1 -Tên đề tài: “Nghiên cứu các vấn đề Môi trường Nông thôn Việt Nam theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế, diễn biến và đề xuất các chính sách, giải pháp kiểm soát thích hợp
Trang 1chủ nhiệm đề tài:
GS.TS Lê văn khoa Trường đh khoa học tự nhiên, đh quốc gia hà nội
Hà nội, tháng 1 năm 2004
Trang 2mục lục
phần I đặt vấn đề 2
phần Ii khái quát tình hình (hiện trạng) phát triển kinh tế - x∙ hội nông thôn việt nam 3
I Những con số cơ bản phản ánh bức tranh về Nông thôn Việt Nam 3
II Tổng hợp bức tranh Nông thôn Việt Nam 5
III Phân tích và bình luận về 7 vấn đề liên quan đến sự phát triển kinh tế – xã hội và việc sử dụng tài nguyên ở vùng nông thôn rộng lớn Việt Nam 5
IV Đánh giá chung 6
phần III các vùng sinh thái nghiên cứu cụ thể 9
vùng núi 1 tỉnh hoà bình 10
2 tỉnh đak lak 11
vùng trung du 3 tỉnh bắc giang 20
4 tỉnh quảng nam 22
vùng đồng bằng 5 tỉnh thái bình 26
6 tỉnh tiền giang 29
vùng ven biển 7 tỉnh nghệ an 31
8 tỉnh ninh thuận 33
vùng ven đô 9 huyện thanh trì - hà nội 37
phần iv đề xuất các chính sách 40
phần v kết luận và kiến nghị 40
tài liệu tham khảo 42
Trang 41
-Tên đề tài: “Nghiên cứu các vấn đề Môi trường Nông thôn
Việt Nam theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo
xu thế, diễn biến và đề xuất các chính sách, giải pháp kiểm soát thích hợp (KC 08.06)
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Lê Văn Khoa
Tên chuyên đề: Tình hình kinh tế - xã hội các vùng sinh thái nghiên cứu tại các
tỉnh: Hoà Bình, Đắc Lắc (vùng núi), Bắc Giang, Quảng Nam (trung du), Thái Bình, Tiền Giang (đồng bằng), Nghệ An, Ninh Thuận (ven biển) và Hà Nội (ven
đô), đánh giá xu thế diễn biến về phát triển kinh tế xã hội
phần i: Đặt vấn đề
Kết quả của Hội nghị toàn cầu về Phát triển bền vững ở Nam Phi (tháng 9 - 2002) vừa qua với hai văn kiện quan trọng đó là: Tuyên bố Johannesburg về phát triển bền vững gồm 37 nguyên tắc và Bản kế hoạch thực hiện Johannesburg (gồm 141 nội dung) đều đặc biệt quan tâm đến môi trường nông thôn và sự phát triển bền vững của các vùng nông thôn rộng lớn trên toàn thế giới (hay trên phạm vi toàn cầu) Những vấn đề then chốt đó là:
- Sản xuất nông nghiệp, tăng nguồn lương thực dẫn đến việc tăng sử dụng thuốc trừ sâu và vấn đề thoái hoá đất đai
- Tiếp đó là vấn đề giải quyết nước sạch, nước ngọt, vệ sinh môi trường, vấn đề sức khoẻ cho cộng đồng,
- Các vấn đề giảm nghèo đói (nghèo khó), cải thiện đời sống, tăng đầu tư cho các vùng nghèo, phát triển trang trại, tìm việc làm và công bằng về việc làm cho mọi người vv
Và đặc biệt trong bản kế hoạch thực hiện Johannesburg đã nhắc nhở chúng ta về
sự quan tâm của toàn nhân loại trong việc thực hiện chương trình nghị sự 21, ở
đó đặc biệt chú trọng về các chương trình số 3 (Đấu tranh với nghèo khó), số 11 (Đấu tranh với việc phá rừng), số 14 (Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn), số32 (Tăng cường vai trò của nông dân) vv
Tất cả những vấn đề nêu trên đều khẳng định rằng: Vấn đề môi trường nông thôn trên toàn thế giới đã được Hội nghị toàn cầu về phát triển bền vững
đặc biệt quan tâm
Trang 5Mục 2.4 (Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn bền vững)
Mục 3.1 (Hạ thấp mức tăng dân số, tích cực tạo thêm việc làm cho người lao động)
Mục 3.2 (Tập trung xoá đói, giảm nghèo, nâng cao công bằng xã hội) Mục 4.1 (Chống tình trạng thoái hoá đất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả và bền vững đất nông nghiệp)
Mục 4.4 (Bảo vệ và phát triển rừng)
Trên đây là những định hướng có tính chiến lược cũng như những kế hoạch hành động vĩ mô về những vấn đề môi trường nông thôn và phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn nói chung và nông thôn Việt Nam nói riêng trong mối quan tâm đặc biệt của các Quốc gia cũng như của Việt Nam đối với các vấn đề môi trường toàn cầu Vì vậy, một đề tài khoa học: “Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam” được đặt ra trong giai đoạn hiện nay là rất cấp thiết và phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của đất nước
phần ii: khái quát về tình hình (hiện trạng) phát triển kinh tế x∙ hội Nông thôn Việt Nam
I Những con số cơ bản phản ánh bức tranh về nông thôn Việt Nam
1 Tổng số đơn vị cấp x∙ (phường, thị trấn) trong toàn quốc:
10.541 đơn vị hành chính cấp xã (phường) trong đó:
Trang 63
-3 Tổng quỹ đất và hiện trạng sử dụng đất
Tổng quỹ đất Việt Nam: 32.924.100 ha Trong đó:
6 Thu thập bình quân đầu người
- Thu nhập bình quân đầu người cả nước: 295.000 đồng Việt Nam
- Thu nhập bình quân thành thị: 832.500 đồng Việt Nam
Trang 77 Kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm): ~95,6%
III Phân tích và bình luận về 7 vấn đề liên quan đến sự phát triển kinh tế - xã hội và việc sử dụng tài nguyên ở vùng nông thôn rộng lớn Việt Nam
Những phân tích và bình luận sau đây theo góc nhìn của một đề tài nghiên cứu
về môi trường nông thôn Việt Nam
1 Vấn đề sử dụng tài nguyên: Vùng nông thôn rộng lớn của nước ta với diện
tích trên 31.319,1 km2 chiếm trên 95% diện tích toàn lãnh thổ (đó là chưa kể
đến các loại đất khác thuộc nông thôn như: đất thuỷ lợi, đất giao thông, đất làm gạch, làm muối, đất nghĩa trang và các loại đất chuyên dùng khác vv ),
điều này có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đó là nói đến môi trường Việt Nam gần như đồng nghĩa với môi trường nông thôn Việt Nam vì nó cũng gần như hoàn toàn phụ thuộc vào việc sử dụng tài nguyên rộng lớn của vùng nông
thôn Việt Nam (chiếm tới 98 - 99% bề mặt lãnh thổ của cả nước)
2 Về dân số nông thôn và số đơn vị hành chính ở nông thôn Việt Nam: Dân
số nông thôn Việt Nam đã lên tới xấp xỉ 60 triệu người (chiếm 75% dân số cả nước) Đơn vị hành chính (cấp xã) ở nông thôn Việt Nam lên tới 8.950 xã, chiếm 85% đơn vị hành chính cấp xã - phường - thị trấn trong cả nước; hai con số này còn nói lên một điều quan trọng đó là: phải đầu tư nhiều, nhiều
Trang 85
-hơn nữa cho khu vực nông thôn vì số dân và số đơn vị hành chính của khu
vực này là quá lớn so với toàn quốc
3 Về sản phẩm và Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn: Hai con số về tổng
sản phẩm ngành nông nghiệp: 97.767 tỷ đồng Việt Nam (chiếm 20,2% tổng thu nhập quốc nội) và Đầu tư của Nhà nước cho ngành nông nghiệp chỉ có 12,24% cho ta thấy một nền nông nghiệp vẫn còn thấp kém, chậm phát triển
do sức cạnh tranh hàng hoá nông sản và sự đầu tư của Nhà nước còn rất thấp Nếu để tình trạng này kéo dài thì cũng đồng nghĩa là còn rất lâu mới nâng đời
sống của người nông dân Việt Nam lên một mức cao hơn được
4 Về thu nhập bình quân ở nông thôn Việt Nam: Với mức sống (mức thu
