Theo Art Costa, tác giả của một trong nhiều cuốn sách về tư duy cho rằng: “Tư duy là sự cảm nhận của chúng ta khichúng ta nhận được những dữ kiện, những thông tin diễn ra... Lập luận của
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG PHIẾU BÀI TẬP TIẾNG VIỆT NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH LỚP 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Khái niệm về tư duy
Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con người chưabiết, chưa nhận thức được Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòihỏi con người phải hiểu thấu những cái chưa biết đó, phải vạch
ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng.Quá trình nhận thức đó gọi là tư duy
Theo tâm lý học, tư duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất
có tổ chức cao – bộ não người Tư duy phản ánh thế giới vậtchất dưới dạng các hình ảnh lý tưởng: “Tư duy phản ánh nhữngthuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quyluật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” [2] Quátrình phản ánh này là quá trình gián tiếp, độc lập và mang tínhkhái quát, được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sựnhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thứccảm tính
Theo Art Costa, tác giả của một trong nhiều cuốn sách về
tư duy cho rằng: “Tư duy là sự cảm nhận của chúng ta khichúng ta nhận được những dữ kiện, những thông tin diễn ra
Trang 2trong các mối quan hệ” Nói một cách ngắn gọn là: “Chúng tasuy nghĩ” [13;19]
Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồmnhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật haymột sự kiện Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu haygiải quyết một việc nào đó
Theo cách hiểu đơn giản nhất, TD là một loạt những hoạtđộng của bộ não diễn ra khi có sự kích thích Những kích thíchnày nhận được thông qua bất kì giác quan nào trong năm giácquan: xúc giác, thị giác, thính giác, khứu giác hay vị giác
Tóm lại, có thể hiểu TD là một hiện tượng tâm lý, là hoạtđộng nhận thức bậc cao ở con người Cơ sở sinh lý của TD là
sự hoạt động của vỏ đại não Hoạt động TD đồng nghĩa vớihoạt động trí tuệ Mục tiêu của TD là tìm ra các triết lý, lý luận,phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tìnhhuống hoạt động của con người
Các yếu tố cơ bản trong tư duy
Mục đích: Mọi lập luận đều có mục đích Để kiểm tra,
đánh giá lập luận, chúng ta có thể sử dụng các câu hỏi sau:
Mục đích của lập luận này là gì? Tôi có thể phát biểu lậpluận đó một cách rõ ràng được không?
Mục đích của bạn có thực tế không?
Trang 3Lập luận của bạn có tập trung xuyên suốt vào mục đíchcủa bạn không?
Câu hỏi: Mọi lập luận đều là nỗ lực tìm ra điều gì đó, xử
lý câu hỏi nào đó, giải quyết vấn đề nào đó Để kiểm tra, đánhgiá câu hỏi đã hợp lý chưa, chúng ta có thể sử dụng các câu hỏisau:
Tôi đang đưa ra những câu hỏi nào?
Đây là câu hỏi chỉ duy nhất một câu trả lời đúng hay cóthể có nhiều câu trả lời hợp lý?
Câu hỏi này đòi hỏi có phán đoán chứ không đơn thuầndựa trên các sự kiện?
Giả định: Mọi lập luận dựa trên các giả định Để kiểm tra,
đánh giá các giả định, chúng ta có thể sử dụng các câu hỏi sau:
Tôi đang đưa ra những giả định nào? Chúng đã đượcchứng minh chưa?
Những giả định này sẽ định hình góc nhìn của tôi như thếnào?
Tôi đang xem điều gì là đương nhiên?
Giả định nào đã dẫn tôi đến kết luận đó?
Góc nhìn: Mọi lập luận đều được đưa ra từ một góc nhìn
nào đó Để kiểm tra, đánh giá lại góc nhìn của mình, chúng ta
có thể sử dụng các câu hỏi sau:
Trang 4Góc nhìn của tôi ở đây là gì? Nó được dựa trên nhữngnhận thức nào? Điểm yếu của nó là ở đâu?
Trong lập luận này, còn góc nhìn nào khác không? Điểmmạnh và điểm yếu của từng góc nhìn đó là gì?
Tôi đã công bằng khi xem xét những nhận thức nằm đằngsau những góc nhìn ấy không?
