Trong chính sách mở cửa để phát triển kinh tế của cả nước nói chung và Thái Bình nói riêng, theo hướng CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn của tiến trình sản xuất hàng hoá, đặc biệt dưới tác
Trang 1bộ khoa học và công nghệ chương trình kc-08
"bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai"
- -
Đề tài kc.08.06
"nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn việt nam theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất
các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp"
Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Thái Bình
báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài nhánh
môi trường nông thôn
tỉnh thái bình
thái bình, 9/2003
Trang 2bộ khoa học và công nghệ chương trình kc-08
"bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai"
- -
Đề tài kc.08.06
"nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn việt nam theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất
các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp"
Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Thái Bình
báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài nhánh môi trường nông thôn
tỉnh thái bình
Cơ quan thực hiện: Sở Khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Thái Bình Chủ nhiệm: KS Phí Văn Chín
thái bình, 9/2003
Trang 3Đại học Quốc gia Hà nội Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
- -
Báo cáo kết quả đề tài
"Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam theo các vùng sinh thái đặc trưng,
dự báo xu thế, diễn biến và đề xuất
các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp"
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Lê Văn Khoa
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Thái Bình - 2003
Trang 4Là một tỉnh thuần nông, có nền văn minh lúa nước với hơn 90% dân số sống ở khu vực nông thôn bằng nghề chính là làm ruộng Trong chính sách mở cửa để phát triển kinh tế của cả nước nói chung và Thái Bình nói riêng, theo hướng CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn của tiến trình sản xuất hàng hoá, đặc biệt dưới tác động tích cực của khoán 10, giải phóng sức lao động, thực hiện người cày có ruộng, bước đầu
đạt đựơc những thành tựu nhất định, xoá đói, giảm nghèo, làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn, cải thiện đáng kể mức sống của người dân nông thôn Bên cạnh những thành tựu về kinh tế đã đạt được sau 15 năm đổi mới thì Thái Bình đang đứng trước những thách thức về môi trường, nghiêm trọng như sự lạm dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, giảm đa dạng sinh học tối ưu, phá vỡ cân bằng sinh thái tối ưu, sâu bệnh, chuột phá hoại mùa màng, bên cạnh đó môi trường nhiều làng nghề bị ô nhiễm, rác thải nilon, ngộ độc thực phẩm gia tăng…
