Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việ
Trang 1Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây toàn ngành Giáo dục đang đẩy mạnh thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước thành những con người chủ động, tích cực, sáng tạo Có như vậy mới có được những thế hệ đủ sức đảm đương gánh vác những trọng trách của đất nước trong thời kì mới, thời kì hội nhập, thời kì mà nền kinh tế tri thức giữ vai trò chủ đạo
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên và học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm, học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
Với mục tiêu chuyển từ việc dạy học tiếp cận cận nội dung sang dạy học phát triển năng lực, những người trực tiếp đứng lớp làm nhiệm vụ giảng dạy trong thời gian gần đây được ngành giáo dục quan tâm, tạo điều kiện học hỏi, nắm bắt nhiều phương pháp giảng dạy mới để thực hiện mục tiêu nêu trên Thế nhưng không phải một sớm một chiều đội ngũ chúng ta dễ dàng vận dụng hiệu quả Hơn nữa, ngày càng nhiều phương pháp tổ chức dạy học được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới cũng như trong nước nên việc tìm hiểu, học hỏi để vận dụng là thường xuyên Trong nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học theo yêu cầu đổi mới mà chúng ta
đang vận dụng thì dạy học tích cực là một trong những yêu cầu được thực hiện từ
nhiều năm học trước Phương pháp dạy và học tích cực đề cập đến các hoạt động
Trang 2dạy và học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bới giáo viên, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo
Trong dạy và học tích cực, hoạt đông học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao Phương pháp dạy và học tích cực không phải là một phương pháp dạy học cụ thể, mà là một khái niệm, bao gồm nhiều phương pháp, hình thức kĩ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hoá, tăng cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa khả năng học tập năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, từ đó sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Như vây, dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực hoạt động của người học và tính nhân văn của giáo dục
Với mong muốn tìm hiểu phương pháp dạy học tích cực và vận dụng vào quá trình giảng dạy của bản thân để thực hiện hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy
học tôi chọn đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán cấp THPT” làm đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tích cực
- Tìm hiểu một số phương pháp dạy học tích cực
- Thiết kế một số bài học có sử dụng phương pháp dạy học tích cực để giảng dạy môn Toán lớp 10, 11, 12 tại trường THPT Lê Lợi Tân kỳ
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Học sinh và giáo viên giảng dạy môn Toán bậc THPT trên địa bàn
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán cấp THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên cứu tôi
đã sử dụng các nhóm phương pháp sau:
- Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm có liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra (nghiên cứu chương trình, hồ sơ chuyên môn,…)
- Phương pháp đàm thoại phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm
Trang 31.1.1.2 Tính tích cực học tập
Thuật ngữ “tích cực học tập” đã nói lên ý nghĩa của nó đó chính là những gì diễn ra bên trong người học Quá tình học tập tích cực nói đến những hoạt động chủ động của chủ thể - về thực chất là tích cực nhận thức, đặt trưng ở khác vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Tính tích cực trong học tập nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao kết quả học tập
Tính tích cực học tập liên quan trước hết tới động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tự giác, hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực học tập có quan hệ chặt chẽ với tư duy độc lập Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, học tập độc lập, tích cực sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và nuôi dưỡng động
cơ học tập
Một số đặc điểm cơ bản thể hiện tính tích cực học tập của học sinh:
- Có hứng thú và tập trung chú ý tới bài học/ nhiệm vụ học tập
- Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đối thảo luận, ghi chép
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ và có sáng tạo trong quá trình học tập
- Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
- Biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
Các biểu hiện của học tích cực:
- Tìm tòi, khám phá, tiến hành thí nghiệm…
- Phân tích, so sánh, thực hành, kiểm tra và xây dựng
- Giải thích, trình bày, thể hiện, hướng dẫn, giúp đỡ, làm việc chung
- Thử nghiệm, giải quyết vấn đề, phá bỏ làm lại…
Trang 41.1.1.3 Phương pháp dạy và học tích cực:
Thuật ngữ “Phương pháp dạy và học tích cực” được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục/ dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Phương pháp dạy và học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi giáo viên, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo
Trong dạy và học tích cực, hoạt đông học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mực độ cao Phương pháp dạy và học tích cực không phải là một phương pháp dạy học cụ thể, mà là một khái niệm, bao gồm nhiều phương pháp, hình thức kĩ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hoá, tăng cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa khả năng học tập năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Như vây, dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực hoạt động của người học và tính nhân văn của giáo dục
Bản chất của dạy và học tích cực là:
- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt cho họ thích ứng với đời sống xã hội
Trong dạy và học tích cực, mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh có thể được thể hiện qua sơ đồ:
Trong bối cảnh của thời kì đổi mới, giáo dục cần phải phát triển để đáp ứng yêu cầu của xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy và học như sau:
- Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học là dạy cách học
- Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của người học
- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương tiện
Giảng viên/Giáo viên Tác động qua lại trong môi trường giáo dục an toàn
Học sinh Học sinh
Trang 51.1.2 Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực như thế nào?