Dữ kiện, thông tin và bằng chứng: Mọi lập luận đều dựa
trên dữ kiện, thông tin và bằng chứng Để kiểm tra, đánh giá lại
dữ kiện, thông tin và bằng chứng của mình, chúng ta có thể sửdụng các câu hỏi sau:
Tôi đang sử dụng những thông tin gì để đưa ra kết luận?Các thông tin đó được lấy nguồn từ đâu? Độ chính xác của cácthông tin đó có cao không?
Các dữ kiện có rõ ràng, đúng và liên quan đến câu hỏiđang đặt ra không?
Tôi đã tập hợp đủ dữ kiện để cho ra một kết luận hợp lýchưa?
Khái niệm, lý thuyết: Mọi lập luận đều được thể hiện
thông qua các khái niệm và các lý thuyết và đều bị định hìnhbởi các khái niệm và các lý thuyết Để kiểm tra, đánh giá lại cáckhái niệm và lý thuyết mình sử dụng, chúng ta có thể sử dụngcác câu hỏi sau:
Trang 5Những khái niệm và lý thuyết cốt lõi nào đang chi phốilập luận?
Có thể có những giải thích nào khác, dựa theo khái niệm
và lý thuyết ấy?
Tôi có đang bóp méo các ý niệm cho phù hợp với kếhoạch làm việc của mình không?
Suy luận, kết luận: Mọi lập luận đều chứa đựng các suy
luận hay các diễn giải, nhờ đó ta rút ra các kết luận mang lại ýnghĩa cho dữ kiện Để đưa ra suy luận, kết luận đúng đắn,chúng ta có thể sử dụng các câu hỏi đánh giá như sau:
Tôi đạt đến kết luận này như thế nào?
Có cách nào khác để lý giải thông tin này không?
Các suy luận của tôi có nhất quán với nhau không?
Hàm ý, hệ luận: Mọi lập luận đều dẫn đến chỗ nào đó hay
có những hàm ý và hệ luận Cần kiểm tra lại những hàm ý, hệluận theo sau lập luận của mình, kiểm tra lại lập luận cho toàndiện, chúng ta cần trả lời các câu hỏi sau:
Những hàm ý, hệ luận nào theo sau lập luận của mình?Nếu chấp nhận hướng lập luận này thì sẽ có những hàm ý,
hệ luận nào?
Trang 6Tìm hiểu đặc điểm tư duy của học sinh lớp 4
Trong Tâm lý học nhận thức, Piaget đã đưa ra thuyết hoạtđộng hóa nhằm mô tả các cấu trúc lôgic khác nhau có tính kếthừa trong quá trình phát triển trí tuệ của con người từ khi sinh
ra tới tuổi trưởng thành Ông cho rằng TD của trẻ hình thành vàphát triển liên tục theo từng giai đoạn cụ thể Theo ông, ở giaiđoạn từ 0 đến 2 tuổi, trẻ chỉ sử dụng công cụ TD là tri giác vàđộng tác có khả năng biểu hiện Đó là thời kì trí tuệ cảm giác –vận động tiền ngôn ngữ Từ 2 tuổi đến khoảng 7 tuổi là khởiđầu cho một thời kì mới Ở giai đoạn này, trẻ có TD mang chứcnăng tượng trưng (kí hiệu), chuyển từ trí tuệ cảm giác - vậnđộng sang trí tuệ biểu tượng Có nghĩa là các em nhận thức đốitượng chủ yếu và trực tiếp thông qua các giác quan Như vậy
TD của trẻ đã chuyển từ tiền hoạt động sang thời kì hoạt động
cụ thể, từ tiền thao tác sang thao tác Sở dĩ có nhận định nhưvậy bởi trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học TD chủyếu diễn ra trong trường hành động Tức những hành động trên
đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giácquan) Thực chất của loại TD này là trẻ tiến hành các hànhđộng để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật Về bản chất trẻchưa có các TTTD – với tư cách là các thao tác trí óc bên trong.Trong giai đoạn tiếp theo (thường là HS từ lớp 3, lớp 4), trẻ đãchuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bênngoài thành các thao tác trí óc bên trong, mặc dù tiến hành các