nhập) bình quân là 225.000 ĐVN mà trong đó vẫn còn tới 20% số hộ có thu nhập thấp (83.000 ĐVN) thì chúng ta cũng hình dung một bức tranh về đời sống của nông dân vùng nông thôn Việt Nam còn vô cùng khó khăn, sự chênh lệch giữa người giầu và người nghèo trung bình vẫn ở mức từ 7 đến 9 lần cho nên các vấn đề về phát triển bền vững ở nông thôn còn gặp rất nhiều khó khăn, các vấn đề môi trường sẽ liên tục và liên tiếp nảy sinh mà các chính sách của Chính phủ phải luôn sát thực để đưa được đời sống của 20%
số hộ nghèo có thu nhập ở mức trung bình
5 Về kết cấu hạ tầng nông thôn: Đây là điểm mạnh, là kết quả gần 20 năm
đầu tư của Đảng và Nhà nước thể hiện tính ưu việt của xã hội 99% các xã có trường tiểu học và trạm y tế, khoảng 90% xã có điện và có đường ô tô Trên cơ sở của những kết cấu hạ tầng quan trọng này, trong tương lai, một bức tranh văn hoá - xã hội - môi trường của nông thôn Việt Nam được chính bàn
tay của 60 triệu nông dân vun đắp cho 8.950 xã xanh - sạch - đẹp
IV Đánh giá chung
1 Đánh giá về hiện trạng kinh tế - x∙ hội vùng nông thôn Việt Nam
- Về kinh tế nói chung: còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng khai thác và quản lý tài nguyên (đất, nước, rừng, biển vv ) Những sản phẩm nông nghiệp
được làm ra bị phụ thuộc rất nhiều đến điều kiện môi trường, thiên tai và các vấn đề về khoa học - công nghệ Tuy nhiên những sản phẩm này phần lớn chưa thương mại hoá được và hầu hết giá cả lại quá rẻ tới mức bất hợp lý Những vấn đề này tác động mạnh mẽ đến đời sống, đến sự thu nhập trực tiếp của họ vì vậy đời sống còn thấp, bấp bênh, phần lớn mới chỉ chăm lo cho bữa
ăn hàng ngày, còn việc dành dụm để mua sắm đồ dùng cho gia đình, đóng góp cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn còn rất thấp Tuy ta có chỉ số %
Trang 9- Về xã hội: Xã hội nông thôn Việt Nam phải được đánh giá là tốt 60 triệu người nông dân cần cù lao động, chăm lo cuộc sống cho một xã hội bình yên
và công bằng Người dân Việt Nam có văn hoá, có tri thức, tiếp thu nhanh những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và các kỹ thuật khác (đặc biệt về kỹ thuật tiểu thủ công nghiệp)
Đặc biệt về phong trào sinh đẻ có kế hoạch, phải nói rằng đây là một đóng góp
to lớn của nông thôn Việt Nam Từ tỷ lệ tăng dân số ở mức xấp xỉ 2,0% năm
1990, đến năm 2001 chỉ còn 1,35% làm giảm đi rất nhiều sức ép của dân số lên môi trường và càng chứng tỏ rằng công tác xã hội ở nông thôn Việt Nam
được mọi người dân quan tâm
Một đặc điểm rất quan trọng để đánh giá về mặt xã hội ở nông thôn Việt Nam
là sự công bằng xã hội được thực hiện và quan tâm phổ biến, công khai nên sự chênh lệch giữa người giầu và người nghèo không lớn như ở các đô thị Ngoài
ra các kết cấu hạ tầng (điện - đường - trường - trạm) đã tác động mạnh mẽ cho việc phát triển xã hội ở nông thôn chúng ta
2 Đánh giá về xu thế diến biến trong sự nghiệp phát triển kinh tế - x∙ hội nông thôn Việt Nam
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 5 về “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ 2001-2010” và với sự phân tích cơ sở của nền kinh tế và xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay, ta thấy:
- Trước hết là sự đẩy nhanh tốc độ (mức độ) khai thác sử dụng tài nguyên đất trên phạm vi rộng lớn thuộc vùng nông thôn Việt Nam (đất
đai và tài nguyên sinh thái vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển, ven đô) Có thể coi đây là thế mạnh lớn nhất và đó là xu thế tất yếu để sử dụng, khai thác hợp lý tài nguyên tạo thành của cải vật chất, nâng cao đời sống cho cộng đồng nông thôn Trên thực tế cũng đã
có nhiều mô hình sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai nhưng vẫn chỉ là mô hình và mô hình nhân rộng
Trang 107
-Phải có các chính sách thích hợp và rất cụ thể, những hỗ trợ về nhiều mặt thì việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai mới có thể thật sự tạo thành của cải của nhân dân
- Đi đôi với việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, phải hết sức coi trọng việc bồi dưỡng nghề nghiệp nhà nông, tiểu thủ công và công nghiệp thực phẩm nông thôn Đây cũng là một xu thế phát triển rất khách quan, đòi hỏi nhiều đầu tư của cộng đồng và trợ giúp của Chính phủ Một xu thế diễn biến từng bước, từng giai đoạn sẽ dần dần biến vùng nông thôn rộng lớn, dồi dào nhân lực, tài lực trở thành nông trường, xưởng máy, những vùng trang trại, những công ty cổ phần, công ty TNHH rộng lớn, những đô thị, những thị trấn ngoài việc sản xuất ra tất cả các loại nông lương cần thiết cho cuộc sống mọi người thì ở đây phải là những nơi bảo quản, chế biến nông lương và sản xuất các đồ tiểu thủ công mỹ nghệ, các đồ gia dụng và các sản phẩm truyền thống Trên cơ sở này, xu hướng sẽ phát triển các Trung tâm thương mại ở các huyện và dần dần các chợ lớn ở nông thôn cũng sẽ trở thành các trung tâm thương mại của một vùng kinh tế nhỏ
- Một xu thế phát triển quan trọng về mặt xã hội - môi trường, đó là sự hình thành những tổ chức mang tính chất xã hội nhiều hơn với dáng dấp của các tổ chức “phát triển bền vững” ở đó họ sẽ đề cập đến các vấn đề xã hội - kinh tế - môi trường như: công bằng giầu nghèo, dân số
và phát triển, tái chế và thu gom rác thải, sản xuất xanh, tiết kiệm tài nguyên, sử dụng và tiết kiệm năng lượng, mẫu hình sản xuất và mẫu hình tiêu dùng, xoá đói giảm nghèo, vệ sinh, nước sạch, sức khoẻ cộng
đồng vv
3 Các giải pháp về chính sách
Gần đây, Chính phủ có đưa ra một khẩu hiệu (một chủ trương) rất quan trọng
đối với nông dân đó là: “HAI tối Đa” có nghĩa là:
1 Tối đa không thu của người nông dân dưới bất kỳ hình thức nào
2 Tối đa bằng nhiều hình thức, bằng nhiều biện pháp và các nguồn khác nhau để hỗ trợ tối đa cho người nông dân
Trên tinh thần của một chủ trương “HAI tối Đa” các chính sách thể chế của tất cả các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội phải
Trang 118
-quán triệt và phải thể hiện cho bằng được, cho chi tiết, cụ thể để “HAI tối
Đa” cho người nông dân trở thành hiện thực
Ngoài ra, một chính sách đầu tư hay có thể gọi là một kế hoạch đầu tư nhiều hơn, toàn diện hơn từ nguồn ngân sách Nhà nước, phải được các Bộ như: Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu kỹ và khẩn trương trình Quốc hội và Chính phủ, quyết định càng sớm cho nông nghiệp và nông thôn Việt Nam (theo chúng tôi, ít nhất phải là gấp đôi hiện nay) thì nông dân Việt Nam mới nhanh chóng trở thành “cỗ máy”, một động lực quan trọng nhất của quốc gia
Phần III các vùng sinh thái nghiên cứu cụ thể
Đề tài đưa ra 5 kiểu vùng sinh thái nông thôn đặc trưng cho Việt nam đó là: 1_ Sinh thái vùng núi (Hoà Bình, Đắc Lắc)
2_ Sinh thái vùng Trung du (Bắc Giang, Quảng Nam)
3_ Sinh thái vùng đồng bằng (Thái Bình, Tiền Giang)
4_ Sinh thái vùng cửa sông ven biển (Nghệ An, Ninh Thuận)
5_ Sinh thái vùng ven đô (Hà Nội)
