Dân số gia tăng đi đôi với việc tăng sản lượng phế thải và chất thải, việc xử lý chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng đang là vấn đề được nhiều nhà quản lý, các nhà khoa học ph
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CÚU KHOA HỌC -
Cấp quản lý để tài : BỘ Y TẾ
Co quan chu tri: VIEN Y HOC LAO ĐỘNG VÀ VSMT
DANH GIA ANH HUONG CUA BAI RAC TAP TRUNG
BEN SUC KHOE KHU DAN CU XUNG QUANH
XAY DUNG HUONG DAN TIEU CHUAN VE SINH BAI RAC
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Lê Đình Minh Phó chủ nhiệm đề tài: Cn Nguyễn Tất Hà Cán bộ tham gia: Bùi Văn Trường,
Trang 2BANG MUC LUC
- Những nghiên cứu về rác thải ở nước ngoài § -_ Tình hình nghiên cứu trong nước 10 -_ Những nghiên cứu về xử lý rác hiện nay tại Việt Nam 15
- Bui va khf thai co thể phát sinh trong bãi rác 16 + Chương 2 - ĐỐI TƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
- Kham lam sang
- Quan sat trực tiếp các công trình vệ sinh
- _ Xử lý số liệu thu được bằng phương pháp thống kê y hoc
® Tại bãi rác Nam Sơn huyện Sóc Sơn Hà Nội 46
* ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP KỊP THỜI 78
* ĐỀ NGHỊ HƯỚNG DẦN VỆ SINH BÃI RÁC 78
Trang 3CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ `
Đô thị hoá ngày càng phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam Vào những năm 2000 dân số của các thành phố lớn tăng lên với tỷ lệ gần 4% năm, những năm sau đó sẽ tăng lên 5% - 7% năm
Sự gia tăng đân số tại các đô thị đã gây sức ép đối với môi trường đặc biệt là những thành phố công nghiệp Dân số gia tăng đi đôi với việc tăng sản lượng phế thải và chất thải, việc xử lý chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng đang là vấn đề được nhiều nhà quản lý, các nhà khoa học phải suy nghĩ
và đặt lên hàng đầu sao cho môi trường đô thị được trong sạch
Năm 2000 nước ta có tới 649 đô thị lớn nhỏ, trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nắng và thành phố Hỏ Chí Minh
Có 20 thành phố trực thuộc các tỉnh như Thái Nguyên, Thanh Hoá, Vinh
và gần 625 thị trấn, thị xã Tính tới năm 2001 dân số nước ta là 79.175.000 người, xếp hàng thứ I3 của toàn cầu
Dân số sống tại các đô thị chiếm khoảng 23% dân số toàn quốc, cơ sở hạ tầng còn yếu kém chưa tương xứng với phát triển kinh tế Theo báo cáo của cục môi trường [ 19 ] thì lượng chất thải sinh ra hàng ngày khoảng 19.039 tấn, trong đó: chất thải công nghiệp 10.162 tấn, chất thải y tế chiếm 212 tấn và chất thải sinh hoạt chiếm 8665 tấn
Chỉ tính riêng thành phố Hà Nội mỗi ngày sản sinh 2993 mỶ trong đó rác thải sinh hoạt chiếm 2436 m”, địch vụ thu gom do công ty môi trường đô thị đạt 65% tổng lượng rác thải phát sinh Thành phố Hồ Chí Minh lượng rác thải phát sinh trong ngày chừng 3500 tấn bình quân 0,57 kg/ người/ ngày Lượng rác thu gom được hàng ngày đạt 57% lượng rác phát sinh
Việc tái chế rác thải của hai thành phố này cũng không lớn, mỗi năm xử
lý được từ 7000 - 10000 tấn Theo báo Hà Nội mới thì tại Hà Nội sẽ có hai nhà máy xử lý rác ở Cầu Diễn, công suất thiết kế là 50.000 tấn/ năm và ở Thanh Trì là 100.000 tấn/ năm Phần rác còn lại việc xử lý vẫn là chôn lấp như
Trang 5các bãi rác Mễ Trì, Tam Hiệp nay là Nam Sơn Thành phố Hồ Chí Minh sẽ xây dựng 4 trung tâm xử lý rác ở Đông Thạnh, Gò Cát, Ba Làng, Đa Phước phù hợp với tiêu chuẩn môi trường ( Cục môi trường 1998 )
Vấn để ảnh hưởng của các bãi rác thải tập trung tại các thành phố lớn và các đô thị trực thuộc tỉnh và các thị trấn tới môi trường và đặc biệt là đến sức khoẻ khu dân cư xung quanh chưa được các tác giả nghiên cứu
Vì vậy chúng tôi tiến hành để tài “ Đánh giá ảnh hưởng của bãi rác thải tập trung đến sức khoẻ khu đân cư xung quanh - Xây dựng và đề nghị ban hành tiêu chuẩn vệ sinh các bãi rác thải ” với các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của bãi rác thải tập trung đến sức khoẻ dan cu xung quanh
-_ Đề xuất biện pháp hạn chế - Can thiệp thích hợp tại bãi rác
-_ Xây dựng và đề nghị ban hành tiêu chuẩn vệ sinh bãi rác tập trung
Trang 6CHƯƠNG 1 : TÔNG QUAN
1.1 Những nghiên cứu về rác sinh hoạt ở nước ngoài :
Trong tóm tất luận án PTS Y học của Cerbo A P (1974) tác giả cho biết
trong rác thải Colititre 10° - 10°, Perfringens 107 - 10°, Protea 10% - 107,
chứa trứng ký sinh trùng và nhộng ruồi chiếm 72 % số mẫu xét nghiệm Sau khi ủ 3 ngày bằng men vi sinh, số lượng vi sinh vật gidm han, colititre 10", Perfringens 10°, Protea 10Ì, số lượng vi khuẩn là 611.000, vắng mặt trứng giun và nhộng ruồi Sau 5 ngay Colititre 10°', Perfringens 107, Protea 1,0, số lượng vi khuẩn là 64.000, vắng mặt trứng giun và nhộng ruồi.[ 35 ]
Năm 1962 V A Gorbov và A A Khrustaev nghiên cứu khí CO;, SH, SO; sinh ra trong nhà chứa rác kết quả cho thấy