Là một tỉnh đất quá chật, người quá đông, tại khu vực nông thôn, trước sức ép về dân số lên vấn đề lương thực, để giải quyết cái ăn của người nông dân, trong bối cảnh người ngày càng tăng lên, nhưng quỹ đất ngày càng giảm đi, buộc người nông dân phải đưa vào trong đất một khối lượng rất lớn phân hoá học, thuốc trừ sâu bệnh, với mong đợi năng suất ngày một tăng cao hơn Nhưng trên thực tế với năng suất bình quân toàn tỉnh 12 - 13 tấn/ha, hoặc ở Đông Hưng 15 tấn/ha là năng suất tới hạn của đất, cứ đà này sẽ làm suy thoái đất rất nhanh, điều đặc biệt là với cách canh tác như hiện nay sẽ làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, giảm đa dạng sinh học cũng như giá trị nông sản thực phẩm phá vỡ cân bằng sinh thái tối ưu đã được xác lập từ lâu ở khu vực đồng bằng sông Hồng và ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ cộng đồng Tại khu vực nông thôn, bên cạnh những tác động môi trường từ sản xuất nông nghiệp, thì trong những năm gần đây từ các hoạt động làng nghề, các dịch vụ cùng nhiều tập tục lạc hậu chưa xoá bỏ được cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống cũng như hệ sinh thái nông nghiệp ở đây
Từ những thực tế khách quan về hiện trạng tr nông thôn Việt nam, như đã nêu ở trên, việc đề tài đưa ra chủ đề nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam theo những vùng sinh thái đặc trưng, trong đó tỉnh Thái Bình mà cụ thể hơn là huyện Đông Hưng, một huyện nội đồng có trình độ thâm canh cao, được chọn làm
đại diện cho vùng đồng bằng sông Hồng để nghiên cứu các vấn đề môi trường ở
Trang 5đây, để dự báo diễn biến, đề xuất các chính sách và các giải pháp kiểm soát thích hợp, sao cho phát triển bền vững là một hướng đi đúng, rất bức bách hiện nay của môi trường nông thôn Việt Nam
Để hoàn thành bản báo cáo này, chúng tôi có sử dụng các báo cáo của các nhà khoa học Trung ương và địa phương đã nghiên cứu biến động trên địa bàn tỉnh Thái Bình đồng thời nhận được sự giúp đỡ trực tiếp của các cấp, các ngành đặc biệt UBND huyện Đông Hưng Nhân dịp này chúng tôi xin chân thành cảm ơn các đơn
vị và cá nhân đã nêu ở trên đã tạo điều kiện giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành nhiệm
vụ này
Thái Bình, ngày …… tháng …… năm 2002
T/M tập thể tác giả
Trang 6Báo cáo
Kết quả nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến,
đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp
Báo cáo chuyên đề
Đặc trưng hệ sinh thái đồng bằng sông Hồng
(Đông Hưng tỉnh Thái Bình)
Với mục tiêu của đề tài là chọn ra chín vùng nghiên cứu, đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau, bao gồm vùng núi cao, trung du, đồng bằng, ven biển, ven đô của cả hai miền Bắc - Nam Theo sự phân công trong chuyên đề này tập trung nghiên cứu hệ sinh thái của đồng bằng sông Hồng mà đại diện là huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
Trang 7Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
1.1.1 Vị trí địa lý vùng nghiên cứu
- Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, được giới hạn bởi các yếu tố địa lý sau:
+ Phía đông giáp vịnh Bắc bộ
+ Phía tây và tây nam giáp tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Nam
+ Phía bắc giáp tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hải Phòng
+ Toạ độ địa lý như sau: - 20017' - 20044 vĩ độ bắc
- 106006' - 106039' kinh độ đông (Xem bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình, tỷ lệ 1:200.000) Theo tài liệu thống kê năm 2001, diện tích đất đai tự nhiên của tỉnh Thái Bình là 1542,24 km, có chiều dài từ hướng tây - đông là 54km, từ bắc - nam là 49km Là tỉnh đồng bằng ven biển có hơn 50 km bờ biển, cùng 5 cửa sông, đó là cửa Ba Lạt (sông Hồng), cửa Lân, cửa Trà Lý, cửa Diêm Hộ và cửa sông Thái Bình ở trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Huyện Đông Hưng là một trong 8 huyện thị của tỉnh Thái Bình, là huyện nội