Trên cơ sở 5 kiểu vùng sinh thái cơ bản này, đề tài tập trung giới thiệu các vấn
đề về phát triển kinh tế – xã hội và đánh giá xu thế diễn biến của các tỉnh nêu trên:
Trang 12Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hoà Bình
Tình hình Kinh Tế: Mức tăng trưởng kinh tế chung hiện nay đạt 8,1%,
GDP bình quân/người/năm ước tính 1,825 triệu đồng Bên cạnh những thành tích
đã đạt được về phát triển kinh tế xã hội thì tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp
Về sản xuất nông nghiệp: Diện tích trồng lúa là 41.200 ha, năng suất
bình quân là 31 tạ/ha, sản lượng là 12,95 vạn tấn, đàn trâu có 11,8 vạn con, đàn
bò có 4,4 vạn con, đàn lợn là 25 vạn con, gia cầm có 229,5 vạn con
Về lâm nghiệp: Tỉnh đã hoàn thành thủ tục giao đất giao rừng, khoán rừng
cho 39.422 hộ dân, với diện tích 157.688 ha Công tác bảo vệ khoanh nuôi tu bổ rừng đảm bảo theo kế hoạch hàng năm
Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Các cơ sở đầu tư xây dựng để chế
biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng như nhà máy đường, ván ép tre thanh, đá xây dựng, gạch tuy nen, xi măng đã đi vào hoạt động và bắt đầu tạo nguồn thu cho ngân sách, gải quyết việc làm cho người lao động Tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển mạnh, một số cơ sở sản xuất ở thị xã và các thị trấn, phục
vụ cho tiêu dùng nội tỉnh ở vùng nông thôn bước đầu hình thành một số làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm ở huyện Mai Châu
Tình hình Xã hội - Dân cư
Hoà Bình có 9 huyện và một thị xã với số dân là 739.298 người Mật độ dân số không đều giữa nông thôn và thị xã, bình quân là 155 người /km2 Số dân thành thị là 98.750 người chiếm 13%, số dân nông thôn là 640.550 người chiếm 87% Hiện nay tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2%
Nhịp độ phát triển đô thị có chiều hướng tốt, các khu đô thị chủ yếu đang
được hình thành Công tác xây dựng cơ bản như giao thông, trụ sở làm việc, cơ quan, công trình phúc lợi, nhà ở đang đi vào thế ổn định và phát triển Hiện toàn tỉnh có 10 huyện và 1 thị xã đang hình thành các khu công nghiệp của tỉnh tại bờ trái sông Đà
Trang 1310
-Hệ thống cấp nước của thị xã và những khu vực tập trung dân cư về cơ bản
đã đáp ứng được nhu cầu về nước cho người dân đô thị Tuy nhiên, hệ thống thoát nước còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Đánh giá xu thế phát triển kinh tế - xã hội
Về cơ cấu kinh tế có bước dịch chuyển theo hướng tiến bộ, từng bước áp dụng tiến bộ KHKT vào thay đổi cơ cấu kinh tế cây trồng - vật nuôi
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, thị và một
số ngành đã được phê duyệt và đang từng bước thực hiện
Tình hình phát triển kinh tế chung: trong những năm qua, nền kinh tế
của tỉnh liên tục đạt mức tăng trưởng khá Năng lực của các ngành sản xuất được nâng lên Nông nghiệp từng bước phát triển ổn định: diện tích cà phê, cao su và nhiều loại cây trồng chủ lực liên tục tăng và cho năng suất cao hơn Quy mô sản xuất công nghiệp từng bước được mở rộng Đặc biệt là cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã được tăng cường đáp ứng yêu cầu cơ bản của công cuộc phát triển
Trang 1411
-Lĩnh vực nông nghiệp: Đắc Lắc là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên
rất đa dạng và phong phú, diện tích đất đỏ bazan lớn, có nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau, đó là những điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, với nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị như: cà phê, cao su, hồ tiêu
1 Cây cà phê
- Diện tích cà phê năm 2001 là 259.000 ha, sản lượng 370.551 tấn
- Trong số 259.000 ha cà phê hiện có một số diện tích già cỗi, năng suất thấp và một số nằm trong vùng sinh thái không thích hợp
- Năng suất cà phê đạt bình quân 35 – 40 tạ/ha, cá biệt có vườn gia
đình đạt 50-60 tạ/ha
- Chế biến và tiêu thụ: Công nghệ chế biến chưa đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của thị trường Năm 2001 xuất khẩu được 340.920 tấn cà phê nhân xô
2 Cây cao su
- Cao su Đăc Lắc là sản phẩm xuất khẩu chủ lực đứng thứ hai sau
cà phê Năm 2001 toàn tỉnh có 26.800 ha cao su tăng 54,3% so với năm 1990 Sản lượng cao su mủ khô không ngừng tăng lên: từ 2.021 tấn năm 1990 lên 12.000 tấn năm 2001 Đồng thời, sản lượng xuất khẩu cũng liện tục tăng, mặc dù thị trường liên tục biến động: từ 3.305 tấn (1990) lên 6.016 tấn (1999) và 4.930 tấn (2001)
- Hiện nay trong tỉnh có 3 cơ sở chế biến cao su mủ khô, với tổng công suất chế biến khoảng 13.000 tấn thành phẩm/năm Trong đó nhà máy chế biến cao su Đắc Lắc công suất 10.000 tấn/năm
- Cây điều là cây trồng chủ lực ở một số vùng thích hợp như: Ea Súp, Buôn Đôn, Cư Jút, Ea Kar, Darklap
4 Cây hồ tiêu
Trang 1512
Cây tiêu được trồng chủ yếu trong đất thổ canh thổ cư, diện tích tiêu năm 2001 là 6.500 ha, sản lượng đạt 3.900 tấn
5 Đậu đỗ và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đậu đỗ và cây công nghiệp ngắn ngày là những cây trồng có tiềm năng phát triển ở Đắc Lắc Đáng chú ý là cây bông vải trong những năm gần đây bông vải liên tục tăng cao cả về diện tích và sản lượng Năm 2001 diện tích bông đạt 11.500 ha sản lượng trên 13.000 tấn Hiện tại tỉnh đã có một nhà máy cán bông hiện đại công suất 125 tấn bông hạt/ngày đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
và chế biến bông Diện tích cây đậu xanh 21.479 ha, sản lượng 17.680 tấn Diện tích cây đậu tương 15.034 ha, sản lượng đạt 21.054 tấn Diện tích cây đậu phụng 15.887 ha, sản lượng 20.358 tấn
6 Chăn nuôi
- Đắc Lắc có nhiều thế mạnh về phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc Số lượng đàn trâu bò năm 2001 là 119.500 con, số lượng
đàn heo là 464.000 con
Lâm nghiệp: Đắc Lắc là tỉnh có diện tích rừng chiếm 51,44% diện tích
rừng tự nhiên trong toàn tỉnh Ngành lâm nghiệp hiện đang thực hiện sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp, khai thác, chăm sóc, quản lý và trồng rừng Diện tích rừng phân chia bố trí như sau:
Nếu tính cả độ che phủ của 300.000 ha cây công nghiệp lâu năm (cà phê,
cao su, ) thì độ che phủ của toàn tỉnh đạt xấp xỉ 70%
Trang 1613
Rừng gỗ lá kim: 4.508 ha
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Công nghiệp ở Đắc Lắc nhìn chung
phát triển còn chậm, chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ Tính đến năm 2001, toàn tỉnh có 6.682 cơ sở sản xuất công nghiệp trong đó:
- Công nghiệp khai thác: 84 cơ sở chủ yếu là khai thác đá và các mỏ khác
- Công nghiệp chế biến: 6.596 cơ sở, trong đó 2363 cơ sở chế biến thực
phẩm đồ uống, 1.971 cơ sở sản xuất trang phục, 17 nhà máy chế biến cà phê nhân,3 nhà máy chế biến cao su, 2 nhà máy đường
- Công nghiệp sản xuất thiết bị máy móc: có 189 cơ sở chủ yếu sản xuất các