Tai nhà chứa rác, nồng độ CO; là 0,67 %⁄„, khí HS là 0,268 mg/I, khí
SỐ; là 0,38 mg/1 Tại phố nhỏ các loại khí trên có nồng độ là 0,49 %⁄„; 0,219
mg/l; 0,011 mg/I Cách phố 15m các khí trên có nồng độ 0,39 “fy , 0,075
mø/1, không thấy.[ 40 ]
Năm 1978 E E Kramova đưa ra tiêu chuẩn vệ sinh đất khu đân cư về
các khínhưsau:[ 34 ]
Thành phần không khí trong đất (ở O “C, áp suất 700 mmHg), chiều sâu Im
Khí CO, trong đất sạch 0,38 - 0,80 "4y, đất bẩn vừa 1„2 - 2,8 °⁄2„ đất bẩn
4.1 - 6,5", đất rất bẩn 14,5 - 18 2
Cũng năm 1974 Gorbov V A và Khlevnikov N I đưa ra tiêu chỉ số nhiễm bẩn đất bón chất thải của người và động vật như sau:[ 41 ]
Đất sạch Colititre l và trên; số trứng giun/ I kg đất là 0
Dat ban Colititre | và 0,01; số trứng giun/ 1 kg đất là <10
Đất cực bẩn Colititre < 0,01; số trứng giun/ 1 kg dat > 10
Trang 7Những năm gần đây Teruo Higa thuộc trường Đại học tổng hợp Ruycuy Okynaoa Nhật Bản [ 5 ] đã lựa chọn và tạo ra chế phẩm có tên là-Effective Microorganisms (E M) là tập hợp các loại vi sinh vật có ích, bao gồm vi
khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactc, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc sống cộng
sinh trong cùng một môi trường
Chế phẩm này đã được ứng dụng tại Nhật Bản từ những năm 80 Công nghệ này đã được đưa vào Việt Nam thử nghiệm từ những năm 94 - 95, tới nay công nghệ này đã được Bộ KHCN môi trường, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - UBND thành phố Hà Nội, UBND tỉnh Thái Bình, các Viện, các Trường Đại học ở Việt Nam chấp nhận
Tại Philipine [13 ] 80% rác thải ở thủ đô Manila đã được xử lý Mỗi ngày thải ra 6000 tấn rác đã được công nghệ xử lý vi sinh biến rác thành phân bón trong vòng 6 giờ đồng hồ, không gây ô nhiễm môi trường Năm 1999 Philipine đã ban hành Bộ luật làm sạch bầu không khí, cấm đốt rác
Công nghệ tái chế rác của Philipine tuy mới ở quy mô nhỏ, nhưng mỗi năm cũng tiêu tốn khoảng l tỷ Pê - xô Người dân thủ đô Manila nói riêng và dân Philipine nói chung chưa quên đi cảnh chết hãi hùng của 200 người hồi tháng 7/2000 do sập núi rác Payatát ngoại ô Manlla
Tại Mỹ [ 9 ] ngoài phương pháp tiêu huỷ, phương pháp công nghệ sinh học, người ta vẫn áp dụng phương pháp chôn lấp rác có kiểm tra Theo công nghệ này với công suất 1000 m”/ ngày được chôn ở độ sâu từ 5 - 10 m tuỳ thuộc vào mức nước ngầm Phía đáy có hệ thống thu gom nước của rác
Rác được chia làm hai loại : loại hữu cơ sẽ xay nghiền làm phân bón, rác thải vô cơ đưa vào chôn lấp Khi chôn lấp đầy người ta phủ lên phía trên một lớp chống thấm, rồi một lớp đất mầu để trồng cây Công nghệ Mỹ chỉ tốn 620.000 USD cho toàn bộ dự án, ưu điểm của phương pháp là không ô nhiễm môi trường, thu gom nước thải không làm ô nhiễm nước ngầm và nước mặt, đáp ứng nhu cầu mở rộng đô thị
Trang 8Công nghệ này đã được phê duyệt tại Việt Nam, áp dụng để chôn lấp phế thải tại xã Tiên Phong - Huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang với diện tích 10 ha Tại Trung Quốc [ 24 ]: Công tác thu gom, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường ngày càng được chính phủ chú trọng Riêng lượng rác thải thành thị mỗi năm đã hơn 140 triệu tấn, chiếm hơn 1/4 lượng rác sinh hoạt trên toàn thế giới, tốc độ gia tăng rác thải mỗi năm chùng 8 - LÔ %,
Tổng số rác thải thành thị ở Trung Quốc hiện nay là trên 6 tý tấn, phương pháp chủ yếu vẫn là chôn lấp, khiến diện tích bãi rác chiếm tới 750.000 mẫu Khoảng 200 trong số 400 thành phố của Trung Quốc đang bị bãi rác bao vây Mới đây Trung Quốc đã hoàn thành đề án sản xuất nhiên liệu từ rác thải Việc xây dựng của nhà máy phát điện bằng đốt rác thải ở Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng từ Thượng Hải đến Bắc Kinh, Thiên Tân, Hàng Châu, Quảng Châu
Theo tác giả Bùi Tâm Trung thì năm 1995 tại Paris rác sinh hoạt được thu gom là 1.032.000 tấn, phân loại được 23.100 tấn thuy tính, 23.000 tấn giấy các loại Ở Pháp năm 1995 trong nguồn năng lượng chính cung cấp cho sưởi
ấm từ đốt rác sinh hoạt chiếm 47 %, nguồn này phục vụ chủ yếu cho bệnh viện, công trình công cộng và khu dân cư
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Hiện trạng thu gom vận chuyển và xử lý rác ở một số thành phố, thị trấn:
** Thành phố Hà Nội: [ 16 ] Theo báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn quốc năm 1998 của Nguyễn thị Kim Thái thì tính đến năm 1996 công
ty môi trường đô thị Hà Nội có 178 xe vận chuyển, với 70 - 80% số xe còn hoạt động Lượng rác phát sinh trong năm 1999 là 1523 tấn/ ngày hay
3660 mỶ/ ngày Khối lượng đất, bùn cống là 714 tấn/ ngày, trong đó rác thai sinh hoạt 1134,6 tấn/ ngày, phế thải công nghiệp và xây dựng 336,6 tấn/ ngày, chất thải bệnh viện 11,3 tấn/ ngày và chất thải độc hại khác 41,1
