1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn tỉnh tiền giang theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp

58 553 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn tỉnh tiền giang theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp
Tác giả Nguyễn Văn Re, Nguyễn Thị Nghiệm
Trường học Sở Khoa Học Và Công Nghệ Tiền Giang
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2003
Thành phố Tiền Giang
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 579,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHAI THáC NƯớC NGầM: Chương trình khai thác nước ngầm của tỉnh Tiền Giang bắt đầu từ năm 1990, năm 1994 sau khi Thủ Tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 200/TTg về đảm bảo cung cấp nước sạ

Trang 1

ñY BAN NH¢N D¢N TØNH TIÒN GIANG

TiÒn Giang, ngµy 05 th¸ng 11 n¨m 2003

Trang 2

MụC LụC

Trang

CHƯƠNG I: CáC YếU Tố Tự NHIÊN - KINH Tế X∙ HộI TỉNH TIềN GIANG

I- Đặc điểm tự nhiên:

1 Vị trí - diện tích 4

2 Địa hình 4

3 Thời tiết, khí hậu 5

4 Thổ nhưỡng 6

5 Tài nguyên khoáng sản 7

6 Tài nguyên sinh học 7 Tài nguyên nước mặt 9

II- Hiện trạng kinh tế xã hội: 1 Kinh tế 10

2 Xã hội 11

CHƯƠNG II: ĐáNH GIá HIệN TRạNG Sử DụNG TàI NGUYÊN Và MÔI TRƯờNG NÔNG THÔN TIềN GIANG I- Khai thác và sử dụng tài nguyên 1 Sử dụng đất 13

2 Khai thác nước mặt 13

3 Khai thác nước ngầm 14

4 Khai thác các tài nguyên khoáng sản 15

5 Khai thác rừng 16

6 Khai thác du lịch 16

II- Hiện trạng môi trường & Môi trường nông thôn 1 Môi trường nước mặt 17

2 Môi trường không khí 20

3 Môi trường nước biển ven bờ 22

4 Môi trường vùng lũ lụt 22

5 Nước sạch và vệ sinh môi trường 25

6 Môi trường canh tác nông nghiệp 32

7 Cảnh quan đô thị và nông thôn 34

CHƯƠNG III: NGHIÊN CứU ĐáNH GIá CáC NGUồN

GÂY Ô NHIễM Và Dự BáO DIễN BIếN MÔI TRƯờNG

Trang 3

1 Các nguồn gây ô nhiễm tự nhiên:

1.1 Ô nhiễm mặn 36

1.2 Ô nhiễm phèn 37

1.3 Các sự cố môi trường do thiên nhiên 37

2 Các nguồn gây ô nhiễm nhân tạo: 2.1 Sự cố do con người gây ra 38

2.2 Ô nhiễm môi trường nước mặt 39

2.3 Ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ 41

2.4 Ô nhiễm môi trường không khí 42

2.5 Các nguồn gây ô nhiễm khác 43

3 Dự báo diễn biến đến môi trường đến năm 2005 và 2010 3.1 Diễn biến sử dụng tài nguyên thiên nhiên 49

3.2 Dự báo thay đổi nguyên nhân và mức độ tác động MT 50

CHƯƠNG IV: GIảI PHáP & CHíNH SáCH QUảN Lý MÔI TRƯờNG Và PHáT TRIểN NÔNG THÔN BềN VữNG 1 Mục tiêu và định hướng phát triển môi trường nông thôn: 1.1 Tăng cường nâng cao nhận thức môi trường và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng về bảo vệ môi trường nông thôn 53

1.2 Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường 54

1.3 Đẩy mạnh cung cấp nước sạch vùng nông thôn 55

1.4 Tăng cường hỗ trợ thực hiện vệ sinh môi trường nông thôn 55

1.5 Tôn tạo cảnh quan môi trường và phát triển du lịch 56

2 Các giải pháp và cơ chế chính sách phát triển nông thôn bền vững và bảo vệ môi trường: 2.1 Khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững 57

2.2 Cơ cấu sản xuất hợp lý trong vùng lũ 57

2.3 Tăng cường cơ cấu cơ sở hạ tầng vùng nông thôn 58

2.4 Tạo thêm việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn 59

2.5 Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ ở nông thôn 59

2.6 Tăng cường nguồn lực cho khoa học và quản lý môi trường 60

2.7 Nâng cao giáo dục truyền thông môi trường 61

KếT LUậN CHUNG: 66

Các kết quả phân tích môi trường nước và không khí trong tỉnh TG./

Trang 4

CHƯƠNG I CáC YếU Tố Tự NHIÊN - KINH Tế Xã HộI TỉNH TIềN GIANG

I ĐặC ĐIểM Tự NHIÊN :

1 Vị trí, diện tích

Tiền Giang là một trong 12 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, nó nằm phía Đông Bắc vùng đồng bằng và cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km, là tỉnh cửa ngõ để đi vào

10 tỉnh còn lại của vùng ngoại trừ tỉnh Long An

Tỉnh Tiền Giang có toạ độ địa lý từ 105049'07" đến 105048'06" kinh độ Đông;

10012'20" đến 10035'26" vĩ độ Bắc

Vị trí của tỉnh Tiền Giang được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp với tỉnh Long An

- Phía Nam giáp với tỉnh Bến Tre

- Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Đồng Tháp

- Phía Đông giáp biển Đông, có 32 km bờ biển với 3 cửa sông là cửa Đại, cửa Tiểu

và cửa Soài Rạp Chiều dài sông Tiền chảy ra cửa Tiểu chạy qua địa phận tỉnh Tiền Giang là 120 km

Tỉnh Tiền Giang có diện tích khá nhỏ so với các tỉnh khác trong vùng, diện tích tự nhiên chỉ đo được 2.326,1 km2, trong đó diện tích các sông, kênh rạch chiếm 10%

2 ĐịA HìNH :

Tỉnh Tiền Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, với độ dốc < 1% và cao trình biến thiên từ 0 đến 1,4 m so với mực nước biển, phổ biến là từ 0,8 m đến 1,1 m Nhìn chung toàn Tỉnh không có hướng dốc rõ rệt, nhưng ở từng khu vực thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung

Địa bàn tỉnh Tiền Giang có thể phân thành các khu vực có tính chất đặc thù sau đây:

* Khu vực Đồng tháp Mười : Cao trình phổ biến 0,6 - 0,75 m, cá biệt có nơi thấp

đến 0,4 - 0,5 m khu vực phía Bắc giáp Long An có địa hình thấp hơn Đây là vùng bị

ảnh hưởng trực tiếp của lũ Sông Cữu Long tràn về Độ sâu ngập lũ trong vùng biến thiên

từ 0,6 - 2 m

* Khu vực ven biển Gò Công : nằm trên cao trình từ 0 - 0,6 m, bị ngập triều trực tiếp

từ biển đông tràn vào Đây là vùng sình lầy mặn

* Khu vực ven Rạch Gò Công và Sông Tra : cao trình phổ biến từ 0,6 - 0,8 m Vùng này bị ảnh hưởng của triều từ Sông Vàm cỏ Tây, phần lớn diện tích đất ở đây bị ngập mặn trong các tháng mùa khô

* Khu vực đất cao ven Sông Tiền : kéo dài từ giáp ranh Đồng Tháp đến Mỹ Tho, ở

độ cao từ 0,9 - 1,3 m Phần lớn diện tích vùng này dùng làm đất thổ cư và trồng cây ăn trái

Trang 5

* Khu vực đất giồng cát: Đây là khu vực có địa hình cao nhất, phân bố rãi rác ở các Huyện Châu Thành, Cai Lậy, Gò Công Đông Cao trình phổ biến thay đổi từ 1 - 1,4 m ở Huyện Châu Thành; 1 - 1,2 m ở Huyện Cai Lậy và 0,8 - 1,1 m ở Huyện Gò Công Đông Phần lớn diện tích sử dụng làm thổ cư, trồng rau màu và cây ăn trái

3 THờI TIếT, KHí HậU :

Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gío mùa; chỉ có mùa mưa và mùa khô Khí hậu ở Tiền Giang không khác biệt nhiều so với các nơi khác trong vùng

đồng bằng sông Cửu Long Kết quả theo dõi về khí tượng thủy văn trong năm năm 1996

- 2002 cho thấy:

- Nhiệt độ không khí hàng năm dao động từ 24,3oC đến 29,8 oC

- Độ ẩm trung bình năm là 84,7%, cao nhất 88,8% và thấp nhất 80,8%

- Lượng mưa trung bình năm là 1.662mm, mưa ở Tiền Giang hầu như ít nhất so với các nơi khác trong vùng Trong các năm qua lượng mưa tập trung cao nhất vào tháng 10/1997 với vũ lượng 427,5mm và thấp nhất là 0,1mm vào tháng 3/1996

- Độ bốc hơi trung bình ngày là 3,7mm, cao nhất là 13,8mm và thấp nhất là 2,3mm Cường độ bốc hơi nước ở Tiền Giang khá cao và thay đổi theo mùa, tăng dần từ tháng

12 đến tháng 5 nên thường gây ra tình trạng thiếu nước vào mùa khô từ tháng 3 trở đi

- Gió: gió thay đổi theo mùa, mùa khô hướng gió chủ đạo là Đông Bắc (49%), mùa mưa gió Tây Nam (30%) và Tây - Tây Nam (14%)

Mực nước ở sông Mỹ Tho cao nhất đạt 163cm vào tháng 11/2000 và thấp nhất là 186cm vào tháng 5/1997 Biên độ triều lớn nhất 2,3 -2,9m và nhỏ nhất 0,2 - 0,3 m Lượng nước sông Tiền chảy qua Mỹ Tho có lưu lượng tới 6.000m3/giây vào mùa mưa và giảm còn 270 m3/giây vào mùa kiệt nước

Xâm nhập mặn qua cửa Tiểu của sông Tiền với độ mặn 4g/l có xu hướng tiến sâu

về phía thượng lưu, vào các năm nắng hạn kéo dài ranh giới mặn 4g/l vượt qua khỏi thành phố Mỹ Tho cách bờ biển Đông trên 50km Mức mặn 4g/l trên sông Vàm Cỏ cũng vào sâu trên 40km tính từ cửa soài Rạp Xâm nhập mặn là nguy cơ môi trường đe dọa đối với sản xuất nông nghiệp của nhân dân Tiền Giang

- Lũ lụt: Tiền Giang là tỉnh nằm cuối nguồn sông Mê Kông thường xuyên gánh chịu

lũ lụt, trong 3 năm liên tục 2000 - 2002 tỉnh bị ảnh hưởng của lũ khá nặng, mỗi mùa lũ

về thường bị ngâm lũ kéo dài trên 3 tháng do nước từ thượng nguồn đổ về nhiều, mức thoát lũ chậm lại bị triều cường đưa nước biển dâng sâu vào đất liền gây ra hội tụ nước ở khu vực rộng Kết quả là ô nhiễm môi trường gia tăng trong mùa lũ tại bốn huyện nằm ở phía Tây của tỉnh