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực (dạy học tích cực) chính là phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh Nói cách khác là “dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm”
Trong dạy và học tích cực, dưới sự thiết kế, tổ chức, định hướng của giáo viên, người học được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện các giải pháp và rút ra kết luận Quá trình đó giúp người học lĩnh hội nội dung học tập đồng thới phát triển năng lực sáng tạo
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực có nghĩa là hoạt động học tập phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động hợp tác, trong mối quan hệ tương tác giữa thầy trò, trò với trò trong môi trường học tập thân thiện, an toàn
Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên đóng vai trò người tổ chức hướng dẫn, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng, có kĩ năng
sư phạm, đặc biệt phải có tình cảm nghề nghiệp thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tính tích cực mới đạt hiệu quả
Hoạt động của giáo viên và học sinh trong dạy học tích cực được thể hiện ở sơ đồ:
Vai trò của người dạy và người học trong dạy và học tích cực
Mục đích của dạy học tích cực so với dạy học thụ đông là:
- Học có hiệu quả hơn, bài học phải sinh động hơn
- Quan hệ của giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh phải tốt hơn
- Hoạt động học tập phải phong phú hơn, học sinh được hoạt động nhiều hơn
- Giáo viên có nhiều cơ hội giúp đỡ học sinh hơn
- Quan tâm nhiều hơn tới sự phát triển cá nhân, tính sáng tạo…của người học Trong hệ thống các phương pháp dạy học không có phương pháp nào là phương pháp hoàn toàn thụ động và phương pháp hoàn toàn tích cực Đổi mới phương
Trang 6pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà vấn đề là
ở chỗ giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học như thế nào để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh Điều đó đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn, năng động, sáng tạo trong việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học một cách phù hợp có hiệu quả Tuy nhiên, cho dù lựa chọn phương pháp dạy học nào thì vẫn cần phải tạo điều kiện cho người học được khám phá, chủ động sáng tạo trong việc tìm kiếm kiến thức, giải quyết vấn đề, gắn kiến thức với thực tiễn…Một số kĩ thuật và phương pháp dạy học được giới thiệu trong tài liệu này có thể minh chứng cho điều đó
1.1.3 Điều kiện đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực đòi hỏi người dạy phải biết kế thừa, phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm của các phương pháp dạy học truyền thống và cập nhật các phương pháp dạy học hiện đại sao cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy học của nhà trường, của địa phương
Các điều kiện để thực hiện dạy học tích cực:
- Nâng cao trình độ, năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên/ giảng viên sư phạm
- Điều chỉnh chương trình và sách giáo khoa cho phù hợp với thực tế giáo dục,
điều kiện hoàn cảnh địa phương
- Đảm bảo có đủ đồ dùng dạy học tối thiểu, trang thiết bị và cơ sở vật chất theo quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Đổi mới kiểm tra đánh giá
- Nâng cao trình độ, năng lực quản lí của đội ngũ cán bộ quản lí, đổi mới công tác
chỉ đạo quản lí các cấp
Như vậy, nói đến điều kiện đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, cần nhấn mạnh đến vai trò của giáo viên, có thể nói giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục
Yêu cầu đối với giáo viên trong dạy và học tích cực:
Trách nhiệm và lương tâm của người thầy
- Có thái độ tích cực, thân thiện với học sinh, có nhạy cảm sư phạm tốt
- Linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng các phương pháp dạy học, tổ chức các hoạt động dạy học đảm bảo sự tương tác giữa người dạy và người học, giữa người học với người học
Đáp ứng sự đa dạng của dạy và học tích cực
- Hiểu rõ bản chất của việc dạy và học tích cực
- Có năng lực chuyên môn vững vàng
- Có thái độ coi trọng sự khác biệt của người học và có khả năng tổ chức các hoạt động dạy học đáp ứng khả năng/ năng lực của người học
Trang 71.1.4 Sự khác nhau giữa học thụ động và học tích cực
Học thụ động và học tích cực được phân biệt dựa vào cách thức hướng dẫn của giáo viên và mức độ tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học
- Hướng dẫn của giáo viên - Hướng dẫn của giáo viên
mang tính áp đặt mang tính áp đặt
- Học sinh ít tích cực - Học sinh tự lực và tích cực hơn
Dạy học tích cực
Theo mô hình dạy và học thụ động là sự truyền thụ một chiều mang tính thông báo đồng loạt, giáo viên là chủ thể củ hoạt động, là người truyền đạt “mang” kiến thức, “đố” kiến thức cho người học Phương tiện dạy học là bảng, phấn, cách dạy phổ biến là “đọc” – “chép” Người học lĩnh hội kiến thức một cách thụ động, một chiều Phương pháp dạy học này kèm theo cách đáng giá với yêu cầu ghi nhớ, tái hiện lại, nhắc lại kiến thức nhận được từ giáo viên Điều đó dẫn người học đến cách học phù hợp đó là học thuộc lòng, học “vẹt”, học đối phó, học để thi…Giáo
Trang 8viên giữ vai trò độc quyền trong đánh giá, do đó người học ít có cơ hội phát triển, thể hiện năng lực sáng tạo của mình
Dạy và học tích cực, là sự tương tác đa chiều giữa người dạy và người học, giữa người học với người học trong môi trường học tập an toàn Người học là chủ thể của hoạt động, được tạo điều kiện để chủ động khám phá, tìm kiếm kiến thức thông qua những tình huống, những nhiệm vụ thực tiễn cụ thể, đa dạng sinh động Thay cho học thiên về lí thuyết, người học được trải nghiệm, khám phá kiến thức qua hành động học qua “làm”, kiến thức sẽ được khắc sâu và bền vững Câu nói dưới dây thể hiện điều đó:
1.1.5 Học tập tích cực mang tính hình thức và học tập tích cực thực sự
Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều giáo viên đã cố gắng tạo điều kiện để học sinh tích cực học tập, được nói nhiều hơn được làm việc nhiều hơn Tuy nhiên nếu đánh giá một cách nghiêm túc thì phần lớn mới chỉ là những biểu hiện tích cực mang tính hình thức bên ngoài, Học sinh đã tích cực thực hiện nhiệm vụ theo sự điều khiển của giáo viên, Nhưng chưa chủ động và thiếu sự sáng tạo, còn mang tính dập khuôn, máy móc Học tập như vậy là Học tập tích cực mang tính hình thức Học tập tích cực thực sự thể hiện ở mức độ tham gia, tích cực chủ động và sáng tạo của người học trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập
Biểu hiện của học tập tích cực hình
thức Biểu hiện của học tập tích cưc thực sự
1 Học sinh giơ tay phát biểu, nhưng theo
phong trào Khi yêu cầu trả lời thì im
1 Học sinh hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên và bổ sung câu trả lời của bạn,
Trang 9lặng, hoặc tìm sự trợ giúp, hoặc trả lời
không đúng nội dung câu hỏi chỉ ra những chỗ được; chưa được và nêu lý do, nguyên nhân chưa được Có
thể trả lời chưa hoàn toàn đúng nhưng thể hiện sự tích cực tham gia vào hoạt động
2 Tham gia các hoạt động, nhưng ít tư
duy động não
2 Học sinh thích thú tham gia vào các hoạt động Suy nghĩ, trao đổi, thảo luận, thực hành, thao tác với đồ dùng học tập
để lĩnh hội kiến thức
3 Thiếu tập trung vào các nội dung trong
giờ học ít hứng thú với nhiệm vụ được
giao
3 Tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành nhiệm vụ được giao
4 Ít đặt câu hỏi với giáo viên và với bạn
về nội dung bài học
4 Hay hỏi bạn và giáo viên về nội dung bài học
5 Chỉ một số thành viên (nhóm
trưởng,thư ký) làm việc, các thành viên
khác không làm việc, thường ngồi chơi,
xem, quan sát bạn làm
5 Trao đổi cùng nhau, có sự phân công
cụ thể cho mọi thành viên tham gia thực sự vào các hoạt động, ý kiến cá nhân được tôn trọng và đi đến thống nhất ý kiến
6 Kết qủa học tập chưa cao, thiếu tính
chủ động, phụ thuộc nhiều vào giáo viên
6 Học sâu, học thoải mái, tính độc lập cao, không chờ đợi, lệ thuộc vào sự giúp
đỡ của giáo viên
1.1.6 Giáo án trong dạy và học thụ động và kế hoạch bài học trong dạy và học tích cực
Giáo án hay Kế hoạch bài học đều là công việc chuẩn bị của người giáo viên
trước khi lên lớp Soạn giáo án là thuật ngữ được dùng trước khi đổi mới phươg pháp dạy học Cấu trúc của giáo án tuân thủ chặt chẽ theo 5 bước lên lớp của giáo viên
Thiết kế kế hoạch bài học là thuật ngữ được sử dụng khi thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, là bản thiết kế những hoạt động học tập mà học sinh cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu của bài học dưới sự điều khiển, hướng dẫn tổ chức của giáo viên
Giáo án trong dạy học
- Nêu nhiệm vụ công việc cần
làm của giáo viên và học sinh
- Ví dụ: Giúp học sinh hiểu
được khái niệm về không khí
- Là đích của bài học, học sinh cần đạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong và sau khi học bài học
Ví dụ: Học sinh trình bày được khái niệm về không khí
Trang 10- Mục tiêu bài học được xác
định một cách chung chung căn
cứ vào nội dung sách giáo khoa
- Các mục tiêu cần đạt của học
sinh chưa được lượng hóa , khó
quan sát được và không “cân,
đong, đo, đếm được”
- Mục tiệu của bài học đuợc xác định căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ cần được hình thành trong chương trình giáo dục
- Các mục tiêu được biểu đat bằng các động từ hành động cụ thể, có thể lượng hoá và quan sát “đo” “đếm” được
học, các hình thức, các kĩ thuật
dạy học thường đơn điệu, chủ
yếu là “đọc” “chép” thuyết
trình
- Liệt kê đồ dùng dạy học cho giáo viên
và cho cá nhân và nhóm học sinh
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học (chuẩn bị làm bài tập, thực hành kĩ năng gắn kiến thức với thực tiễn, đọc tài liệu và chuẩn bị đồ dùng học tập cần thiết
- Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học, các hình thức, các kĩ thuật dạy học tích cực khác nhau
- Thường xuất phát từ nội dung
học tập trong sách giáo khoa
- Tập trung trước hết vào hoạt
động dạy học của giáo viên
- Tiến trình dạy học theo 5
bước lên lớp; ổn định lớp; kiểm
tra bài cũ Học bài mới; Củng
cố; Bài tập về nhà
- Tập trung vào cách thức triển
khai hoạt động dạy của giáo
viên, ít chú ý đến hoạt động
học tập của học sinh, nếu có thì
thường mang tính áp đặt
- Thường xuất phát từ mục tiêu bài học kết hợp với vốn kinh nghiệm hiểu biết của học sinh
- Tập trung và nhấn mạnh vào hoạt động dạy học của học sinh, sau đó là hoạt động dạy của giáo viên nhằm hỗ trợ hoạt động học của học sinh
- Tiến trình dạy học theo các hoạt động học tập của học sinh Các bước ổn định, kiểm tra, đánh giá, củng cố được thực hiện linh hoạt và đan xen nhau trong quá trình dạy học
- Tập trung vào cách thức các hoạt động học tập của học sinh Với mỗi hoạt động chỉ rõ:
+ Tên hoạt động + Mục tiêu của hoạt động + Thời lượng để thực hiện hoạt động + Cách tiến hành hoạt động, bao gồm cả dự kiến những khó khăn mà học sinh
dễ gặp, những tình huống có thể nảy
Trang 11Ví dụ: Giáo viên chuẩn bị câu
hỏi và chuẩn bị sẵn câu trả lời
của học sinh (câu hỏi thường đã
có trong sách giáo khoa)
sinh và các phương án giải quyết + Kết luận của giáo viên về:
- Nội dung kiến thức, kỉ năng, thái độ của học sinh trong bài học:
- Những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học
để giải quyết
- Những sai lầm thường gặp: những hậu qủa có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;…
1.2 Cơ sở thực tiễn
- Trường THPT Lê Lợi Tân Kỳ, huyện Tân kỳ, tỉnh Nghệ an, được thành lập năm 1981, là nhà trường có bề dày truyền thống gần 40 năm xây dựng và phát triển Hiện nay là một trong những trường THPT nằm trong tốp đầu của ngành giáo dục Nghệ an đạt chuẩn Quốc gia và chuẩn kiểm định chất lượng
- Trong những năm học qua chuyên môn nhà trường tích cực chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học; các giáo viên trong nhà trường cũng tích cực thi đua dạy tốt học tốt Đặc biệt là phong trào đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, tích cực áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, trong đó có dạy học tích cực vào trong giảng dạy Tuy nhiên, việc áp dụng đôi khi chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, thường chỉ xuất hiện trong các giờ dự thi giáo viên dạy giỏi, kiểm tra toàn diện, chuyên đề,… Nguyên nhân một phần do giáo viên ngại khó, ngại đổi mới; phần khác là do chưa nắm vững các phương pháp dạy học hiện đại, phương pháp dạy học tích cực nên việc áp dụng hiệu quả chưa cao
- Bên cạnh đó, trong những năm vừa qua, Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ an tích cực chỉ đạo việc đổi mới phương pháp giảng dạy, thông qua các đợt tập huấn chuyên môn, tập huấn đổi mới phương pháp giảng dạy