trang thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, 2 nhà máy gạch tuy nen
có tổng công suất 35 triệu viên/ năm và các lò gạch thủ công với công suất
60 - 70 viên /năm
Các cơ sở công nghiệp trong tỉnh thu hút 23.604 lao động, trong đó khu vực trong nước thu hút 23.368 người và khu vực đầu tư nước ngoài thu hút 236 người
Tổng giá trị sản lượng công nghiệp đạt 1.094.828 triệu đồng trong đó:
- Công nghiệp khai thác khoáng sản đạt 13.020 triệu đồng
- Công nghiệp chế biến đạt 976.809 triệu đồng
- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước đạt 104.999 triệu
Giao thông, xây dựng: Hiện nay trong tỉnh có 8.614 đường các loại, bao
gồm 4 tuyến quốc lộ:14, 26, 27, 28; và 16 tuyến tỉnh lộ, 77 tuyến đường huện, trên 4.400 km đường xã, thôn và gần 110 km đường đô thị Bình quân mật độ
đường ô tô trên diện tích tự nhiên đạt 0,435 km/km2; bình quân đường ô tô đạt 0,506 km/1.000 dân Hệ thống đường bộ nói chung đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân
Sân bay Buôn Ma Thuột hiện có 2 tuyến bay chính:
- Buôn Ma Thuột - Đà Nẵng - Hà Nội
- Buôn Ma Thuột - thành phố Hồ Chí Minh
Thương mại: Trong những năm qua, các hoạt động thương mại trên địa
bàn nhìn chung có bước phát triển, đảm bảo được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng xã hội Tổng mức bán lẽ hàng hoá dịch vụ mỗi năm đạt trên dưới 4.100 tỷ đồng, trong đó các doanh nghiệp quốc doanh chiếm 27% Tổng kim ngạnh xuất khẩu liên tục tăng qua các năm
Trang 1714
-67 cửa hàng (trong đó 30 cửa hàng thương mại nông thôn được xây dựng kiên cố ở vùng III với tổng số vốn ngân sách đầu tư cho cơ sở vật chất là 2.152 triệu đồng)
43 chi nhánh trạm
116 đại lý, 152 điểm, tổ, xưởng thu mua
Dịch vụ, Du lịch:
Dịch vụ bưu điện: là một trong những lĩnh vực tăng trưởng khá Trong
những năm gần đây, doanh thu dịch vụ trên địa bàn liện tục tăng trưởng khoảng 10%/năm Hiện nay hệ thống điện thoại đã phát triển đến 92% xã, phường trong tỉnh, với 34.630 thuê bao điện thoại cố định và 4.082 di động
Du lịch: Đắc Lắc là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch
với nhiều cảnh quan sinh thái rất hấp dẫn du khách như các thác nước đẹp nổi tiếng như Dray Sap, Gia Long, Trinh Nữ, Krông Kmar, Bảy Nhánh, Thuỷ Tiên,
Ba Tầng , nhiều hồ lớn với diện tích từ 200 - 600 ha như hồ Lăk, hồ Ea Kao, hồ
Ea Đờn, hồ Tây rất thích hợp để tổ chức các hoạt động bơi thuyền, lướt ván, câu cá, vui chơi giải trí Đến khu du lịch Đắc Lắc, du khách có thể đến với các khu rừng nguyên sinh với sự đa dạng về hệ sinh thái và đa dạng về loài ở Vườn Quốc gia Yok Đôn, rừng đặc dụng Nam Ka, khu bảo tồn Nam Nung, Tà Đùng Một số địa danh từ lâu đã khá nổi tiếng như Buôn Đôn với nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng; Đình Giao_ nơi ghi dấu ấn của nền văn hóa của người Việt trên mảnh đất cao nguyên; Biệt Điện của cựu hoàng đế Bảo Đại, di tích tháp Chăm Yang Prông được xây dựng từ thế kỷ XIV, nhà đầy Buôn Ma Thuột, hang đá
Đăk Tuôr, Bảo tàng của tỉnh ngay trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột với sa bàn chiến thắng Buôn Ma Thuột trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân
1975 lịch sử Một điều rất đặc biệt là: nếu lấy thành phố Buôn Ma Thuột làm trung tâm thì hầu hết các di tích, danh thắng của Đắc Lắc ở trong bán kính không quá 50 km rất thuận tiện cho hoạt động du lịch
Mặt khác, nét độc đáo của Đắc Lắc là sự phong phú, đa dạng của phong tục tập quán và sinh hoạt văn hoá Bởi đây không chỉ có di sản văn hoá đồ sộ của các dân tộc bản địa như Êđê, M’nông với những áng sử thi lớn như trường ca
Đam San, Đam Bri, Xinh Nhã, Cây nêu thần đã được sưu tập hoàn chỉnh phục
vụ đời sống văn hoá của đồng bào cùng những di sản văn hoá vật thể quý giá như
đàn đá, cồng chiêng mà còn là nơi hội tụ hơn 44 dân tộc anh em cùng chung sống Các dân tộc tuy không hình thành nên những địa bàn định cư riêng biệt nhưng có sự tập trung ở một số vùng nhất định, với những truyền thống bản sắc riêng hình thành nên một nền văn hoá dân gian độc đáo, mang tính đặc thù hấp dẫn du khách, nhất là các nhà nghiên cứu về lịch sử, văn hoá, dân tộc, ngôn ngữ
Trang 1815
-học Ngoài ra, nơi đây còn lưu giữ được những ngành nghề truyền thống như
điêu khắc, tạc tượng, nhà mồ, dệt thổ cẩm; còn bảo tồn được sinh hoạt văn hoá
độc đáo, nhất là các lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số như: Lễ hội mừng vụ mùa được tổ chức từ cuối tháng 12 hàng năm, Hội đua voi thường được tổ chức vào những ngày lễ lớn, Lễ hội cồng chiêng Đắc Lắc
Tình hình xã hội – Dân cư
1 Hành chính
Tỉnh Đắc Lắc bao gồm 17 huyện và thành phố Buôn Ma Thuột: 207 đơn vị hành chính cấp xã (13 phường, 18 thị trấn,177 xã) và 2.038 thôn buôn, khối phố
Danh sách các huyện thành phố hiện nay như sau:
TT Huyện, TP Tổng dân số Số dân ở
thành thị
Số dân ở nông thôn
Số xã phường
395.831
185.44016.2098.04310.89718.105
27.88724.4204.95719.35413.56023.2215.9958.4805.1315.71812.0206.394
1.486.390
73.457 73.452 25.683 91.709 126.119 51.290 116.747 109.053 46.844 180.580 95.767 162.270 69.983 59.122 45.717 41.308 21.409 63.732 32.139
204
1810891471512121610121381199105
2 Dân tộc - dân cư
Dân số Đắc Lắc hiện nay trên dưới 1.882.221 người, bao gồm 44 tộc người
Trang 1916
Thành phần các dân tộc tại chỗ ở Đắc Lắc chủ yếu là người Êđê, M’nông
và một số dân tộc ít người khác như Bana, Gia rai, Sê đăng là 335.226 người; trong đó dân tộc Êđê chiếm đến 70,1%, dân tộc M’nông chiếm 17%
- Trong những năm chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) đến nay, một bộ phận đồng bào các dân tộc ít người từ miền Trung và Bắc di cư đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp, làm cho cơ cấu thành phần dân tộc trong tỉnh thay đổi nhanh chóng Hiện nay các dân tộc người có số dân lớn là: Kinh chiếm 70,65% dân số; Êđê chiếm 13,69%,
Nùng 3,9%, M’nông 3,51%, Tày 3,03%, Thái 1,04%, Dao 0,86%
Mỗi dân tộc người có truyền thống và bản sắc riêng độc đáo, nhưng đã cùng nhau đoàn kết, xây dựng quê hương và hình thành nên một nền văn hoá phong phú và giầu bản sắc 3 Y tế Hiện nay các xã, phường, thị trấn đều đã có trạm y tế Toàn tỉnh có 216 sở y tế với 2707 giường, 2785 cán bộ, công nhân viên (hệ nhà nước) Trong đó: - Tuyến tỉnh có 1 bệnh viện đa khoa 500 giường, 1 bệnh viện chuyên khoa 100 giường, 1 khu điều trị phong, 30 giường cùng 7 cơ sở y tế khác (da liễu, sốt rét, tâm thần )
- Tuyến huyện có 18 bệnh viện đa khoa với 1165 giường bệnh, 4 phòng khám đa khoa khu vực với 40 giường và 18 đội vệ sinh phòng dịch sốt rét, 18 UBDS KHHGD Các đơn vị cơ sở có 204 trạm y tế, phòng khám đa khoa trên tổng số 204 xã, phường, thị trấn 4 Văn hoá - thông tin - Số trung tâm văn hoá tỉnh, thành phố: 2
- Số trung tâm văn hoá huyện: 11
- Số đơn vị nghệ thuật: 2
