Ví dụ, cấu trúc liên kết của một website có thể được biểu diễn bằng một đồ thị có hướng như sau: các đỉnh là các trang web hiện tại có tại website, tồn taị một cạnh có hướng nối từ trang
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
- -ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÊN ĐỀ TÀIXÂY DỰNG BÀI TOÁN GHÉP ĐÔI KHÔNG TRỌNG SỐ
Họ và tên:
Chuyên nghành: Công nghệ thông tin Lớp: cntt
Khoá: 2016-2020 Hướng dẫn: Tiến sỹ
Hà Nội, 12/2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Đồ án tốt nghiệp “ Xây dựng bài toán ghép đôi không trọng số “ này là công trình nghiên cứu của cá nhân em, được thực hiện trên cơ
sở nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng , dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Minh Hoàn , Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Em xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2020 Tác giả
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành bài nghiên cứu này, em xin chân thành cám ơn Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Phòng đào tạo, các thầy, cô giáo giảng dạy lóp Công nghệ thông tin 58B đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong thời gian theo học tại trường
Đặc biêt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Minh Hoàn, người
đã dành nhiều thời gian, tam huyết hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đồ án
Mặc dù đã cố gắng hết sức hoàn thiện luận văn, tuy nhiên chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cám ơn !
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2020
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay việc giải quyết các bài toán lớn cho hệ thống đòi hỏi
sự hợp tác chặt chẽ giữa các chuyên gia trong các lĩnh vực chuyên
môn, như các chuyên gia Toán, Toán ứng dụng và các chuyên gia Tin
học, kỹ sư lập trình Việc thiết lập được một mô hình hợp lý, phản ánh
đƣợc bản chất của bài toán thực tế đồng thời khả thi về phương diện
tính toán luôn là điều đáng được quan tâm
Đặc biệt trong các chuyên ngành liên quan thì toán học là chuyên
ngành rất được quan tâm, một trong số đó là Lý thuyết đồ thị Đồ thị
biểu diễn được rất nhiều cấu trúc, nhiều bài toán thực tế có thể được
biểu diễn bằng đồ thị Ví dụ, cấu trúc liên kết của một website có thể
được biểu diễn bằng một đồ thị có hướng như sau: các đỉnh là các
trang web hiện tại có tại website, tồn taị một cạnh có hướng nối từ
trang A tới trang B khi và chỉ khi A có chứa 1 liên kết tới B Do vậy, sự
phát triển của các thuật toán xử l đồ thị là một trong các mối quan tâm
chính của khoa học máy tính
Mặc dù Lý thuyết đồ thị đã được khoa học phát triển từ rất lâu
nhưng có nhiều ứng dụng hiện đại , đặc biệt là các thuật toán trên đồ thị
đã có nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như : Mạng máy
tính, Lý thuyết mã, Tối ưu hoá, Kinh tế học Những ý tưởng cơ bản
của lý thuyết đồ thị được nhà toán học Thụy sỹ Leonhard Euler đưa ra
từ thế kỷ 18 Ông đã dùng lý thuyết đồ thị để giải quyết bài toán cầu
Konigsberg nổi tiếng
Đồ thị cũng được dùng để giải nhiều bài toán thuộc những lĩnh
vực rất khác nhau như : người ta có thể dùng đồ thị để biểu diễn sự
cạnh tranh của các loài trong môi trường sinh thái, dùng đồ thị biểu
Trang 6diễn ai có ảnh hưởng đến ai trong một tổ chức nào đó và cũng có thể
dùng đồ thị để giải các bài toán như bài toán tính số các tổ hợp khác
nhau của các chuyến xe giữa hai thành phố trong một mạng giao thông,
bài toán đi tham quan tất cả các phố của một thành phố sao cho mỗi
phố đi qua đúng một lần, hay bài toán tìm số màu cần thiết để tô các
vùng khác nhau của một bản đồ, Đồ thị với các trọng số được gán cho
các cạnh của nó có thể dùng để giải các bài toán như bài toán tìm