4 THổ NHƯỡNG :

Tỉnh Tiền Giang có 4 nhóm đất chính :

* Nhóm phù sa : Có diện tích 123.935 ha, chiếm 53% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các Huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Mỹ Tho và một phần huyện Gò Công Tây Đây là nhóm đất thuận lợi nhất cho phát triển nông nghiệp, đặc

Trang 6

biệt là canh tác lúa cao sản và cây ăn trái, nhóm đất này đã được khai thác sử dụng trên toàn bộ diện tích

* Nhóm đất mặn : có diện tích 34,145 ha, chiếm 14,6 % diện tích đất tự nhiên, phân

bố chủ yếu ở các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây và một phần Chợ Gạo Đây là vùng thường xuyên bị nhiễm mặn hoặc nhiễm mặn từng thời kỳ Trước đây các hoạt

động nông nghiệp trồng lúa và màu thường chỉ giới hạn trong mùa mưa viứ có đủ nước ngọt, ngoại trừ một số cây chịu mặn như dừa, sơri, cói Sau khi hoàn thành công trình ngọt hóa Gò Công, bằng biện pháp ngăn mặn, đưa nguồn nước ngọt về khu vực này đã

mở ra một diện tích lớn đất canh tác vào mùa khô Riêng đất mặn dưới rừng ngập mặn ở ven biển là đất thích nghi cho rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản

* Nhóm đất phèn : Có diện tích 45.298 ha, chiếm 19,3% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu khu Đồng tháp mười thuộc phía Bắc 3 Huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành

Đặc điểm ở Tiền Giang là đất phèn tiềm tàng và hoạt động sâu (phèn ít) có diện tích 6,95% ít hơn so với đất phèn tiềm tàng và hoạt động nông (phèn nhiều) là 12,42% Hầu hết diện tích đất phèn sâu được canh tác có hiệu quả

* Nhóm đất cát giồng : có 7152 ha, chiếm 3% diện tích tự nhiên phân bố rải rác ở các Huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở Huyện Gò Công Đông Đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, nên chủ yếu sử dụng làm đất thổ cư và canh tác cây ăn quả, rau màu

5 TàI NGUYÊN KHOáNG SảN:

Sét làm gốm, sành đã được phát hiện dọc theo quốc lộ I A từ cầu Cổ Cò (xã Mỹ Đức

Đông huyện Cái Bè) đến cầu Bà Lâm (xã An Thái Trung huyện Cái Bè), có thể sử dụng làm gốm sành qui mô nhỏ

ở xã Tân Lập đã phát hiện được lớp sét phù sa cổ nằm dưới mặt đất không sâu 1 - 1,5 m và có chiều dày rất lớn (20 m); Trữ lượng sét Tân Lập I, theo số liệu của Liên

Trang 7

Hiệp Địa chất khoáng và Môi trường với diện tích khảo sát đạt trữ lượng 5.318.539 m3 Chất lượng sét Tân Lập khá ổn định, gần như đồng nhất cho toàn mỏ

Mẫu thử khi nung sét Tân Lập I (nhiệt độ nung 1000 oC) có màu sắt đẹp, cường độ kháng nén cao (trung bình 110 kg/m2), cường độ chịu uốn (38 kg/cm2), không bị nứt, cong vênh hoàn toàn đáp ứng tốt cho xây dựng

Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng 1.553.536 m3/ngày Các tầng chứa nước khác phần lớn là nước lợ và mặn, đôi tầng có xen kẻ các thấu kính nước ngọt (trong trầm tích Pleistoxen hạ) hoặc nằm một ít ở trên cao của các giồng cát thuộc trầm tích biển Holoxen trung thượng, song nước này cần được xử lý do bị nhiễm bẩn hữu cơ Hầu hết các tầng chứa nước, kể cả các tầng sâu chứa nước ngọt bị nhiễm các chất vô cơ vượt tiêu chuẩn nước sinh hoạt, nhất là Fe, Ca, Mg

5.4 Cát san lấp :

Cát san lấp được tích tụ do dòng chảy mang phù sa từ thượng nguồn đưa xuống Các doi cát có thể thay đổi hình dáng theo mùa với số lượng tùy thuộc vào tốc độ dòng chảy, chúng được bổ sung hàng năm để bù vào lượng cát đã được lấy đi

ở Tiền Giang, dọc các sông Tiền, sông Cửa Tiểu và sông Mỹ Tho, đã phát hiện 27 thân cát có dạng thấu kính kéo dài theo hướng chảy

Nếu tính từ phần giáp biển đông trở vào tới ranh giới Tỉnh Đồng Tháp (phía Tây) tỉnh Tiền Giang có 3 khu vực chứa cát :

Khu vực 1 : Từ giáp biển tới địa phận thành phố Mỹ Tho, chiều dài dọc theo

chiều sông Cửa Tiểu và Sông Tiền Giang Chiều dài khoảng 43 km phát hiện được 8 thấu kính cát, kích thước nhỏ, diện tích của 3 thấu kính lớn nhất 20 - 25 ha còn phần lớn

đạt 12 - 15 ha Trong số thấu kính cát trên có 2 thấu kính nằm trên sông Tiền, 5 thấu kính nằm trên sông Cửa Tiểu và một thấu kính nằm phần cuối của Sông Mỹ Tho

Khu vực 2 : Từ Mỹ Tho ngược sông Tiền tới ng∙ ba sông Tiền và sông Hàm

Luông Chiều dài khoảng 25 km, phát hiện 5 thân cát ngầm dạng thấu kính

Khu vực 3 : Nằm trên sông Tiền tính từ ng∙ ba sông Hàm Luông và sông Tiền tới

giáp ranh với Tỉnh Đồng Tháp Chiều dài khoảng 37 km, có diện tích khoảng 1,2-1,5 m2

6 TàI NGUYÊN SINH HọC:

6.1- Thảm thực vật: Ngoài các loại cây trồng trong nông nghiệp ,ở TG có 3 loại

thảm thực vật chính là:

- Rừng ngập mặn: phân bố ở vùng cửa sông và ven biển Gò Công trên dãi đất sình lầy theo triều gồm có cây bần, mắm, đước, muống biển, cỏ lức

Trang 8

- Thảm thực vật vùng nước lợ: phân bố dọc theo sông Vàm Cỏ Tây, sông Tiền gồm dừa nước, bần chua, ô rô, cóc kèn, mái dầm

- Thảm thực vật đất phèn hoang: phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười gồm có cây tràm, cỏ bàng, cỏ năng

Rừng tự nhiên trong tỉnh chỉ có 306 ha rừng nguyên sinh gồm rừng tràm còn lại trong vùng rốn Đồng Tháp Mười thuộc xã Thạnh Tân, huyện Tân Phước và một mảng rừng ngập mặn vùng ven biển Gò Công Mấy năm qua tỉnh đã khôi phục được diện tích rừng trồng lên đến 7.959ha thông qua các dự án tái tạo rừng mắm phòng hộ ven biển Gò Công và vận động người dân trồng tràm trong vùng trũng ngập phèn ở Tân Phước

6.2- Hệ sinh thái thủy sinh: điều tra môi trường năm 1994 cho kết quả trong tỉnh có:

- Thực vệ phiêu sinh (Phytoplankton) có 70 loài với mật độ 8.000 - 1.038.000tb/m3

- Động vật phiêu sinh (Zooplankton) có 26 loài vớisố lượng 272 - 3.536 con/m3

Đến nay tỉnh chưa có điều kiện điều tra lại sự biến đổi tài nguyên sinh học này trong khi môi trường nước bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như ngọt hóa vùng nhiễm mặn thuộc khu vực Gò Công trước đây, khai thác thủy lợi rửa phèn cho đất vùng trũng thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, đắp đê ngăn lũ nhiều nơi trong 4 huyện phía Tây của tỉnh

6.3- Thủy sản:

Mức khai thác thủy sản nước ngọt trong tỉnh dao động trong khoảng 3.200 tới 4.800 tấn mỗi năm chủ yếu là các loại cá, tôm, tép tự nhiên giảm mạnh từ 190 tấn năm 1995 xuống còn khoảng 40 tấn năm 2002 Sản lượng thủy sản nước mặn được gia tăng khai thác từ 39.656 tấn năm 1995 lên gần 70.000 tấn năm 2002 nhờ tăng cường các phương tiện đánh bắt và đi xa bờ Nuôi cá và tôm có xu hướng gia tăng đều qua các năm và tăng nhanh hơn trong năm 2001 - 2003 cho sản lượng chung đạt trên 20.000 tấn/ năm

6.4- Động vật:

Đa số động vật trong tỉnh là vật nuôi gồm gia súc, gia cầm, rắn, rùa, chim, thú cảnh Đàn heo ở TG thường xuyên ở mức trên 400.000con, gà vịt lên đến hàng triệu con

Động vật hoang dã hầu như còn rất ít do sự khai phá tận dụng đất sản xuất không còn nơi trú ngụ, sinh sản và phát triển của chúng Gần đây chỉ thấy phát triển một số

đàn cò tìm thức ăn trên ruộng lúa và bãi rác ở Gò Công Động vật nuôi đang phát triển nhanh trong tỉnh là heo (đàn heo trên 400.000 con), gà, vịt, cút, dê, thỏ, bò Riêng đàn trâu toàn tỉnh chỉ còn trên 80 con tính đến cuối năm 2002 dù Tiền Giang là tỉnh thuần nông nghiệp

Trang 9

- Sông Vàm Cỏ Tây là sông không có nguồn Lưu lượng dòng chảy chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua và nhận một phần nước tiêu lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra và là tuyến xâm nhập mặn chính của tỉnh đi qua rạch Gò Công

Các kênh chính trong tỉnh là:

- Kênh Chợ Gạo: nằm trong tuyến kênh chính cấp Trung ương đi từ thành phố HCM

- Tiền Giang - Rạch Giá - Hà Tiên

- Kênh Nguyễn Văn Tiếp: đi từ sông Vàm Cỏ Tây (thị xã Long An) qua tỉnh TG tới

Đồng Tháp Đây là tuyến kênh quan trọng xuyên Đồng Tháp Mười

- Hệ thống kênh ngang: tạo thành hệ thống đường thủy xương cá nối các đô thị và khu dân cư dọc quốc lộ 1A với các vùng sâu, vùng xa trong tỉnh Đó là các kênh Cổ Cò, kênh 28, kênh 7, kênh 9, kênh 10, kênh 12, kênh Nguyễn Tấn Thành, kênh Kinh Năng, kênh Lộ Ngang

- Hệ thống kênh ở các huyện phía Đông thuộc khu vực Gò Công ở gần biển có kênh Tham Thu, kênh Trần văn Dõng, kênh 14

II HIệN TRạNG KINH Tế, X∙ HộI :