- Số thư viện: 17
- Số xã được phủ sóng truyền thanh: 204/207 xã, phường
- Số xã được phủ sóng truyền hình: 155/207 xã, phường
5 Giáo dục - đào tạo
Trang 2017
-Toàn tỉnh có 608 phường (trong đó 365 trường tiểu học, 53 trường tiểu học
và trung học cơ sở, 153 trường trung học cơ sở, 15 trường trung học cơ sở và phổ thông trung học, 22 trường phổ thông)
- Mẫu giáo: 148 trường
- Đại học: 01 trường (Trường ĐH Đắc Lắc)
- Cao đẳng: 01 trường (Cao đẳng sư phạm Đắc Lắc)
- Trung học chuyên nghiệp: 03
- Trường đào tạo công nhân kỹ thuật: 02
Đánh giá xu thế phát triển Kinh tế – Xã hội
Kinh tế: Đặc điểm nổi bật của Đắc Lắc là một tỉnh lớn nhất về đất đai của
nước ta (trên 19 ngàn km2) và một ưu thế đó là đất đai phì nhiêu Chính vì lý do này mà Đắc Lắc cũng là nơi chịu nhiều khó khăn do dân di cư tự do từ nhiều tỉnh của Việt Nam đổ về đây Tuy nhiên Đắc Lắc vẫn được đánh giá chung là nơi dễ làm ăn, làm giàu vì được thiền nhiên ưu đãi
Trên cơ sở một nền kinh tế phát triển tổng hợp khá tốt của các ngành nôngnghiệp, cây công nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông xây dựng, du lịch, dịch vụ vv như hiện nay,với xu thế “cơ chế thị trường” cộng với định hướng XHCN, thì xu thế diễn biến về phát triển kinh tế của tỉnh Đắc Lắc phải là:
1 Phát huy thế mạnh của việc sử dụng tài nguyên đất (đất nhiều, đất tốt) có nghĩa là phải làm giàu trên cơ sở khai thác hợp lý đất đai, mở rộng trang trại, mở rộng ngành nghề, đặc biệt phát triển kinh tế rừng (Nông - Lâm - Công nghiệp) và đặc biệt là thủ công nghiệp Vẫn phải đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất và chế biến các sản phẩm của các cây công nghiệp như chè,
cà phê, hồ tiêu, cao su vv Và đặc biệt xu thế phát triển về chăn nuôi gia súc
2 Một xu thế trong cơ chế thị trường mà Đắc Lắc có nhiều tiềm năng nữa
đó là phát triển kinh tế trong việc sử dụng nhân lực và tài lực của người dân tộc thiểu số Đó là phải dần dần làm cho miền nông thôn rộng lớn của tỉnh với gần 40 dân tộc trở thành các trang trại lớn của đồng bào dân tộc
mà ở đó người ta có thể tổ chức sản xuất chế biến lâm sản (tăng tỷ lệ công nghiệp) và tổ chức sản xuất, canh tác để có thể đa dạng hoá về cây trồng
Có lẽ xu thế này phải phát triển ở Đắc Lắc trong những năm tới thì đời
sống của đồng bào dân tộc mới có điều kiện được nâng cao
Trang 2118
-X∙ hội: Xu thế có khả năng phải tách tỉnh (vì tỉnh quá lớn) Về phát triển
xã hội có nhiều xu thế khó khăn hơn so với phát triển kinh tế với lý do vì quá nhiều dân tộc Tuy nhiên vẫn theo một xu thế chung là:
- Công tác giáo dục sẽ được đẩy mạnh và có nhiều dự báo với tốc độ
nhanh, tiến tới phổ cập cấp 2
- Công tác văn hoá thông tin đã được Đảng quan tâm rất lớn, đặc biệt là các tài liệu, phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc
- Y tế, dân số và sức khoẻ cộng đồng cũng với xu thế tăng nhanh Tỷ lệ y - bác sỹ, số giường bệnh tăng, quỹ phúc lợi cho sự chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và giảm tỷ lệ sinh đẻ
- Sự công bằng xã hội sẽ được đặc biệt quan tâm
Trang 2219
f Đất chưa sử dụng: 81.371,58 ha
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang
1 Tình hình Kinh Tế
a Về sản xuất nông nghiệp:
1 Trong năm 1999, diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 123.732,7 ha Trong đó diện tích trồng lúa là: 114.291 ha, diện tích đất trồng cây chuyên màu và cây công nghiệp là 43.947 ha
2 Sản lượng nông nghiệp toàn tỉnh là 496.671tấn lượng thực có hạt (bình quân đầu người là 332.2 kg/người); trong đó sản lượng lúa là 416.019 tấn (bình quân đầu người là 279 kg/người)
3 Số lượng gia súc gia cầm toàn tỉnh (1999) là 130.951 con trâu,
66.406con bò, 703.885 con lợn và 1.159 con dê cừu các loại, 4.763 con ngựa, 5.868.000 con gà
b Về lâm nghiệp:
1 Tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc giang là 166.690
ha trong đó diện tích rừng tự nhiên là 63.932,41 ha, diện tích rừng trồng là 46.637,65 ha
Trong khi đó công nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là công nghiệp cá thể tư nhân lại phát triển nhanh từ 7.509 năm 1997 lên 8.864 cơ sở năm 2001, tố độ tăng trưởng đạt tỷ lệ 21,85%
2 Tình hình X∙ hội - Dân cư:
- Phân bố dân cư: Tổng số dân toàn tỉnh (đến 31/12/1999) là 1.495.010 người, mật độ dân số: 391 người/km2, dân cư miền núi còn thưa thớt mật độ dân
số huyện Sơn động chỉ khoảng 78 người/km2, thị xã Bắc giang mật độ dân số lên
Trang 2320
-3 Đánh giá xu thế phát triển kinh tế - x∙ hội
- Phát triển theo hướng phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản Với mục tiêu đến hết 2005 đạt tăng trưởng kinh tế bình quân 8% năm với cơ cấu: nông lâm nghiệp 45,5%; công nghiệp xây dựng cơ bản: 20%; dịch vụ: 35,5%
• 02 Thị xã (Tam Kỳ, Hội An) và
• 12 Huyện: Điện Đàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Núi Thành, Tiên Phước, Trà My, Phước Sơn, Nam Giang, Hiên (Với 193 xã)
Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam được chia tách từ Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), có 14
đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thị xã (Tam Kỳ và Hội An), Tỉnh lỵ
đóng tại thị xã Tam Kỳ; 6 huyện đồng bằng (Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Núi Thành, Thăng Bình, Quế Sơn); 6 huyện miền núi (Tiên Phước, Hiên, Nam Giang, Hiệp Đức, Phước Sơn và Trà My)
Dân số của Tỉnh Quảng Nam theo số liệu thống kê của đợt tổng điều tra dân
số ngày 1.4.1999 có 1.372.424 người, mật độ là 131 người /km2 Trong đó thị xã Tam Kỹ có số dân là 165.396 người với mật độ là 482 người/km2 và Hội An có số dân là 77.017 người với mật độ là 1269 người/km2
Bảng 1 Thống kê phân bố dân số trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (năm 1999)
ĐVT: người
Trang 24- Kim ngạch xuất khẩu tăng: 13,47% (KH là 20%)
- Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm: từ 23,4% xuống còn 19,5%
- Giảm tỷ lệ sinh đẻ: 0,071%
Năm 1999 trong bối cảnh còn có nhiều khó khăn của một tỉnh nghèo phải
gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của thiên tai liên tiếp xảy ra; cán bộ và nhân
dân trong toàn tỉnh đã nêu cao tinh thần đoàn kết phát huy nội lực, nhanh chóng
khắc phục hậu quả thiên tai, giữ vững ổn định và phát triển kinh tế xã hội: Nông
nghiệp được mùa, đảm bảo an toàn lương thực trên địa bàn, giá trị sản xuất kinh
doanh của các ngành đều tăng, thu ngân sách đạt khá, năng lực sản xuất cơ sở hạ
Trang 2522
-chung ổn định và có mặt phát triển; an ninh chính trị và an toàn xã hội được giữ vững Trong 12 chỉ tiêu đề ra trong năm có 7 chỉ tiêu hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, đó là: Giá trị tổng sản phẩm xã hội GDP; giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp; tổng sản lượng lương thực; thu ngân sách; giải quyết việc làm; giảm hộ nghèo; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