10
Trang 9tấn/ ngày Lượng rác thu gom được năm 1997 là 322.376 tấn (774.142 mì)
Thành phần chất thải sinh hoạt bao gồm
-_ Lá cây, rác hữu cơ: 46,1%
- Tdi nilon, dé nhua : 5,7 %
- Kim loai, vo dé hop : 5,8%
Trong tương lại gần Hà Nội đang khởi công xây dung nhà máy chế biến rác tại Cầu Diễn, xã Tây Mỗ, Từ Liêm công suất 50.000 tấn rác sinh hoạt/ năm sản xuất 13.260 tấn phân hữu cơ chất lượng cao và nhà máy xử lý rác tại xã Tả Thanh Oai với công suất thiết kế của nhà máy là 100.000 tấn rác/ năm, sẽ cung cấp sản lượng điện là 9.182.430 KWh/ năm, lượng nhiệt 14.429.534 KWh/ năm, phân bón khô 26.285 tấn/ năm và phân bón dạng lỏng 70.000 mỶ/ năm và vật liệu tái chế là 6539 tấn/ năm
Thành phố Hồ Chí Minh:[ 27 ] Với dân số hơn 3,4 triệu người trong khu vực nội thành, hàng ngày thành phố Hồ Chí Minh thải ra một lượng khá lớn chất thải gồm đạng khí, dạng lỏng và đạng rắn Riêng lượng rác chừng 3500 tấn, bình quân 0,57 kg/ người/ ngày
Thu gom rác hàng ngày đạt 57 % lượng rác phát sinh Được sự giúp đỡ của chính phủ Đan Mạch, nhà máy xử lý rác được xây dựng từ năm 1981, mỗi
1]
Trang 10`
ngày thành phố chế biến được 240 tấn rác, sản xuất 80 tấn phân bón, độ ẩm
của rác 60 - 85 %, thành phần hữu cơ 60 - 65 %, kích thước hạt nhỏ, thành
phần vô cơ 25 - 30 %
Xí nghiệp phân bón tổng hợp Hoóc Môn sản xuất phân bón mỗi năm chế biến 6000 - 7000 tấn phân từ rác thải, còn chủ yếu là chôn lấp tại bãi rác Đông Thạnh, huyện Hoóc Môn với diện tích 25 ha
Tại Bến Gò Cát, Bình Hoà, huyện Bình Chánh với diện tích 25 ha đang
sử dụng.Trong giai đoạn 2002 - 2005 thành phố Hồ Chí Minh đành từ 3210 tỷ đồng cho việc xử lý rác
Chương trình bao gồm các dự án:
-_ Giải quyết rác sinh hoạt ở quận 10
- _ Xử lý rác ở Đông Thạnh, Gò Cát
- Xay dựng khu liên hợp xử lý chất thải rắn ở Đỗ Phước
- Trạm xử lý rác y tế vùng ven ( Củ Chi, Cần Giờ )
- _ Xử lý rác thành năng lượng và phân bón
Từ nay đến 2003 thành phố đầu tư 300 xe ép rác để thu gom rác và vận chuyển đến các trạm xử lý
«* Thành phố Cần Thơ : [ 14 ] Theo báo cáo khoa học của Bùi Minh Tạo năm
1998 thì tổng lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày của toàn thành phố khoảng 200 tấn, số lượng thu gom đạt khoảng 50 %, số còn lại được thải tự
do xuống cống rãnh, kênh mương
Lượng rác thu gom được đổ vào bãi rác, nhưng bãi rác không theo đúng
kỹ thuật vệ sinh Rác thải là rác tổng hợp gồm rác thải sinh hoạt, rác thải bệnh viện, rác thải độc hại đều được đổ chung vào một nơi
Hiện nay bãi rác Châu Thành thuộc huyện Châu Thành thành phố Cần Tho da sử dụng trên 30 năm và đã quá tải
12
Trang 11Tĩnh đã tiến hành khảo sát xây dựng hai bãi chôn lấp chất thải rắn ở xã Phước Thới (huyện Ô Môn) và xã Mỹ Khánh (thành phố Cần Thơ) đây mới là
dự án, chưa thực thi
s* Thành phố Đà Nẵng : [ 17 ] Dân số thành phố Đà Nắng năm 1999 là 702.546 người Dân khu vực thành thị thuộc 5 quận nội thành chiếm 78,6 % dân cư toàn thành phố
Tổng lượng chất thải rắn của thành phố vào khoảng 132.000 tấn/ năm, chất thải sinh hoạt chiếm 91 - 94 % tổng lượng chất thải, chất thải công nghiệp chiếm 5,3 - 6,1 % và chất thải bệnh viện chừng 0,7 %
Trong rác thải sinh hoạt, các loại khó phân huỷ như cao su, gốm, nhựa, nylon chiếm tỷ lệ 6,4 %, loại tái sử đụng được như gỗ, thuỷ tỉnh, giấy, kim loại chừng 6,6 %, phần còn lại có thể dùng làm phân bón Các chất thải nguy hại lẫn trong chất thải rắn không được loại bỏ riêng
Lượng rác thu gom trung bình đạt 300 tấn/ ngày hay 70 % lượng rác thải ra Phần còn lại ở khắp mọi nơi gây ô nhiễm môi trường và trở thành nguồn gây bệnh
+* Thị xã Lạng Sơn: Lượng rác của thị xã Lạng Sơn phát sinh chừng 6O tấn/ ngày (120 m”) Lượng rác thu gom được chiếm 70 % lượng rác phát sinh, lượng rác chế biến chiếm tỷ lệ 20 % (40 mỶ/ ngày)
Lượng rác sinh hoạt chiếm 80 % tổng lượng rác, rác nông nghiệp L5 % và rác bệnh viện 5 %, với 10 xe 6 tô chở rác và một máy ủi tại bãi rác, 170 công nhân thu øom rác
Hiện nay chủ yếu rác được chôn lấp trên một bãi rác ở phía Tây Nam thị
xã, cách thị xã theo đường chim bay chừng 4 km với diện tích 10 000 m thuộc xã Hoàng Đồng thuộc thị xã Lạng Sơn Bãi rác nằm trên độ cao 700 -
800 m đổ xuống khe núi
Thị xã Hà Giang : [ 11 ] Qua khảo sát phân tích, đánh giá, phân loại và thành phần rác thải sinh hoạt của thị xã có tới 78 % có khả năng phân huỷ thành
13
Trang 12mùn, 22 % là rác cứng, rác độc hại không có khả năng phân huỷ Hàng ngày thu gom được 35 - 40 mẺ rác từ các khu dân cư nội thị, chiếm 60 % lượng rác phát sinh hàng ngày