Trang 7thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động đối với đối tượngthực, chưa thoát ly khỏi chúng Đồng thời TD của trẻ hìnhthành tính thuận - nghịch Ở thời kì này, biểu hiện rõ nhất củabước phát triển trong TD của trẻ là đã hình thành các hoạt độngtinh thần, xuất hiện sự phân loại, chia loại Trẻ đã có khả năngđảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có
sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng Nhưng những khảnăng mới cũng chỉ trong trường hoạt động hạn chế vì vẫn phảibám giữ trên đối tượng cụ thể (đồ vật, sự vật, hiện tượng) Từ
10 và 11 tuổi trở đi, TD của trẻ đã chuyển dần sang hoạt độnghình thức hay còn gọi là hoạt động giả thuyết – suy diễn, khôngcòn bám giữ vào đối tượng (đồ vật, hiện tượng) cụ thể, mà căn
cứ vào “giả thuyết’’ Thời kì TD hình thức phát triển ở tuổithiếu niên (vị thành niên)
Các TTTD như phân tích – tổng hợp, khái quát – trừutượng hóa còn sơ đẳng ở các lớp đầu cấp tiểu học, chủ yếu chỉtiến hành hoạt động phân tích – trực quan - hành động khi trigiác trực tiếp đối tượng Nhưng trong quá trình học tập dần lêncác lớp trên thì khả năng phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa –khái quát hóa trong TD của trẻ có sự phát triển vượt bậc HScuối cấp này có thể phân tích đối tượng mà không cần tớinhững hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Các em có khảnăng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau củađối tượng dưới dạng ngôn ngữ
Trang 8Như vậy, theo thời gian, hoạt động TD của HS tiểu học cónhiều biến đổi cơ bản TD của HS tiểu học đã tương đối pháttriển, chủ yếu là ở cuối cấp Qua mỗi năm học ở nhà trường tiểuhọc, khả năng TD trừu tượng, TD logic và TDST của HS đượchình thành và phát triển dần từ thấp đến cao Sự thay đổi mốiquan hệ giữa TD hình tượng, trực quan cụ thể sang TD trừutượng, khái quát chiếm ưu thế và là đặc điểm mới, nổi bật vềhoạt động TD của HS cuối cấp tiểu học Chẳng hạn HS cuốicấp đã biết so sánh câu với cấu trúc phức tạp, tóm tắt đoạn văntrong một câu, đặt tiêu đề cho đoạn văn đã đọc; phân loại cácbài toán đơn, các bài toán hợp dựa vào một số tiêu chí như bàitoán có một bước giải, bài toán có nhiều bước giải, bài toánthực hiện bằng một phép tính, bài toán thực hiện bằng nhiềuphép tính, Tuy nhiên TD hình tượng cụ thể, trực quan khôngmất đi mà nó vẫn tồn tại và phát triển đồng thời giữ một vai tròquan trọng trong cấu trúc TD ở lứa tuổi này Nhiều công trìnhnghiên cứu đã chỉ ra trong TD của HS cuối cấp tiểu học đã cónhững dấu hiệu bản chất của sự vật, đối tượng nhưng khôngphải bao giờ cũng phân biệt được dấu hiệu bản chất đó trong tất
cả các trường hợp cụ thể Chẳng hạn, nhiều HS lớp 5 có thể tínhđược thể tích của một hình hộp chữ nhật khi đã biết các số đonhưng lại rất khó khăn khi tính thể tích của một bể nước cũngvới những số đo đó, lại càng khó khăn hơn khi tính thể tíchnước trong bể khi biết mức nước trong bể cách mặt bể một số
Trang 9đo cụ thể (ví dụ mức nước trong bể bằng 3/4 chiều cao của bể),
và sẽ ít HS tính được thể tích của cái thùng kín khi thả chìm cáithùng đó vào trong bể, Nhận thức được đặc điểm này trong
TD của trẻ giúp cho các thầy cô giáo tiểu học biết cách tác độngphù hợp để phát triển TD nói chung, TDPB nói riêng cho HScuối cấp tiểu học
Các vấn đề về tư duy phản biện
Định nghĩa và đặc điểm của tư duy phản biện