đường đi ngắn nhất giữa hai thành phố trong một mạng giao thông, bài
toán phân công lao động sao cho tổng lợi nhuận thu được là lớn nhất
Đặc biệt, nhiều bài toán trong thực tế sử dụng mô hình đồ thị và các
thuật toán trên đồ thị được giải quyết rất hiệu quả như: bài toán điều
hành taxi, bài toán xếp lớp học theo tín chỉ có thể đưa về mô hình bài
toán tìm bộ ghép cực đại trên đồ thị và sử dụng các thuật toán tương
ứng
Chính vì đồ thị có thể được sử dụng để giải quyết nhiều bài toán
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau một cách dễ dàng và phổ biến như vậy
nên đồ thị giữ một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt
là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, dựa vào đồ thị và các thuật toán
trên đồ thị người ta có thể xây dựng nên các phần mềm hữu ích giải các
bài toán thực tế một cách nhanh chóng và tối ưu
Nhận thấy tính thiết thực của vấn đề này và được sự gợi ý của
giảng viên hướng dẫn, tôi đã chọn nội dung nghiên cứu về ―Bài toán
ghép đôi không trọng số trên đồ thị, ứng dụng giải một số bài toán
trong thực tế.” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình Báo cáo
được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết đồ thị và độ phức tạp thuật toán
Trang 7Chương 3: Ứng dụng bài toán ghép đôi trong thực tế
Trang 8CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỒ THỊ VÀ ĐỘ PHỨC TẠP
Trang 9Định lý: giả sử G = (V, E) là đồ thị vô hướng với m cạnh, khi đó tổng tất cả các
bậc đỉnh trong V sẽ bằng 2m:
Đối với đồ thị có hướng G = (V, E) Xét một cung e ϵ E, nếu e = (u, v) thì ta nói u nối tới v và v nối từ u, cung e là đi ra khỏi đỉnh u và đi vào đỉnh v Đỉnh u khi đó được gọi là đỉnh đầu, đỉnh v được gọi là đỉnh cuối của cung e
Với mỗi đỉnh v trong đồ thị có hướng, ta định nghĩa : Bán bậc ra của v ký hiệu deg+(v) là số cung đi ra khỏi nó; bán bậc vào ký hiệu deg(-v) là số cung đi vào đỉnh đó
Định lý: giả sử G = (V, E) là đồ thị có hướng với m cung, khi đó tổng tất cả các
Như vậy, theo định nghĩa trên, trong một đơn đồ thị không thể có
các cặp cạnh nối cùng một cặp đỉnh (do E là tập hợp nên không thể có
2 cặp trùng nhau), các cạnh đều không phân biệt thứ tự nên cạnh [u,v]
và cạnh [v,u] đều được coi là một cạnh duy nhất, điều này phù hợp với
việc biểu diễn các con đường 2 chiều, và hiển nhiên là không có cặp
[u,u] nào đó trong E
Trang 10Ví dụ
a) Đơn đồ thị vô hướng b) Không phải đơn đồ c) Không phải đơn đồ thị vô
thị vô hướng do có các hướng do có cạnh nối mộtcặp cạnh nối cùng một đỉnh với chính nó
cặp đỉnh
Tuy nhiên, trên thực tế, cũng có thể trong một hệ thống giao
thông vẫn tồn tại nhiều con đường đi nối cùng hai địa điểm, hoặc cũng
có thể có một con đường để đi từ một địa điểm nào đó rồi lại quay về
chính nó (đây có thể là một con đường nội bộ của một trung tâm mua
sắm, …) Khi đó, tính chất của đơn đồ thị vô hướng nhất định nghĩa
trên không cho phép n biểu diễn được hệ thống giao thông trong
trường hợp này Muốn vậy, ta phải dùng một loại đồ thị tổng quát hơn,
đó là: đa đồ thị vô hướng
Trang 11e
- Các cạnh nối cùng một cặp đỉnh được gọi là các cạnh song song
- Các cạnh nối từ một đỉnh với chính nó được gọi là khuyên
chất vô hướng (hai chiều) của các cạnh Trong thực tế, cũng có khi ta
phải chú trọng đến tính có hướng của các cạnh nối này (chẳng hạn như
biểu diễn các con đường một chiều) Từ đó, ta có thêm loại đồ thị: Đơn
đồ thị có hướng và đa đồ thị có hướng Về cơ bản, hai loại này cũng
tương tự như hai loại mà ta định nghĩa ở trên, chỉ thêm sự khác biệt là
Trang 12a) Đơn đồ thị có b) Không phải đơn đồ thị c) Không phải đơn đồ thị có
nối một cung nối cùng một cặp đỉnh với chính nó.