đồng, nằm giữa trung tâm của tỉnh Thái Bình, phía bắc giáp huyện Quỳnh Phụ, phía nam là sông Trà Lý, tiếp giáp huyện Vũ Thư, huyện Kiến Xương và thị xã Thái Bình, phía đông giáp huyện Thái Thuỵ, phía tây giáp huyện Hưng Hà Theo tài liệu niên giám thống kê năm 2001, huyện Đông Hưng có diện tích tự nhiên là 198,35
km2, toàn huyện có 45 xã và một thị trấn, dân số 252.822 nghìn người, mật độ dân
số 1275 người/km2 chỉ xếp sau mật độ dân số thị xã Thái Bình
1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất thuỷ văn vùng nghiên cứu
a Đặc điểm địa hình
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, không có đồi núi, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ dốc trung bình nhỏ hơn 1%, độ cao bề mặt địa hình dao động từ
Trang 8+1,50 ữ + 3,50 so với mực nước biển, có xu hướng thấp dần từ bắc xuống nam từ tây sang đông
Toàn bộ tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Đông Hưng nói chung nằm trong tổng thể của đồng bằng sông Hồng, được tạo thành bởi trầm tích sông biển hỗn hợp, thời kỳ Holoxen (QIV) Hai huyện ven biển là Thái Thụy và Tiền Hải thường xuyên lấn ra biển mỗi năm từ 50 - 100m bởi phù sa của sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình Dọc theo bờ biển Thái Thuỵ và Tiền Hải có những dải cát chạy song song với
đường bờ kéo dài và nổi cao hơn so với địa hình xung quanh, đó là những diện tích còn sót lại của đê cát, cồn cát, giồng cát nguồn gốc biển hoặc trầm tích gió hình thành trước đây
b Đặc điểm địa chất, địa chất thủy văn vùng nghiên cứu
- Đặc điểm địa chất:
Tỉnh Thái Bình nói chung, huyện Đông hưng nói riêng là vùng đồng bằng ven biển, một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, xét về mặt địa chất, toàn bộ tỉnh Thái Bình nằm trong trầm tích bở rời hệ thứ tư, có nguồn gốc sông biển hỗn hợp, thuộc vùng trũng Hà nội, được mô tả từ trên xuống dưới như sau:
+ Từ mặt đất đến độ sâu 15m là trầm tích hệ tầng Thái Bình, nguồn gốc biển
Như vậy xét về mặt địa chất, trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ mặt đất đến độ sâu
120 - 140m là trầm tích bở rời hệ thứ tư có nguồn gốc sông biển hỗn hợp Từ độ sâu
120 đến 200m là trầm tích Neogen đá gắn kết yếu, đến rắn chắc Do đặc điểm nghiên cứu chúng tôi không đề cập chi tiết đến điều kiện địa chất ở sâu hơn
- Đặc điểm địa chất thủy văn vùng nghiên cứu:
Theo tài liệu địa chất, địa chất thủy văn của tỉnh Thái Bình đã được nghiên cứu tương đối chi tiết, từ việc lập bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1: 200.000 đến bản đồ
địa chất thủy văn tỷ lệ 1: 50.000, căn cứ vào tài liệu địa chất thuỷ văn việc phân chia các tầng chứa nước, tầng cách nước, từ mặt đất đến độ sâu 120m như sau:
1/ Từ mặt đất đến độ sâu 15m (chiều dày không ổn định ≤ 15m), đây là tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holoxen muộn, hệ tầng Thái Bình, ký hiệu (QIV3Tb) Đây là tầng chứa nước nằm trên cùng, thành phần đất đá chứa nước là cát - bột - sét Các giếng đào, giếng khoan tầng nông của các vùng trong tỉnh bao gồm thị xã, Tiền Hải, Kiến Xương, Thái Thuỵ, Vũ Thư thường tập trung vào tầng này Đặc