Nguồn gốc của khái niệm TDPB (critical thinking) có thểtìm thấy trong tư tưởng của triết gia cổ đại Socrates người HyLạp cách đây hơn 2000 năm với suy nghĩ giải quyết vấn đềbằng cách chia nhỏ nó thành một hệ thống các câu hỏi Đến nay
đã có nhiều cách hiểu khác nhau về TDBP Watson Glaser(1980) quan niệm TDPB bao gồm: (1) thái độ sẵn lòng quantâm suy nghĩ chu đáo về những vấn đề và chủ đề xuất hiệntrong cuộc sống cá nhân, (2) sự hiểu biết về phương pháp điềutra và suy luận có lý, và (3) một số kỹ năng trong việc áp dụngcác phương pháp đó TDPB theo đó đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ đểkiểm định niềm tin hay giả thuyết bất kỳ với sự xem xét đến cácbằng chứng nhằm có thể đưa ra lời khẳng định hoặc những kếtluận xa hơn Michael Scriven (1987) cho rằng TDPB là khảnăng, hành động để thấu hiểu và đánh giá được những dữ liệuthu thập được thông qua quan sát, giao tiếp, và tranh luận Một
Trang 10cách ngắn gọn và đơn giản, Richard Paul và Linda Elder (2012)định nghĩa TDPB là “nghĩ về cái bạn nghĩ” [13; 35]
Với cách hiểu nào đi chăng nữa cũng cho thấy TDPBchính là khả năng phân tích, đánh giá ý kiến, quan điểm củamình hoặc người khác một cách khách quan, hợp lý và có hệthống với định hướng cải thiện nó Cách hiểu đó thể hiện nhữngđặc điểm của TDPB Đó chính là:
Suy xét vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, có lập luận căn
cứ đúng đắn, rõ ràng
Nhận ra sự hạn chế, chưa thuyết phục của lập luận
Giải quyết vấn đề có lý trí hơn
Tóm lại, TDPB là quá trình phân tích, đánh giá nhằm cảithiện chất lượng ý kiến, chất lượng tư duy [13;35]
Người có tư duy phản biện thường có thể:
Hiểu sự gắn kết logic giữa các quan điểm
Nhận dạng, phát triển và đánh giá các lập luận
Tìm ra những sự không nhất quán và lỗi sai phổ biếntrong cách lập luận
Giải quyết các vấn đề một cách hệ thống
Nhận dạng sự liên quan và tầm quan trọng của các ýtưởng
Trang 11Xem xét cách lập luận và sự đúng đắn trong quan điểm,niềm tin của người khác.
Quy trình tư duy phản biện
Quy trình TDPB gồm 3 bước chính, đó là: Mô tả - Phân tích - Đánh giá [5]
Trong bước đầu tiên, bước Mô tả, cần trả lời các câu hỏi
Ai, Cái gì, Ở đâu, Khi nào (để xác định rõ ràng thông tin, vấn
đề được đề cập Phần thông tin nắm được ở bước này sẽ là nềntảng và nguyên liệu dùng cho bước phân tích và đánh giá tiếptheo
Phân tích là bước phức tạp và sâu hơn, làm cho TDPB
khác biệt rõ rệt với TD thông thường Phân tích có nghĩa là chỉ
ra mối liên hệ giữa các lập luận trong tổng thể, so sánh và đốichiếu quan điểm nguồn thông tin này với nguồn thông tin khác,chỉ ra những hàm ý ngầm hay mục đích mà người tranh luậnhướng tới Những câu hỏi cần đặt ra ở đây là “Tại sao?” để tìmnhững nguyên nhân, lời giải thích như tại sao lại có thể khẳngđịnh điều này, tại sao không phải là điều ngược lại; câu hỏi
“Như thế nào?” để hiểu được những quy trình TD, quy trình lậpluận: các quan điểm, dẫn chứng được nêu ra liên hệ với nhauthế nào, những yếu tố về thời gian, địa điểm ảnh hưởng đếnquan điểm đó như thế nào; câu hỏi giả định để có những phánđoán cần thiết và để bao quát được mọi tình huống xảy ra: giả
Trang 12sử quan điểm này là sai, giả sử trong trường hợp này thì quanđiểm có còn chính xác không
Sau khi đã hoàn thành bước phân tích, có thể chuyển sang