- Là một giáo viên trẻ của nhà trường, tôi luôn tích cực tham gia các lớp tập huấn chuyên môn của Sở, tích cực tham gia các Hội thi giáo viên dạy giỏi của trường và của ngành Bên cạnh đó, là giáo viên dạy học môn Toán, bản thân tôi thấy được nhu cầu phải đổi mới phương phá giảng dạy để đem lại các giờ học bổ ích cho học sinh, giúp các em có niềm tin, hứng thú với việc học môn Toán, từng bước nâng cao chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn của nhà trường
Trang 12II Nội dung và vấn đề nghiên cứu
2.1 Thực trạng
Ngày nay, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cách hết sức bất ngờ và đổi mới một cách cực kì nhanh chóng Theo đó hệ thống giáo dục cũng đặt ra những yêu cầu cần phải đổi mới Từ việc thi thố tài năng bằng sự thuộc lòng những tri thức “uyên thâm”, quan điểm về chuẩn mực của người giỏi đã dần được thay đổi bằng năng lực chuyên môn, năng lực giải quyết vấn đề, đưa ra những quyết định sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, thích ứng với đời sống xã hội Trước đòi hỏi của thực tiễn, nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển thì đổi mới giáo duc, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần
thiết Luật giáo dục công bố năm 2005, Điều 28.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặt điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đổi mới giáo dục
đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức đã có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hình thành ở học sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành áp dụng, tức là đào tạo những người lao động không chỉ có kiến thức mà phải có năng lực hành động, kĩ năng thực hành Để thực hiện các yêu cầu đó, giáo dục Việt Nam đã trải qua các cuộc cải cách với những thành tựu, nhưng vẫn còn đó không ít những tồn tại cần từng bước khắc phục
Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đặt ra từ những năm đầu của thập kỉ 60 của thế kỉ XX Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học Tuy nhiên, viêc dạy và học trong trường phổ thông vẫn còn chịu nhiều tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, “chạy theo thành tích là học để thi, dạy để thi"
Do đó việc dạy học chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều, thông báo kiến thức mang tính đồng loạt, thiên về lí thuyết, xa rời thực tiễn, tập trung ôn luyện kiến thức đáp ứng kiểm tra thi cử, chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…cho người học
Việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã được triển khai từ hơn 30 năm qua Hầu hết giáo viên hiện nay đã được trang bị lí luận về các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong quá trình đào tạo tại các trường sư phạm cũng như quá trình bồi dưỡng, tập huấn hằng năm Tuy nhiên, việc thực hiện các phương pháp dạy học tích cực trong thực tiễn còn chưa thường xuyên và chưa hiệu quả Nguyên nhân là chương trình hiện hành được thiết kế theo kiểu "xoáy ốc" nhiều vòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những nội dung kiến thức được chia ra các mức độ khác nhau
để học ở các cấp học khác nhau (nhưng không thực sự hợp lý và cần thiết); việc trình bày kiến thức trong sách giáo khoa theo định hướng nội dung, nặng về lập luận, suy luận, diễn giải hình thành kiến thức; cùng một chủ đề/vấn đề nhưng kiến thức lại được chia ra thành nhiều bài/tiết để dạy học trong 45 phút không phù hợp với phương pháp dạy học tích cực; có những nội dung kiến thức được đưa vào
Trang 13nhiều môn học; hình thức dạy học chủ yếu trên lớp theo từng bài/tiết nhằm "truyền tải" hết những gì được viết trong sách giáo khoa, chủ yếu là "hình thành kiến thức", ít thực hành, vận dụng kiến thức
Bên cạnh đó, công tác đổi mới phương pháp ở nhiều trường học còn thiếu sự giám sát, đôn đốc, nhắc nhở từ các cấp lãnh đạo Bởi vậy nên nhiều giáo viên chỉ thực hiện đổi mới theo hình thức, mang tính chất đối phó Ðiều này chỉ được khắc phục khi có giáo viên dự giờ, thao giảng hoặc tham gia các hội thi
Mặc dù với các phương pháp, kĩ năng là do con người tạo ra, nhưng điều kiện
hỗ trợ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình làm việc Đơn cử như tại trường THPT Lê Lợi, có nhiều lớp được trang bị các thiết bị hiện đại, nhờ đó các em học sinh có thể tra cứu tài liệu, bài học trên mạng Internet thông qua máy tính bảng đã được cấp, bên cạnh đó cũng còn nhiều lớp chưa được trang bị các thiết bị kể trên, gây ra việc không đồng đều trong cách sử dụng các phương pháp, kỹ thuật khác nhau của giáo viên dạy khác lớp nhưng cùng một bài học
- Hoạt động giải quyết một tình huống học tập: Mục đích của hoạt động này
là tạo tâm thế học tập cho học sinh, giúp học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú học bài mới Giáo viên sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của bản thân học sinh có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong tài liệu hướng dẫn học; làm bộc lộ "cái" học sinh đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân học sinh còn thiếu, giúp học sinh nhận ra "cái" chưa biết và muốn biết
- Hoạt động tìm tòi, khám phá, lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng mới hoặc/và thực hành, luyện tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng vừa lĩnh hội được nhằm giải quyết tình huống/vấn đề học tập
- Hoạt động vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề thực tiễn
Dựa trên con đường nhận thức chung đó và căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa hiện hành, tổ/nhóm chuyên môn tổ chức cho giáo viên thảo
luận, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp
2.2.1.2 Quy trình xây dựng bài học
Mỗi bài học theo chủ đề phải giải quyết trọn vẹn một vấn đề học tập Vì vậy, việc xây dựng mỗi bài học cần thực hiện theo quy trình như sau:
Trang 14a) Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong bài học
Vấn đề cần giải quyết có thể là một trong các loại sau:
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới
- Vấn đề kiểm nghiệm, ứng dụng kiến thức
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng, kiểm nghiệm và ứng dụng kiến thức mới
Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa của môn học và những ứng dụng kĩ thuật, hiện tượng, quá trình trong thực tiễn, tổ/nhóm chuyên môn xác định các nội dung kiến thức liên quan với nhau được thể hiện ở một số bài/tiết hiện hành, từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một chuyên đề dạy học đơn môn Trường hợp có những nội dung kiến thức liên quan đến nhiều môn học, lãnh đạo nhà trường giao cho các tổ chuyên môn liên quan cùng nhau lựa chọn nội dung để thống nhất xây dựng các chủ đề tích hợp, liên môn
Tùy nội dung kiến thức; điều kiện thực tế của địa phương, nhà trường; năng lực của giáo viên và học sinh, có thể xác định một trong các mức độ sau:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách
giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Học
sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện
và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc
cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc
Ví dụ: Một bài học Môn Đại số lớp 10 được xây dựng theo tiến trình dạy học giải quyết vấn đề ở mức 3 có thể được xây dựng như sau:…
Theo SGK đại số lớp 10 THPT, bài mệnh đề được dạy trong hai tiết, Tiết 1: Gồm 3 mục từ mục I đến mục III, tiết 2 gồm mục IV và mục V, đều giải quyết một vấn đề chung là cung cấp cho học sinh khái niệm các dạng mệnh đề Vì vậy, chúng ta xây dựng một chủ đề “ Các dạng mệnh đề”
b) Bước 2: Xây dựng nội dung chủ đề bài học
Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được sử dụng để tổ chức hoạt động học cho học sinh, từ tình huống xuất phát đã xây dựng, dự kiến các nhiệm vụ học tập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt động học của học sinh, từ đó xác định các nội dung cần thiết để cấu thành chủ đề bài học Lựa chọn các nội dung của chủ đề từ các bài/tiết trong sách giáo khoa của một môn học hoặc/và các môn học có liên quan để xây dựng chuyên đề dạy học Thông thường,
Trang 15các bài học thuộc cùng một chủ đề trong sách giáo khoa hiện hành được đặt gần nhau, trong cùng một chương, gồm: các bài học lí thuyết mới; bài học luyện tập; bài học thực hành; bài ôn tập, củng cố… Về thực chất, mỗi bài học này tương ứng với một loại hoạt động học theo tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực
Ví dụ: Đối với bài học nói trên, nội dung bài học gồm:
Khái niệm mệnh đề, mệnh đề chứa biến, phủ định của một mệnh đề
Mệnh đề kéo theo; mệnh đề đảo; mệnh đề tương đương
Kí hiệu ; , mệnh đề chứa các kí hiệu ;
c) Bước 3: Xác định mục tiêu bài học
Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong chuyên đề sẽ xây dựng
Ví dụ: Bài Mệnh đề
- Về kiến thức:
+ Hiểu được mệnh đề là một khẳng định Lấy được ví dụ về mệnh đề và xét được tính đúng sai của mệnh đề
+ Nắm được mệnh phủ định của một mệnh đề
+ Nhận biết được dạng mệnh đề kéo theo; lập được mệnh đề đảo của mệnh đề dạng kéo theo Xét tính đúng sai của các dạng mệnh đề nêu trên
+ Hiểu được thế nào là mệnh đề tương đương
- Về kĩ năng:
+ Vận dụng được các kiến thức trên và các kiến thức cũ liên quan vào việc lấy ví
dụ về các dạng mệnh đề; xét được tính đúng sai của các dạng mệnh đề đó
- Về năng lực: Qua việc thực hiện các hoạt động học trong bài học, học sinh được rèn luyện về năng lực tự học, phát hiện và giải quyết vấn đề
d) Bước 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng,
vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học
e) Bước 5: Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả
để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề đã xây dựng
Ví dụ: Đối với bài học Mệnh đề, việc kiểm tra, đánh giá như sau:
- Đánh giá bằng nhận xét: Với tiến trình dạy học trong bài học, chúng ta có thể hình dung các hoạt động học của học sinh được diễn ra trong 2 tiết học trên lớp Thông qua
Trang 16quan sát, trao đổi và các sản phẩm học tập của học sinh, giáo viên có thể nhận xét, đánh giá được sự tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong học tập:
+ Đánh giá tính tích cực, tự lực của học sinh: Mức độ hăng hái tham gia phát biểu ý kiến của học sinh; Thái độ lắng nghe của học sinh khi giáo viên gợi ý, hướng dẫn; Mức độ hăng hái thảo luận nhóm của học sinh để giải quyết nhiệm vụ học tập; Khả năng tập trung, tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập của mỗi cá nhân; Vai trò của nhóm trưởng trong việc tổ chức hoạt đông của nhóm; Trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhóm, thể hiện ở trách nhiệm hoàn thành các phần việc được phân công; nêu ý kiến độc lập và tham gia thảo luận để thống nhất được ý kiến chung; Sự tiến bộ về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của học sinh sau mỗi tiết học, thể hiện
từ chỗ giáo viên phải gợi ý từng bước để học sinh trả lời câu hỏi đến việc giáo viên chỉ đưa các nhiệm vụ và hỗ trợ khi thực sự cần thiết; Khả năng ghi nhớ những điều
đã học để có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng và vận dụng được những kiến thức vào thực tiễn; Sự tự tin của học sinh khi trình bày, bảo vệ kết quả hoạt động của nhóm trước lớp một cách chặt chẽ, thuyết phục
+ Đánh giá khả năng sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của học sinh: Trong quá trình học tập, học sinh được thực tế hoạt đông phỏng theo con đường nhận thức của nhà khoa học: đề xuất giả thuyết, dự đoán giải pháp, đề xuất phương
án thí nghiệm, phân tích kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật đồ thị, Giáo viên
có thể đánh giá được mức độ đáp ứng của học sinh đối với các hoạt động sáng tạo này thông qua quan sát, nhận xét sự trải nghiệm hoạt động nhận thức sáng tạo và khả năng “luyện tập” tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua học tập theo tiến trình dạy học kể trên như: Học sinh đưa ra được các khẳng định thuộc dạng mệnh đề nào Mệnh đề nào đúng; mệnh đề nào sai; cơ sở lý luận để có những kết quả đó
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh: Căn cứ vào các mức độ yêu cầu của câu hỏi, bài tập được mô tả trong bảng trên, giáo viên có thể xây dựng các câu hỏi, bài tập tương ứng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của học sinh ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỷ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh
f) Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học
Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề thành các hoạt động học được tổ chức cho học sinh có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng Trong chuỗi hoạt động học, đặc biệt quan tâm xây dựng tình huống xuất phát
Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học mỗi chuyên đề theo phương pháp dạy học tích cực, học sinh cần phải được đặt vào các tình huống xuất phát gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ tham gia giải quyết các tình huống đó Trong quá trình tìm hiểu, học sinh phải lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên Những hoạt động
Trang 17do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn Mục tiêu chính của quá trình dạy học là giúp học sinh chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật, học sinh được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói Những yêu cầu mang tính nguyên tắc nói trên của phương pháp dạy học tích cực là sự định hướng quan trọng cho việc lựa chọn các chuyên đề dạy học Như vậy, việc xây dựng các tình huống xuất phát cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau đây:
- Tình huống xuất phát phải gần gũi với đời sống mà học sinh dễ cảm nhận và đã
có ít nhiều những quan niệm ban đầu về chúng
- Việc xây dựng tình huống xuất phát cần phải chú ý tạo điều kiện cho học sinh có thể huy động được kiến thức ban đầu để giải quyết, qua đó hình thành mâu thuẫn nhận thức, giúp học sinh phát hiện được vấn đề, đề xuất được các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề
Tiếp theo tình huống xuất phát là các hoạt động học như: đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề; thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề; báo cáo, thảo luận; kết luận, nhận định, hợp thức hóa kiến thức
Ví dụ: Bài Mệnh đề có thể được tiến hành như sau:
Tình huống xuất phát - đề xuất vấn đề
Đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề
1 Chuyển giao
nhiệm vụ
Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh thảo luận về giải pháp nhằm phát hiện các câu, câu nào có tính khẳng định, khẳng định có thể đúng hoặc sai
2 Thực hiện
nhiệm vụ
Học sinh có thể thảo luận với bạn bên cạnh hoặc theo nhóm (Nếu không có điều kiện bố trí lại lớp học thì có thể chia nhóm theo từng bàn hoặc gộp bàn trên và bàn dưới) Kết
Trang 18quả thảo luận nhóm có thể được trình bày trên bảng phụ hoặc giấy A0
Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề (Lí thuyết)
Trang 192.2.2 Các bước phân tích hoạt động học của học sinh
Việc phân tích, rút kinh nghiệm một hoạt động học cụ thể trong giờ học được thực hiện theo các bước sau:
1 Bước 1: Mô tả hành động của học sinh trong mỗi hoạt động học
Mô tả rõ ràng, chính xác những hành động mà học sinh/nhóm học sinh đã thực hiện trong hoạt động học được đưa ra phân tích Cụ thể là:
- Học sinh đã tiếp nhận nhiệm vụ học tập thế nào?
- Từng cá nhân học sinh đã làm gì (nghe, nói, đọc, viết) để thực hiện nhiệm vụ học tập được giao? Chẳng hạn, học sinh đã nghe/đọc được gì, thể hiện qua việc học sinh đã ghi được những gì vào vở học tập cá nhân?
- Học sinh đã trao đổi/thảo luận với bạn/nhóm bạn những gì, thể hiện thông qua lời nói, cử chỉ thế nào?
- Sản phẩm học tập của học sinh/nhóm học sinh là gì?
- Học sinh đã chia sẻ/thảo luận về sản phẩm học tập thế nào? Học sinh/nhóm học sinh nào báo cáo? Báo cáo bằng cách nào/như thế nào? Các học sinh/nhóm học sinh khác trong lớp đã lắng nghe/thảo luận/ghi nhận báo cáo của bạn/nhóm bạn như thế nào?
- Giáo viên đã quan sát/giúp đỡ học sinh/nhóm học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập được giao như thế nào?
- Giáo viên đã tổ chức/điều khiển học sinh/nhóm học sinh chia sẻ/trao đổi/thảo luận về sản phẩm học tập bằng cách nào/như thế nào?
2 Bước 2: Đánh giá kết quả/hiệu quả của hoạt động học
Với mỗi hoạt động học được mô tả như trên, phân tích và đánh giá về kết quả/hiệu quả của hoạt động học đã được thực hiện Cụ thể là:
- Qua hoạt động đó, học sinh đã học được gì (thể hiện qua việc đã chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng gì)?
- Những kiến thức, kĩ năng gì học sinh còn chưa học được (theo mục tiêu của hoạt động học)?
3 Bước 3: Phân tích nguyên nhân ưu điểm/hạn chế của hoạt động học
Phân tích rõ tại sao học sinh đã học được/chưa học được kiến thức, kĩ năng cần dạy thông qua mục tiêu, nội dung, phương thức hoạt động và sản phẩm học tập
mà học sinh phải hoàn thành:
- Mục tiêu của hoạt động học (thể hiện thông qua sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành) là gì?
- Nội dung của hoạt động học là gì? Qua hoạt động học này, học sinh được học/vận dụng những kiến thức, kĩ năng gì?
- Học sinh đã được yêu cầu/hướng dẫn cách thức thực hiện nhiệm vụ học tập (cá nhân, cặp, nhóm) như thế nào?
Trang 20- Sản phẩm học tập (yêu cầu về nội dung và hình thức thể hiện) mà học sinh phải hoàn thành là gì?
4 Bước 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động học
Để nâng cao kết quả/hiệu quả hoạt động học của học sinh cần phải điều chỉnh, bổ sung những gì về:
- Mục tiêu, nội dung, phương thức, sản phẩm học tập của hoạt động học?
- Kĩ thuật tổ chức hoạt động học của học sinh: chuyển giao nhiệm vụ học tập; quan sát, hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập; tổ chức, hướng dẫn học sinh báo cáo, thảo luận về sản phẩm học tập; nhận xét, đánh giá quá trình hoạt động học
và sản phẩm học tập của học sinh
2.2.3 Câu hỏi thảo luận về tiến trình bài học
Để hoàn thiện, tiến trình dạy học mỗi bài học theo chủ đề được xây dựng cần được trình bày và thảo luận dựa trên một số câu hỏi gợi ý như sau:
1 Tình huống xuất phát
1.1 Tình huống/câu hỏi/lệnh xuất phát nhằm huy động kiến thức/kĩ năng/kinh nghiệm sẵn có nào của học sinh? (Học sinh đã học kiến thức/kĩ năng đó khi nào?) 1.2 Vận dụng kiến thức/kĩ năng/kinh nghiệm đã có đó thì học sinh có thể trả lời câu hỏi/thực hiện lệnh đã nêu đến mức độ nào? Dự kiến các câu trả lời/sản phẩm học tập mà học sinh có thể hoàn thành
1.3 Để hoàn thiện câu trả lời/sản phẩm học tập nói trên, học sinh cần vận dụng kiến thức/kĩ năng mới nào sẽ học ở phần tiếp theo trong Hoạt động Hình thành kiến thức? (Có thể không phải là toàn bộ kiến thức/kĩ năng mới trong bài)
2 Hình thành kiến thức mới
2.1 Kiến thức mới mà học sinh phải thu nhận được của bài học là gì? Học sinh sẽ thu nhận kiến thức đó bằng cách nào? Cụ thể là học sinh phải thực hiện các hành động (đọc/nghe/nhìn/làm) gì? Qua hành động (đọc/nghe/nhìn/làm), học sinh thu được kiến thức gì? Kiến thức đó giúp cho việc hoàn thiện câu trả lời/sản phẩm học tập ở tình huống xuất phát như thế nào?