Bãi đổ rác ở phía Nam thị xã cạnh sông Lô gây ô nhiễm môi trường UBND tỉnh đã phê duyệt dự án đầu từ xây dựng khu xử lý rác thải với kinh phí trên 5 tỷ đồng theo công nghệ ủ rác yếm khí tạo mùn làm phân bón kết hợp chôn lấp vĩnh viễn loại rác không phân huỷ và xử lý triệt để nước thải của bãi rác
Thị xã Hà Đông và Son Tay: [ 25 ] Theo số liệu thống kê, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tính theo đầu người ở thị xã Hà Đông và Sơn Tây là 0,3 - 0,5 kpg/ người/ ngày, tỷ trọng rác là 0,5 tấn/ khối
Trong đó chất thải rắn công nghiệp là 55 %, chất thải rắn sinh hoạt là 44
%, chất thải rắn bệnh viện là I % Mỗi thị xã hàng ngày phát sinh 80 - 100 m? chất thải rắn, khả năng thu gom và xử lý chừng 20-30 %, số còn lại nằm tại các khu dân cư
Rác thu gom được vận chuyển lên bãi rác vùng Xuân Mai và Phú Mãn chưa có biện pháp xử lý nào Năm 2000 đã có dự án trình UBND tỉnh vẻ xử lý rác thải cho hai thị xã này
Thành phố Vũng Tàu : Với tiéu dé “ Rac Vũng Tàu đổ đi đâu ” bài báo có đăng trong tạp chí BVMT số 8/ 2001 Hiện nay bình quân mỗi ngày thành phố Vũng Tàu có khoảng 350 tấn rác thải, nhưng chỉ thu gom được 200 tấn/ ngày, rác còn lại vứt bừa bãi trên các mương, ao hồ, cống rãnh
Số rác thu gom cũng đã bí nơi đổ, hố chứa rác ở phường II đã đây Hiện nay UBND tinh đã phê duyệt dự án nhà máy xử lý rác phế thải Phước Hoà thuộc thị xã Bà Rịa với công suất 400 tấn/ ngày với tổng số vốn đầu tư gần 25
tỷ đồng cuốt năm 2002 mới đưa vào sử dụng
14
Trang 13Như vậy thành phố này phải chờ I - 2 năm sau mới giải quyết nạn ứ thừa rác, hiện nay đù nhà máy có chạy hết công suất vẫn không xử lý hết rác thải [26]
Tỉnh Quảng Ngãi : Tính bình quân lượng rác thải là 0,3 kg/ người/ ngày thì có tới 300 tấn/ ngày rác thải sinh ra, đây mới chỉ là rác thải sinh hoạt, lượng thu gom đạt 60 % lượng rác phát sinh Tại thị xã chôn lấp ở các bãi rác không
theo tiêu chuẩn môi trường
* Tỉnh Đồng Tháp : Năm 1998 cho thấy tổng lượng rác thải đô thị trên địa bàn tỉnh là 60 tấn/ ngày, lượng rác thu gom được đạt 31,2 tấn/ ngày (52 %) Việc
xử lý rác tại các bãi rác của tỉnh thì không có bãi rác nào đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, tất cả đều lộ thiên.[ 12 ]
1.3 Những nghiên cứu về xử lý rác hiện nay tại Việt Nam :
Theo báo cáo của Nguyễn Mạnh Hùng, áp dụng công nghệ chiếu xạ xử
lý chất thải rắn đã sơ chế để tận dụng làm phân vi sinh kết quả bước đầu về các hợp chất phenol, kim loại nặng trong rác thải sinh hoạt của thành phố Hà Nội như chì, thuỷ ngân không vượt quá 200 ppm; các loại vi khuẩn, nấm mốc
bị tiêu diệt còn 103 -102 tế bào/ gam với liều chiếu là 40 - 50 KGy
Lý Kim Bảng và cộng sự [ 2 ] đã tuyển chọn các chủng vi sinh vật có hoạt tính cao và tìm điều kiện lên men thích hợp đã rút ngắn thời gian xử lý và chất lượng mùn được tạo thành có giá tri cao
Cũng xử lý bằng vi sinh, các nhà khoa học tại trường Đại học đân lập Hồng Bàng thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu là tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng {4 ] đã nghiên cứu và ứng dụng thành công men vi sinh và công nghệ xử lý rác bằng vi sinh, không gây ô nhiễm môi trường
Sau 8 tuần được xử lý bằng men vi sinh, rác sẽ biến thành một loại mùn, qua dây truyền công nghệ mùn sẽ biến thành phân hữu cơ vi sinh, cứ một tấn rác thải qua chế biến sẽ cho 500 kg phân hữu cơ vi sinh
15
Trang 14Tại trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trung tâm
~ nghiên cứu bảo vệ môi trường đã nghiên cứu thành công việc dùng sâu non của loại ruồi “lính đen” để phân huỷ rác Ruồi “lính đen” được chọn để xử lý rác vì đặc tính của chúng là không vào nhà, không là tác nhân truyền bệnh cho người và vật nuôi như các loại ruồi nhà
Sâu non của ruồi “lính đen” có thể phân huỷ hầu hết các chất hữu cơ,
phân gia cầm, gia súc, rác sinh hoạt, chất thải từ cống rãnh Sâu non còn là nguồn thức ăn cho gà, vịt, cá Mỗi tấn rác sinh hoạt sẽ cho 200 kg sâu non và
200 kg phân hữu cơ
Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh[ 19 ] đa phần xử lý rác vẫn là chôn lấp, một lượng nhỏ đưa vào xử lý theo phương pháp nhiệt ky khí, đầu ra của phương pháp sẽ cho năng lượng, phân bón cho nông nghiệp
Công suất nhà máy 300 tấn rác thải/ ngày, chiếm khoảng 1/ 4 lượng rác của thành phố Các thành phố khác công tác xử lý rác sinh hoạt vẫn chỉ là chôn lấp theo cổ điển, phần xử lý rác tại nhà máy vẫn chỉ là trên dự án
1.4 Những bụi, khí thải có thể phát sinh ra trong bãi rác :
Trong quá trình phân huy chất hữu cơ có trong rác bởi các phản ứng hoá học, hoá sinh học có thể sinh các hơi khí độc hại, ảnh hưởng tới sức khoẻ nhân dân xung quanh khu vực bãi rác Các bụi và khí phát sinh có thể là :
Bụi đối với cơ thể:
Bụi là chất gây ô nhiễm ở dạng hạt lơ lửng trong không khí, kích thước của hạt bụi có thể nhỏ tới mức có thể khuyếch tán phân tử (thể khí) và tới khoảng 500 um, nếu lớn hơn kích thước này, các hạt bụi sẽ chịu tác dụng của sức hút trái đất
Khi nghiên cứu về tác hại sinh học của bụi, người ta thường nghiên cứu thành phần hóa học, kích thước của hạt, mật độ, độ lắng của chúng
16
Trang 15Kích thước hạt bụi giữ vai trò quan trọng về mặt tác hại sinh học, kích thước hạt bụi quyết định sự khu trú và diện tích lắng đọng bụi trong phổi
Các hạt bụi lớn từ 5 - 10 um dong lai ở lớp biểu mô lông các phế quản
nhỏ, phế quản và khí quản, trên phủ một lớp chất nhầy Các hạt bụi sẽ được chuyển dần lên họng và ra ngoài bằng nuốt , hắt hơi, khạc đờm
Các hạt bụi nhỏ hon 5 pm (gọi là bụi hô hấp) đễ dàng đi qua phế quan nhỏ, đọng lại ở phế nang và ở đó chúng có thể bị các đại thực bào phế nang tiêu diệt
Bụi có thể gây ra các bệnh ở mũi họng, thanh quản, bệnh ở phế quản như : viêm phế quản, hen phế quản, bệnh ở phế nang như : khí thũng phổi, phù phổi
Khí Ammoniac (NH;):
Là chất khí không màu, có mùi khó chịu, ngưỡng giới hạn tiếp nhận mùi của ammoniac là 37 mg/ mỶ, tỷ trọng so với không khí là 0,59, ở nhiệt độ -33”C amoniac bị hoá lỏng và nhiệt độ -77,8°C đông đặc thành một khối tỉnh thể không màu Ammoniac dễ hoà tan trong nước và rượu
Dung dịch nước bão hoà amoniac có tỷ trọng 0,988 chứa 25,65 % amoniac theo khối lượng Trong I00 ml rượu ở 20 °C hoà tan được 13,2 % amoniac (theo thé tích) Khí ammomiac gây ra:
" Gây viêm tắc phế quản tắc nghẽn
e Phi thanh quan
e Viém phé quản kích thích
* Phù phổi do nhiễm độc NH, Khí ammoniac chất kích thích đường hô hấp trên, có độ hoà tan trong nước cao, dùng rộng rãi trong công nghệ làm lạnh, sản xuất phân bón, thuốc
nổ, chất dẻo
17
Trang 16Khí ammoniac tác động qua da và niêm mạc đường hô hấp trên gây cảm giác nóng bỏng mắt, mũi Khi tiếp xúc với nồng độ cao sẽ xuất hiện co thắt phế quản, phù phổi, phù thành quản và có thể tử vong
Khí Sunfuahydro (H,S):
Sunfua hydro (H2S) la một chất khí, nặng hơn không khí, dễ cháy, không màu, có mùi trứng thối HS dễ tan trong nước, rượu, xăng đầu
Trong tự nhiên khí H;S gặp trong các khí của núi lửa, trong những vùng
ẩm ướt, nơi những chất hữu cơ chứa lưu huỳnh phân giải do tác dụng của vi khuẩn, còn gặp trong hầm lò, cống rãnh, giếng khơi Khí HạS là thứ phẩm của các ngành công nghiệp hóa dầu, luyện than cốc, tơ nhân tạo, thuốc nhuộm có
chứa lưu huỳnh, thuộc da, xử lý nước thải
Khí H;S được dùng làm thuốc thử trong phân tích hoá học Khí này còn được dùng làm chất diệt khuẩn trong nông nghiệp H;ạS xâm nhập vào cơ thể qua phổi là đường duy nhất, không tích luỹ trong cơ thể
H;S thải qua đường nước tiểu dưới dạng sunfat hyposunfit qua đường thở chỉ chiếm 6% lượng hấp thụ Nồng độ H;S thấp gây kích thích lên mắt và đường hô hấp
Ở nồng độ thấp dễ phát hiện bằng mùi trứng thối, nếu tiếp tục kéo dài
sẽ làm giảm khứư giác, ở nồng độ cao H;S làm tê liệt khứu giác Nhiễm độc
HS ở nồng độ thấp có thể xuất hiện mất ngủ, đau đầu, chóng mặt, viêm phế quản mãn tính, rối loạn tiêu hoá tổn thương ở mắt biểu hiện nhiễm độc toàn thân
Khí Sunfurơ (SO;) :
Khí Sunfurơ (SO;) còn gọi là dioxyt lưu huỳnh gặp nhiều trong công nghiệp hoá chất SO; là chất khí không màu, không cháy, mùi hãng cay, vi
18
Trang 17axit, SO, dé hoà tan trong nước và oxit hoá để tạo thành axit sunfurơ (H; SOa)
và sau đó thành axit sunfuric (Hạ SO;)
SO, nang hon không khí, dé tan trong nước, trong dung môi hữu cơ và âxit sunfuric
SO; dùng để chế tạo axit sunfuric (Hạ SO¿) công nghệ giấy, tính bột, sunfit, thiosunfat SO; là chất làm trắng đường, sợi, da, dùng để tẩy uế, diệt
côn trùng, diệt chuột
SO; là chất gây ô nhiễm môi trường, là chất kích thích vùng niêm mạc
ẩm ướt SO; qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt và vào đường tiêu hoá dưới dang H, SO;
Nhiễm độc mãn tính SO; có thé thấy niêm mạc miệng bị kích thích, đau
mũi họng, tăng tiết địch có thể lẫn máu, chảy mấu cam, ho khan có đờm, có
khi lẫn máu, đau ngực khó thở, chảy nước mất, tác dụng độc hại của SO; làm rối loạn hệ thần kinh - suy nhược Dấu hiệu toàn thân thường bị táo bón, khát, đái nhiều, rất mệt mỗi
Khí Cácbonic (CƠ,) :
CO; gây khó thở và ảnh hưởng đến cơ quan hô hấp với hàm lượng 5 %, CO; có thể gây khó thở, nhức đầu, với hàm lượng 10 %, CO; có thể gây nôn, bất tỉnh, làm giảm lượng oxy trong không khí thở vào
CO; nặng hơn không khí, gặp trong các đám cháy, trong hầm lò thiếu không khí
Đa số các công trình nghiên cứu khoa học về rác thải sinh hoạt chủ yếu
đề cập đến các vấn đề :
s®_ Thành phần rác thải sinh thái
¢ Hoi khi, ký sinh trùng, vi khuẩn có trong rác
19
Trang 18`X
© Thu gom, vận chuyển, xử lý rac thai `