đỉnh
Định nghĩa 4:
Đa đồ thị có hướng là một bộ G = <V, E>, trong đó
- V ≠ là tập hợp hữu hạn gồm các đỉnh của đồ thị
- E là một họ các cặp cạnh thứ tự của V gọi là các cung
Các cung nối cùng một cặp đỉnh được gọi là các cung song song
Ví dụ
e1
e
a) Đa đồ thị có hướng: e1 và e2 là các b) Đa đồ thị có hướng: e
là cung song song khuyên
Định nghĩa 5:
Trang 13Hình 6: Đơn đồ thị vô hướng
+ Cho đồ thị vô hướng G = <V,E>
- Hai đỉnh u và v của đồ thị được gọi là kề nhau nếu (u,v) là một cạnh của
đồ thị
- Nếu e = (u,v) là cạnh của đồ thị thì ta nói cạnh này là liên thuộc với hai
đỉnh u và v Cạnh được nói là nối đỉnh u và v Đỉnh u và v được gọi là
đỉnh đầu của cạnh e
+ Cho đồ thị vô hướng G = <V,E> Bậc của đỉnh v trong đồ thị, kí hiệu
là deg(v), là số cạnh liên thuộc với n Đỉnh có bậc 0 được gọi là đỉnh cô
Trang 14- Bậc của các đỉnh:
- deg(1) = 3 deg(2) = 4 deg(3) = 1
- deg(4) = 3 deg(5) = 3 deg(6) = 0
- Đỉnh 3 là đỉnh treo
- Đỉnh 6 là đỉnh cô lập
+ Cho G = <V,E> là đồ thị vô hướng Khi đó ta có tổng số bậc của các
đỉnh của đồ thị sẽ bằng hai lần số cạnh của n Nói cách khác, ta có:
∑deg (v) =2|E|
vV
-Trong đồ thị vô hướng, số đỉnh bậc lẻ là một
số chẵn
+ Cho đồ thị có hướng G = <V,E>
- Hai đỉnh u và v của đồ thị được gọi là kề nhau nếu (u,v) là một cung
của đồ thị
- Nếu e=(u,v) là cung của đồ thị thì ta nói cung này đi ra khỏi đỉnh u
và đi vào đỉnh v Đỉnh u được gọi là đỉnh đầu của cung e và đỉnh v
được gọi là đỉnh cuối của cung e
+ Cho đồ thị có hướng G=<V,E>
- Bán bậc ra của đỉnh v trong đồ thị, ký hiệu là deg+(v), là số cạnh đi
ra khỏi v
- Bán bậc vào của đỉnh v trong đồ thị, ký hiệu là deg- (v), là số cạnh
vào v
Trang 15- Bán bậc ra: deg+(1)=2 deg+(2)=2 deg+(3)=1
deg+(4)=1 deg+(5)=2 deg+(6)=2
- Bán bậc vào: deg-(1)=1 deg-(2)=2 deg-(3)=2
deg-(4)=2 deg-(1)=2 deg-(1)=1
Tương tự như đồ thị vô hướng, đối với đồ thị có hướng ta cũng
có kết quả gần tương tự về bậc của các đỉnh của đồ thị
+ Cho G = <V,E> là đồ thị có hướng Tổng bán bậc ra của các đỉnh
bằng tổng bán bậc vào của các đỉnh và bằng số cạnh của đồ thị
∑deg+(v)=deg-(v)=|E|
Trang 16vV vV
+ Đồ thị vô hướng G = <V,E> được gọi là liên thông nếu luôn tìm
được đường đi giữa hai đỉnh bất kỳ của n
1.1.3 Biểu diễn đồ thị trên máy tính
Lý thuyết đồ thị được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác
nhau Để sử dụng được đồ thị hiệu quả và nhanh chóng hơn, chúng ta
phải biểu diễn và xử lý được đồ thị với máy tính Cách biểu diễn thông
thường bằng hình vẽ và mô tả tập hợp sẽ không phải hợp với cách thức
lưu trữ dữ liệu và xử lý trên máy tính Chúng ta phải tìm một cấu trúc
dữ liệu thích hợp để biểu diễn đồ thị trên máy tính