1 Kinh tế :

Tốc độ phát triển kinh tế qua GDP của tỉnh hàng năm tăng trong khoảng 7 - 9%, năm 2001 đạt 7,3%,năm 2002 tăng 8,3% Cơ cấu kinh tế GDP của năm 2002 là: nông nghiệp 54,1%, công nghiệp và xây dựng 16,9% và thương mại dịch vụ 29,0% So với các năm trước tỉ lệ 3 khu vực kinh tế này không thay đổi nhiều (năm 2000 tỉ lệ ở 3 khu vực là 56,5% -15,3% - 28,2%) Điều đó cho thấy kinh tế ở Tiền Giang chủ đạo là nền kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp phát triển còn chậm

Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh năm 2001 đạt 7.128.011 triệu đồng, tăng 3,6% (248,74 tỷ đồng) so năm 2000 và tăng 68% so năm 1995 Trong đó thành phần kinh tế nhà nước chiếm 15,9% và kinh tế tư nhân cá thể chiếm 79,1%, còn lại là các thành phần kinh tế khác như tập thể, nước ngoài, hỗn hợp Năm 2002 tổng sản phẩm đạt 7.985.919 triệu đồng với cơ cấu các thành phần kinh tế hay đổi không đáng kể

Về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong tỉnh, năm 1995 nông nghiêp chiếm 64,2% - công nghiệp xây dựng chiếm 12,8% - thương mại dịch vụ chiếm 23%, đến cuối năm

2002 nông nghiệp còn 54,5% - công nghiệp xây dựng là 16,9% và thương mại dịch vụ tăng lên 29,0% Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế không nhiều và không nhanh là do Tiền Giang trước nay vẫn là tỉnh thuần nông nghiệp

Trong nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch, diện tích trồng lúa giảm, tăng diện tích trồng cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản để tăng hiệu quả kinh tế canh tác nông nghiệp Đầu tư xây dựng giao thông thủy lợi phục vụ nông nghiệp và nông thôn phát triển mạnh, hầu hết các xã đều có đường giao thông cho xe ô tô đến được trừ một số xã ở cù lao giữa sông Tiền, thủy lợi phục vụ nước ngọt sản xuất lúa 3 vụ ở vùng ngọt hóa Gò Công đạt hiệu quả kinh tế cao do tăng vụ và năng suất lúa Các công trình chống lũ, xây dựng đê ô bao bảo vệ vườn cây ăn quả ở các huyện phía Tây cũng phát huy hiệu quả

Trang 10

tích cực, bảo vệ cây lâu năm và không hư hại làm sút giảm sản lượng trái cây thu hoạch giúp nông dân ổn định đời sống và tăng kinh tế địa phương

Thương mại dịch vụ phát triển khá ở thành thị lẫn nông thôn, 5 năm qua tỉ trọng khu vực này tăng trên 7% trong GDP của tỉnh Trong đó dịch vụ du lịch phát triển nhanh, lượng khách nước ngoài và trong nước đến Tiền Giang du lịch sinh thái tăng mỗi năm từ

9 - 20%, tiềm năng du lịch còn tiếp tục được khai thác ở Tiền Giang

2002 tăng 1,3%

Tiền Giang là một tỉnh đất hẹp người đông với mật độ dân số chung trong tỉnh năm

2002 là 697 người/km2, là tỉnh có mật đô dân cư cao nhất trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Dân số được phân khá đồng đều trên địa bàn các huyện trong khoảng 500 -

700 người/km2; riêng tại huyện Tân Phước trong vùng Đồng Tháp Mười là có mật độ thấp nhất với 155 người/km2; ở trung tâm tỉnh tại Mỹ Tho mật độ dân rất cao với 3.383 người/km2

2.3 Văn húa - Giỏo dục - Y tế:

- Tỉnh có 1 nhà văn hóa (NVH) trung tâm của tỉnh, có 9 NVH cấp huyện, 12 NVH cấp xã, 1 nhà Bảo tàng, 2 đơn vị nghệ thuật cấp tỉnh và rất nhiều các đơn vị, đội văn hóa huyện - xã - phường phục vụ hàng ngàn buổi trình diễn trên khắp địa bàn tỉnh hàng năm

- Hệ thống trường học phân bố đều khắp địa bàn thành thị và nông thôn Tỉnh có 2 trường Cao đẳng, 3 trường đào tạo công nhân kỹ thuật, 3 trường trung học chuyên nghiệp, 377 trường học với 9.205 lớp, có 11.283 giáo viên và trên 320.000 học sinh Toàn tỉnh đã hoàn thành xóa mù chữ và phổ cập tiểu học từ năm 1998, đến cuối năm

2002 đã có 40 xã hoàn thành phổ cập phổ thông cơ sở

Trang 11

- Tỉnh có 11 bệnh viện và 15 phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện sản, 165 trạm y tế/165 xã với 2.477 giường bệnh, có 505 bác sĩ 951 y sĩ và 591 y tá, 65 dược sĩ,

289 trung cấp dược và 107 dược tá

2.4 Đời sống dân cư:

Trong tỉnh Tiền Giang có tới hơn 80% dân số sống bằng nghề nông với thu nhập bình quân của một người trong hộ dân nông thôn là 297.000đ/tháng rất thấp so với thu nhập của một người làm việc trong khu vực cơ quan, nhà nước là 729.000đ/tháng Tuy nhiên đời sống văn hóa, tinh thần và các tiện ích phục vụ đời sống được nhà nước chăm

Phương tiện và tổ chức giáo dục phổ thông phục vụ tốt ngay tận vùng sâu, vùng xa của tỉnh

Phong trào xây dựng các ấp và các xã văn hóa được đẩy mạng trong nông thôn làm cho bộ mặt và đời sống người dân nông thôn thay đổi và nâng cao rõ rệt Đến cuối năm

2002 trong tỉnh đã gần 455/998 ấp được công nhận ấp văn hóa đạt tỉ lệ 45,6%, và có 12/165 đơn vị cấp xã, phường được UBND Tỉnh công nhận là xã văn hóa

Tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn (thu nhập dưới 100.000đ/tháng) cuối năm 2001 là 5,57%, đến cuối năm 2002 còn 4,35% so với năm 1999 là 8,62% Thực tế nhiều hộ nghèo đã thoát nghèo và vươn lên có cuộc sống khá hơn rất nhiều

Trang 12

CHƯƠNG II

ĐáNH GIá HIệN TRạNG Sử DụNG TàI NGUYÊN Và

MÔI TRƯờNG NÔNG THÔN TIềN GIANG

I KHAI THáC Và Sử DụNG TàI NGUYÊN:

1 Sử dụng đất

Tổng diện tích của tỉnh là 232.609 ha được phân bổ sử dụng như sau:

- Đất nông nghiệp: 181.505,3 ha, trong đó đất sản xuất chính là:

+ Đất trồng lúa và màu: 106.640,8 ha

+ đất trồng cây ăn quả: 46.900,6 ha

- Đất lâm nghiệp: 8.265,1 ha

- Đất chuyên dùng: 15.886,8 ha

Đất thủy lợi: 9.484,6 ha

Đất đường giao thông: 3.423,7 ha

Đất ở bên bờ sông Tiền và tại các cù lao trên sông Tiền thuộc tỉnh Tiền Giang bị sạt

lỡ và xói mòn nhiều Đất ven các kênh rạch vùng lũ cũng bị sụp lỡ do nước lũ ngập làm mềm đất và nước lũ chảy xiết

1 KHAI THáC NƯớC MặT:

Nước mặt được cấp chủ yếu từ nguồn nước sông Tiền với ranh giới mặn cách biển

Đông 30 - 35km, nằm phía hạ lưu so với thành phố Mỹ Tho 15 - 20km Do đó việc khai thác nước mặt có tính chất như sau:

- Thành phố Mỹ Tho và bốn huyện phía Tây thường xuyên nhận trực tiếp nguồn nước sông Tiền đưa vào sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt trừ thời gian lũ phải nhận nước tiêu lũ từ các vùng thượng nguồn chảy tràn qua mặt đất Do úng lũ nên vùng này

đã thực hiện rất nhiều ô đê bao để bảo vệ diện tích trồng trọt, nuôi thủy sản dẫn tới nước

tù đọng và gây ô nhiễm môi trường nước khá cao ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe nhân dân

- Bốn huyện phía Đông chỉ nhận được nước từ sông Tiền tùy theo từng lúc Các cống lấy nước chỉ mở ra để cho nước sông Tiền vào khi độ mặn trên sông Tiền đạt yêu

Trang 13

cầu chất lượng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Vào mùa khô, độ mặn tăng cao trên sông Tiền, các cống đều đóng, nước ngọt được bơm và dẫn theo các kênh thủy lợi chuyển nước từ Mỹ Tho về các huyện gần biển để phục vụ canh tác điều hòa Chính vì thế mà mùa khô ô nhiễm môi trường nước mặt tăng cao ở các kênh rạch vùng ngọt hóa

Gò Công

3 KHAI THáC NƯớC NGầM:

Chương trình khai thác nước ngầm của tỉnh Tiền Giang bắt đầu từ năm 1990, năm

1994 sau khi Thủ Tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 200/TTg về đảm bảo cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trong tỉnh đã triển khai khoan hàng loạt

giếng nước tầng sâu và tầng nông, trong đó có nhiều giếng nước không đảm bảo chất lượng Đến năm 1998 trước tình hình khai thác nước ngầm ồ ạt trong tỉnh nảy sinh nhiều vấn đề bất lợi về quản lý tài nguyên ở địa phương UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị

16/CT-UB qui định việc tổ chức quản lý nước sinh hoạt nông thôn để điều chỉnh việc khai thác cấp nước sạch nông thôn, trong đó tập trung vào việc quản lý khai thác và sử

dụng nguồn nước ngầm

Về khai thác nước ngầm tầng nông, qua hơn 10 năm trên địa bàn tỉnh đã khoan khoảng 15.000 giếng nước tầng nông ở độ sâu trung bình 45 - 60m với tỉ lệ khai thác chưa tới 50% số giếng đã khoan, lưu lượng khai thác khoảng 25.000m3/ngày

Về khai thác nước tầng sâu, tính đến tháng 10/2003 trong tỉnh đã khoan tổng cộng trên 900 giếng nước tầng sâu ở độ sâu phổ biến trên 300m Ước tính lưu lượng khai thác nước ngầm trong tỉnh hiện nay là 102.617m3/ngày, trong đó cấp cho nông thôn 39.217m3/ngày, cấp cho đô thị khoảng 63.400m3/ngày

Tuy nhiên số giếng sâu được UBND tỉnh cấp phép khai thác chính thức chỉ có 205 giếng và gần 100% các giếng này đều có chất lượng nước đạt tiêu chuẩn qui định Do chất lượng nước tầng sâu tốt và ổn định, đa số các giếng khoan sâu được khai thác để cấp nước sạch sinh hoạt cho vùng nông thôn trong tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có 458 trạm cấp nước tập trung khai thác từ các giếng tầng sâu Qua kiểm tra giám sát chất lượng nước tại các trạm cấp nước nông thôn này trong năm 2002 đã phát hiện ở một vài giếng

có tình trạng nhiễm vi khuẩn và thông tầng trong quá trình khai thác

Riêng nước ở các giếng tầng nông có chất lượng không đồng đều, số giếng bị nhiễm phèn và nhiễm mặn không dùng được cho sinh hoạt lên đến hơn 50% số giếng đã khoan Hiện nay số giếng không dùng được chưa được lắp trám kín đầy đủ nên nguy cơ