Chúng tôi chưa thấy tài liệu nào nghiên cứu về ảnh hưởng của bãi rác tới sức khoẻ của cộng đồng dân cư xung quanh Đây là vấn đề mà chúng tôi sẽ nghiên cứu điều tra tại khu vực bãi rác và khu dân cư xung quanh, mong đóng góp tiếng nói chung vào tư liệu nghiên cứu về rác thải
20
Trang 19CHUONG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu :
2.1.1 Bãi rác tập trung ở thị xã Lạng Sơn
Đo công ty trách nhiệm Huy Hoàng đảm nhiệm việc thu gom, vận chuyển và chôn lấp tại bãi rác Hoàng Đồng, thuộc thị xã Lạng Sơn, cách thị
xã theo đường chim bay chừng 4 km, bãi rác nằm ở phía Tây Nam của thị xã trên một khu đất núi đồi cao chừng 600 m với diện tích khoảng 10.000 mổ
Nhóm nghiên cứu :
Dân cư xung quanh bãi rác gồm xã Hoàng Đồng, xã Quảng Lạc thuộc thị xã Lạng Sơn là hai xã chịu ảnh hưởng của hướng gió Đông Nam và Đông Bắc
Hai xã đối chứng không chịu ảnh hưởng của bãi rác là xã Hợp Thịnh thuộc huyện Cao Lộc và xã Mai Pha thuộc thị xã Lạng Sơn nằm ở phía Bắc và Đông của thị xã
2.1.2 Bãi rác Nam Sơn huyện Sóc Sơn Hà Nội
BĐãi rác thải của Hà Nội hiện nay thuộc xã Nam Sơn huyện Sóc Sơn Hà Nội, với diện tích 70 ha, nằm ở phía Bắc thủ đô, cách thủ đô theo đường chim bay chừng 30 km
Nhóm nghiên cứu : Dân cư xung quanh khu vực bãi rác là hai xã Nam Sơn và xã Hồng Kỳ Hai xã này chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam và Đông Bắc
Hai xã đối chứng là xã Tiên Dược và xã Phú Ninh nằm gần quốc lộ 3, nằm ở phía Đông và Nam của bãi rác
21
Trang 20Sơ đồ 3.1 Khu vực bãi rác Lạng Sơn
Xã Hoàng Đồng
Bãi rác
Sông Kỳ Cùng
Xã Quảng
Lạc
Trang 21So d6.3.2 Khu vuc bai rác Nam Sơn, huyện Sóc Sơn
Trang 222.2 Phương pháp nghiên cứu :
2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu :
Cỡ mẫu nghiên cứu tính cho ÖI xã được tính theo công thức nghiên cứu mô tả
(&00 hộ nhóm nghiên cứu và 800 hộ thuộc nhóm chứng)
e©_ Số người khám bệnh: Khám và cấp thuốc mỗi xã trung bình là 100 người là những người nằm trong 400 hộ điều tra của xã
100 người x 4 = 400 người 2.2.2 Phương pháp điều tra: Điều tra cắt ngang theo phương pháp dịch tế học
mô tả có phân tích
2.2.3 Các thông số điều tra nghiên cứu: Tại bãi rác và khu dân cư xung quanh
về vệ sinh môi trường bao gồm :
Không khí :
Mỗi bãi rác lấy I mẫu x 2 bãi rác = 2 mẫu
Mỗi xã lấy l mẫu x 8 xã = 8 mau
Chi s6 xét nghiém :
Vị khí hậu ( Ở, ọ, V) theo thường qui của Viện YHLĐ và VSMT
Hoá học ( khí CO; °⁄2s, SH;, SO;, NHạ mg/ m”) theo máy lấy mẫu
của Hoa Kỳ
24
Trang 23Bụi toàn phần (mg/ mỶ ) bằng máy Dataram ( Hoa Kỳ )
Nấm mốc; cầu khuẩn tan máu, tổng số vi khuẩn hiếu khí /m” theo phương pháp lắng của KOCK
Đất :
Mỗi bãi rác lấy 5 mẫu x 2 bãi rác = 10 mau
Mỗi xã lấy 10 mẫu x 8 xã = 80mau
Chỉ số xét nghiệm :
Faecalcoliform/ 10g theo phuong phap MPN
Ký sinh trùng/ 100g theo phương pháp của Đặng Văn Ngữ
Phương pháp xét nghiêm trứng ký sinh trùng trong đất:
Lấy mẫu: Xét nghiệm đất bề mặt, dùng chổi quét đất, bụi trên bể mặt, tập trung thành đống Dùng dây loại bỏ rác, sỏi Lấy mỗi mẫu 100g đất đựng vào túi nilon sạch ghi mã số, đánh dấu số mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu Xét nghiệm: Theo phương pháp của Đặng Văn Ngữ Mỗi mẫu đất chia ra xét nghiệm 2 lần (mỗi lần 50g) Lấy 50g đất xét nghiệm và 30g muối ăn đã rang cho vào cốc thể tích 200ml, trộn đều đất và muối
Đổ 50ml dung dịch Natri nitrat bão hoà vào cốc,dùng đũa thuỷ tỉnh trộn đều thành hồ nhão, đổ tiếp dung dịch Natri nitrat vào cho đến gần miệng cốc, khuấy đều bằng đũa thuỷ tỉnh, hớt bỏ rác bẩn nổi trên mặt váng
Đợi sau 60 phút hớt váng lần thứ nhất và sau 90 phút hớt váng lần thứ hai Toàn bộ váng thư được cho vào ống ly tâm với 3ml nước cất Đem ly tâm lấy cặn dàn trên lam kính, soi kính hiển vi Đếm toàn bộ số trứng trong vi trường -_ Đánh giá kết quả: Số lượng trứng giun có trong đất
Mỗi bãi rác xét nghiệm 5 mẫu, mỗi xã xét nghiệm 20 mẫu
- Nước ãn uống và sinh hoạt: Các chỉ số xét nghiệm màu, mùi, độ trong,
pH, NH¿, NO¿, NO¿, độ oxy hoá, clorua, vi khuẩn coli, vi khuẩn faecal coliform
Mỗi xã xét nghiệm 40 mẫu
8 xã x 40 mẫu = 320 mẫu
25
Trang 24- Nước thải bãi rác : pH, mùi, màu, DO, BOD5, COD, HạS
Mỗi bãi rác xét nghiệm 5 mẫu
5 mẫu x 2 = 10 mau Các phương pháp xét nghiệm đều thực hiện tại hiện trường và phòng thí nghiệm theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động và VSMT
e©_ Điều tra hộ gia đình trong khu dân cư bằng bộ phiếu câu hỏi phỏng vấn
in sẵn
e Kham bệnh theo phiếu ¡n sẵn
e_ Quan sát trực tiếp bãi rác thải và các công trình vệ sinh của các hộ gia đình điều tra
e Thu thap thông tin bằng phiếu phỏng vấn hộ gia đình, bằng phiếu thu thập của từng xã
e_ Số liệu được nhập và xử lý theo phương pháp thống kê y học
26
Trang 25CHƯƠNG 3
KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu bãi rác Lạng Sơn :