Có nhiều phương pháp khác nhau để biểu diễn đồ thị trên máy tính
Sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu một số phương pháp thông dụng
1.1.3.1 Danh sách cạnh
Trong trường hợp đồ thị có n đỉnh, m cạnh, ta có thể biểu diễn đồ thị
dưới dạng danh sách cạnh, trong cách biểu diễn này, người ta liệt kê tất
cả các cạnh của đồ thị trong một danh sách, mỗi phần tử của danh sách
là một cặp (u, v) tương ứng với một cạnh của đồ thị (Trong trường hợp
đồ thị có hướng thì mỗi cặp (u, v) tương ứng với một cung, u là đỉnh
đầu và v là đỉnh cuối của cung) Danh sách được lưu trong bộ nhớ dưới
dạng mảng hoặc danh sách móc nối
Ví dụ với đồ thị dưới đây:
Trang 17Ví dụ biểu diễn đồ thị danh sách cạnh
Ưu điểm của danh sách cạnh:
• Trong trường hợp đồ thị thưa (có số cạnh tương đối nhỏ: chẳng hạn
m < 6n), cách biểu diễn bằng danh sách cạnh sẽ tiết kiệm được không
gian lưu trữ, bởi nó chỉ cần 2m ô nhớ để lưu danh sách cạnh
• Trong một số trường hợp, ta phải xét tất cả các cạnh của đồ thị thì cài đặt
trên danh sách cạnh làm cho việc duyệt các cạnh dễ dàng hơn (Thuật
toán Kruskal chẳng hạn)
Nhược điểm của danh sách cạnh:
• Nhược điểm cơ bản của danh sách cạnh là khi ta cần duyệt tất cả các
đỉnh kề với đỉnh v nào đó của đồ thị, thì chẳng có cách nào khác là phải
Trang 18Sử dụng danh sách liền kề để biểu diễn đồ thị không có cạnh bội.
Danh sách này chỉ rõ các đỉnh nối với mỗi đỉnh của đồ thị
Ví dụ biểu diễn đồ thị danh sách liền kề
Ưu điểm của danh sách kề:
• Đối với danh sách kề, việc duyệt tất cả các đỉnh kề với một đỉnh v cho
trước là hết sức dễ dàng, cái tên "danh sách kề" đã cho thấy rõ điều
này Việc duyệt tất cả các cạnh cũng đơn giản vì một cạnh thực ra là nối
một đỉnh với một đỉnh khác kề n
Nhược điểm của danh sách kề
• Về lý thuyết, so với hai phương pháp biểu diễn trên, danh sách kề tốt
hơn hẳn Chỉ có điều, trong trường hợp cụ thể mà ma trận kề hay danh
sách cạnh không thể hiện nhược điểm thì ta nên dùng ma trận kề (hay
Trang 19Giả sử G = (V, E) là một đồ thị đơn trong đó |V| = n và các đỉnh
được liệt kê tuỳ v1,…,vn Ma trận liền kề A của G ứng với danh sách
1 Đối với đồ thị vô hướng G, thì ma trận liền kề tương ứng là ma
trận đối xứng (aij = aji), điều này không đúng với đồ thị có hướng
Trang 202 Nếu G là đồ thị vô hướng và A là ma trận liền kề tương ứng thìtrên ma trận A:Tổng các số trên hàng i = Tổng các số trên cột i =Bậc của đỉnh i = deg(i)
3 Nếu G là đồ thị có hướng và A là ma trận liền kề tương ứng thìtrên ma trận A:
• Tổng các số trên hàng i = Bán bậc ra của đỉnh i = deg+(i)
• Tổng các số trên cột i = Bán bậc vào của đỉnh i = deg-(i) Trong trường hợp G là đơn đồ thị, ta có thể biểu diễn ma trận liền kề A tương ứng là các phần tử logic.Aij = TRUE nếu (i, j) E và aij = FALSE