bước Đánh giá – là bước cuối cùng Đánh giá là quy trình nhìn
lại tất cả quá trình TD và đưa ra kết luận cuối cùng, đánh giá sựthành công hay chưa thành công của công trình nghiên cứu,đánh giá tính đúng sai toàn diện của quan điểm, giá trị, ý nghĩatrong bài Bước này đôi khi không nhất thiết phải cứng nhắc làđúng hay sai mà có thể đưa ra những kết luận mở, những quanđiểm có thể đúng trong một số trường hợp Những câu hỏi cầnđặt ra ở bước này là: “Như vậy, rút ra điều gì?” để có thể suyluận về giá trị, ý nghĩa và độ phù hợp của nội dung bài viết vớinhững chuẩn mực chung và cùng bàn luận về các quan điểm,phân tích đã đưa ra; “Như vậy, tiếp tục suy ra điều gì?” để cóthể dẫn dắt tới những nghiên cứu, phán đoán sâu xa hơn, đưa ra
kế hoạch về những gì có thể tiếp tục phát triển trong chủ đề củavấn đề đó
Các tiêu chuẩn đánh giá tư duy phản biện
Sự rõ ràng là một tiêu chí của tư duy phản biện Sự rõ
ràng trong giao tiếp là một khía cạnh của vấn đề này Chúng taphải rõ ràng trong cách tuyền đạt suy nghĩ, quan điểm và lý docho những quan điểm đó Bạn có thể nói rõ thêm về điểm đókhông? Bạn có thể trình bày điểm đó bằng cách khác không?
Bạn có thể cho tôi một minh hoạ? Một ví dụ? Sự rõ ràng là một
Trang 13chuẩn mực mang tính bản lề Nếu một phát biểu không rõ ràng,
ta không thể xác định nó chính xác hay có liên quan hay không.Thực tế, ta không thể nói được gì về ta vì ta vẫn chưa biết nómuốn nói gì Chẳng hạn, câu hỏi “Có thể làm được gì cho hệthống giáo dục của đất nước?” là câu hỏi không rõ ràng Để đưa
ra đúng câu hỏi, ta cần có một hiểu biết rõ ràng hơn về việcngười đặt ra câu hỏi đang xem xét “vấn đề” gì?
Tính đúng đắn xuất hiện khi chúng ta xem xét kĩ càng về
một vấn đề trước khi bắt tay vào làm nó Một cách để kiểm tratính đúng đắn là đặt ra những câu hỏi sau: Điều ấy có thực sựđúng không? Làm sao ta có thể kiểm tra điều đó được? Làm thếnào ta biết được điều đó là đúng? Một phát biểu có thể rõ ràngnhưng lại không đúng đắn, chẳng hạn: “Hầu hết loại chó đềunặng trên 136kg.”
Tính chính xác là yếu tố không thể bàn cãi của tư duy
phản biện Để tìm ra hay đến gần hơn với đáp án, những người
có tư duy phản biện tìm kiếm những thông tin chính xác và đầy
đủ Trước khi chuyển sang vấn đề khác, họ muốn thu thậpnhững thông tin đúng và thực tế Bạn có thể cho nhiều chi tiếthơn, và cụ thể hơn được không? Một phát biểu có thể vừa rõràng vừa đúng đắn, nhưng lại không chính xác, như trong câu:
“Duy bị thừa cân.” (Ta không biết thừa cân ra sao, nửa kg hay226kg)
Trang 14Sự liên quan nghĩa là những thông tin và ý tưởng được
thảo luận phải liên quan một cách lô gíc với vấn đề đang đượcthảo luận Nhiều học giả, chính trị gia rất giỏi trong việc làm
chúng ta lệch hướng khỏi vấn đề này Điều đó nối kết thế nào với câu hỏi? Điều đó liên quan gì với vấn đề đang đặt ra? Một
phát biểu có thể rõ ràng, đúng và chính xác, nhưng lại khôngliên quan đến câu hỏi đang đặt ra Chẳng hạn, sinh viên thườngnghĩ rằng công sức họ bỏ ra cho một bài học nhất định sẽ nângcao điểm số của họ Tuy nhiên, thường thì “công sức” không đolường được chất lượng trong việc học của sinh viên, và khi đócông sức là không liên quan đến điểm số tương ứng với họ
Tính kiên định là tiêu chí quyết định của tư duy phản biện.