2.2 Nếu có lệnh/câu hỏi trong phần Hình thành kiến thức thì cần làm rõ:
- Lệnh/câu hỏi đó có liên hệ thế nào với lệnh/câu hỏi ở tình huống xuất phát?
- Câu trả lời/sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành là gì?
- Học sinh sử dụng kiến thức gì để trả lời câu hỏi/thực hiện lệnh đó?
3 Hình thành kĩ năng mới
3.1 Nêu rõ mục đích của mỗi câu hỏi/bài tập luyện tập trong bài học Cụ thể là câu hỏi/bài tập đó nhằm hình thành/phát triển kĩ năng gì?
3.2 Nếu có nhiều hơn 01 câu hỏi/bài tập cho việc hình thành/phát triển 01 kĩ năng cần giải thích tại sao?
Trang 214 Vận dụng và mở rộng
Cần trả lời được các câu hỏi sau:
Vận dụng: Học sinh được yêu cầu vận dụng kiến thức vào giải quyết một điều gì trong cuộc sống? Cần thay đổi gì trong hành vi, thái độ của bản thân học sinh? Đề xuất với gia đình, bạn bè… thực hiện điều gì trong học tập/cuộc sống?
Mở rộng: Học sinh được yêu cầu đào sâu/mở rộng thêm gì về những kiến thức có liên quan đến bài học? Lịch sử hình thành kiến thức? Thông tin về các nhà khoa học phát minh ra kiến thức? Những ứng dụng của kiến thức trong đời sống, kĩ thuật?
Học sinh cần trình bày/báo cáo/chia sẻ các kết quả hoạt động nói trên như thế nào? Dưới hình thức nào?
2.2.4 Vận dụng thiết kế bài học dựa trên các phương pháp dạy học tích cực 2.2.4.1 Cách thiết kế và tổ chức hoạt động của một bài học môn Toán
Để đổi mới dạy học, bài học nên được thiết kế và tổ chức theo các hoạt động
cơ bản sau đây
* Hoạt động khởi động
Mục đích là tạo tâm thế học tập cho học sinh, giúp các em ý thức được nhiệm
vụ học tập, hứng thú với học bài mới
Giáo viên sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của học sinh có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong tài liệu hướng dẫn học; làm bộc lộ "cái" học sinh đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân học sinh còn thiếu, giúp học sinh nhận ra "cái" chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động này Từ đó, giúp học sinh suy nghĩ và bộc lộ những quan niệm của mình về vấn đề sắp tìm hiểu, học tập Vì vậy, các câu hỏi, hay nhiệm vụ trong hoạt động khởi động là những câu hỏi, hay vấn đề mở, chưa cần học sinh phải có câu trả lời hoànchỉnh
Kết thúc hoạt động này, giáo viên không chốt về kiến thức mà chỉ giúp học sinh phát biểu được vấn đề để chuyển sang các hoạt động tiếp theo nhằm tiếp cận, hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, qua đó tiếp tục hoàn thiện câu trả lời hoặc giải quyết được vấn đề
Kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả hoạt động của học sinh thể hiện ở các sản phẩm học tập đã hoàn thành, giáo viên cần chốt kiến thức mới để các em chính xác hoá, ghi nhận và vậndụng
Trang 22Kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên cần giúp học sinh lĩnh hội cả về tri thức lẫn tri thức phương pháp, biết cách thức giải quyết các câu hỏi/bài tập/tình huống/vấn đề và vận dụng, ít nhất là giải quyết được vấn đề đặt ra trong
"Hoạt động khởi động"
* Hoạt động vận dụng
Mục đích là giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề nảy sinh trong cuộc sống gần gũi, ở gia đình, địa phương
Giáo viên cần gợi ý để học sinh phát hiện những hoạt động, sự kiện, hiện tượng nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày, mô tả yêu cầu cần đạt (về sản phẩm) để học sinh lưu tâm thực hiện
Hoạt động này không cần tổ chức ở trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia Tuy nhiên, giáo viên cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều học sinh tham gia một cách tự nguyện; khuyến khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn tronglớp
* Hoạt động tìm tòi mở rộng
Mục đích là giúp học sinh không ngừng tiến tới, không bao giờ dừng lại với những gì đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trường còn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học, góp phần học tập suốt đời
Giáo viên cần khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài sách vở, ngoài lớp học Học sinh tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh
từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết bằng những cách khác nhau
Cũng như Hoạt động vận dụng, hoạt động này không cần tổ chức ở trên lớp
và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia Tuy nhiên, giáo viên cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều học sinh tham gia một cách tự nguyện; khuyến khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp
Trang 232.2.4.2 Ví dụ minh họa
MH1 GIÁ TRỊ LỚN NHẤT VÀ NHỎ NHẤT CỦA HÀM SỐ (T1)
I Mục tiêu:
1 Kiến thức:
- Biết được định nghĩa GTLN, GTNN của hàm số trên một tập hợp D
- Biết sử dụng phương pháp hàm số tìm GTLN,GTNN của hs trên D
2 Kĩ năng: Tìm được GTLN, GTNN của một số hàm số trên D
3 Tư duy, thái độ:
- Rèn luyện tư duy logic, tư duy lý luận, quy lạ về quen
- Tích cực, chủ động nắm kiến thức, tham gia xây dựng bài
4 Năng lực: Góp phần hình thành một số năng lực sau
- Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ toán, năng lực tính toán
- Năng lực mô hình hóa, năng lực hợp tác
II Chuẩn bị của GV và HS:
1 Giáo viên : Giáo án, sgk, đồ dùng dạy học
2 Học sinh: Sgk, ôn bài cũ và đọc bài mới, tìm hiểu một số ứng dụng thực tế III Phương pháp dạy học:
Sử dụng: Phương pháp gợi mở giải quyết vấn đề, đan xen hoạt động nhóm
Kĩ thuật: Khăn trải bàn, Mảnh ghép, Phòng tranh
IV Tiến trình dạy học:
1 Ổn định và kiểm tra sĩ số lớp
2 Kiểm tra bài cũ: Xen lẫn trong quá trình hoạt động nhóm
3 Nội dung bài mới:
A Hoạt động khởi động.(10’)
Giáo viên giao nhiệm vụ:
Nội dung NV: Bác Kỳ cho con trai mảnh đất hình chữ nhật với chu vi 200 m Nếu
em là người tư vấn, em hãy khuyên anh chọn mỗi kích thước là bao nhiêu thi diện tích là lớn nhất?
- Cách thực hiện: Chia lớp thành 4 nhóm thực hiện nhiệm vụ và yêu cầu học sinh làm trong 5 phút
- Gợi ý: Gọi các kích thước của mảnh đất hình chữ nhật là x, y (m)
Từ gt em biết được mối quan hệ nào giữa x, y ?
Yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra là gì ?
Để thực hiện được nhiệm vụ trên ta phải làm ntn ?
- Hết 5 phút các nhóm cử đại diện báo cáo và phản biện
GV dự kiến tình huống và kết luận:
TH1: HS dùng BĐT Cauchy
TH2: HS dùng kết quả của hàm bậc hai, hoặc hằng đẳng thức đáng nhớ
TH3: HS sử dụng bảng biến thiên
Trang 24GV Đặt vấn đề nếu chiều rộng của mảnh đất nhỏ hơn hoặc bằng 40 m thì bài toán trên sẻ giải ntn ?
Để giải quyết bài toán trên một cách triệt để chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay
B Hoạt động hình thành kiến thức( 15’)
Hoạt động nhóm, kĩ thuật mảnh ghép thông qua hình thức phòng tranh
Nội dung trò chơi: Chia lớp thành 4 nhóm mỗi nhóm có 10 thành viên được đánh
số thứ tự từ 1 đến 10 thực hiện bốn nhiệm vụ sau trong vòng 5 phút:
Trang 25Yêu cầu 4 nhóm:
Quan sát đồ thị, lập bảng biến thiên, tìm GTLN, GTNN(nếu có) trên miền chỉ ra
GV đặt vấn đề: Nếu thầy gọi M là GTLN của hàm số, m là GTNN của hàm số Hãy so sánh M, m với giá trị của hàm số f x( ) trên miền đang xét (Biểu thị f x( ),
M, m dưới dạng bất đẳng thức trên miền đang xét)
Chuyển nhóm (thứ tự 1,2,3 vào một nhóm, thứ tự 4,5,6 vào một nhóm, thứ tự 7,8,9 vào một nhóm, giữ lại người số10) thực hiện trong vòng 10 phút Sang nhóm mới các thành viên của các nhóm ban đầu sẻ báo cáo sản phảm của nhóm mình cho các nhóm còn lại tại các vị trí trong phòng tranh
Tiêu chí của trò chơi:
Tiêu chí 1: thời gian
Nhanh: được 5 điểm, đúng: được 3 điểm, vi phạm thời gian: 0 điểm
Tiêu chí 2: Nội dung kiến thức
Chính xác, khoa học: 10 điểm, vi phạm một lỗi: 8 điểm
Vi phạm 2 lỗi: 6 điểm, vi phạm từ 3 lỗi trở lên: 0 điểm
Tiêu chí 3: Thuyết trình
Trình bày lưu loát đúng ý tưởng của nhóm: 5 điểm
Còn hạn chế từng mặt : 3 điểm và không trình bày được: 0 điểm
Kết thúc trò chơi nhận phần thưởng theo điểm
GV kết luận: hướng dẫn, gợi mở hình thành kiến thức mới
CH1: Nêu ĐN GTLN, GTNN của hs?
CH2: Nêu phương pháp tìm GTLN,
GTNN của hàm số trên một đoạn, một
khoảng, nửa khoảng bằng ứng dụng đạo
hàm ?
Dự kiến tình huống:
QT1 (SGK)
QT2 (SGK)
Tính ưu việt của từng quy tắc
CH3: Đối với hàm liên tục trên một đoạn
thì sự tồn tại của GTLN, GTNN ntn ?
Trên một khoảng và nửa khoảng thì
HS suy nghĩ trả lời Cho hs y= f(x) xđ trên D a) Số M là GTLN của hs y= f(x)/D
: f x : f
HS Tự nhận xét tính ưu việt của QT1, QT2
và đưa ra lựa chọn của cá nhân trong các
Trang 26GTLN, GTNN của hàm số có luôn tồn tại
Bài 1 Tính GTLN, GTNN của hàm số
Trang 27Bài 2 Tìm GTLN, GTNN của hàm số
D Hoạt động vận dụng( 7’) GV giao nhiệm vụ
Vd 2: Cho một tấm nhôm hình vuông cạnh a Người ta cắt ở bốn góc bốn hình
vuông bằng nhau, rồi gập lại thành một cái hộp không nắp Tìm cạnh của các hình vuông bị cắt để thể tích khối hộp là lớn nhất
Cách thực hiện: Pháp vấn và gợi mở vấn đề
HD:
- CT tính thể tích của khối hộp
- Gọi cạnh của hình vuông bị cắt là x, cho
biết điều kiện của x
- Xác định chiều cao và diện diện tích đáy
của khối hộp
- Khảo sát rồi lập BBT
Hs suy nghĩ và trả lời V= B.h (B- diện tích đáy)
a Tìm m để phương trình (x) 0 có nghiệm x[1; 2]
b Tìm m để bất phương trình (x)0 nghiệm đúng x[1; 4]
c Tìm m để bất phương trình (x)0 có nghiệm x 1;3