Bãi rác Lạng Sơn với diện tích 10 000 m” nằm giữa thung lũng của hai
gò đồi cao, tính chất của đất là pha sét, độ ẩm ít, ở vị trí gần sông Kỳ Cùng, cách thị xã Lạng Sơn chừng 4 - 5 km theo đường chim bay, nằm ở phía Tây Nam thị xã, xa khu dân cư Khu dân cư gần nhất cách 1000 m theo hướng Đông Bắc, đó là xã Hoàng Đồng thuộc thị xã Lạng Sơn
Bãi rác được thành lập từ năm 1993, do công ty trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng đảm nhiệm công việc thu gom, vận chuyển, xử lý chôn lấp rác của toàn bộ thị xã Lạng Sơn, dưới sự chỉ đạo của ƯBND xã
Công ty gồm 200 người được trang bị quần áo, khẩu trang, găng tay bảo hộ lao động với 7 xe chở rác, 4 xe ủi rác xuống thung lũng Số người bới rác có chừng 7 - L0 người từ nơi khác đến
Lượng rác của thị xã Lạng Sơn chừng 60 tấn/ ngày hay 120 m'/ ngày, lượng rác thu gom được chiếm 70 % tổng lượng rác phát sinh trong ngày Lượng rác chế biến chừng 20 tấn/ ngày Rác sinh hoạt chiếm 8Ô %, rác nông nghiệp 15 %, rac bệnh viện 5 %
Phương pháp xử lý ở đây chủ yếu chôn rác xuống các thung lũng, không có lớp đất phủ phía trên Bãi rác có mùi xú uế và gây thu hút của nhiều loài ruồi, côn trùng Công ty không tổ chức phun thuốc điệt ruồi và côn trùng như muỗi, chuột, gián
Phía dưới thung lũng được xây một đập ngăn rác chảy xuống đường tỉnh lộ, nước rỉ của bãi rác được chảy qua cống và vào sông Kỳ Cùng với khoảng cách chừng 500 m Điều đáng lo ngại là nhân dân ven sông vẫn dùng nước sông để ăn uống và sinh hoạt
27
Trang 26™
3.2 Két quả xét nghiệm tại bãi rác Lạng Sơn :
3.1.2 Kết quả xét nghiệm hàm lượng bụi toàn phần :
Hàm lượng bụi toàn phần trong khu vực (bãi rác, nhóm nghiên cứu và
nhóm chứng) được lay vao cdc thai diém 8", 9°30, 11°, 14" va 16" 00 bang
máy đo bụi DATARAM (Hoa Kỳ)
Kết quả cho thấy hàm lượng bụi toàn phần trung bình trong ngày đều
3.1.2 Két qua xét nghiém hoa hoc khong khi
Xét nghiệm khí CO;, H;S, NHạ, SO, trong không khí
Bang 3.2 Nông độ trung bình hơi khí
Trang 27
Qua bảng trên ta có thấy tại bãi rác, khí Hạ5 tăng gấp 1497 lần TCCP và khí SỐ; tăng 2,16 lần TCCP NH; gấp 3 lầnTCCP, khí CO; dưới TCCP Tại nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng có nồng độ khí H;S cao hơn TCCP từ
2,5 lần đến 4 lần Riêng nhóm nghiên cứu khí NHà cao hơn TCCP là 1,2 lần
Trang 28
me/ m 4
Bai rac n/c đối chứng
Biểu đồ 3.3 Nông độ khí SO,
30
Trang 293.1.3 Kết quả xét nghiệm vi sinh vật trong không khí :
Kết quả vi sinh vật được đo bằng các chỉ số:
Qua bảng ta thấy chỉ có Í chỉ tiêu TSVK tan máu của nhóm đối chứng
là dưới TCCP (<35) còn tất cả các chỉ tiêu và các điểm nghiên cứu khác đều
vượt quá TCCP từ 1217 lần đến 71 lần đối với TSVKHK, từ 10,34 lần đến 2,6 lần đối với vi khuẩn tan máu và từ 2536,6 lần đến 914 lần đối với nấm mốc
So với nhóm đối chứng thì tại bãi rác chỉ số TSVKHK/ mẺ vượt 17,I1 lần, xã nghiên cứu vượt 2,5 lần TSCK tan máu tại bãi rác gấp 20 lần nhóm
Trang 30nghiên cứu và xã nghiên cứu gấp 5,05 lần, chỉ số nấm mốc tại bãi rác gấp 2536,6 lần nhóm đối chứng và xã nghiên cứu gấp I,7 lần
3.1.4 Kết quả vi khí hậu :
Vi khí hậu tại khu vực Lạng Sơn được đo theo các chỉ số nhiệt độ ( “C ),
độ ẩm tương đối ( % ), tốc độ gió ( m/s ) kết quả thu được trung bình trong ngày được trình bày trong bảng 3 4
Bảng số 3 4 Kết quả đo vỉ khí hậu
3.1.5 Nước thải từ bãi rác:
Qua xét nghiệm 5 mẫu nước thải của bãi rác chảy ra sông (xem sơ đồ) chỉ số Colifom /100 ml ở tất cả các mẫu đều quá bẩn, nhất là mẫu số 1 và số 2 (1.100.000 XE 100 ml -> 240.000 K1 100 ml) tiếp đó là các mẫu số 3 và số 5
Ở mẫu số 4 tuy số lượng vi khuẩn có giảm nhưng nước sông vẫn nhiễm bẩn nặng (9000 XÈ/ 100 ml)
32
Trang 31Về mặt lý hoá học: Kết quả cho thấy mẫu nước thải từ bãi rác có mầu
Sơ đồ 3 3 bãi rác khu vực Lạng Sơn
nâu đục đến đen nhạt, có mùi thối của quá trình phân huỷ hoá sinh học Chỉ số
DO của tất cả 5 mẫu đều thấp hơn giới hạn cho phép (4 mg/ 1) hàm lượng này
sẽ tăng lên khi mưa
Các chỉ số DB0; và COD ở mức độ nhiễm bẩn, cao nhất theo BDO; là 19,90 mg/ I tai điểm số 2, tại điểm này COD cao nhất là 44,16 mg/ 1 Càng về phía hạ lưu các chỉ số này được cải thiện chút ít nhờ sự pha loãng của nước sông Kỳ Cùng
3.6 Đất bãi rác :
3.6.1 Ký sinh trùng:
33
Trang 32Xét nghiệm 5 mẫu đất tại bãi rác về trứng ký sinh trùng thì cả 5 mẫu
đều có Mẫu thấp nhất là 5 trứng/ 100 g đất, mẫu cao nhất là 15 trứng/ ÌD0 g
đất Có thể nói mẫu đất ở đây không được sạch do bị nhiễm bẩn bởi rác của bãi rác Biểu đồ [ 5 ]
Số lượng
Min Max
Biểu đồ 3 5 Kết quả xét nghiệm trứng giun trong đất bãi rác
Vi khuan faecal coli/ 10g:
Phân tích 5 mẫu đất thì cả 5 mẫu déu nhiém feacal coliform Mau cao nhat 1a
