn tại, phát triển và nguyên nhân suy tàn của của Phố Hiếnxưa Nhiều quan điểm cho rằng Phố Hiến xuất hiện vàokhoảng những năm 1471 (thế kỷ XV) khi vua Lê ThánhTông đặt ra 12 Thừa tuyên và các Thừa ty, Hiến ty nhưngluận điểm này còn cần nhiều bằng chứng xác thực Nhưng
có thể nói, Phố Hiến từ thế kỷ X đến trước thế kỷ XVII lànơi tập trung của cư dân vùng nam Trung Quốc và các vùnglân cận về đây sinh sống và có thể đây là tiền đề cho mộtPhố Hiến phồn thịnh sau này
Phố Hiến xưa nằm ở tả ngạn sông Hồng cách kinhthành Thăng Long khoảng 55km theo đường sông, từ kinhthành Thăng Long xuôi dòng để đến được Phố Hiến - HưngYên mất khoảng 2 ngày đường, ngược dòng lên mất khoảng
3 ngày đường vì tính chất địa hình phức tạp của sông Hồng
Từ Phố Hiến có thể dễ dàng đi lại các tuyến giao thông như
từ sông Hồng đi đến sông Thái Bình, Nam Định, HảiDương… Phố Hiến là nơi trung chuyển, chi phối các
Trang 26chuyến hàng từ vùng biển Bắc Bộ đi đến kinh thành ThăngLong qua các tuyến sông Đáy, sông Hồng, sông Thái Bình.
Thế kỷ XVII là thời gian Phố Hiến được cho là pháttriển nhất, nơi đây vô cùng sầm uất kẻ bán người mua từtrong nước như các cảng Hội Triều (Thanh Hóa), Càn Hải,Hội Thống (Nghệ An), và cũng là nơi trao đổi hàng hóa vớicác nước Phương Tây như: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh,Pháp,… cùng các nước lân cận như Nhật Bản, Trung Quốc,Philippin… và chịu sự chi phối rất lớn từ những thị trườngnày cũng như các thị trường phương Đông khác
Quang cảnh Phố Hiến được người dân nơi đây truyềntụng câu nói “Thượng chí Tam đằng, hạ chí Tam Hoa” (TamĐằng gồm: Đằng Man, Đằng Châu và Xích Đằng; Tam Hoagồm: Hoa Cái, Hoa Dương và Hoa Điền) Trên bia đá chùaThiên Ứng (năm 1625) và bia đá chùa Chuông (năm 1711)ghi tên 25 phường, thị của Phố Hiến, trong đó có nhữngphường làm nghề thủ công như: Thợ Nhuộm, Nồi Đất,Thuộc Da, Sơn Nón… và những phường buôn: Hàng thịt,Hàng chén… còn tư liệu phương Tây xác nhận Phố Hiến cónhiều thương thuyền ngoại quốc cập bến và có nhiềuthương điếm của người phương Tây được thành lập như:Thương điếm Hà Lan (1637 - 1700), thương điếm Anh
Trang 27(1672 - 1683), thương điếm Pháp (1680)… Theo thươngnhân Wiliam Dampier ghi nhận (năm 1688): Phố Hiến cótới 2000 ngôi nhà, có đồn binh Các tài liệu khác cũng ghinhận sự có mặt của nhiều người Nhật, người Bồ Đào Nha,người Hoa Phố Hiến có phường, có chợ, có bến có thươngđiếm nước ngoài điều đó cho thấy Phố Hiến là một đô thịcảng sông thời Trung đại khá hoàn chỉnh (ville – port), có tínhchất, đặc thù riêng và dần đô thị hóa như những đô thị khác ởphương Đông Đầu thế kỷ XVII người Nhật đóng vai trò rấtquan trọng và chi phối thị trường Phương Đông, cùng với
đó là hoạt động buôn bán của các nước phương Tây và cácnước phương Đông như Xiêm, Mã Lai, Manila… Về saukhi Mạc phủ Nhật cấm xuất dương từ năm 1636 thì ngườiNhật dần mất đi vị thế, với số lượng người Hoa đông đảo cómặt từ sớm và tham gia nhiều hoạt động kinh tế và dần chiphối thị trường đông nhất là vùng Phúc Kiến với 14 dòng
họ dần hòa nhập vào cộng động người Việt gọi là MinhHương Hàng hóa chủ yếu được nhập khẩu gồm nhiều loạinhư mỹ phẩm, vũ khí, thuốc súng ,đồng, vàng, đồ sứ, hàngvải… Các mặt hàng xuất khẩu như tơ sống, đồ gốm sứ, đồ
gỗ sơn, tơ tằm…
Trang 28Nửa cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, Phố Hiến dầndần suy tàn, số lượng thuyền buôn giảm dần với nhiều lý dokhác nhau trong đó sự thay đổi thị trường đặc biệt khi chịuảnh hưởng của Nhật Bản Chiến tranh Trịnh - Nguyễn, cáccuộc khởi nghĩa đã không cho phép Phố Hiến buôn bán nhưxưa và không phải là lựa chọn hàng đầu của thương nhânnước ngoài Trong đó quan trọng nhất là sự thay đổi dòngchảy của sông Hồng, Phố Hiến ngày càng cách xa sôngHồng (khoảng 2km), chính điều này đã làm mất đi vị thếđắc lợi vốn có trước đây và Phố Hiến dần trở nên lặng lẽtrong dòng chảy lịch sử.
Phố Hiến nay
Hiện nay, Phố Hiến - Hưng Yên là quần thể di tích lớnthứ hai cả nước Phố Hiến – Hưng Yên nằm ở tọa độ20031’-20043’ vĩ Bắc, 106002’-106006’ kinh Đông Ngày
19 tháng 1 năm 2009, Chính phủ ra Nghị định số 04/NĐ-CPthành lập thành phố Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng Yên trên cơ
sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hànhchính trực thuộc thị xã Hưng Yên cũ Thành phố Hưng Yên
có diện tích tự nhiên 4.685,51 ha, 121.486 nhân khẩu với 17đơn vị hành chính, gồm 7 phường (Lê Lợi, Quang Trung,Minh Khai, Lam Sơn, Hiến Nam, An Tào, Hồng Châu) và