điểm nổi bật của tầng chứa nước này là có lưu lượng không lớn, nhưng nước ngầm nhạt không bị nhiễm mặn, chất lượng của tầng nước này phản ánh qua công thức Carlop
Trang 92/ Tầng cách nước - Hệ tầng Hải Hưng trên QIV1-2 hh2: Tầng cách nước này phân
bố từ độ sâu 15m đến 30m, có chỗ sâu hơn, thành phần thạch học chủ yếu là đất sét, khả năng chứa nước rất kém, do đó gọi là tầng cách nước, chiều dày của tầng cách nước dao đồng từ 15 - 20m Tầng này có tác dụng bảo vệ tầng nước ngầm nằm dưới
nó và thường tạo nước áp lực tương đối mạnh, có chỗ khi khoan nước phun lên khỏi mặt nước, tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác, cần chú ý khi khoan lấy nước không
đặt ống lọc vào tầng này sẽ không có nước
3/ Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holoxen, phụ hệ tầng Hải Hưng:
QIV1-2hh1 Tầng chứa nước này phân bố ở độ sâu khoảng 30m - 50m, nhiều nơi đến 60m Thành phần thạch học chủ yếu là cát bột, bột cát chứa nước tốt, độ dày tầng này dao động 20 - 40 m, một số giếng khoan cảu UNICEF tại các vùng Hưng Hà,
Đông Hưng, Quỳnh Phụ của nhân dân thường khoan vào tầng này Nhưng tầng chứa nước này không có giá trị cung cấp nước cho công nghiệp và dân sinh
4/ Tầng cách nước Hệ tầng phía trên QIII2Vp2
Tầng cách nước này phân bố ở độ sâu từ 52m đến 70m với chiều dày khoảng 20m, thành phần thạch học là đất sét loang lổ có khả năng cách nước rất tốt Vì vậy khi khoan nếu đặt ống lọc vào tầng này sẽ không có nước
5/ Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen muộn - hệ tầng Vĩnh phúc dưới: QIV2Vp1
Tầng chứa nước này phân bố từ độ sâu 70m đến 80m, chiều dày tầng chứa nước không ổn định, biến đổi từ vài mét đến vài chục mét, thành phần thạch học là cát, cát sạn chứa nước tốt Đây là tầng chứa nước, áp lực, mực nước tĩnh nằm ngay mặt
đất Trong quá trình nghiên cứu địa chất thuỷ văn của tầng này tại Thái Bình đã có
11 giếng khoan tiến hành hút nước thí nghiệm trong tầng này cho thấy:
- Mực nước tính cách mặt đất +0,15m (LK10), lưu lượng bơm thấy đo từ 4l/s
đến 15l/s, chất lượng nước tốt và ổn định, tổng độ khoáng hơn 0,36g/l (LK58B) đến 0,70g/l (LK101)
Trang 106/ Tấng cách nước thuộc nóc tầng Hà Nội QiI-III1hn2
Tầng cách nước này nằm ở nóc tầng cát cuội sỏi hệ tầng Hà Nội, phân bố ở độ sâu khoảng 80m đến 85m, chiều dày không ổn định, thành phần thạch học là sét, sét bột, sét cát mầu xanh, xám cách nước rất tốt, nếu đặt ống lọc vào đây sẽ không có nước vì nước bị đục
7/ Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen sớm Hệ tầng Hà Nội (QII-III1Hn1)
Đây là tầng chứa nước chủ yếu ở đồng bằng Bắc bộ nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng, phân bố từ độ sâu 85 m đến 150m, chiều dày trung bình từ 50 - 60m tương
đối ổn định, thành phần thạch học chủ yếu cát hạt thô, cát sạn, cuội thạch anh, độ hạt tăng dần theo chiều sâu khả năng chứa nước rất tốt, đây là tầng chứa nước có giá trị công nghiệp, thường các nhà máy nước ở Hà Nội và một số địa phương khai thác nước trong tầng này Tại Thái Bình tiến hànhlấy mẫu phân tích và đo địa vật lý khẳng định các huyện Hưng Hà, Đông Hưng khi khoan vào tầng này cho lưu lượng
từ 15l/s đến 20l/s, cá biệt tại lỗ khoan 5804 có Q = 28,26l/s, độ tổng khoáng hoá thay đổi 0,53 - 0,76g/l
+ Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen muộn - Hệ tầng Vĩnh Phúc dưới (Qm2Vp1) độ sâu 60 - 75m, hiện tại nhà máy nước thị trấn đang khai thác vào tầng này nhưng lưu lượng không đáp ứng
+ Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen sớm - Hệ tầng Hà Nội (QIIm1hn1) Tầng chứa nước này phân bố từ độ sâu 85 - 150m, có giá trị cung cấp lớn cần quan tâm
+ Đây là tài liệu tham khảo, vì vậy nếu khai thác nước ngầm nhất thiết phải có tối thiểu một giếng thăm dò để xem kết cấu địa tầng phục vụ cho thiết kế và kiểm tra lưu lượng và độ mặn của nước
- Mặt cắt đại chất thuỷ văn ở khu vực Đông Hưng (thị trấn): Để giúp cho việc tham khảo tìm nguồn nước cho nhà máy nước thị trán Đông Hưng, trên cơ sở tài liệu
địa chất thuỷ văn, chúng tôi đưa ra mặt cắt địa chất thuỷ văn khu vực như sau:
(Xem bảng vẽ 01)
Trang 11Bảng 1: Địa tầng địa chất thuỷ văn đặc trưng tại Thái Bình:
STT Địa tầng địa chất
12
Cát bột sét chứa nước yếu, các giếng UNICEF vùng Vũ Thư, Kiến Xương,… lấy nước tầng này
- Một số tài liệu giếng khoan địa chất thủy văn tại thị trấn Đông Hưng Tại khu vực thị trấn Đông Hưng và một số vùng lân cận đã có một số giếng khoan địa chất thuỷ văn như sau:
+ Tại bờ sông Tiên Hưng thuộc thị trấn Đông Hưng có giếng khoan số 10:
Sâu 70,70m đặt ống lọc lấy mẫu ở hệ tầng Vĩnh Phú dưới QIII-Vp1
Lưu lượng Q=11,50l/s - Mực nước hạ thấp S=6,33m, tỷ lưu lượng q=1,82l/m2
Bán kính ảnh hưởng R=199,47m - Hệ số thấm K=354m2/ngày đêm
+ Tại bờ bắc sông Tiên hưng giáp thị trấn có giếng có một dàn giếng khoan bơm thí nghiệm phân tầng, điển hình LK 5802 sâu 116m, bơm trong tầng cát cuội sỏi Hà Nội QII-IIIhn1 gặp nước áp lực, mực nước +0,13m
Sâu 116,0m, ống lọc đặt trong tầng cát cuội sỏi QII-IIIhn1
Lưu lượng Q=21,08l/s, mực nước hạ thấp 2,67m, q=7,89l/s
Hệ số thấm K=1174m2/ngày đêm
Trang 12Tổng khoáng hoá: M=0,50g/l - Nước nhạt
+ Giếng khoan số 902 trục đường mười tại xã Đông Các, cách Cầu Nguyễn 2,5km
Sâu 150m, đặt ống lọc trong tầng cát cuội sỏi QII-IIIhn1
Lưu lượng 14,79l/s, mực nước hạ thấp 1,75m, tỷ lưu lượng q=8,45l/m2
Mực nước tĩnh +0,50m, hệ số thấm 1109m2/ngđ, tổng khoáng hoá M=0,6g/l
c Đặc điểm mạng lưới thủy văn:
Phía đông giáp biển Đông, chiều dài bờ biển là 49km, Thái Bình được xem như một ốc đảo được bao bọc bởi hệ thống sông khép kín, có 5 con sông chảy qua địa phận tỉnh Thái Bình, đó là: (xem bản đồ giao thông - thủy lợi Thái Bình tỷ lệ 1:200.000)
- Sông Hồng: Chảy qua biên giới phía tây và T-N của tỉnh, chảy vào địa phận Thái Bình bắt đầu từ cửa Luộc (xã Tân Lễ huyện Hưng hà - Thái Bình) là ranh giới giữa Thái Bình và các tỉnh Hà Nam, Nam Định và chảy ra biển qua cửa Ba Lạt, chiều dài sông qua địa phận Thái Bình là 90km Lưu lượng về mùa lũ 4000m3/s, về mùa khô 1000m3/s, chiều cao mực nước trung bình cao hơn mặt đất vùng đồng bằng
là 2,0 - 5m, vì vậy dễ gây lụt lội
- Sông Luộc: Phân bố phía Bắc của tỉnh, là ranh giới tự nhiên giữa Thái Bình và Hưng Yên và Hải Dương Sông Luộc là phần lưu của sông Hồng, đoạn chảy qua Thái Bình dài 51km, lưu lượng về mùa lũ 1420m3/s, về mùa khô 487m3/s, còn mực nước về mùa lũ so với nội đồng cao hơn 2 - 2,80m, mùa khô thấp hơn 1 - 1,50m