- Toàn tỉnh có 1 bệnh viện Tỉnh, 13 bệnh viện huyện, thị xã, 199 trạm y tế, hộ sinh xã, phường Có 490 bác sỹ, 999 y sỹ, 117 kỹ thuật viên trung học và
777 y tá
Đánh giá xu thế phát triển Kinh tế – Xã hội
Kinh tế: Đặc điểm nổi bật của tỉnh Quảng Nam là hiện nay là tỉnh có cả 5
kiểu vùng sinh thái đặc trưng đó là: sinh thái vùng núi cao, vùng trung du, vùng
đồng bằng, vùng cửa sông ven biển và vùng ven đô
Chính vì có đặc thù như vậy nên xu thế diễn biến về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh có khả năng dự báo như sau:
Trang 263 Sáu huyện miền núi với diện tích chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh với các
đỉnh núi cao đặc biệt trên 2000m là những vùng có tiềm năng về xu thế phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp rừng
X∙ hội: Là một tỉnh miền Trung có nhiều thế mạnh nhưng cũng có rất
nhiều khó khăn nên xu thế phát triển xã hội của Quảng Nam là:
- Sẽ ưu tiên, tập trung quỹ phúc lợi xã hội cho 6 huyện miền núi để tăng cường các công tác giáo dục phổ cập, cac công tác truyền thông, văn hoá thông tin và y tế, sức khoẻ cho vùng sâu, vùng cao
- Hiện nay việc đi lại của nhân dân vùng cao, vùng sâu còn gặp nhiều khó khăn nên xu thế phát triển giao thông nông thôn trong tỉnh để giảm bớt
sự cách biệt giữa đô thị, thị xã, thị trấn là xu thế bắt buộc
Trang 2724
-Tình hình kinh tế – xã hội Tỉnh Thái Bình
Về kinh tế Thái Bình: Là một tỉnh thuần nông, có 50km bờ biển thì cây
lúa, củ khoai, con lợn và đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản là chủ đạo Dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi với kinh nghiệm trồng lúa nước lâu năm, Thái Bình là tỉnh đầu tiên đạt năng suất 5 tấn/ha, đến nay năng suất toàn tỉnh đạt 10-12 tấn/ha
và nhiều xã đạt 15 tấn/ha, đưa tổng sản phẩm quy ra thóc của toàn tỉnh lên một triệu tấn từ năm 1993 đến nay, tổng sản lượng lương thực dư thừa bán và xuất khẩu tiểu ngạch từ 40-50 vạn tấn Hiện nay theo sự chỉ đạo của tỉnh, chuyển một
bộ phận diện tích đất nông nghiệp sang trồng lúa xuất khẩu và sản xuất hàng hoá
Bảng 1: Tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh chia theo khu vực
GDP theo giá trị thực tế
(Tỷ đồng)
Cơ cấu ngành nghề (Tỷ đồng) Tên khu vực sản xuất
Khu vực Nông-Lâm nghiệp-Thuỷ sản 3.182 3.314 57,03% 58,52%Khu vực Công nghiệp và xây dựng 691 720 12,38% 12,03%Khu vực dịch vụ và ngành khác 1.706 1.776 30,57% 29,68%
Là một tỉnh thuần nông, có biển kinh tế mũi nhọn bao gồm:
a Sản xuất, chế biến nông sản thực phẩm cung cấp nội địa và xuất khẩu
b Nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản
c Giao thông, đặc biệt cảng sông Diêm Điền
d Sản xuất vật liệu xây dựng như gạch đỏ, gạch ốp lát, sứ vệ sinh
X∙ hội – dân cư:
Tỉnh Thái Bình được thành lập năm 1890, đến nay toàn tỉnh có hơn 2000
điểm dân cư, chia thành 8 đơn vị hành chính bao gồm 7 huyện và 1 thị xã, đó là:
a Thị xã Thái Bình là trung tâm văn hoá của tỉnh gồm 6 phường và 7 xã
b Huyện Quỳnh Phụ có thị trấn Quỳnh Phụ và 37 xã
c Huyện Hưng Hà có thị trấn Hưng Hà và 33 xã
d Huyện Đông Hưng có thị trấn Đông Hưng và 45 xã
e Huyện Vũ Thư có thị trấn Vũ Thư và 30 xã
Trang 2825
-g Huyện Tiền Hải có thị trấn Tiền Hải và 34 xã
h Huyện Thái Thuỵ có thị trấn Diêm Điền và 47 xã
Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 1.531,4 km2, theo con số điều tra 01/04/1999 dân số Thái Bình là 1.785.600 người, mật độ dân số toàn tỉnh 1.200 người/km2, chỉ xếp sau thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Tỷ lệ nam chiếm 46,9%, tỷ lệ nữ chiếm 53,1%, còn tỷ lệ dân sống ở thành thị là 6,3%, dân sống ở khu vực nông thôn chiếm 93,7% Tỷ lệ tăng sân số tự nhiện của toàn tỉnh là 1,23% Trong hai năm 1995 và 1996 toàn tỉnh đã chuyển được 1.828 hộ gồm 7020 nhân khẩu đi xây dựng kinh tế mới Đây là một tỉnh duy nhất chỉ có một dân tộc Kinh
Các đặc điểm khác
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng sông Hồng có mật độ ao hồ, sông ngòi dày
đặc Đây là cuối nguồn của các sông nên tạp chất từ thượng nguồn đổ về đây góp phần làm ô nhiễm môi trường
Thái Bình có hơn 50Km bờ biển cùng 5 cửa sông đổ ra biển, đây là vùng biển
hở, độ dốc nhỏ, chịu chế độ thuỷ triều và thường xuyên có bão xảy ra gây ra các sự cố môi trường như sạc lở đê biển, đắm tàu thuyền đi lại trên sông, trên biển
Tại các vùng cửa sông của Thái Bình như cửa sông Hồng, sông Trà Lý, sông Thái Bình có các cồn Vành, cồn Thủ, cồn Đen là những vùng đất ngập nước
đặc trưng, là điểm dừng của các đàn chim di cư nên được ghi vào vùng bảo tồn thiên nhiên quốc gia và gia nhập công ước Ramsar
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, hàng năm sử dụng một khối lượng lớn phân bón hoá học, thuốc trừ sâu và các loại hoá chất nông dược khác, đang từng ngày từng giờ góp phần làm ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí Thái Bình là một trong những tỉnh của đồng bằng sông Hồng có tiềm năng dầu khí ở biển và ở trong đất liền Hiện nay Tổng công ty dầu khí Việt Nam
và nhà thầu ANZOIL (úc) đang tiến hành khoan thăm dò dầu khí tại Thái Bình
Thái Bình đến hết năm 2002 sẽ hoàn thành dự án nâng cấp quốc lộ 10, Cầu Tân Đệ và một số cầu khác dọc theo quốc lộ 10, nó sẽ trở thành tuyến giao thông chính từ các tỉnh phía Nam đi Hải Phòng, sẽ chịu ô nhiễm bụi, ồn
Đánh giá xu thế phát triển Kinh tế – Xã hội
Kinh tế: Đặc điểm nổi bật số một hiện nay của Thái Bình là vùng lúa,
chăn nuôi và nghề cá
Đặc điểm nổi bật thứ hai của Thái Bình là khả năng phát triển công nghiệp địa
Trang 292 Có khả năng một xu thế phát triển mạnh hơn việc khoanh vùng sản xuất, gieo trồng những giống lúa đặc biệt thơm ngon để xuất khẩu
3 Một xu thế phát triển gần như tất yếu của Thái Bình là gia tăng đẩy mạnh việc sản xuất hàng tiêu dùng vì đây cũng là xu thế của một vùng đất
đông dân, phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp vừa và nhỏ
X∙ hội: Xu thế phát triển xã hội:
- Tăng nhanh công tác giáo dục và đặc biệt là giáo dục ở bậc Đại học
- Tăng nhanh cơ sở hạ tầng: Trường học, bệnh viện, trạm xá, đường giao thông nông thôn
- Tăng nhanh các cơ sở văn hoá thông tin như thư viện, cơ sở vật chất cho
đài địa phương
- Đặc biệt Thái Bình, các hoạt động xã hội của các đoàn thê, các tổ chức
và cá nhân sẽ có nhiều kết quả và xu thế phát triển mạnh mẽ
Trang 30• Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản:9.168 ha
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang
1 Tình hình Kinh Tế
a Về sản xuất nông nghiệp:
1 Trong năm 1998, diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 312.407 ha Trong đó diện tích trồng lúa và hoa màu là: 293.103 ha, diện tích đất trồng cây công nghiệp và cây ăn quả là 42.100 ha