Quan điểm của chúng ta cần kiền định Chúng ta không nên giữnhững quan điểm tồn tại mâu thuẫn Nếu chúng ta thấy rằngchúng ta có thể giải quyết được những quan điểm mâu thuẫn,sau đó, một hoặc cả hai quan điểm đều sai Ví dụ như, tôi phủnhận rằng tôi tin vào cả hai quan điểm “Phân biệt chủng tộc làsai trái” và “Đạo đức hoàn toàn là tương đối” Điều này là mâuthuẫn có lô gíc Một dạng khác của mâu thuẫn, được gọi là mâuthuẫn thực tế, là bạn có thể tin vào một quan điểm, đồng thời,cũng tin vào quan điểm khác Ví dụ như, nếu tôi nói rằng tôi tingia đình quan trong hơn công việc, nhưng tôi lại hy sinh lợi íchcủa họ vì công việc của mình Như vậy là tôi đang có một mâuthuẫn thực tế
Trang 15Tính logic nghĩa là chúng ta đang hoàn thiện kết quả từ
những gì chúng ta tin thông qua trường hợp cụ thể, cho đếnnhững kết luận theo sau những niềm tin đó Điều này thực sự cónghĩa không? Điều ấy có xuất phát từ những gì bạn đã nóikhông? Nó nảy sinh như thế nào? Trước đó bạn đã ngụ ý nhưthế, nhưng sao bây giờ bạn lại nói rằng tôi không biết tại sao cảhai có thể cùng đúng Khi tư duy, ta mang nhiều tư tưởng khácnhau vào một trật tự nào đó Khi sự nối kết các tư tưởng nâng
đỡ cho nhau và tạo nghĩa trong sự nối kết, tư dy ấy “có tính lôgic” Khi sự nối kết không nâng đỡ nhau, mâu thuận theo nghĩanào đó hay không “có nghĩa”, sự nối kết ấy là “không lô gic”
Tính toàn diện nghĩa là chúng ta tham gia vào suy nghĩ và
đánh giá sâu sắc và kỹ lưỡng, tránh suy nghĩ và phê bình nôngcạn và hời hợt Câu trả lời của bạn đề cập gì đến những tínhphức hợp trong câu hỏi? Bạn đã xem xét như thế nào về nhữngvấn đề trong câu hỏi? Bạn có xử lý những nhân tố có ý nghĩa
nhất không? Một phát biểu có thể rõ ràng, đúng, chính xác và
có liên quan, nhưng lại hời hợt bề ngoài (thiếu tính chiều sâu).Chẳng hạn, phát biểu “Hãy nói không” được người ta dùngtrong nhiều năm để khuyến khích trẻ em và tuổi teen không sửdụng ma tuý là phát biểu rõ ràng, đúng, chính xác và phù hợp.Song, những ngừoi dùng lối tiếp cận này lại đang xử lý rất hờihợt một vấn đề hết sức phức tạp, vấn đề phổ biến của việc sửdụng ma tuý trong giới trẻ Phát biểu ấy không thể nào xử lý
Trang 16được những tính phức hợp trong vấn đề đó Bên cạnh chiều sâu,chúng ta còn cần chú ý đến chiều rộng của vấn đề Chúng ta cầnxem xét đến góc nhìn khác không? Có cách nào khác để xemxét câu hỏi này không? Từ góc nhìn bảo thủ thì điều này trông
ra sao? Từ góc nhìn của … thì điều này như thế nào? Một chuỗilập luận có thể rõ ràng, đúng, chính xác, có liên quan và cóchiều sâu, nhưng lại thiếu chiều rộng (như trong một lập luậnchỉ từ góc nhìn của phái bảo thủ hoặc chỉ từ lập trường phái tự
do, tuy có đi sâu vào vấn đề đang tranh cãi nhưng lại chỉ thừanhận ý kiến của một phía)
Tính công bằng liên quan đến việc tìm cách cởi mở, vô tư
và không thiên vị và định kiến trong quá trình giải quyết vấn
đề, tránh làm sai lệch suy nghĩ của chúng ta Chúng ta có thậtlòng suy xét hết mọi lập trường có liên quan chưa? Chúng ta cóxuyên tạc thông tin nào đó để giữ viễn tưởng đầy định kiến củamình không? Ta có quan tâm nhiều đến lợi ích của ta hơn là