nếu (i, j) ∉ E
Ưu điểm của ma trận liền kề:
• Đơn giản, trực quan, dễ cài đặt trên máy tính
• Để kiểm tra xem hai đỉnh (u, v) của đồ thị có kề nhau haykhông, ta
chỉ việc kiểm tra bằng một phép so sánh: auv ≠ 0
Nhược điểm của ma trận liền kề:
• Bất kể số cạnh của đồ thị là nhiều hay ít, ma trận liền kềluôn luôn đòi
hỏi n2 ô nhớ để lưu các phần tử ma trận, điều đó gây lãng phí bộ nhớ
dẫn tới việc không thể biểu diễn được đồ thị với số đỉnh lớn
Với một đỉnh u bất kỳ của đồ thị, nhiều khi ta phải xét tất cả các đỉnh v khác kề với nó, hoặc xét tất cả các cạnh liên thuộc với n Trên ma trận
liền kề việc đó được thực hiện bằng cách xét tất cả các đỉnh v và kiểm
tra điều kiện auv ≠ 0 Như vậy, ngay cả khi đỉnh u là đỉnh cô lập (không
Trang 21V3 e 8
kề với đỉnh nào) hoặc đỉnh treo (chỉ kề với 1 đỉnh) ta cũng buộc phải
xét tất cả các đỉnh và kiểm tra điều kiện trên dẫn tới lãng phí thời gian
1.1.3.4 Ma trận liên thuộc
Giả sử G = (V, E) là một đồ thị vô hướng, v1, v2, vn là tập các
đỉnh còn e1, e2, , em là tập các cạnh của nó Khi đó ma trận liên thuộc
theo thứ tự trên của V và E là ma trận M = [mij] trong đ :
mij = 1 nếu cạnh ej nối với đỉnh vi
mij = 0 nếu cạnh ej không nối với
Trang 22Ví dụ biểu diễn đồ thị ma trận liên thuộc
1.2 Độ phức tạp tính toán và tính hiệu quả của thuật toán
1.2.1 Định nghĩa thuật toán
Thuật toán là một dãy hữu hạn các bước, mỗi bước mô tả chính
xác các phép toán hoặc hành động cần thực hiện để cho ta lời giải của
bài toán
- Thao tác, hay còn gọi là tác vụ, phép toán ( Operation ) hay
lệnh (Command), chỉ thị (Instruction) là một hành động cần được thực
hiện bởi cơ chế thực hiện thuật toán
Mỗi thao tác biến đổi bài toán từ một trạng thái trước (hay trạng
thái nhập) sang trạng thái sau (hay trạng thái xuất).Thực tế mỗi thao tác
thường sử dụng một số đối tượng trong trạng thái nhập (các đối tượng
nhập )và sản sinh ra các đối tượng mới trong trạng thái xuất (các đối
tượng xuất) Quan hệ giữa 2 trạng thái xuất và nhập cho thấy tác động
của thao tác Dãy các thao tác của thuật toán nối tiếp nhau nhằm biến
đổi bài toán từ trạng thái ban đầu đến trạng thái kết quả
Mỗi thao tác có thể phân tích thành các thao tác đơn giản hơn
Trình tự thực hiện các thao tác phải được xác định rõ ràng trong thuật
toán Cùng một tập hợp thao tác nhưng xếp đặt theo trình tự khác nhau
sẽ cho kết quả khác nhau
1.2.2 Phân tích độ phức tạp của thuật toán
Trong khi giải một bài toán có thể có một số giải thuật khác
nhau, vấn đề là cần phải đánh giá các giải thuật đó để lựa chọn một giải
thuật tốt nhất Thông thường người ta căn cứ vào các tiêu chuẩn sau: