THỰC TRẠNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂUSỐ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN MỸ ĐỨC - HÀ NỘI Khái quát về đặc đi
Trang 1THỰC TRẠNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU
SỐ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN MỸ ĐỨC -
HÀ NỘI
Khái quát về đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế - xã hội
và giáo dục huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Ngày 29/5/2008, Quốc hội ban hành quyết định số 15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố
Hà Nội và một số tỉnh có liên quan Theo Nghị quyết, hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên là 219.341,11 ha và dân số 2.568.007 người của tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội Chính vì thế ngày 1/8/2008 huyện Mỹ Đức trực thuộc Thành phố Hà Nội quản lý.
Mỹ Đức nằm phía Tây nam thành phố Hà Nội, phía đông giáp huyện Ứng Hòa, phía bắc giáp huyện Chương Mỹ phía tây giáp các huyện của tỉnh Hòa Bình: Lương sơn ở phía tây bắc, Kim bôi ở phía chính tây, Lạc thủy ở phía tây nam phía đông nam giáp huyện Kim Bảng Mỹ Đức cách trung tâm Hà Nội 52 km theo đường QL21B
- Hiện nay, huyện Mỹ Đức có xã An Phú thuộc diện đặc biệt khó khăn nằm trong chương trình 135 của Chính phủ Nhận
Trang 2thức của nhân dân giữa các thôn bản, dân tộc còn nhiều chênh lệch và còn ở mức độ thấp Nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại ở các thôn vùng dân tộc thiểu số, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã An Phú đã tích cực lao động sản xuất, phát triển văn hoá, duy trì sự ổn định về an ninh, chính trị do đó, kinh tế-
xã hội của xã đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao; cơ sở hạ tầng, kinh tế từng bước được nâng lên; sự nghiệp giáo dục và đào tạo được quan tâm, ủng hộ và tăng cường đầu tư hơn cho giao đã góp phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, cho thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá [tr 1- 3]
Đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội
Huyện Mỹ Đức nằm tận cùng phía Tây Nam của thành phố Hà Nội phía Đông giáp huyện Ứng Hòa ranh giới con sông Đáy, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía bắc giáp huyện Chương Mỹ Từ tháng 8/ 2008 “Sau khi thực hiện hợp nhất, điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, UBND huyện Mỹ Đức đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, huy động mọi nguồn lực để thực
Trang 3hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế của huyện, làm cho bức tranh kinh tế của huyện khởi sắc từng ngày Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt bình quân 9,2% Đặc biệt thương mại dịch vụ du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.” [tr3,4] Huyện Mỹ Đức có cảnh sắc thiên nhiên kì thú với núi cao, rừng thắm, suối dài được xếp đặt một cách tài tình giữa vùng đồng bằng ruộng lúa xanh tươi của danh lam thắng cảnh Hương Sơn, cùng với khu du lịch hồ Quan Sơn đẹp như “Hạ Long” trên cạn “Đây là lĩnh vực có nhiều đổi mới vượt bậc hơn hẳn so với các lĩnh vực khác và đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Giá trị thu nhập tăng theo từng năm, tăng đột biến vào năm 2018 Các loại hình du lịch của huyện Mỹ Đức cũng phát triển mạnh mẽ Du lịch Chùa Hương tâm linh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng có khu vực hồ Quan Sơn - Tuy Lai.
Du lịch văn hóa, làng nghề, tham quan các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu lễ hội xã Thượng Lâm, kết nghĩa làng Văn Giang
…Đây chính là kết của của sự chỉ đạo đúng đắn từ Thành phố đến Huyện chiến lượng phát triển kinh tế của huyện Mỹ Đức trong 10 năm qua” [tr1- 7]
Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; cơ sở hạ tầng, kinh tế từng bước được nâng lên; sự nghiệp giáo dục và đào tạo được quan tâm, ủng hộ và tăng cường đầu tư hơn đã góp
Trang 4phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, cho
thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá an
ninh chính trị ổn định kinh tế xã hội phát triển.
Tình hình giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học ở huyện
Mỹ Đức
Từ năm 2008 sát nhập với Hà Nội nền giáo dục được quan tâm nhiều hơn nhất là giáo dục miền núi Những năm gần đây, giáo dục miền núi nói chung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng đã được Đảng và Nhà nước quan ban hành những Chỉ thị, nghị quyết, cơ chế chính sách…nhằm ưu tiên phát triển giáo dục, kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đã thực hiện nghiêm túc những chỉ thị, nghị quyết của trung ương về phát triển giáo dục và đào tạo; ngoài ra được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp chính quyền địa phương ; bằng sự nỗ lực và quyết tâm cao của toàn thể đội ngũ, ngành Giáo dục huyện Mỹ Đức có 83 cơ sở giáo dục trong đó có 26 trường mầm non, 29 trường tiểu học, 23 trường trung học cơ sở, 04 trường trung học phổ thông, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên Toàn huyện có 27 trường đạt chuẩn quốc gia Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đủ về số lượng, trình độ đào tạo ngày càng cao: tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở các cấp học là 100%; tỷ lệ giáo viên trên chuẩn là 95,3% Đó là những cơ sở pháp lý nền tảng để ngành giáo dục và đào tạo Mỹ
Trang 5Đức cụ thể hoá về quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất trường lớp theo hướng chuẩn hoá, kiên cố hoá, hiện đại hoá tạo được những chuyển biến mạnh mẽ.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục Mỹ Đức vẫn còn những tồn tại và thách thức Đặc biệt là giáo dục miền núi chất lượng học sinh DTTS còn chưa cao Tình trạng lưu ban, bỏ học vẫn còn xảy ra Đội ngũ giáo viên, còn chưa đồng đều về trình độ, chưa cân đối về bộ môn; không am hiểu tâm lý, sinh lý học sinh DTTS, không nói được tiếng DTTS nên khó khăn trong công tác dạy học cũng như khi làm công tác XHH giáo dục Khả năng nói tiếng Việt của học sinh DTTS còn hạn chế.
* Quy mô trường, lớp, học sinh cấp tiểu học
Toàn huyện có 29 trường tiểu học, trong đó có 20 trường đạt chuẩn Quốc gia Trong những năm qua gần đây số học sinh
ở tiểu học có xu hướng tăng, dẫn đến số lớp học tăng Tuy nhiên số lượng trường, lớp cấp tiểu học đã đảm bảo tiếp nhận
đủ số học sinh theo học, đáp ứng yêu cầu của Điều lệ trường tiểu học, quy mô trường, lớp ổn định, chất lượng giáo dục ngày một cao hơn Các cấp học được đầu tư ngày càng đầy đủ về cơ
sở vật chất trang thiết bị phục vụ dạy và học Đội ngũ cán bộ
Trang 6quản lí đáp ứng được với yêu cầu, đội ngũ giáo viên từng được chuẩn hoá Mạng lưới trường lớp không ngừng được đầu tư phát triển, mở rộng trên địa bàn toàn huyện tỷ lệ huy động học sinh ngày càng được nâng cao; đội ngũ cán bộ, giáo viên hàng năm được kiện toàn, bổ sung, tăng cường cả về số lượng và chất lượng.
Nhờ thực hiện tốt kỷ cương, nề nếp trong giảng dạy mà chất lượng học tập của học sinh tiếp tục được giữ vững và nâng cao Chất lượng đại trà được duy trì, học sinh hoàn thành tốt đạt tỷ lệ cao Chất lượng học sinh có năng lực vượt trội được rèn luyện và nâng cao cả về số lượng và chất lượng ngày càng tăng Tuy vậy, tỷ
lệ học sinh cần cố gắng vẫn còn thấp so với mặt bằng trung trong toàn huyện, đặc biệt là học sinh yếu về môn Tiếng Việt Đây là vấn
đề cần quan tâm trong những năm học tiếp theo để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Những tồn tại trên ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập môn quản lý môn tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp dẫn đến chất lượng giáo dục không được như mong đợi.
- Về phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp
Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính gồm 22 xã và 01 thị trấn huyện Mỹ Đức có 29 trường tiểu học Mạng lưới các
Trang 7trường tiểu học được phân bố hợp lý trên địa bàn huyện đảm bảo cho học sinh không phải đi học quá xa và đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh.
- Về đội ngũ cán bộ quản lý
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của toàn ngành giáo dục huyện, đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý ngày một nâng cao
cả về chuyên môn và năng lực quản lý đã phát huy có hiệu quả trong công tác quản lý Chi bộ Đảng, các tổ chức trong nhà trường được phát huy hiệu quả tốt Hiện nay, số cán bộ quản
lý có trình độ đại học và trên đại học đạt 95,2%; Trình độ Trung cấp lý luận chính trị đạt tỷ lệ 100% Đặc biệt là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở, Công tác đánh giá cán bộ quản lý đuợc Phòng Giáo dục Đào tạo tiến hành nghiêm túc hàng năm, đặc biệt công tác bổ nhiệm
và bổ nhiệm lại, kiên quyết miễn nhiệm những cán bộ quản lý năng lực yếu, uy tín thấp Việc làm trên đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý ở các truờng tiểu học nói riêng Tuy nhiên, giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở Mỹ Đức gặp rất nhiều khó khăn.
Trang 8Trước thực tế chất lượng giáo dục Tiểu học các xã có học sinh dân tộc con khó khăn tỉ lệ chênh lệch giữa các đối tượng học sinh còn cao: có nhiều em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật, khả năng nhận thức con chậm nhưng gia đình lại không chịu làm hồ sơ học sinh khuyết tật nên ảnh
hưởng rất nhiều đến viêc học tập của học sinh “Việc giải quyết
vấn đề tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số được Mỹ Đức được xác định là vấn đề then chốt để giải bài toán chất lượng
trong những năm qua”so với mặt bằng chung của huyện, Phòng
GD&ĐT đã chỉ đạo thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học các trường này, Tổ chức ký cam kết chất lượng giữa hiệu trưởng với giáo viên, hiệu trưởng với trưởng phòng GD&ĐT Tuy nhiên, ở Mỹ Đức gặp nhiều khó
khăn do các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội; “Khó
khăn nhất là rào cản ngôn ngữ Học sinh dân tộc thiểu số biết ít tiếng Việt nên rất khó khăn trong giao tiếp cảm xúc: học sinh thể hiện thái độ của mình với bạn bè xung quanh và tiếp nhận thái độ của bạn đối với mình.” Giao tiếp công việc: nhằm phối
hợp để giải quyết nhiệm vụ chung nào đó Giao tiếp nhận thức: nhằm hiểu biết và đồng cảm lẫn nhau.
Nhà quản lí tập trung vào việc đổi mới công tác chỉ đạo dạy học, tập trung chỉ đạo thực hiện dạy học phù hợp với đối
Trang 9tượng học sinh trên cơ sở bảo đảm chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình; đẩy mạnh việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học; đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh ; dạy học đảm bảo cho mọi đối tượng học sinh: học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật, Việc giải quyết vấn đề tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số được Mỹ Đức được xác định là vấn đề then chốt để giải bài toán chất lượng, cho nên, trong những năm qua, Mỹ Đức đã tập trung thực hiện nhiều nhóm giải pháp mang lại hiệu quả khá thiết thực Trong đó, tập trung chỉ đạo ráo riết chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non người dân tộc thiểu số, phát triển năng lực giao tiếp của học sinh.
Trước thực tế còn chênh lệch chưa dạy học đảm bảo cho các đối tượng học sinh: học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật so với mặt bằng chung của huyện, Phòng
GD&ĐT đã chỉ đạo thực hiện Được Mỹ Đức xác định là vấn
đề then chốt, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tiểu
học ở các trường có học sinh dân tộc thiểu số đang theo học Tổ chức ký cam kết chất lượng giữa hiệu trưởng với giáo viên, hiệu trưởng với trưởng phòng GD&ĐT Học rất khó khăn trong giao tiếp cảm xúc: học sinh thể hiện thái độ của mình với bạn bè xung quanh và tiếp nhận thái độ của bạn đối với mình Giao tiếp
Trang 10công việc: nhằm phối hợp để giải quyết nhiệm vụ chung nào đó Giao tiếp nhận thức: nhằm hiểu biết và đồng cảm lẫn nhau.
Nhà quản lí tập đổi mới công tác dạy học, tập trung chỉ đạo thực hiện dạy học phù hợp với đối tượng học sinh trên cơ sở bảo đảm chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình; đẩy mạnh việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học; đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh ; dạy học đảm bảo cho các đối tượng học sinh: học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật, Các em không thể sống thiếu vắng bạn bè Nhu cầu giao tiếp của học sinh không được thỏa mãn sẽ dẫn đến sự phát triển không bình thường cả tâm lí và sinh lí, xã hội trong con người các em Vì vậy Mỹ Đức đã tập trung thực hiện nhiều nhóm giải pháp mang lại hiệu quả khá thiết thực.
Trang 11trình tiểu học trong những năm gần đây đều đạt 100% Ngoài
ra, công tác giáo dục toàn diện theo định hướng phát triển năng lực tiếng Việt cho học sinh cũng được coi trọng và thường xuyên quan tâm từ trường đến huyện Vì vậy cần đảm bảo năng lực giao tiếp được rèn luyện cần phải thiết thực, gắn với thực tiễn cuộc sống của HS Chỉ gắn liền với cuộc sống hằng ngày và được thường xuyên rèn luyện thông qua các hoạt động thực tiễn thì năng lực giao tiếp mới được phát triển một cách bền vững.
Tình hình học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
Hiện nay trên địa bàn huyện Mỹ Đức có 1469 học sinh dân tộc thuộc 4 cấp học nằm rải rác ở các xã giáp với tỉnh Hòa Bình như như xã An Tiến, Hợp Thanh, Hợp Tiến, Hùng Tiến … nhưng học sinh dân tộc chủ yếu nhiếu nhất là ở xã An Phú và xã Hợp Thanh Riêng xã an Phú có tới 80% học sinh DTTS Chủ yếu các em thuộc dân tộc Mường, Thái có độ tuổi từ 3 đến 18 tuổi học ở 3 cấp, Mần Non, Tiểu Học, Trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Đối với tiểu học có 569 em nằm chủ yếu ở 3 trường tiểu học Trường tiểu học An Phú; Trường tiểu học Hợp Thanh A; Trường tiểu học Hợp Thanh B Nhưng riêng trường tiểu học An Phú có 521 em chiếm khoảng 80% học sinh của nhà trường Sự phân bố không đồng đều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc học
Trang 12tập tiếng Việt và giao tiếp của học sinh Vì các em là học sinh dân tộc lại học với những em học sinh người Kinh, bạn bè thầy
cô đều sử dụng tiếng phổ thông nên các em thường sống khép mình ngại giao tiếp trong giờ học không tự tin trình bầy những hiểu biết của mình ngại khi nói ra các bạn có cười mình không Đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, là nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục Mỹ Đức nơi có học sinh DTTS Trên tinh thần về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm giáo dục học sinh theo hướng phát triển năng lực giao tiếp.
Tổ chức khảo sát
Mục đích khảo sát
Khảo sát về thực trạng hoạt động dạy học, dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học có học sinh DTTS huyện Mỹ Đức
Thực trạng công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học có học sinh DTTS huyện Mỹ Đức để làm căn cứ
Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản
lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học DTTS theo
Trang 13hướng phát triển năng lực giao tiếp trên địa bàn huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.
Nội dung khảo sát
- Thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp ở các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số thiểu số của huyện Mỹ Đức.
- Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp ở các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số thiểu số của huyện Mỹ Đức.
Khách thể khảo sát và địa bàn khảo sát
Khảo sát 61 CBQL, GV tiểu học đang trực tiếp công tác tại 03 trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số : Trường tiểu học An Phú; Trường tiểu học Hợp Thanh A; Trường tiểu học Hợp Thanh B học có học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mỹ Đức TP Hà Nội.
Trang 14Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường tiểu học huyện Mỹ Đức
Việc đánh giá thực trạng học tập môn Tiếng Việt của 03 trường có học sinh DTTS được thực hiện qua phiếu điều tra tại các trường tiểu học trong huyện và số liệu báo cáo thống kê của Phòng GD&ĐT Mỹ Đức để đánh giá kết quả học tập, thái độ, động cơ học tập của học sinh, tìm ra nguyên nhân của thực trạng.
Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình dạy học
Đánh giá hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt của giáo viên được tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi trên 09 đối tượng là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và 52 giáo viên ở các trường tiểu học thể hiện ở 3 mức độ thường xuyên, đôi khi và không bao giờ Kết quả tổng hợp điểm các ý kiến trả lời như sau:
Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình dạy học
Trang 15(N = 61)
STT Nội dung thực hiện
Mức độ thực hiện
Điểm TB
Thườn g xuyên
Đôi khi
Không Bao giờ
1 Chú ý phát triển năng lực giao tiếp cho
HS DTTS trong lập kế hoạch dạy học
61
2 Thiết kế giáo án có nội dung phát triển
năng lực giao tiếp cho HS DTTS trước
khi lên lớp
48 78,7%
13 21,3% 0 2,87
3 Chú trọng thực hiện nội dung dạy học
môn tiếng Việt theo hướng phát triển
năng lực giao tiếp cho HS DTTS
49 80,03%
12 19,07% 0 2.8
4 Thăm lớp dự giờ đồng nghiệp để cùng
phát triển chuyên môn giúp HS DTTS
phát triển năng lực giao tiếp
44 72,1%
17 27,9% 0 2,72
5 Tự nghiên cứu những tài liệu mới về
dạy tiếng Việt cho học sinh DTTS
45 73,8%
16 26,2% 0 27,3
6 Nhận xét, đánh giá kết quả học tập của
HS DTTS theo hướng động viên khích
lệ
38 62,3%
23 37,7% 0 26,2
7 Bồi dưỡng học sinh DTTS có năng
khiếu về môn học
46 75,4%
11 18,03%
4 6,57% 2,68
8 Phụ đạo những học sinh DTTS có năng
lực giao tiếp phát triển chậm 34
55,7%
27 44,3% 0 2,55
Trang 169 Dạy học môn Tiếng Việt theo hướng
phát triển năng lực giao tiếp đổi mới
phương pháp giảng dạy để nâng cao
chất lượng
45 73,8%
16 26,2% 0 27,3
10 Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả
học tập môn tiếng Việt của học sinh
DTTS theo tiếp cận năng lực
38 62,3%
23 37,7% 0 2,6
11 Tích hợp các nội dung mang tính
dân tộc trong giảng dạy môn Tiếng
Việt
23 37,7%
37 62,3% 0 2,3
12 Tổ chức dạy học trải nghiệm trong giờ
học môn Tiếng Việt để phát triển năng
lực giao tiếp cho HS DTTS
21 34,4%
40 65,6%
0
2,3
Kết quả điều tra cho thấy:
Chú ý phát triển năng lực giao tiếp cho HS DTTS trong lập kếhoạch dạy học đạt 100% Thiết kế giáo án có nội dung phát triển năng lựcgiao tiếp cho HS DTTS trước khi lên lớp của huyện Mỹ Đức còn chưađồng đều Thăm lớp dự giờ đồng nghiệp để cùng phát triển chuyên môngiúp HS DTTS phát triển năng lực giao tiếp giúp được đánh giá thườngxuyên 72,1% Khả năng tích hợp giảng dạy bằng tiếng Việt và tiếngDTTS còn rất thấp, giáo viên hầu như không nói được tiếng DTTS Tíchhợp các nội dung mang tính dân tộc trong giảng dạy môn Tiếng Việt làrất thấp 37,7% Tổ chức dạy học trải nghiệm trong giờ học môn TiếngViệt để phát triển năng lực giao tiếp cho HS DTTS chưa được cao đạt34,4% Bồi dưỡng học sinh DTTS có năng khiếu về môn học đạt 75,4%Chất lượng bồi dưỡng học sinh có năng khiếu theo hướng phát triển năng
Trang 17lực giao tiếp chưa cao Nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cũngnhư đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực giaotiếp 73,8% Mà hiện nay các nhà trường tổ chức giảng dạy môn TiếngViệt cho học sinh DTTS trực tiếp bằng tiếng Việt, điều này gây khó khăncho cả người dạy và người học, nhất là đối với lớp1, lớp 2.
Qua điều tra cho thấy lập kế hoạch dạy học, thiết kế giáo án trướckhi lên lớp đạt kết quả cao giáo viên đã thực hiên tốt các nhiệm vụchuyên môn trong dạy học, tuy nhiên còn hạn chế ở một số nội dung đólà: Khả năng tích hợp các nội dung trong giảng dạy môn Tiếng Việt,
tổ chức các hoạt động hiệu quả trong giờ học môn Tiếng Việt tự nghiêncứu tài liệu mới về dạy học môn Tiếng Việt còn chưa được thườngxuyên
Kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh DTTS
Kết quả học tập môn Tiếng Việt trong 3 năm học qua
Năm học Tổng số
HSDTTS
Xếp loại Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
253(2KT) 49,6%
11(4 KT) 2,1%2016-
2017
527(7 KT) 264 50,1%
254(4 KT) 48,2%
9(3 KT) 1,7%2017-
2018
548(5 KT) 273 49,8%
268(2 KT) 49,3%
7(3 KT) 1,27%
Trang 18Nhìn vào bảng kết quả học tập môn Tiếng Việt trong 3 năm học trên,cho thấy chất lượng học tập môn Tiếng Việt tiến bộ còn chậm, chưa có sựtiến bộ chưa bứt phá, tỷ lệ học sinh lưu ban đọc yếu trong giao tiếp ảnh hưởngđến môn chất lượng các môn học khác trong các trường có học sinh dân tộcthiểu số của huyện Mỹ Đức.
Ý kiến của một cán bộ lãnh đạo cấp huyện:
Trên địa bàn huyện Mỹ Đức có xã An Phú, Hợp Thanh có học sinh
DTTS nên “Ông rất trăn trở trong việc nâng cao chất lượng quản lý dạy
học đối với học sinh DTTS, mà trước hết là chất lượng dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học” Ông cho
rằng, Tiếng Việt trong nhà trường tồn tại với hai tư cách: vừa là một mônhọc vừa là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh Huyện đã chủ trương
“Chỉ đạo dạy tăng cường tiếng Việt cho các lớp mẫu giáo 5 tuổi, chuẩn bị
tâm thế cho các cháu vào học tiểu học” Do đó, trình độ tiếng Việt của
học sinh DTTS thiếu nên gặp trở ngại rất lớn có em nói tiếng Việt từngtiếng chưa tốt, khó đạt thành câu; khi đến trường các cháu học chươngtrình thống nhất chung như những em học sinh người kinh (vốn từ, kiếnthức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập, giao tiếp) cóvai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tập các môn họccủa học sinh
Huyện đã chỉ đạo tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản
lý, giáo viên, tuyển chọn và bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng cho đội ngũ nhânviên hỗ trợ giáo viên là người dân tộc thiểu số trong quá trình giảng dạy song chất lượng vẫn chưa được như mong muốn, hiệu quả giáo dục thấp, tỷ lệhọc sinh yếu kém, lưu ban, bỏ học vẫn còn rất cao thậm chí vẫn còn nhữnghọc sinh "ngồi sai lớp"
*Ý kiến của một cán bộ lãnh đạo phòng GD&ĐT:
Trang 19Người giáo viên tiểu học phải là người giáo viên có chuyên mônnghiệp vụ sư phạm vững vàng, có tư cách đạo đức đúng mực Để quản lý tốtviệc dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh DTTS trong giai đoạn hiện nay,Phòng GD&ĐT đã thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên môn, trao
đổi kinh nghiệm về quản lý dạy học giữa các trường với nhau “Giáo viên cần
phải biết tiếng DTTS để thuận lợi trong việc tiếp cận với học sinh và cha mẹ học sinh, từ đó có thể làm tốt hơn công tác giáo dục ở các nhà trường Cán
bộ quản lý cần chỉ đạo giáo viên quan tâm đến điều kiện cụ thể của các em” Mỗi giáo viên có biện pháp đối tượng học sinh DTTS nâng cao chất
lượng giáo dục đại trà
Hoạt động học tập trên lớp, nề nếp học tập của học sinh
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động học tập của học sinh, tôi đã tiếnhành khảo sát 61 cán bộ quản lý, giáo viên của 3 trường tiểu học với câu hỏi
ở 4 mức độ Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt (CT) Kết quả khảo sát như sau:
Đánh giá ý thức thái độ học tập môn Tiếng Việt của học sinh DTTS
STT Nội dung điều tra Ý kiến đánh giá, số lượng/%
ĐiểmTB
7 16,4%
2
Tham gia các hoạt động, trải
nghiệm ngoại khóa theo
hướng phát triển năng lực
giao tiếp
27 44,3 %
14 29,9 %
20 32,8%
0 2,1
Trang 2027 44,3 %
9 14,7%
0 2,26
4 Ý thức định hướng học tập
tiếp theo
10 16,4%
21 34,4%
25 41%
5 8,2% 1,63
5 Biết cách sử dụng các tài
liệu liên quan đến môn học
23 37,7%
13 21,3%
25 41% 0 1,96
Kết quả trên cho thấy, hoạt động học tập rèn nề nếp cho học sinhDTTS được các nhà trường đặc biệt chú trọng tuy vậy học sinh tham giatích cực, hứng thú các hoạt động giao tiếp Tiếng Việt tốt có tỉ lệ 83,6%.Nhưng việc tham gia các hoạt động, trải nghiệm ngoại khóa theo hướngphát triển năng lực giao tiếp của môn học còn hạn chế (chỉ có 44,3% họcsinh tham gia tốt các hoạt động phát triển năng lực giao tiếp được tổ chứctrong giờ học) Đặc biệt, ý thức định hướng học tập tiếp theo còn thấpchiếm tỉ lệ 41% đánh giá ở mức trung bình và 8,25% được đánh giá làthực hiện chưa tốt) Việc sử dụng các tài liệu liên quan đến môn học củahọc sinh trong các nhà trường được đánh giá chưa cao, tỉ lệ thực hiện tốtchiếm 37,7% Nên ảnh hưởng đến quá trình học tập của học môn TiếngViệt cũng như các môn học khác
Mặt khác, NLGT chỉ phát triển khi con người được rèn luyện, trảinghiệm qua các tình huống trong thực tế, điều này sẽ hình thành và pháttriển một cách bền vững những kĩ năng giao tiếp cho các em một cáchnhanh nhất HS cũng cảm nhận được những giá trị mà giao tiếp mang lạicho bản thân, từ đó tạo cho các em niềm tin, động lực trong giao tiếp GV
Trang 21cần thiết kế và tổ chức các hoạt động trong và ngoài giờ sao cho HS có cơhội giao tiếp, tự trải nghiệm và biết phân tích, giải quyết các tình huống.
Từ đó HS có hứng thú hơn và mang lại hiệu quả cao đối với việc pháttriển NLGT
Nguyên nhân của thực trạng này do nhiều yếu tố kết hợp lại: Đối vớitrường tiểu học An Phú, trên 80% học sinh là DTTS
Thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường tiểu học huyện Mỹ Đức
Công tác quản lý, chỉ đạo dạy học từ phòng GD&ĐT tới các trường
đã tạo được sự thống nhất, khá đồng bộ tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểmtra, đánh giá chất lượng, giao tiếp và ứng xử Trình độ và năng lực quản
lý Các trường có học sinh DTTS chất lượng giáo dục nói chung và chấtlượng dạy học môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếptại các trường tiểu học huyện Mỹ Đức đã có nhiều chuyển biến tích cực
Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, cán bộ, giáoviên, nhân viên, quản lý học sinh và yếu tố khách quan như: Điều kiện cơ
sở vật chất - phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy học theo hướngphát triển năng lực, đủ về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên và họcsinh được nâng lên, thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục…địa phương từngbước được quan tâm Đây cũng là cơ sở để đề xuất các biện pháp ởchương 3
Thực trạng chỉ đạo xây dựng mục tiêu, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt chú trọng phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh dân tộc thiểu số
Chương trình giảng dạy là văn bản pháp quy do Bộ Giáo dục & Đàotạo ban hành, Tất cả các trường phải tuân thủ nghiêm túc mà người trựctiếp thực hiện là đội ngũ giáo viên phải dạy đúng, đủ số môn theo quy
Trang 22định của bộ; giáo viên dạy đủ tiết/tuần/môn/; giáo viên dạy đúng, đủ sốtiết/bài Việc quản lí chương trình dạy học Kiểm tra kí bài soạn ; giáoviên nắm rõ phân phối chương trình, nội dung giảng dạy từng khối lớp kịpthời phổ biến cho giáo viên về văn bản mới về hướng dẫn điều chỉnh mônhọc; Triển khai thời gian thực học 35 tuần/năm và tổ chức dạy bù cho kịptiến độ chương trình; Ở các trường tiểu học An Phú, Hợp Thanh A, HợpThanh B huyện Mỹ Đức các tổ chuyên môn kiểm tra cứ hai tuần báo cáo
về thực hiện chương trình của các giáo viên hàng tháng Cứ định kì 1lần/tháng,
Đã được đánh giá thực trạng chỉ đạo, xây dựng kế hoạch mục tiêu dạyhọc môn tiếng Việt ở các trường có học sinh DTTS như Trường tiểu học AnPhú, Hợp Thanh A, Hợp Thanh B huyện Mỹ Đức Tổng số 61 cán bộ quản lí
và giáo viên sau khi tổng hợp ý kiến được như sau