- Sông Hoá: Phân lưu của sông Luộc phân bố ở phía bắc và ĐB của tỉnh Thái Bình, là ranh giới tự nhiên giữa Thái Bình và Hải Phòng, đổ ra biển Đông tại cửa Thái Bình, chiều dài chảy qua Thái Bình là 35,30km
- Sông Trà Lý: Phân lưu của sông Hồng, bắt nguồn từ cửa Phạm Lỗ (xã Hồng
Lý - Vũ Thư - Thái Bình) chảy giữa tỉnh, đổ ra biển Đông qua cửa Trà Lý Sông có chiều dài 63km, lưu lượng sông về mùa lũ Q=1480m3/s, mùa khô Q=542m3/s, độ cao mực nước về mùa lũ so với nội đồng cao hơn 2 - 2,70m, mùa khô thấp hơn 0,8-1,3m
- Sông Diêm Hộ: Bắt nguồn từ sông Luộc tại cống Đại Lẫm (huyện Quỳnh Phụ) chảy qua Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Thái Thuỵ, đổ ra biển của cửa Diễm
Hộ, sông dài 30km, bị uốn khúc, hướng chảy chính TB-ĐN
Ngoài ra còn có Sông Lân, một chi lưu của sông Hồng gần cửa sông, là sông tiêu úng hiện nay đổ trực tiếp ra cửa Lân (xem bản đồ giao thông-thuỷ lợi Thái Bình
tỷ lệ 1:200.000)
Nhìn chung mạng lưới sông ngòi ở Thái Bình dày đặc, mật độ sông 5,72 km/km2, các dòng sông đều uốn khúc quanh co, độ dốc nhỏ 0,02 - 0,5m/km, các cửa sông thường hẹp, bị bồi cạn cục bộ mạnh, làm cản trở dòng nước thoát ra biển, gây úng lụt Chính vì vậy Thái Bình là địa phương có sử dụng nhiều trạm bơm phục vụ
Trang 13cho tưới tiêu, theo số liệu điều tra từ năm 1990 đến 1992, năng lượng tiêu thụ cho
các máy bơm của toàn tỉnh là: Tổng số máy bơm 1044, công suất lắp đặt là
1.448.000m3/h, năng lượng lắp đặt 37.875.000KW/h
- Năng lượng tiêu thụ: Năm 1990 = 17.754.000 KW/h
Năm 1992 = 20.287.000KW/h Năm 1992 = 23.601.000KW/h
- Có 378 trạm bơm tưới và tiêu, trong đó:
Vùng tưới thiết kế: 50.000ha Thực tế: 31.000ha
Vùng tiêu thiết kế: 25.000ha Thực tế: 20.000ha
Đặc điểm chung của các con sông trên địa bàn tỉnh Thái Bình đều bị ảnh hưởng
của thủy triều lên xuống thường xuyên, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng có khác nhau
theo tài liệu quan trắc ranh giới nhiễm mặn của sông Hồng vào sâu 8 - 10km
1.1.3 Các yếu tố khí hậu:
Nằm trong miền khí hậu phía Bắc Việt nam, Thái Bình có chế độ khí hậu nhiệt
đới gió mùa Điều kiện khí hậu ở đây chịu sự chi phối của chế độ bức xạ mặt trời nơi
chí tuyến, chịu ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ của hoàn lưu gió mùa ĐB và chịu tác
động của biển Thái Bình Dương Chế độ khí hậu ở đây phân làm 2 mùa rõ rệt: mùa
hè nóng trùng với mùa mưa, mùa đông lạnh trùng với mùa ít mưa
a Về nhiệt độ không khí: Nhiệt độ trung bình năm từ 23,300C - 240C,nhiệt độ
trung bình mùa nóng lên tới 31 - 330C, mùa lạnh nhiệt độ từ 15 - 180C, nhiệt độ
chênh lệch giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất 13,100C, tổng lượng nhiệt trong năm
8400-85000C (xem bảng 2)
Bảng 2: Nhiệt độ không khí cao nhất, thấp nhất tại thị x∙ Thái Bình
(Qua thống kê nhiều năm)
Tháng Nhiệt độ
Nhiệt độ
cao nhất -21,3 25,1 26,2 31,3 35,5 37,8 38,0 35,5 34 32,4 29,8 26,2Nhiệt độ
thấp nhất -17,7 19,2 16,7 16,9 21 23,9 23,8 21,3 20,5 15,9 20,3 19,2
b Độ ẩm: Do nằm trong khu vực gió mùa và chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí
hậu ven biển nên thường có độ ẩm cao, về mùa lạnh, thời tiết khô hanh, độ ẩm giảm
đi, độ ẩm tương đối trong năm từ 82-90% (xem bảng 3)
Trang 14c Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm trên địa bàn tỉnh Thái Bình là
1700mm-1900mm