2 Sản lượng lương thực quy thóc là 1.333.629 tấn
3 Số lượng gia súc gia cầm toàn tỉnh (1998) là 1.712 con trâu, 8.239 con
bò, 388.818 con lợn và 4.328.743 con gia cầm
b Về nuôi trồng thuỷ sản:
1 Trong năm 1998, diện tích nuôi tôm toàn tỉnh là 9.168 ha và sản lượng tôm nuôi là 29.769 tấn
c Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
1 Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.065,44 tỷ đồng
2 Tiền giang có khoảng 4621 cơ sở sản xuất trong đó ngành chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống: 2094 cơ sở; sản xuất trang phục:874 cơ sở; chế biến gỗ và lâm sản: 385; sản xuất sản phẩm kim loại: 499; công nghiệp sản xuất hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất: 41; công nghiệp in: 18; công nghiệp sản xuất máy móc thiết bị điện: 16; công nghiệp sản xuất xe xó động cơ rơ-moóc: 26; công nghiệp sản xuất các phương tiện vân tải khác: 36
3 Xay xát lương thực: năm 1998 có 1.127 cơ sở, sản lượng xay xát: 1.388 triệu tấn
4 Chế biến lương thực thực phẩm: chỉ có vài cơ sở công nghiệp lớn như
Trang 312 Tình hình Xã hội - Dân cư:
a Phân bố dân cư: Tổng số dân toàn tỉnh (năm 1997) là 1.743.642 người Mật độ dân cư phân bố không đều, đông dân nhất là thành phổ Mỹ tho với 3.412 người/km2 ít dân nhất là huyện Tân phước với132 người/km2;
b Dân số ở các vùng nông thôn chiếm tỷ lệ rất cao (khoảng 80-85%)
c Lực lượng lao động chủ yếu tập trung trong khu vực kinh tế nông nghiệp rất cao, khoảng 728.000 người trong độ tuổi lao động chiếm 85% tổng số lao động các ngành nghề
3 Đánh giá xu thế phát triển kinh tế - xã hội
e Tỷ lệ tăng dân số có xu hướng giảm dần qua các năm, số dân thành thị tăng nhẹ, số hộ di dân giảm thể hiện quá trình ổn định dần về kinh tế - xã hội của tỉnh
vùng ven biển
7 Tỉnh nghệ an
Những thông tin hành chính cơ bản của tỉnh Nghệ An
ư Diện tích: 1.673.068 ha
Trang 3229
-ư Dân số: 2.930.900 người
ư Dân nông thôn:
ư Các đơn vị hành chính: 18 huyện và một thị xã:
• 10 huyện miền núi: Thanh chương, Anh sơn, Nghĩa đàn, Tân
kỳ, Quỳ châu, Quỳ hợp Quế phong, Con cuông, Tương dương, Kỳ sơn
Trang 3330
-a) Phân bố dân cư: Tổng số dân tính đến năm 1998 là 2.930.900 người, trong đó dân số vùng đồng bằng chiếm 63%, trung du và miền núi 37%, mật độ dân số trung bình là 170 người/km2 ở 10 huyện miền núi trung bình là 45 người/km2, vùng thấp nhất như Tương Dương là 21,9 người/km2 Huyện đông dân nhất là Quỳnh lưu với số dân là 345.530 người, it dân nhất là thị xã Cửa lò với 43.644 người
b) Tốc độ tăng dân số là 15,9%/năm Cơ cấu dân số Nghệ an là độ tuổi dưới
14 chiếm 41%, trên 60 tuổi chỉ có 8%
c) Nghệ an hiện có khoảng 1,673 triệu người trong độ tuổi lao động chiếm 52,14% Trong đó trình độ đại học cao đẳng và trên đại học chiếm 1,52%
d) Cơ sở hạ tầng: Mấy năm gần đây cơ sở hạ tầng của Nghệ an được cải thiện đáng kể, nhất là hệ thống đường giao thông liên tỉnh, hệ thồng điện hoà mạng quốc gia được cung cấp điện ổn định và liên tục, điện mạng đã
về đến tận huyện, xã và cả những vùng sâu, vùng cao
e) Về giáo dục: trong tỉnh có 1 trường đại học, 23 trường dạy nghề, 54 trường phổ thông trung học, 955 trường trung học cơ sở và tiểu học,
4456 trường mẫu giáo Tỷ lệ dân biết chữ ở Nghệ an là 85,8%
f) Về y tế: Tổng số cán bộ ngành y là 5.058 người trong đó có 760 người
có trình độ từ đại học trở lên, ngành dược có 821 người trong đó có 155 người trình độ từ đại học trở lên Toàn tỉnh có 5 bệnh viện tỉnh, 19 bệnh viện huyện, 1 nhà điều dưỡng, 1 trại phong, 20 trạm bảo vệ bà mẹ trẻ em
và kế hoạch hoá gia đình, 48 phòng khám đa khoa khu vực, 452 trạm y
tế xã, phường với tổng số là 5.731 giường bệnh trên toàn tỉnh
g) Về an ninh quốc phòng: Trong những năm gần đây an ninh quốc phòng của Nghệ an được giữ vững, trật tự an toan xã hội được đảm bảo đã góp phần tạo moi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội và mở rộng quan hệ đối ngoại với các tỉnh bạn và nước ngoài
3 Đánh giá xu thế phát triển kinh tế - x∙ hội
a) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 2,14% năm 1995 xuống còn 1,59% năm 1998
b) Về cơ cấu kinh tế: có bước dịch chuyển từ nông lâm thuỷ sản sang công nghiệp xây dựng và dịch vụ công cộngthể hiện ở % GDP hàng năm của các ngành kinh tế
8 Tỉnh Ninh Thuận
Trang 34g Đất chưa sử dụng: 102.868,6 ha
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận
1 Tình hình Kinh Tế
Về sản xuất nông nghiệp:
a) Trong năm 2001, diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 52.918,8 ha Trong đó diện tích trồng lúa là: 15.745 ha, diện tích đất trồng cây chuyên màu và cây công nghiệp là 37.132 ha
b) Sản lượng nông nghiệp toàn tỉnh là 167.413 tấn lượng thực có hạt (bình quân đầu người là 316,7 kg/người); trong đó sản lượng lúa là 145.946 tấn (bình quân đầu người là 254 kg/người)
c) Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2001 tính theo giá cố định năm
1994 là 738.997 triệu đồng trong đó trồng trọt là 525.044 triệu đồng, chăn nuôi là 148.687 triệu đồng Tăng 24% so với năm 1995 nhưng giảm 1% so với năm 2000
d) Số lượng gia súc gia cầm toàn tỉnh (tính đến tháng 10/2001) là 5.363 con trâu, 78.687 con bò, 65.057 con lợn và 39.500 con dê cừu cac loại
Trang 3532
-a) Tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận là 217.513
ha trong đó diện tích rừng tự nhiên là 151.838 ha, diện tích rừng trồng là 5577 ha
b) Trong tỉnh có các khu bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dang sinh học như: Khu bảo tồn rừng khô hạn Núi Chúa (25.013 ha) và các khu rừng phòng hộ như rừng đâu fnguồn sông Cái, rừng đầu nguồn sông Sắt, rừng
đầu nguồn sông Trâu, rừng đầu nguồn sông Tân Giang, rừng ven biển Ninh Phước, rừng đầu nguồn sông Cái - Ma Nới
Về nuôi trồng thuỷ sản:
a) Trong năm 2001, diện tích nuôi tôm toàn tỉnh là 810 ha và sản lượng tôm nuôi là 1800 tấn tận trung chủ yếu ở Huyện Ninh Hải (680 ha nuôi tôm với sản lượng 1.430 tấn.năm)
b) Sản xuất tôm giống: năm 2000, toàn tỉnh có 250 trại tôm giống với diện tích bể nuôi là 13.857m3
c) Nuôi tôm hùm: Nhân dân ven biển tỉnh Ninh Thuận đã khai thác, tận dụng phát triển nuôi tôm hùm bằng hình thức nuôi lồng trên biển với số lượng năm 2000 là 75 hộ nuôi với tổng cộng 200 lồng tôm và sản lượng
là 20 tấn/năm
d) Nghề trồng rong sụn: Đến nay hàng năm có khoảng 200 hộ gia đình trồng rong trên diện tích 15-20 ha, và sản lượng là 60-100 tấn rong tươi/năm
e) Nghề nuôi sò huyết: Nhân dân vùng ven biển còn phát triển nghề nuôi sò huyết trên các vùng bãi triều, trong ao và trong khu vực Đầm Nại với tổng diện tích là 22,7 ha năm 2001
Về đánh bắt và chế biến thuỷ-hải sản:
a) Trong những năm qua, ngành thuỷ sản phát triển toàn diện cả về khai thác lẫn nuôi trồng, trong năm 2001, giá trị sản xuất ngành đát 616.322 triệu đồng với sản lượng hải sản khai thác đạt 29.105 tấn (tăng 455 tấn