ô nhiễm từ bên trên và nguy cơ thông tầng làm suy giảm hoặc ô nhiễm nguồn nước trong lòng đất rất đáng lo ngại Việc khảo sát và thực hiện lắp kín các giếng hở là điều rất cần thiết nhưng tỉnh chưa làm được Ngược lại, ở huyện Gò công Đông nằm ven biển hiện nay lại có nhu cầu xin khoan giếng nông khai thác nước mặn để phục vụ việc nuôi trồng thủy sản, tỉnh đang xem xét giải quyết vấn đề này

Về giám sát mức sụt giảm mực nước ở các giếng sâu chưa thực hiện thường xuyên

được để có số liệu theo dõi cụ thể, tuy nhiên vào mùa khô kéo dài thì ở một số giếng đã

có hiện tượng lượng nước bơm lên ít dần đi và không đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân

Trang 14

Qua thực trạng khai thác nước ngầm của tỉnh TG cũng như các tỉnh khác trong khu vực cũng cần được xem xét và điều chỉnh thích hợp để bảo vệ tài nguyên nước ngầm quí giá này nhất là trong xu thế xâm nhập mặn đang đe dọa sản xuất và đời sống của nhân dân toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long

4 KHAI THáC CáC TàI NGUYÊN KHOáNG SảN:

4.1 Khai thác cát:

Việc khai thác cát trên sông Tiền đang phát triển mạnh trong tỉnh để đáp ứng cho nhu cầu san lấp mặt bằng phục vụ công trình xây dựng với sản lượng không ngừng tăng lên Đến nay UBND tỉnh đã cấp phép khai thác cát cho 14 đơn vị với mức khai thác cát hàng năm là 1,4 - 1,6 triệu tấn, chỉ bằng 1/2 sản lượng khai thác của tỉnh Bến Tre Việc khai thác này chưa gây ra hiện tượng sạt lỡ bờ các đoạn sông tại khu vực khai thác nhưng cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái như tăng độ đục nước sông làm ảnh hưởng tới các loài thủy sinh, gây xáo trộng mặt đáy sông và dòng chảy Trước mắt cho thấy vùng ốc gạo tự nhiên gần khu vực khai thác cát đã bị ảnh hưởng lớn, giảm hẳn sản lượng khai thác ốc gạo tại đó

5- KHAI THáC RừNG:

Thảm rừng ngập mặn ven biển Gò Công và rừng sinh thái vùng đất phèn của tỉnh ở huyện Tân Phước thuộc khu vực Đồng Tháp Mười hiện nay rất nhỏ và chưa đến độ khai thác

Rừng tràm mới trồng khoảng vài năm gần đây còn đang được nông dân chăm sóc, trong vài năm tới khi cây tràm đạt kích thước yêu cầu của cây cừ tràm dùng cho xây dựng mới khai thác Sau khi khai thác đợt đầu tiên người dân còn tiềp tục chăm sóc chúng để khai thác 2 lượt nữa xong mới trồng lại

Rừng ngập mặn tiếp tục được trồng dọc theo ven biển và vùng đất bồi ở cửa sông, rừng này có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng hộ, chắn sóng, gió, bão và là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loại thủy sản nên được nhà nước bảo vệ Trong năm 2002-2003 việc phát triển nuôi tôm ven biển gây ra nguy cơ mất rừng ngập mặn Đến nay chưa phát hiện việc phá rừng ngập mặn để lấy đất nuôi tôm nhưng nguy cơ này vẫn đang đe dọa thảm rừng ven biển

Trang 15

6- KHAI THáC DU LịCH:

Trong tỉnh đã khai thác một số điểm du lịch và du lịch xanh với lượng du khách tăng 9% - 20% mỗi năm (năm 2001 có gần 400.000 lượt khách và dự kiến năm 2010 sẽ

đạt trên 900.000 lượt khách đến)

Hai điểm du lịch sinh thái chính của tỉnh TG ở tại:

-Cù lao Thới Sơn: thuộc x∙ Thới Sơn huyện Châu Thành, cù lao này nằm trên

sông Tiền, cách thành phố Mỹ Tho - trung tâm của tỉnh 4km Nơi đây là một thảm rừng cây ăn trái mà chủ đạo là cây nhãn chiếm đến 90% diện tích cù lao này Du khách đi thuyền trên sông Tiền đến điểm du lịch và thưởng thức các đặc sản nông thôn cùng với

đàn ca tài tử do người địa phương phục vụ, sau đó được đi thuyền nan trên các rạch nhỏ yên tĩnh trong vườn cây để trở ra thuyền lớn và đi thăm nơi khác hoặc quay về Mỹ Tho Thời gian cho chuyến tham quan du lịch này chỉ mất 2 giờ

- B∙i biển Tân Thành: thuộc x∙ Tân Thành huyện Gò Công Đông, b∙i biển có độ

dốc nhỏ, khi nước ròng du khách có thể đi ra xa bờ đến hàng cây số để tham quan việc bắt nghêu nuôi dọc theo bãi cát sau khi thưởng thức các đặc sản biển tại đây trong các lều tre lá nằm cạnh dãi rừng ngập mặn và bãi rừng dương xanh tốt của khu du lịch này Ngoài ra còn một số điểm du lịch khác khá nổi tiếng trong tỉnh như: Chùa Vĩnh Tràng, Lăng Hoàng gia, khu Xẻo Quít - Cái Bè

Việc khai thác du lịch trong tỉnh chưa có hiện tượng làm tổn hại đến môi trường sinh thái địa phương mà ngược lại việc đầu tư tại các điểm du lịch làm cho cảnh quan môi trường nơi này thêm sạch đẹp

Do tỉnh Tiền Giang có sông Tiền là con sông chảy qua một số nước trong vùng nên sắp tới tỉnh Tiền Giang được nhận một dự án phát triển du lịch trong tổng dự án phát triển du lịch Tiểu vùng sông Mê kông Dự án này gồm xây dựng một cầu cảng lên xuống khách ở Mỹ Tho và cải thiện vệ sinh môi trường trong tỉnh để phục vụ du lịch Khi dự án này hoàn thành sẽ góp phần làm cho cảnh quan môi trường địa phương thêm sạch đẹp

II HIệN TRạNG MÔI TRƯờNG - MÔI TRƯờNG NÔNG THÔN:

Như đã trìng bày ở trên ,tỉnh Tiền Giang là một tỉnh khá thuần về nông nghiệp, công nghiệp chưa phát triển nên các vấn đề môi trường của tỉnh chủ yếu là các ảnh hưởng bởi thiên nhiên như xâm nhập mặn, lũ lụt và các vấn đề ảnh hưởng bởi sản xuất nông nghiệp cùng các tác động đến môi trường của cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn

1- MÔI TRƯờNG NƯớC MặT:

Môi trường nước mặt trong tỉnh TG chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến động của các yếu tố do thiên nhiên tạo ra và các loại chất thải của con người đưa vào trong quá trình sản xuất công, nông nghiệp và sinh hoạt đời sống

Việc phân tích, đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại các kênh nội đồng, sông Tiền, và chất lượng không khí tại khu dân cư và các trục lộ chính ở Thành phố, Thị xã và các Huyện trong Tỉnh được tiến hành vào tháng 9 năm 2002 và tháng 9/2003 cho

Trang 16

kết quả như sau:

1.1- Về các yếu tố sinh hóa:

Trên cơ sở khảo sát các nguồn gây ô nhiễm và tính chất ô nhiễm trên địa bàn TG, các chỉ tiêu cần phân tích đánh giá ô nhiễm môi trường nước trong tỉnh được chọn bao gồm:

- Ô nhiễm chất hữu cơ: DO (oxy hòa tan), SS (chất rắn lơ lửng), độ đục, BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa), COD (nhu cầu oxy hóa học), NH4+ (amoniac), NO3- (Nitrat ) và PO43-(Phosphat)

- Ô nhiễm lan truyền phèn: pH, tổng Fets (sắt tổng cộng)

- Ô nhiễm do vi khuẩn: Tổng Coliform và Ecoli

- Ô nhiễm mặn: muối NaCl (mg/l)

Căn cứ theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942 - 1995 về Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (cột A áp dụng cho nước cấp sinh hoạt, cột B áp dụng cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản) để đánh giá chất lựơng nước sông rạch trong tỉnh

Phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước mặt tháng 9 năm 2002 và tháng 9 năm 2003 cho thấy ô nhiễm lý hoá và vi sinh trong nguồn nước sông rạch tại Tiền Giang là:

- Có 23/26 mẫu hàng năm có độ pH trong khoảng 6,5 - 7,5, đạt TCVN qui định, ngoại trừ có 3 điểm lấy mẫu tại huyện Tân Phước thuộc khu trũng phèn Đồng Tháp Mười có pH thấp 2,85 - 4,28 phản ảnh chất lượng nguồn nước nhiễm phèn đặc trưng của vùng này

- Hàm lượng DO trong khoảng 3,78 - 6,41mg/l, trong đó có chỉ có 7/52 lần đo dao

động trên dưới 6mg/l - đạt tiêu chuẩn nguồn nước loại A, có 17/52 lần đo đạt trên 5mg/l, 28 lần đo có hàm lượng DO dưới 5mg/l cho thấy trên 50% nguồn nướùc sông rạch trong tỉnh bị ô nhiễm hữu cơ ngay trong mùa mưa

- Hàm lượng muối trong nước mặt vào tháng 9 có chỉ số cao nhất ở tại các cống gần giáp biển là 294 - 374mg/l, các nơi khác đều nhỏ hơn 50mg/l

- Hàm lượng sắt trong nước mặt tại TG đạt cao nhất trong năm do vào mùa mưa nước thượng nguồn đổ về mang nhiều phù sa đỏ, mức sắt tổng cộng qua quan trắc 52 mẫu trong khoảng 0,3 - 2,15mg/l, trong bình 1 - 1,5mg/l

Về các chỉ tiêu biểu thị ô nhiễm chủ yếu và cao nhất trong nguồn nước mặt tại 9 huyện thị tỉnh TG tháng 9/2002 và 9/2003 được trích ra để so sánh diễn biến cùng kỳ của 2 năm liên tiếp trình bày như trong bảng kê cho thấy các chỉ số biểu thị ô nhiễm cao nhất trong tỉnh thể hiện xu thế ô nhiễm môi trường nước ở địa phương như sau:

- Hàm lượng COD cao nhất chỉ có 89mg/l là giảm thấp rất nhiều so với thời kỳ 1994