- Mùa mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10: Lượng mưa trong một tháng từ 150mm trở lên Số ngày mưa trong mùa 40 - 70 ngày, tổng lượng mưa là 1600-1800mm
- Mùa mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau: lượng mưa trung bình từ 10 - 20mm/tháng
Số ngày mưa trong mùa từ 30 - 50ngày (xem biểu đồ vũ lượng mưa)
Bảng 3: Số liệu khí tượng thủy văn tại Thái Bình
d Gió: Hướng gió thay đổi theo mùa, mùa khô gió ĐB là chủ đạo, tốc độ trung
bình là 1,1 - 2,90m/s, tốc độ lớn nhất 8-12m/s, các đợt gió mùa ĐB gây ra nhiều đợt rét kéo dài trong mùa này Mùa mưa gió ĐN là chủ đạo, tốc độ gió trung bình 1,2 - 2,7m/s, lớn nhất 8 - 34m/s, bão thường xuất hiện trong thời gian này, gây nhiều thiệt hại Bão và áp thấp nhiệt đới là dạng nhiễu động thời tiết mang tính chất thiên tai xuất hiện vào mùa hè Các trận bão đổ bộ vào Bắc bộ nói chung và Thái Bình nói riêng được hình thành từ biển Đông Philipin và biển Đông Việt Nam Theo tài liệu thống kê của Tổng cục khí tượng thuỷ văn trong vòng 30 năm, từ 1955 đến 1995 có khoảng 66 cơn bão, áp thấp đổ bộ vào khu vực Thái Bình, trung bình mỗi năm có từ
1 - 2 trận bão đổ bộ trực tiếp và 2 -3 cơn bão khác gây ảnh hưởng Bão tập trung chủ yếu vào 4 tháng đó là 5,6,7,8,9, trung bình mỗi tháng có thể quan trắc được 0,4 - 0,6 cơn trong năm (xem sơ đồ hướng gió và bản đồ đường đi các cơn bão thống kê 10 năm (1984-1994) (xem sơ đồ hướng gió)
1.1.4 Tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất vùng nghiên cứu:
Thái Bình là một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc đồng bằng ven biển Vì vậy quá trình hình thành và phát triển đồng bằng này gắn liền với hoạt
động tương tác giữa sông và biển, vật liệu cấu thành nên đồng bằng thường có nguồn gốc sông, biển hỗn hợp, lớp thổ nhưỡng phát triển trên bề mặt đồng bằng thường có bề dày thay đổi từ 0,30 - 0,80m, bao gồm các loại đất khác nhau và phân
bố theo địa hình ở các địa hình vàm cao, đất có thành phần chủ yếu là cát - bột - sét, mầu xám nâu, xám vàng, thoát nước tốt ở các vùng địa hình vàm thấp đọng nước hình thành đất lầy ở những nơi địa hình tương đối bằng phẳng, xen giữa địa hình vàm cao và vàm thấp, đất có thành phần chủ yếu là sét, sét bột màu nâu nhạt Tại 2 vùng ven biển Thái Thuỵ và Tiền Hải có đất chua mặn, nhiều nơi chỉ cấy được một
Trang 15vụ lúa Ngoài đê biển của 2 huyện ven biển Thái Thuỵ và Tiền hải là vùng đất ngập
nước thuận lợi cho cây ngập mặn bao gồm sú, vẹt, bần, trang phát triển tốt (Diện
tích phân bố có thể tham khảo trên bản đồ phân bố thổ nhưỡng hình số 3 trích trong
"dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng")
Trong quá trình sử dụng đất thường bị thoái hoá, đất bị chua hoá, phèn hoá, glây
hoá Qua một số kết quả phân tích cho thấy độ pH trong đất giảm, hàm lượng các
ion kim loại kiềm thổ trong đất cũng giảm Nguyên nhân của quá trình này là do
mưa, gió làm rửa trôi bề mặt, trong canh tác thì nhân dân lạm dụng bón nhiều loại
phân bón hoá học khác nhau, độc canh giống cây trồng, đẽo đất ruộng để làm gạch,
phá vỡ tầng đê cày, tạo điều kiện cho lượng lưu huỳnh từ dưới sâu xâm nhập đê làm
chua hoá, phèn hoá đất canh tác (xem bảng 4 và 5)
Bảng 4: Phân tích thành phần hoá học đất