20 x 10° X1 10g, mẫu thấp nhất là 4 x 10 FÙ/ 10g Kết quả được biểu thị ở
Trang 333.1.6 Vệ sinh môi trường
Có nguồn nước Dùng để ăn uống Dùng để sinh hoạt
Nguồn| N/cứu | Đ/chứng | N/cứu Đ/ chứng N/citu | D/ chimg
nước | 7g9ho | 779hO | 782hộ | 779hộ | 782h6 | 779hộ
35
Trang 34Bảng số 3.6 Dân số điều tra tại khu vực thị xã Lạng Sơn
Tỷ lệ hộ gia đình dùng nguồn nước để ăn uống và sinh hoạt cũng là hai nguồn nêu trên, tuy nhiên các xã nhóm đối chứng tý lệ dùng giếng khơi có cao hơn nhóm nghiên cứu và tỷ lệ dùng nước mặt cũng thấp hơn nhóm nghiên cứu
Tự nhận xét của các hộ gia đình về nguồn nước đang sử dụng: nhóm nghiên cứu là 53,3 % và nhóm đối chứng 60,7 % cho là bình thường Kết quả của điều tra viên thì cả hai khu vực 60,6 % là bình thường
Kết quả chất lượng nước
Số mẫu đạt tiêu chuẩn nước uống theo quyết định 1329 ngày 28/ 2/
2002 của Bộ Y tế được trình bày ở bảng số 3.7
36
Trang 35Bảng số 3.7 Tỷ lệ % mâu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh
Trang 36N
Bảng số 3 8 Số lượng mẫu nước xét nghiệm của thị xã Lạng Sơn
»
Loại nguồn Nhóm nghiên cứu Nhóm đối chứng `
Nhận xét:
Đặc điểm 5 mẫu nước sông có màu vàng đục làm hạ thấp chỉ số về độ trong xuống còn 85 cm Tại thị xã Lạng Sơn hàm lượng muối của nguồn nước đều thấp < 100 mg/1
Một vài giếng có độ pH hơi axit Đặc biệt là có những giếng hàm lượng nitrat hơi cao, các chỉ số khác đều dưới tiêu chuẩn cho phép
Có thể nói nước khe núi và nước mưa rất nhiều mẫu nước đạt tiêu chuẩn
vệ sinh cho phép về mặt hoá học
Đa số các mẫu xét nghiệm về vi khuẩn học không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chỉ có từ 1 - 2 % số mẫu là đạt Điều này cho thấy việc sử dụng và bảo quản nguồn nước của các gia đình chưa thật tot
Nhà tiêu :
Nhóm đối chứng đạt 81,6 % số hộ điều tra có nhà tiêu, còn nhóm
nghiên cứu đạt 58,8 % Kết quả các nghiên cứu về nhà tiêu được trình bày trong bảng số 3 9
38
Trang 37XS
Bảng 3.9 Tỷ lệ % các loại nhà tiêu của nhóm nghiên cứu
XS
và nhóm đối chứng Nội dung Nhóm nghiên cứu Nhóm đối chứng
n= 782 n=779
| Ty le % số hộ có nhà tiêu 58,8 81,6
Loai nha tiéu 2 ngan 7,6 6,4
Loai nha tiéu thing, cau, dao 39 34,5
Nhận xét: Qua bang [ 3.9 ] ta thấy cả hai nhóm có tỷ lệ gần ngang
nhau, tuy nhiên loại nhà tiêu thùng, cầu, đào của nhóm nghiên cứu có cao hơn
nhóm đối chứng; về thời gian ủ < 3 tháng của nhóm nghiên cứu có thấp hơn
39
Trang 38nhưng từ 6 tháng trở lên đều cao hơn nhóm đối chứng, tỷ lệ hộ đạt nhà tiêu hợp vệ sinh của nhóm đối chúng là 39,4 % và của nhóm nghiên cứu là 34,4 % Kết quả xét nghiệm đất:
Kết quả xét nghiệm trứng ký sinh trùng và vi khuẩn trong đất của xã nghiên cứu cho thấy chỉ có 2/40 mẫu xét nghiệm là không có trứng giun Mẫu cao nhất là 30 trứng KST/ 100g đất, mẫu thấp nhất là không có trứng KST/ 100g đất
Về vị khuẩn, 40 mẫu xét nghiệm có một mẫu không có khuẩn lạc trong khi nuôi cấy, còn mẫu cao nhất là II x 10” khuẩn lạc trên IOg đất xét nghiệm
Trong khi xét nghiệm của xã đối chứng có tới 6/20 mẫu không có trứng
ký sinh trùng, mẫu cao nhất là 24 trứng/ 100g đất, mẫu thấp nhất là 0 trứng/ 100g Về vi khuẩn thì có 5/40 mẫu cho kết quả âm tính Mẫu cao nhất là
7x10” !/10 g đất và mẫu thấp nhất là 0 F1/ 10g đất
Kết quả này cho thấy đất ở khu vực đối chứng có phần nào sạch hơn khu nghiên cứu
Qua kết quả nghiên cứu về rác thải của nhóm đối chứng thì trong 779
hộ gia đình điều tra chỉ có | gia đình đi bới rác chiếm 0,1 % trong khi ở nhóm nghiên cứu là 15 hộ chiếm 1,9 % Những hộ này không thường xuyên đi bới
rác Số hộ có hố rác gia đình ở cả hai nhóm là 76,7 % và 60,4 %, số hộ đổ rác
vào chuồng gia súc là l1,3 % và 25,9 %
40
Trang 39Biểu đồ số 7 Tỷ lệ số hộ xử lý rác
Về mặt khoảng cách từ nhà tới bãi rác được trình bày ở bảng [ 3.10 ]
Bảng số 3.10 Tỷ lệ % hộ gia đình cách bãi rác
Về nghề phụ thì cả hai nhóm nghiên cứu và đối chứng đều không có nghề phụ gì đặc thù gây ra cho ô nhiễm môi trường Những nhận xét của gia đình về môi trường của thị xã từ khi có bãi rác được biểu thị tại bảng [ 3.11 ]
41
Trang 40Bảng s6 3.11 Nhận xét của hộ gia đình về môi trường (%)
»
Nhân xét Nhóm nghiên cứu Nhóm đối chứng
Môi trường xấu đi 20,1% 8,8 %
Rõ ràng sự tự nhận xét của dân có sự khác nhau: môi trường như cũ thi nhóm đối chứng lại cao hơn nhóm nghiên cứu (P < 0.05 ) con ở mức độ môi trường xấu đi thì nhóm nghiên cứu lại cao hơn nhóm đối chứng (P < 0.05 ) Nếu xấu đi thì môi trường không khí chiếm tỷ lệ cao, ở nhóm đối chứng là 90
% và nhóm nghiên cứu là 85,4 %
Theo đánh giá của các điều tra viên về mức độ ô nhiễm tại địa phương ở
các mức độ ô nhiễm có khác nhau, được biểu thị ở bảng { 3.12 ]
Bang số 3.12 Mức độ ô nhiễm theo điều tra viên (%)
Không ô nhiễm 34,5 % 27,8 % >0,05
42