- 1999 (cao nhất thời kỳ này vào khoảng 350 - 590mg/l) Tất cả 9 nơi có COD cao nhất của 9 huyện năm 2003 đều giảm so với năm 2002 Điều đó cho thấy ô nhiễm môi trường nước tại các sông và kênh rạch trong tỉnh từng bước được cải thiện trên toàn địa bàn

-Tổng số Coliform cao nhất trong hai năm qua là 1,1 x 105, giảm đi rất nhiều so với thời kỳ trước kia là 5 x 106 tuy nhiên lượng vi khuẩn chỉ danh nhiễm bẩn này còn ở mức

Trang 17

quá cao do chất thải của mật độ dân cư dày đặc đưa vào nguồn nước còn rất lớn, đặc biệt tại cảng cá và khu vực các dòng nước ít được lưu thông

- Vi khuẩn E.Coli cao nhất của bảng trên là vào năm 2002 với mật độ 5x104, năm

2003 cao nhất là 9 x 103 so với mức cao nhất trước đây là 1,1 x 106 thì lượng E.Coli giảm rất đáng kể So sánh 2 năm liền thì hầu hết kết quả phân tích E.Coli năm 2003 đều giảm so với năm 2002 Điều đó cho thấy các nguồn gây ô nhiễm vi khuẩn đã được hạn chế dần trên khắp địa bàn của tỉnh

Ngược lại, sự hiện diện của các ion NO3+, PO43- với xu thế tăng dần qua từng năm cho thấy sự tích lũy, tồn lưu các dư lượng phân bón hóa học gia tăng làm phát triển phú dưỡng hóa nhiều hơn trong nguồn nước

Bảng kết quả phân tích chỉ tiêu ô nhiễm nước cao nhất tháng 9/2002 và 9/2003

TT Điểm lấy mẫu COD

(mg/L)

Coliform (MPN/100ml)

E.Coli (MPN/100ml)

1.2- Ô nhiễm dầu mỡ khóang trong nguồn nước mặt:

Địa bàn Mỹ Tho là nơi tập trung các ghe thuyền buôn bán hàng hóa và đánh bắt thủy sản đi về,ứ neo đậu nên có mức ô nhiễm dầu mỡ khoáng cao nhất trong tỉnh Qua theo dõi kết quả phân tích các mẫu nước địa bàn này cho thấy mức ô nhiễm dầu mỡ khoáng có giảm qua các năm (hàm lượng dầu trong nước sông Tiền ở đoạn sông Mỹ Tho năm 1997 - 1999 có khi lên đến 0,3mg/l đến tháng 6/2002 mức nhiễm dầu cao nhất

là 0,0052mg/l) do quản lý bảo vệ môi trường đối với việc xả dầu nhớt chặt chẽ hơn Kết quả phân tích dầu mỡ nước mặt ở Mỹ Tho vào tháng 6/2002 như sau:

Kết quả phân tích hàm lượng dầu trong nước ở Tiền Giang tháng 6/2002

TT Điểm lấy mẫu Chỉ tiêu Đơn vị tính Kết quả

1 Cầu Hùng Vương Dầu mỡ mg/L 0,0038

Trang 18

2 Cầu Bến Chùa Dầu mỡ mg/L 0,0010

3 Bến Chương Dương Dầu mỡ mg/L 0,0052

4 Cảng cá Mỹ Tho Dầu mỡ mg/L 0,0042

1.3- Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và các kim loại nặng:

Do điều kiện của tỉnh chưa đủ khả năng triển khai việc phân tích theo dõi diễn biến hàm lượng các chất hoá học là thuốc bảo vệ thực vật và các kim loại nặng có trong nguồn nước nên không có số liệu cụ thể của năm 2002 -2003 Tuy nhiên theo một vài báo cáo nghiên cứu trước đây thì dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và kim loại nặng trong nguồn nước sông rạch, tại cửa sông và vùng ven bờ biển tỉnh Tiền Giang chưa vượt quá giới hạn cho phép

Tóm lại, về môi trường nước trong tỉnh TG có thể kết luận như sau:

Ô nhiễm nguồn nước mặt là vấn đề môi trường đáng quan tâm nhất của tỉnh trước nay Mặc dù trong tỉnh các ngành, các cấp và các đoàn thể đã có nhiều cố gắng tác động

và áp dụng nhiều biện pháp quản lý, kinh tế, kỹ thuật để hướng dẫn và bắt buộc người dân ở từng hộ gia đình, từng cơ sở sản xuất thực hiện xử lý chất thải hợp vệ sinh trước khi thải vào nguồn nước để làm giảm ô nhiễm nước mặt, từng bước hạn chế các loại và lượng chất thải đưa vào nguồn nước sông rạch nhưng mức ô nhiễm hữu cơ và vi khuẩn trong nguồn nước mặt ở các sông nhánh tại Tiền Giang, nhất là các đoạn kênh rạch chảy qua các khu dân cư tập trung vẫn còn khá cao, trong khi một bộ phận dân cư nông thôn vẫn còn lấy nước sông rạch xử lý sơ bộ để dùng cho sinh hoạt

2- MÔI TRƯờNG KHÔNG KHí

Do không có nhiều khu công nghiệp và hoạt động sản xuất công nghiệp ở mức rất thấp nên ô nhiễm không khí chỉ có ở các trục giao thông tập trung nhiều xe qua lại và có các hoạt động thương mại dịch vụ náo nhiệt như ở các thành phố, thị xã, thị trấn

Với tính chất như trên, việc thực hiện quan trắc không khí tại các điểm có mức hoạt

động sản xuất, thương mại, dịch vụ náo nhiệt và tập trung giao thông cao tại 9 huyện, thị, thành trong tỉnh vào tháng 9/2002 và tháng 9/2003 với các chỉ tiêu đo được chọn lựa gồm: hàm lượng bụi, độ ồn, hàm lượng các khí độc do đốt nhiên liệu xăng dầu xả ra là

NO2, SO2 và CO cho thấy chất lượng môi trường không khí tỉnh Tiền Giang như sau:

Bảng kết quả đo bụi và tiếng ồn ở TG vào tháng 9/2002 và 9/2003

3 T.trấn Tân Hiệp - H Châu Thành 2,50 1,18 70-84 74-85

4 T.trấn Cai lậy - H.Cai Lậy 2,00 1,70 70-82 73-86

Trang 19

5 T.trấn Cái Bè - H.Cái Bè 1,50 0,84 66-80 71-88

6 T.trấn Tân Phước - H Tân Phước 0,34 0,34 54-65 55- 67

7 T.trấn Chợ Gạo - H Chợ Gạo 0,70 1,50 66-77 77-86

8 T.trấn Gò Công Tây - H.GCT 0,5 1,18 67-82 77-82 TCVN 5937 - 1995 0,3 0,3

-Hàm lượng bụi: dao động trong khoảng 0,34- 2,5 mg/m3, so với TCVN 5937 -

1995 cao hơn 1- 8 lần Riêng các điểm đo trên quốc lộ 1A tại thị trấn Tân Hiệp huyện

Châu Thành, điểm đo tại chợ Cai Lậy có hàm lượng bụi cao nhất trong tỉnh, cao hơn

TCVN quy định 6 - 8 lần Điểm đo tại huyện Tân Phước là một huyện vùng sâu mới

thành lập 9 năm, dân sinh còn thưa, các hoạt động giao thông, thương mại và dịch vụ

còn ít nên hàm lượng bụi rất thấp chỉ ở mức 0,34mg/m3, là điểm có không khí sạch nhất

trong tỉnh

- Tiếng ồn đo tại 8 điểm ở 8 huyện trong tỉnh năm 2003 có xu hướng giảm so với

năm 2002 Độ ồn tại các điểm đo ở thành phố, thị xã, thị trấn dao động trung bình

khoảng 65 - 75 dBA vào giờ cao điểm, các điểm đo trên quốc lộ 1A dao động trong

khoảng 80 - 86 dBA So với TCVN cho phép tiếng ồn trong khu vực thương mại, dịch

vụ từ 6 h - 18 h là 75 dBA thì tiếng ồn trong tỉnh không vượt tiêu chuẩn trừ các điểm đo

tại thị trấn có quốc lộ 1A đi qua

- Hàm lượng khí NO2, SO2, CO qua phân tích các mẫu không khí đều không vượt

quy định TCVN 5937 - 1995 kể cả các mẫu ở các giao lộ chính

Tóm lại, môi trường không khí trong tỉnh tiền Giang chưa có dấu hiệu ô nhiễm các

loại khí độc do sản xuất công nghiệp và do giao thông Về bụi và ồn chỉ có vài điểm đo

ở thị trấn có quốc lộ 1A đi qua với lưu lượng xe rất lớn thì hàm lượng bụi và tiếng ồn

mới vượt xa tiêu chuẩn qui định, còn lại các điểm khác trong tỉnh đạt về tiếng ồn Riêng

về bụi thì hầu hết các mẫu đo đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép do điểm đo đặt ngay trên

trục giao thông nơi có lượng xe qua lại đông đúc trong khi đường lộ chưa xây dựng

hoàn chỉnh ở các vĩa hè và lòng đường, số lượng bụi tồn đọng trên mặt đường không

được dọn sạch Ngoài ra trong tỉnh còn rất nhiều đường đất đỏ , khi xe chạy qua tung rất

nhiều bụi

1 MÔI TRƯờNG NƯớC BIểN VEN Bờ:

Môi trường nước biển ven bờ thuộc vùng biển Gò Công của tỉnh TG chịu nhiều tác

động, trong đó hai tác động chính bao gồm:

- Các dòng nước từ trong nội địa theo các con sông đổ ra biển qua cửa Soài Rạp, cửa

Tiểu, cửa Đại mang nhiều phù sa và các chất hòa tan, chất ô nhiễm

- Sự xáo trộn liên tục nguồn nước ven bờ do hoạt động tấp nập của các ghe thuyền

đánh bắt cá tôm ven bờ (số tàu thuyền đánh bắt ven bờ chiếm 68% tổng số tàu tham gia

khai thác thủy sản tự nhiên của tỉnh)

Trang 20

Qua đo đạc ở các trạm bờ biển cho thấy hàm lượng chất rắn lơ lửng có khi lên đến 90mg/l, hàm lượng sắt có khi tăng đột biến lên đến 3,95mg/l, hàm lượng dầu mỡ khoáng hòa tan cao nhất là 0,70mg/l Với các thông số đại diện này cho thấy nước biển ven bờ Gò Công đã có mức ô nhiễm khá cao, trực tiếp ảnh hưởng tới việc nuôi trồng thủy sản như nuôi nghêu ngay tại bờ biển hoặc lấy nước biển vào vuông nuôi tôm ven

bờ So với tiêu chuẩn nguồn nước nuôi thủy sản yêu cầu hàm lượng chất rắn lơ lửng phải nhỏ hơn 50mg/l, hàm lượng dầu phải nhỏ hơn 0,05mg/l thì các nồng độ đo được nêu trên vượt quá xa qui định