so với năm 2000) Toàn khu vực có 1722 chiếc thuyền đánh cá các loại với công suất từ 45 CV đến 89CV và được trang bị hiện đại
b) Chủ trương của tỉnh là tăng cường đánh bắt xa bờ, đầu từ phát triển tàu thuyền lớn
c) Phát triển chế biến và kinh doanh thuỷ - hải sản Hiện toàn tỉnh có 3 cơ
sở chế biến thuỷ sản đông lạnh với công suất cấp đông là 18 tấn/ngày,
142 cơ sở chế biến cá cơm khô luộc, 89 cơ sở chế biến nước mắm,
Về tiểu thủ công nghiệp:
Trang 36Về các hoạt động kinh tế khác:
a) Thương nghiệp: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội toàn tỉnh năm 2001 là 1.135.000 triệu đồng trong đó kinh tế Nhà nước đóng góp 189.453 triệu đồng, kinh tế tập thể đóng góp 2.000 triệu đồng, kinh tế tư nhân đóng góp 258.247 triệu đồng, kinh tế hỗn hợp là 20.200 triệu đồng b) Dịch vụ du lịch: Toàn tỉnh có 40 cơ sở lưu trú với 584 buồng và 1033 giường và 10 nhà trọ gồm 145 phòng và 148 giường Lượng khách du lịch năm 2001 trên toàn tỉnh là 93.789 người và doanh thu từ kinh doanh dịch vụ du lịch là 75.250 triệu đồng (206 triệu đồng/ngày)
2 Tình hình Xã hội - Dân cư:
a) Phân bố dân cư: Tổng số dân toàn tỉnh (năm 2001) là 529.650 người, trong đó số dân thành thị là 135.091 người và số dân nông thôn là 395.559 người Trong đó huyện đông dân nhất là huyện Ninh Phước (168.339 người) và ít nhất là huyện Bác ái (18.657 người)
b) Mức thu nhập bình quân của người lao động hàng tháng dao động trong khoảng từ 420 - 1.240 ngàn đồng Trong đó nhóm có nguồn thu nhập cao tập trung ở các ngành tài chính, tín dụng, tài sản và dịch vụ tư vấn,
và nhóm có thu nhập thấp thuộc các ngành văn hoá, thể thao, dịch vụ công cộng
c) Trình độ dân trí - hoạt động giáo dục đào tạo: Năm 1999, toàn tỉnh có 2.825 người có trình độ đại học, trên đại học có 31 người, cao đẳng có
1702 người Trong đó khoa học xã hội và nhân văn chiếm 75,6%, khoa học kỹ thuật 9,5%, khoa học nông lâm thuỷ sản chiếm 7,1%, y dược chiếm 5,3% và khoa học tự nhiên chiếm 2,4% Trong đó tập trung nhiều nhất ở ngành giáo dục đào tạo 40%
3 Đánh giá xu thế phát triển kinh tế - xã hội
a) Sản lượng lương thực tăng dần qua các năm
b) Cơ cấu kinh tế có bước dịch chuyển rõ rệt từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng, và dịch vụ xã hội
Trang 379 huyện thanh trì - hà nội
Những thông tin hành chính cơ bản của huyện Thanh Trì
− Đất sử dụng vào các mục đích khác: > 2.000 ha
Tình hình kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì
b) Sản l−ợng rau năm 2002 là 41.054 tấn, đạt 102% chỉ tiêu đặt ra
c) Sản l−ợng cá đạt 4.300 tấn, v−ợt mức 107% so với chỉ tiêu đặt ra
Trang 3835
-d) Đàn trâu bò được duy trì, số bò sữa là 140 con, tổng số lợn là 45.000 con, gia cân là 257.500 con
Về sản xuất công nghệp, tiểu thủ công nghiệp: Số doanh nghiệp tăng nhanh từ
160 năm 2000 lên đến 535 năm 2002 Hiện có 5 làng nghề tiểu thủ công nghiệp,
đó là: làng nghề Tân Triều - thu gom phế liệu, làng nghề Hữu Hoà - chế biến nông sản thực phẩm, làng nghề Vạn Phúc - dệt và thêu ren, làng nghề Đại áng - sản xuất nón, làng nghề Đông Mỹ - sản xuất đồ sơn mài
Thương mại - dịch vụ: đạt kết quả khá, các ngành nghề truyền thống được phục
hồi và phát triển mạnh Hệ thống các chợ được nâng cấp
Về các hoạt động kinh tế khác: Hiện nay chưa có khu công nghiệp tập trung,
một số khu công nghiệp của thành phố đang trong quá trình xây dựng dự án và trình duyệt, dự kiến trong thời gian tới, một số khu công nghiệp lớn sẽ được hình thành và đi vào hoạt động
d) Về cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản: Có những bước tiến bộ đáng kể, tổng kinh phí đầu tư cho xây dựng cơ bản trong 2 năm 2001, 2002 là 170 tỷ
đồng Các tuyến đường giao thông được mở mang, nâng cấp 70% dân cư được sử dụng nước sạch
e) Công tác y tế - dân số gia đình và trẻ em: Công tác y tế được nâng cấp toàn diện Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm từ 22,4% (năm 2000) xuống còn 17,97% năm 2002 Tỷ lệ tăng dân số giảm 0,02% mỗi năm, tỷ lệ
Trang 3936
-f) Công tác lao động và thương binh xã hội: Đã thực hiện kịp thời và toàn diện các chủ trương, chính sách về đền ơn đáp nghĩa, vận động thu được 1.372 triệu đồng cho quỹ này, xây 17 nhà tình nghĩa, sửa chữa 52 nhà cho các gia đình chính sách, tặng 700 sổ tiết kiệm cho các bà mẹ liệt sỹ
và gia đình neo đơn, nâng cấp 5 nghĩa trang, đài tưởng niệm, tổ chức thăm hỏi động viện các gia đình và trợ cấp 1 lần cho 8.450 người hoạt
động kháng chiến
3 Đánh giá xu thế phát triển kinh tế - xã hội
a) Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng khá tốt ở tất cả mọi lĩnh vực: cơ cấu kinh tế có những bước chuyển dịch đáng kể, tỷ trọng giá trị nông nghiệp giảm dần, công nghiệp tăng vọt, giá trị thương mại cũng tăng lên
b) Trong kinh tế nông nghiệp cũng có bước dịch chuyển từ trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản
c) Phát triển kinh tế đã bám sát được những chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã
được thông qua, đồng thời phát huy khả năng, thế mạnh của huyện huy
động nguồn lực tập trung vào đầu tư kịp thời giải quyết khó khăn, hoàn thành các chỉ tiêu đề ra
d) Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 12,45%
Phần Iv đề xuất các chính sách
1 Xem xét lại các chính sách không phù hợp và những chính sách chưa
cụ thể đối với nông dân nói chung
Trang 40Nhóm nghiên cứu đã gặp nhiều khó khăn về thông tin, số liệu, tuy nhiên cũng đưa ra những kết luận sau:
Về kinh tế: Nông thôn Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử
dụng khai thác và quản lý tài nguyên (đất, nước, rừng, biển ) Những sản phẩm nông nghiệp được làm ra bị phụ thuộc rất nhiều đến điều kiện Môi trường, thiên tai và các vấn đề Khoa học – Công nghệ Những sản phẩm này phần lớn lại chưa được thương mại hoá và hầu hết giá cả lại quá rẻ tới mức bất hợp lý làm
ảnh hưởng lớn đến đời sống của người nông dân
Về x∙ hội: Nông thôn Việt Nam cần phải được đánh giá là tốt Sáu mươi
triệu người nông dân cần cù lao động chăm lo cuộc sống cho một xã hội bình yên và công bằng nông dân có văn hoá, có tri thức, tiếp thu nhanh những tiến bộ
kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp và các kỹ thuật khác (đặc biệt là kỹ thuật tiểu thủ công nghiệp) Tuy nhiên, một điều rất đáng quan tâm đó là nông thôn Việt Nam rất dư thừa lao động (thiếu việc làm), thiếu được đào tạo nghề nghiệp
2 Kiến nghị
- Đề nghị Chính phủ cần phải tăng ngân sách đầu tư cho Nông thôn (Nông nghiệp và Nông thôn), với số dân trên sáu mươi triệu nông dân hiện nay, cần phải đầu tư khoảng từ 25 - 35% tổng ngân sách
- Cần chăm lo việc đào tạo, giáo dục, văn hoá, nghề nghiệp cho tất cả các đối tượng ở nông thôn đặc biệt ưu tiên thanh niên, phụ nữ