quan tâm đến lợi ích chung không? Lẽ tự nhiên, chúng ta tư duy
từ viễn tưởng của riêng mình, từ một góc nhìn có khuynhhướng ưu tiên cho lập trường của mình Công bằng có nghĩa là
xử lý mọi quan điểm có liên quan một cách như nhau mà khôngtính đến những tình cảm hay lợi ích riêng của mình Vì chúng ta
có khuynh hướng thiên lệch cho quan điểm của mình, nên việcgiữ được pẩhm chất công bằng trước tư duy của ta là rất quantrọng Điều này đặc biệt quan trọng khi tình huống có thể buộc
Trang 17ta phải nhìn những điều ta không muốn thấy, hay từ bỏ điều mà
ta muốn giữ
Cũng như các kĩ năng khác, để phát triển tư duy phảnbiện, con người cần phải luyện tập thường xuyên Bất kì aimuốn phát triển trong lĩnh vực này có thể xét các khía cạnh trên
và áp dụng chúng vào các bài luận trên báo hoặc web, hoặcthậm chí trong quan điểm của bản thân mình Việc này là mộtcách luyện tập hữu ích và có ý nghĩa [12; 79-90]
Các phẩm chất cần có trong tư duy phản biện
Khiêm tốn [12;42] là việc có ý thức về những ranh giới
trong nhận thức của mình; là việc nhận thức về sự ngạo mạn;biết được những gì mình biết và những gì mình không biết.Nghĩa là, có ý thức về những thiên lệch, định kiến, nhữngkhuynh hướng tự huyễn hoặc bản thân và những giới hạn trongquan điểm của mình Bên cạnh đó, khiêm tốn còn là lắng nghengười khác, học hỏi cầu thị người khác
Can đảm [12;45] là việc có ý thức về sự cần thiết phải đối
mặt và trình bày một cách công bằng những ý niệm/ý tưởng,niềm tin hay những quan điểm khiến ta có những cảm xúc rấttiêu cực và ta chưa thực sự lắng nghe một cách nghiêm chỉnh.Nói cách khác, can đảm là tâm thế tra vấn những niềm tin màbạn tin tưởng mạnh mẽ Nó gồm việc tra vấn những niềm tincủa văn hoá của bạn và của những nhóm mà bạn thuộc về, và
Trang 18sẵn lòng trình bày các quan niệm của mình thậm chí khi chúngkhác thường Can đảm với chính mình, đối diện với nhữngniềm tin của mình trước đám đông
Cảm thông [12;46] là việc ý thức về sự cần thiết phải chủ
động xem xét những quan điểm khác của mình, nhất là nhữngquan niệm ta rất bất đồng Đó là việc ta tái tạo đúng đắn nhữngquan điểm và lập luận của những đối thủ của mình và lập luận
từ các tiền đề, các giả định và các ý tưởng khác với mình
Tự trị [12; 47] là việc có sự kiểm soát có lý trí những
niềm tin, gía trị và suy luận của mình Đánh giá, phân tích đánhgiá cả góc nhìn của chính mình, không chấp nhận một cáchkhông phê phán những quan điểm của người khác
Chính trực [12;48] là việc nhận ra sự cần thiết phải chân
thật với chính tư duy của mình, phải nhất quán với những chuẩn
mà ta đang áp dụng, phải giữ cho mình những chuẩn mựcnghiêm ngặt như nhau về bằng chứng và chứng minh mà ta đưa
ra cho những người phải đối mình; phải thực hiện những gì tatán thành cho những người khác, và phải thực lòng thừa nhậnnhững sự không thống nhất và những sự thiếu nhất quán trong
tư tưởng và hành động của mình
Bền bỉ [12;50] là việc có ý thức về sự cần thiết phải sử
dụng những nhận thức trí tuệ và sự thật, bất chấp những khókhăn, trở ngại và thất vọng; bám chắc vào những nguyên tắc