Các năm qua tại vùng nuôi trồng này đã xảy ra những vụ nghêu và tôm nuôi bị chết hàng loạt Chắc chắn các yếu tố môi trường đã ảnh hưởng sinh trưởng và sức khỏe của các loài thủy sản trong vùng nước này Vụ nghêu chết năm 2002 được ngành thủy sản xác định là do lượng bùn từ cửa Soài Rạp tràn lắp bãi nuôi nghêu Kết luận trên đây cũng còn nghi vấn liệu rằng các yếu tố hóa học và sinh học (các loài tảo độc phát triển trong môi trường biển) có tác động đến thủy sản nuôi tại đây không

Do đó, việc nghiên cứu kỹ hơn tài nguyên và môi trường biển là một việc làm cần sớm thực hiện để tìm ra các giải pháp thích hợp bảo vệ môi trường biển, khắc phục ô nhiễm nước ven bờ tạo điều kiên tốt cho nuôi trồng thủy sản và bảo vệ các hệ sinh thái nhạy cảm của vùng cửa sông; ngoài ra qua đó củng cố rừng ngập mặn để giúp tạo nơi cư trú, sinh sản và phát triển các loài tôm cá

4 MÔI TRƯờNG VùNG Lũ LụT:

Tỉnh Tiền Giang có địa hình trãi dài từ tây sang Đông, các huyện phía Tây nằm trong vùng ảnh hưởng nặng của lũ, các huyện phía Đông nằm ở cuối nguồn sông Tiền

và tiếp giáp với biển Đông, mỗi mùa lũ về tỉnh gặp nhiều khó khăn nhất là nạn ô nhiễm môi trường trong suốt thời gian ngâm lũ Mùa lũ kéo dài trên 3 tháng, nước bị tù đọng

và gia tăng ô nhiễm rất nhanh do tiếp nhận nguồn nước bẩn từ thượng nguồn đổ về lại bị triều cường dâng nước biển lên tràn vào các cửa sông làm nước lũ thoát qua cửa Tiểu và sông Vàm Cỏ để ra biển Đông rất chậm Nước tại các vùng ngâm lũ ứ đọng trong thời gian dài lại phải không ngừng tiếp nhận chất thải với khối lượng rất lớn của dân cư thải xuống nên ô nhiễm nguồn nước gia tăng đến mức nhiều nơi nước chuyển sang màu nâu

đen tới đen và bốc mùi hôi thối kéo dài trong mùa lũ, khi người tiếp xúc với nguồn nước này thường bị dị ứng da gây ngứa và nổi nhiều nốt đỏ trên da

Trong ba năm 2000, 2001 và 2002 lũ lớn ở vùng ĐBSCL, trong tỉnh TG có diện tích trên 100.000ha thuộc 4 huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước và Châu Thành ở trên 70 xã

bị ngập lũ trong thời gian từ 1 - 3 tháng, ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe của hơn 100.000 hộ dân

Để khảo sát chất lượng nước mặt và mức ô nhiễm vùng ngập lũ của tỉnh, Sở KHCNMT Tiền Giang đã tiến hành các đợt quan trắc chất lượng nước mặt tại các điểm

đại diện trong vùng ngập lũ trên các dòng kênh rạch bị ngập lũ tự nhiên và lưu thông bình thường cũng như trên các dòng nước tù nằm trong các khu vực có đê bao chống lũ ngăn nước vào, thời điểm lấy mẫu là lúc lũ mới về gây ngập và lúc lũ đang rút dần, mỗi

đợt trên 20 mẫu nước lũ

Trang 21

Kết quả quan trắc nước mặt mùa lũ 2000 -2001 -2002 như sau:

a) Nước mặt trong vùng có đê bao chống lũ:

- 100% mẫu nước đều có chỉ số DO, COD không đạt loại A và B

- 100% mẫu nước đều có chỉ số BOD không đạt loại A

- 100% mẫu nước đều có chỉ số COD không đạt loại A và B

- 100% mẫu nước đều có chỉ số BOD không đạt loại A

Nguyên nhân gây gia tăng ô nhiễm môi trường nước vùng lũ:

Nguyên nhân chính gây ra mức hữu cơ và vi khuẩn rất cao ở vùng ngập lũ tỉnh Tiền Giang ở cuối nguồn sông Tiền có thể tóm gọn như sau:

• Vùng ngập lũ của Tiền Giang ở hạ nguồn phải đón nhận lượng nước chảy tràn qua diện tích rộng lớn ở nhiều nơi mang theo nhiều chất bẩn về tích tụ tại đây

• Do ảnh hưởng chế độ bán nhật triều, nhất là vào thời gian triều cường nước biển dâng cao đẩy nước ở các cửa sông lớn vào sâu nên nước lũ thoát rất chậm làm cho thời gian ngâm lũ kéo dài tới 3 tháng và mức ô nhiễm tăng dần theo thời gian ngập

Trang 22

• Do chất thải sinh hoạt và chăn nuôi, xác động thực vật tiếp tục đi thẳng vào nguồn nước và tích tụ ngày càng nhiều, lũ rút chậm thì ô nhiễm gia tăng

• Do việc làm các đê bao khép kín ngăn nguồn nước mặt ra vào nên nước tù đọng kéo dài và dân sống tập trung đông đúc xả rất nhiều chất thải xuống nước tù này làm nguồn nước thêm ô nhiễm

Nếu không có qui hoạch đê bao hợp lý cùng các phương tiện thông thoát nước tù, không có kế hoạch cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường vùng lũ thì mức ô nhiễm nguồn nước vùng này sẽ càng ngày càng tăng cao và có nguy cơ xảy ra dịch bệnh cho người và vật nuôi

Xử lý môi trường ô nhiễm vùng lũ:

Do mức ô nhiễm nguồn nước trong mùa lũ rất cao gây nhiều nguy cơ lây lan dịch bệnh và ảnh hưởng sức khỏe nhân dân nên trong mùa lũ năm 2000 - 2001 - 2002 tỉnh Tiền Giang đã thực hiện một số biện pháp xử lý, khắc phục tạm thời để làm giảm ô nhiễm môi trường, giữ vệ sinh và bảo vệ sức khỏe nhân dân đang sinh sống trong vùng

lũ như sau:

- Cấp phát chế phẩm EM (40.000 lít/mùa) về các xã có nước tù đọng ô nhiễm nặng

để phun xịt làm giảm màu, giảm mùi, giảm ô nhiễm

- Cấp bột xử lý nước và viên khử khuẩn cho các hộ còn tiếp tục dùng nước bề mặt cho sinh hoạt để các hộ này tự xử lý cấp nước sạch cho gia đình dùng hầu phòng tránh bệnh tật

- Hướng dẫn cho người dân thu giữ phân, rác tại nhà hoặc chuyển đến các gò cao để tạm chờ nước rút rồi xử lý hợp vệ sinh

- Tăng cường công tác thu gom rác chợ và rác sinh hoạt ở các điểm dân cư tập trung chuyển về bãi rác chung của tỉnh

- Vận động các hộ giảm chăn nuôi và bắt buộc hộ chăn nuôi phải xử lý chất thải chăn nuôi hợp vệ sinh, không để chất thải chăn nuôi đi vào nguồn nước (UBND tỉnh Tiền Giang đã ban hành qui định bảo vệ môi trường đối với cơ sở chăn nuôi và có hiệu lực từ ngày 27/7/2002)

- Vận động gia đình có người chết đem hỏa táng thi hài hoặc chuyển về quê khác chôn nhanh, không để lưu lại lâu trong nhà và trên đồng

5 NƯớC SạCH & Vệ SINH MÔI TRƯờNG:

Tỉnh Tiền Giang rất quan tâm tới việc cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

nông thôn Sau khi có Chỉ thị 200/TTg của Thủ Tướng Chính phủ về Đảm bảo cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Hội đồng nhân dân Tỉnh ra Nghị quyết số 19/NQ.HĐND.K5 về Tăng cường cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

đến năm 2000, sau khi nghị quyết này hết thời hạn hiệu lực thì Hội đồng nhân dân Tỉnh

cho kiểm tra đánh giá lại Chương trình NSVSMT trong tỉnh và thấy cần thiết phải tiếp tục tập trung cho công tác CCNS và VSMT này một giai đoạn nữa nên ban hành tiếp

Nghị quyết số 26/2001/NQ.HĐND.K6 về Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19 tới năm

2005

Trang 23

Qua thời gian mấy năm thực hiện Chương trình NSVSMT tỉnh Tiền Giang đạt được một số kết quả cụ thể như sau:

5.1.Cung cấp nước sạch:

Đến cuối năm 2002 toàn tỉnh có trên 90% hộ dân dùng nước sạch qui ước từ các nguồn nước máy, nước giếng khoan, nước mưa và nước sông có xử lý lắng trong và tiệt trùng tăng gấp 2 so với năm 1995; trong đó có 55% hộ dân dùng nước sạch cơ bản (nước máy và nước cấp qua đường ống, nước giếng khoan chất lượng tốt ổn định quanh năm) tăng gần 3 lần so với năm 1995

Theo chỉ tiêu kế hoạch nghị quyết 26/2001/NQ.HĐND.K6 đề ra, đến cuối năm

2005 toàn tỉnh có 95% hộ dân dùng nước sạch qui ước (NSQU) và 60% hộ có nước sạch cơ bản (NSCB) thì tỉnh đã đạt chỉ tiêu này Theo dõi từ 1998 đến nay có các số liệu sau:

Thống kê tỉ lệ hộ dân được cung cấp và sử dụng nước sạch ở TG

Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003

(dự kiến)

Tỉ lệ NSQU 63,3 76,8 85,5 88,3 90,7 94

Tỉ lệ NSCB 32,2 39,3 45,3 51,2 56,7 60 Tính riêng Chương trình cấp nước sạch nông thôn đến tháng 10/2003 đã thực hiện tổng cộng 458 trạm cấp nước, cấp trên 1000 bể chứa nước mưa loại 1,3 m3, 324 bể lọc nước phục vụ nước sạch cho dân nông thôn

Thống kê về xây dựng các trạm cấp nước nông thôn để cấp nước sạch qua đường ống đến tận hộ gia đình trong 5 năm qua trên địa bàn của 9 huyện thị thành trong tỉnh

Về chất lượng nước cấp từ các nhà máy nước, mỗi năm Trung tâm y tế dự phòng và các đội vệ sinh phòng dịch huyện cùng phòng thử nghiệm của Sở KHCNMT tỉnh đã tiến hành phân tích trên 200 mẫu nước ở các nhà máy nước và trạm cấp nước trong tỉnh, kết quả trung bình có khoảng 90% mẫu đạt chất lượng nước sinh hoạt Một số mẫu nước ở các trạm cấp nước tập trung nông thôn có kết quả đạt kém hơn và đôi lúc có hiện tượng nhiễm E.Coli và hôi bùn chỉ ra sự thông tầng do khai thác và quản lý chưa tốt

Trang 24

5.2 Vệ sinh môi trường :

5.2.1.Về rác:

Từ năm 2000 đến nay lượng rác thu gom hàng năm tăng dần, hiện nay tỉ lệ thu gom rác ở thành phố, thị xã, thị trấn và một số thị tứ ở xã nông thôn có dân cư sinh sống tập trung đạt 80 - 90% Hàng ngày rác thu gom từ thành phố Mỹ Tho đạt khoảng 120 tấn và các huyện thị thu gom khoảng 80 tấn rác chuyển về bãi rác của tỉnh hoặc của huyện bằng hệ thống thu gom rác quốc lập và dân lập tổ chức khá đều trên các địa bàn

Bãi rác của tỉnh đã được xây dựng tại ấp 5 xã Tân Lập 1, huyện Tân Phước với diện tích trên 8 ha trong vùng có đê bao không bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, là một vùng đất phèn không canh tác lúa và hoa màu được mà chỉ có thể trồng khóm và bạch đàn Vị trí này

được chọn lựa xây dựng bãi chôn rác do có diện tích lớn và có khả năng mở rộng, xa khu đô thị, cách ly với dân cư chung quanh trên 1 km không ảnh hưởng đời sống và sức khỏe dân cư

Công trình bãi rác tỉnh được hoàn thành và đưa vào sử dụng từ đầu năm 2000 Đến nay gần vận hành được gần 4 năm và qua điều tra môi trường khu vực bãi rác mới đây cho thấy việc vận hành bãi rác hòa toàn không ảnh hưởng tới môi trường đất, nước, không khí chung quanh

Các huyện cũng đã có bãi rác riêng vận hành tương đối tốt không gây ra tình trạng ô nhiễm đáng kể, riêng có huyện Cái Bè chưa xây dựng bãi rác nên hợp đồng chuyển rác

đổ ở tỉnh Vĩnh Long để giảm cự ly vận chuyển quá xa khi chở rác về bãi rác tỉnh

Việc tổ chức thu gom rác thành công có tính điển hình là ở xã cù lao Tân Long -

Mỹ Tho (đã chuyển rác về đất liền để chở vào đổ ở bãi rác của tỉnh), thị xã Gò Công và thị trấn Tân Hiệp - Châu Thành (hình thành tổ thu rác dân lập hoặc cho tư nhân thầu thu gom vận chuyển rác - một hình thức xã hội hóa về vệ sinh môi trường)

Hình thức tổ chức thu gom rác dân lập phát triển tốt ở một số huyện giúp tăng cường lấy rác từ các hẻm sâu nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề vệ sinh môi trường trong khu dân cư Tỉ lệ thu gom rác ở các chợ và khu dân cư tập trung ở các huyện, thị, thành

đạt từ 80 - 90% Nhiều xã đã tìm được vị trí thích hợp để lập bãi rác hợp vệ sinh và tổ chức thu gom rác thủ công từ chợ và cụm dân cư chuyển về các bãi này giúp cải thiện vệ sinh môi trường ở nhiều nơi Tuy nhiên vẫn tồn tại một số nơi chưa tổ chức được việc thu gom rác dù trên địa bàn có các chợ khá lớn làm tồn đọng rác ở ven đường, ven sông gây mất vệ sinh và mỹ quan chung Ngoài ra ở khu vực đô thị chưa áp dụng được việc thu lệ phí rác ở tất cả các hộ nên nhiều hộ lẫn tránh đóng lệ phí rác và đổ rác vào xe thu gom công cộng mà còn đổ rác bừa bãi gây mất vệ sinh và ô nhiễm

Hai yếu tố tồn tại lớn nhất ở các địa phương đối với vấn đề rác hiện nay là không đủ phương tiện cơ giới vận chuyển rác về bãi tập trung và tình trạng quá tải ở các bãi rác huyện do chưa thực hiện được việc xử lý mà chỉ chứa, bãi rác rất nhanh đầy tràn và gây

ô nhiễm chung quanh

Sắp tới tỉnh Tiền Giang triển khai dự án Cải thiện môi trường thành phố Mỹ Tho phục vụ phát triển du lịch với vốn ODA từ ngân hàng Châu á sẽ gia tăng trang bị phương tiện thu gom và vận chuyển rác đồng thời mở rộng bãi rác chôn của tỉnh gấp 3

Trang 25

lần bãi hiện hành Đây là tiền đề và điều kiện tốt để giải quyết vấn đề rác trong tỉnh, góp phần cải thiện vệ sinh môi trường nông thôn

5.2.2 Về xây dựng và sử dụng hố xí hợp vệ sinh:

Đến cuối năm 2002 toàn tỉnh có trên 44% hộ dân có hố xí hợp vệ sinh, trung bình tăng 4 - 5% mỗi năm, thực hiện đạt kế hoạch chung của tỉnh (hằng năm phải đảm bảo tỉ

lệ tăng hộ có hố xí hợp vệ sinh tối thiểu là 4%)

Tuy nhiên việc thực hiện xây dựng hố xí hợp vệ sinh (HXHVS) gia đình không

đồng đều ở các huyện, khu vực Gò Công và huyện Cai Lậy tăng nhanh số hộ dân có HXHVS nhưng huyện Tân Phước, Cái Bè và Chợ Gạo tăng rất chậm do việc chuyển đổi thói quen trong dân còn chậm, một số người vẫn thích sử dụng cầu tiêu ao cá như kiểu sinh hoạt trước đây, ngoài ra tình hình lũ lụt thường xuyên cũng gây trở ngại lớn trong việc xây dựng và sử dụng hố xí hợp vệ sinh ở vùng ngập lũ mà dân cư chiếm đến 1/3 số

hộ trong tỉnh Trong vùng nông thôn huyện có tỉ lệ HXHVS cao nhất là huyện Gò công

Đông với 64,16% hộ sử dụng HXHVS, 3 huyện Tân Phước, Cái Bè và Chợ Gạo chỉ đạt 24,5 - 27% ở thành phố Mỹ Tho, thị trấn Cai Lậy đã thực hiện tốt yêu cầu các hộ có nhà ven sông xây dựng và sử dụng HXHVS, không thải thẳng phân vào nguồi nước Hằng năm tỉnh đều có nguồn vốn hỗ trợ thực hiện vệ sinh môi trường cho các huyện

từ 70 đến 100 triệu đồng, nếu huyện nào vận dụng nguồn vốn hỗ trợ vệ sinh môi trường của tỉnh cho nhân dân mượn để xây dựng HXHVS xoay vòng thì nơi đó tăng nhanh số

hộ có HXHVS Đặc biệt ở các xã chuẩn bị xin công nhận xã văn hóa thực hiện rất tốt việc vận động xây dựng HXHVS ở các hộ gia đình vì đây là tiêu chí bắt buộc để xem xét thẩm định xã văn hóa Ngược lại, nơi nào không quan tâm, không tích cực vận động xây dựng HXHVS gia đình thì tiến độ thực hiện rất chậm

Mức tăng HXHVS trong tỉnh thống kê qua các năm như sau:

Năm 1998 1999 2000 2001 2002 Dự kiến 2003

Tỉ lệ % 22,2 28,5 35,8 40,4 44,85 48%

Mức tăng hố xí hợp vệ sinh trong tỉnh Tiền Giang đảm bảo tiến độ kế hoạch đã đề

ra và sẽ đạt tỉ lệ 50% vào cuối năm 2005 theo Nghị quyết 26/2001/NQ.HĐND.K6 của Hội đồng nhân dân tỉnh TG và đạt chỉ tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia NS&VSMT theo quyết định 237/1998/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ

Về cầu tiêu ao cá trong vùng nông thôn hiện nay còn trên 35%, việc vận động nhân dân tháo dở loại cầu tiêu này và xây dựng loại hố xí hợp vệ sinh là việc làm thường xuyên, liên tục của các cấp, các ngành và các đoàn thể trong tỉnh, từng bước đạt kết quả

tỉ lệ cầu cá ở các huyện giảm dần

5.2.3 Về xử lý chất thải chăn nuôi:

Trong tỉnh hiện có khoảng 55% hộ có chăn nuôi (gần 200.000 hộ có nuôi) với đàn heo trên 400.000 con và gà vịt trên 1 triệu con, trong đó số hộ chăn nuôi có xử lý chất thải hợp vệ sinh đạt trên 80% ở hầu hết các huyện xu thế chăn nuôi đang phát triển về

số lượng và qui mô, việc xử lý chất thải chăn nuôi ở một số hộ nuôi hàng trăm gia súc hoặc hàng ngàn gia cầm không đảm bảo yêu cầu theo tiêu chuẩn môi trường Biện pháp

Trang 26

xử lý phân chủ yếu hiện nay là thu gom bán cho người khác hay ủ cho hoại rồi dùng bón cho cây trồng và đồng ruộng Một số hộ chăn nuôi lắp đặt túi ủ biogas - đến nay trong tỉnh có gần 5000 túi biogas - đạt hiệu quả trong xử lý phân lấy gas đun nấu và giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chăn nuôi ở các hộ nuôi dưới 20 heo nhưng không đảm bảo xử lý môi trường tốt ở hộ nuôi nhiều hơn

Ô nhiễm do chăn nuôi trong một vài năm qua có chiều hướng gia tăng, nhiều vụ khiếu kiện về ô nhiễm môi trường do chăn nuôi không hợp vệ sinh giải quyết không triệt để do chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để xử lý vi phạm bảo vệ môi trường trong lĩnh vực này Trước tình hình bức xúc này các huyện đã đề nghị tỉnh có qui định cụ thể về bảo vệ môi trường đối với hoạt động chăn nuôi để có cơ sở giải quyết tốt vấn đề Sở KHCNMT đã soạn dự thảo và trình UBND tỉnh TG ban hành Qui định Bảo vệ môi

trường đối với cơ sở chăn nuôi ở Tiền Giang theo quyết định số 31/QĐ,UB ngày 12/7/2002 Đây là cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý và phòng tránh ô nhiễm do chăn

nuôi, bảo vệ môi trường nông thôn, nhất là môi trường nước mặt

Thống kê tình hình chăn nuôi và xử lý chất thải chăn nuôi hợp vệ sinh (HVS) các năm qua trong tỉnh như sau:

Thống kê hộ chăn nuôi và thực hiện xử lý chất thải hợp vệ sinh ở TG

Việc thu gom và xử lý rác y tế ở trong tỉnh càng ngày càng được quan tâm hơn, từng bước thực hiện tốt việc phân loại và xử lý riêng rác y tế với rác sinh hoạt Rác y tế và các bệnh phẩm của bệnh viện tỉnh đều được đưa về lò đốt rác đạt tiêu chuẩn môi trường

để thiêu hủy

-Về xử lý chất thải sản xuất:

Trong tỉnh có trên 3.000 cơ sở hoạt động có khả năng gây ảnh hưởng môi trường,

đến nay đã có trên 2.500 cơ sở đã kê khai và thẩm định môi trường Hàng năm tỉnh tổ chức kiểm tra, thanh tra về môi trường trên 400 cơ sở SXKD tại các cơ sở đã được thẩm

Trang 27

định môi trường, kết quả số cơ sở có xử lý chất thải và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường càng ngày càng được nâng lên

Các cơ sở sản xuất lớn có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và độc hại cho người như công ty sản xuất bia, công ty xăng dầu, xí nghiệp thuốc trừ sâu, nông dược đã thực hiện xử lý rác thải và nước thải đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên trong vùng nông thôn thỉnh thoảng cũng có trường hợp gây ô nhiễm môi trường như sản xuất thực phẩm xử lý chất thải không tốt

Trong tỉnh Tiền Giang không có các làng nghề ngoại trừ một vài khu vực có loại hình sản xuất khá tập trung như xay xát gạo, làm bún và chăn nuôi Việc quản lý môi trường ở các khu vực này cũng như ở các cơ sở sản xuất có khả năng gây ô nhiễm môi trường được tiến hành khá tốt, trong tỉnh không có tình hình ô nhiễm môi trường nặng

do sản xuất kinh doanh

Trong năm 2002 ngành KHCNMT kiểm tra 412 cơ sở SXKD đã kê khai ảnh hưởng môi trường và đăng ký hoạt động đạt tiêu chuẩn môi trường, kết quả có 85% cơ sở thực hiện các biện pháp xử lý chất thải và bảo vệ môi trường Qua 154 cuộc thanh tra môi trường trong năm 2002 chỉ phạt cảnh cáo 16 cơ sở , phạt tiền 8 cơ sở với số tiền là 7,6 triệu đồng

Qua các năm tình hình quản lý và xử lý môi trường, xử lý tốt các loại chất thải ở các cơ sở SXKD như sau:

Thống kê cơ sở SXKD có thực hiện xử lý tốt các loại chất thải ở TG

Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003

% số cơ sở xử lý MT tốt 40 47,5 60 78% 85 90

Qua thống kê trên, tình hình xử lý chất thải sản xuất tiến bộ khá rõ đã góp phần cải thiện môi trường địa phương, nhất là môi trường nước mặt

5.2.5 Về vốn đầu tư cho NSVSMT thời kỳ 1998 - 2003:

Hàng năm ngân sách tỉnh đều dành một phần kinh phí đầu tư thông qua sự điều phối của Sở khoa học công nghệ & Môi trường trước kia nay là Sở Tài nguyên Môi trường là Thường trực của ban chỉ đạo CT NSVSMT tỉnh TG để hỗ trợ cho các địa phương thực hiện một số công trình NSVSMT phục vụ dân sinh Các năm gần đây ngân sách tỉnh chủ yếu hỗ trợ cho việc thực hiện các công trình vệ sinh thiết yếu ở tuyến cơ

sở, trong đó ngân sách tỉnh đầu tư cùng với đối ứng của địa phương và nhân dân để thực hiện xây dựng bãi rác và bô rác trung chuyển, mua xe chở rác và thùng rác, xây dựng cống thoát nước, nhà vệ sinh công cộng, hố xí HVS gia đình

Nguồn vốn thực hiện công trình NSVSMT các năm qua từ ngân sách tỉnh, đối ứng của địa phương và nhân dân trong tỉnh từ năm 1998 - 2003 khá lớn so với các tỉnh khác trong vùng với số tiền đầu tư thống kê được tổng cộng là 9 tỷ 571 triệu đồng được chia

ra như sau:

Thống kê nguồn vốn thực hiện NSVSMT 1998 - 2003 ở TG

Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 Tổng cộng

Trang 28

NS tỉnh 950 870 900 630 629 592 4.571

Đối ứng 1.427 1.057 434 378 800 904 5.000

Đơn vị tính: triệu đồng

Kinh phí dành cho công trình vệ sinh do các tổ chức và cá nhân khác thực hiện chưa

được tính đến trong thống kê đầu tư nói trên Một số công trình với kinh phí cụ thể có thể kể ra như sau:

- Tỉnh hội Chữ Thập đỏ thực hiện dự án Nước sạch nâng cao sức khỏe người nghèo vùng sâu với vốn đầu tư của nước ngoài 182,5 trIệu đồng

- ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động tổ chức phi chính phủ Caritas của

Đức thực hiện 3 trạm cấp nước cho các xã khó khăn vùng phèn với tổng số tiền 2.325 triệu đồng

- Hội Phụ nữ tỉnh TG hỗ trợ vốn cho hội viên phụ nữ xây dựng 1.550 hố xí hợp vệ sinh gia đình, mỗi hộ là 500.000đ, tổng số tiền đã đầu tư là 775 triệu đồng

Riêng nguồn vốn đầu tư cho cấp nước sinh hoạt nông thôn từ năm 1998 đến cuối năm 2003 là 80 tỷ đồng, trong đó nhà nước đầu tư 40% còn lại là vốn của các doanh nghiệp và nhân dân chiếm 60%

Tóm lại việc chăm lo cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở tỉnh

TG thực hiện rất căn bản, từng năm đều có đầu tư phát triển với tốc độ khá, tỉ lệ hộ dân nông thôn có nước sạch không ngừng gia tăng, vệ sinh môi trường cải thiện dần, đời sống nhân dân được nâng lên từng bước Kết quả thực hiện NSVSMT ở tỉnh TG được

đánh giá là tốt và TG là một trong mấy tỉnh đi đầu trong công tác này ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng như của nước ta

6 MÔI TRƯờNG CANH TáC NÔNG NGHIệP:

Tiền Giang là một tỉnh có nền sản xuất nông nghiệp phát triển với diện tích đất nông nghiệp chiếm 79% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất lúa và màu chiếm 46% đất

tự nhiên với 106.640ha, đất cây ăn quả chiếm 46.900 ha ở TG thưc hiện trồng lúa trung bình 3 vụ/năm nâng diện tích gieo xạ lúa lêm khoảng 300.000ha/năm Để phục vụ sản xuất nông nghiệp trên diện tích trên hàng năm trong tỉnh sử dụng đến 75.000 tấn phân bón và 1.700 tấn thuốc trừ sâu các loại

Ngành nông nghiệp trong tỉnh đã có rất nhiều chương trình tập huấn cho cán bộ và nông dân về sản xuất nông nghiệp - sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý và an toàn như chương trình Phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM với 40 ngày đầu trồng lúa không dùng thuốc bảo vệ thực vật đã tổ chức hàng ngàn lớp Đa số nông dân đã tiếp thu tốt các kỹ thuật canh tác mới, hạn chế sử dụng các loại hóa chất trừ sâu diệt bệnh có độ độc cao và phổ rộng, giảm sử dụng phân bón hóa học và từng bước thay thế sử dụng phân hữu cơ Nhất là hiện nay mô hình canh tác Lúa - Cá, Lúa - Tôm để tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp càng làm cho nông dân cẩn thận hơn đối với việc dùng các loại hóa chất độc hại trên đồng ruộng

Trang 29

Theo báo cáo điều tra thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh TG hai năm đầu tiên phổ biến áp dụng Chương trình IPM 1996 -1997 có kết quả thực hiện đối chứng giữa trồng lúa bình thường như sau:

So sánh một số chỉ tiêu trong sản xuất lúa ở Tiền Giang

Ruộng IPM Ruộng bình thường Chỉ tiêu

1996 1997 1996 1997 -Mật độ gieo sạ (kg/ha)

-Tiền giống (đ/ha)

-Sử dụng thuốc sâu (lần/vụ)

-Sử dụng thuốc bệnh (lần/vụ)

-Sử dụng thuốc cỏ (lần/vụ)

-Tiền thuốc nông dược

-Năng suất (tấn/ha)

-Lãi (triệu đ/ha)

184 326.200 0,1 1,5 0,9 293.700 4,46 4,575

165 324.750 0,25 2,25

1 284.500 4,55 5,138

192 339.600 2,1 2,3 0,9 506.550 4,54 4,557

182,5 369.250 2,75 2,75

1 663.500 4,55 4,503

Qua kết quả này bước đầu đã thuyết phục nông dân tin vào Chương trình IPM, trên cùng một diện tích trồng lúa nếu áp dụng IPM thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ít hơn

mà lãi lại bằng và khá hơn khi sản xuất bình thường, số lượt phun xịt giảm đi lại đỡ vất vả và độc hại cho người chăm sóc

Tiếp theo trong tỉnh triển khai Chương trình FPR (nông dân cùng tham gia thí nghiệm) cho kết quả: trên 01 ha trồng lúa mọi biện pháp canh tác và kỹ thuật được áp dụng giống nhau nhưng không phun thuốc sâu sớm đã tiết kiệm được chi phí sản xuất 93.680đ/ha

Sau khi nhân rộng Chương trình IPM và FPR đạt kết quả đều khắp trong tỉnh đã củng cố niềm tin của nông dân Từ đó đến nay 2 chương trình này rất phổ biến và được nhân rộng bởi chính người nông dân Việc giảm dùng thuốc hóa học độc hại mà vẫn đạt năng suất và lợi nhuận đáp ứng nguyện vọng của nhân dân nên họ tích cực hưởng ứng Chính nhờ hiểu biết được độc tính của các loại thuốc BVTV và hạn chế sử dụng chúng mà các vụ ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật trong tỉnh giảm rất nhiều Tại lớp tập huấn bảo vệ môi trường nông thôn - nông nghiệp do Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam

tổ chức ở Đồng Tháp vào Tháng 10/2002, trong khi báo cáo của Đồng Tháp có trên 400

ca ngộ độc thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp trong các năm qua thì Tiền Giang chỉ có mấy vụ Ngoài ra theo kết quả nghiên cứu của một vài đề tài khác có liên quan tới môi trường nước cũng kết luận hàm lượng thuốc BVTV chưa quá ngưỡng cho phép Tuy nhiên trong tỉnh thỉnh thoảng cũng có trường hợp một vài nông dân vì tiết kiệm tiền chỉ mua thuốc BVTV giá rẻ mà độc tính cao của Trung Quốc sản xuất để sử dụng diệt ốc bưu vàng trên ruộng, sau đó khi đi làm đồng bị dị ứng da ngay lập tức và đó là bài học cho chính họ Chính vì nông dân có nhu cầu mua một số loại thuốc này mà khi

Ngày đăng: 10/12/2013, 23:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kết quả phân tích chỉ tiêu ô nhiễm n−ớc cao nhất tháng 9/2002 và 9/2003 - Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn tỉnh tiền giang theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp
Bảng k ết quả phân tích chỉ tiêu ô nhiễm n−ớc cao nhất tháng 9/2002 và 9/2003 (Trang 17)
Bảng kết quả đo bụi và tiếng ồn ở TG vào tháng 9/2002 và 9/2003. - Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn tỉnh tiền giang theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp
Bảng k ết quả đo bụi và tiếng ồn ở TG vào tháng 9/2002 và 9/2003 (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w