Tổng số C (%) Cationly đương lượng/100gLoại đất pH Mùn
Qua thực tế cho thấy, việc sử dụng phân hoá học ngày một tăng trong khi lượng
phân hữu cơ truyền thống không tăng, có chiều hướng giảm, làm mất cân bằng
thành phần dinh dưỡng của đất Bởi vì trong quá trình bón phân hoá học (NH2)2SO4,
NH2NO3, NH4Cl, thì cây lúa hấp phụ có chọn lọc, trong đất sẽ dư ra các gốc axit
SO4-, Cl-, NO3-, làm cho đất bị chua, dẫn đến thoái hoá đất, điều này hiện nay đang
diễn ra rất phổ biến trên đồng đất Thái Bình, do sức ép về dân số lên các vấn đề
lương thực, để giải quyết cái ăn, buộc người nông dân đã lạm dụng đưa vào trong
đất một khối lượng phân hoá học rất lớn, với mong muốn năng suất cao, mà ít nghĩ
đến hậu quả lâu dài vừa nêu trên, mặt khác một khối lượng phân chuồng, phân bắc
khi mang ra sử dụng chưa ủ kỹ, trong đó còn nhiều thành phần axit trứng giun, là
những nguyên nhân góp phần làm ô nhiễm đất nông nghiệp Ngoài những nguyên
nhân kể trên, cũng phải kể đến việc sử dụng thuốc trừ sâu, trừ cỏ trong đó có nhiều
loại thuốc có tính độc cao, tính phân huỷ chậm, tồn lưu dài ngày trong đất với hàm
lượng rất cao như DDT, 666, WOFATOX, Monitơ Bên cạnh mặt tích cực, các loại
Trang 16thuốc này còn diệt cả các loài sinh vật có ích, tồn dư trong nông sản thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và giảm đa dạng sinh học
Bảng 6: Phân loại các loại đất trên địa bàn Thái Bình theo thang phân loại
quốc gia (số liệu điều tra năm 1980)
hiệu
Diện tích (ha)
Phần trăm (%)
10 Đất phù sa được bồi của sông Hồng Pb 563,00 4,18
11 Đất phù sa không được bồi, glây trung
bình hoặc yếu của sông Thái Bình
a Điền hình Pt 12.717,00 9,44
b Phủ trên nền cát cũ Ptc 1.719,00 1,28
12 Đất phù sa không bồi, glây trung bình
hoặc yếu của sông Hồng
Trang 17a Nguồn nước mặt: Thái Bình có 4 con sông lớn chảy qua, đó là sông Hồng,
sông Trà Lý, sông Luộc và sông Hoá vói tổng chiều dài khoảng 250km, cùng 11.600 ha ao hồ, kênh rạch thuỷ nông có sức chứa hàng triệu m3 nước ngọt Đây là nguồn tài nguyên rất quý, cung cấp chủ đạo cho sản xuất nông nghiệp, phần lớn các nhà máy nước sinh hoạt Thái Bình từ nguồn tài nguyên này Song một điều đáng tiếc
là nguồn tài nguyên này hiện nay đang bị ô nhiễm do hoạt động công nghiệp từ các thành phố đổ về, do canh tác nông nghiệp của các tỉnh đồng bằng sông Hồng trút xuống cũng được dòng nước đưa về đây vì ở cuối nguồn
b Nguồn nước mưa: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên lượng
mưa bình quân trong năm trên địa bàn tỉnh Thái Bình 1800 - 2000 mm, bằng 85% lượng mưa của cả năm, qua quá trình thử nghiệm và theo dõi thấy rằng cứ 1m2 nhà mái bằng một năm thu được 1,53m3 nước mưa/năm Đây là nguồn nước mưa có chất lượng tốt, cung cấp chủ yếu cho nhân dân khu vực nông thôn thông qua việc xây bể,
đặc biệt dân ven biển, nhưng nhược điểm là không tích trữ được qua mùa đông, mùa khô và không thể cung cấp cho sản xuất lớn
c Nguồn nước ngầm: Như phần địa chất, địa chất thủy văn ở trên chúng tôi đã
trình bày, tỉnh Thái Bình nối chung và huyện Đông Hưng nói riêng là một bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc trầm tích bở rời hệ thứ tư, có nguồn gốc sông biển hỗn hợp, nên khả năng tàng trữ nước ngầm là rất tốt, mực nước ngầm nông cách mặt đất từ 0,50-1,0m thuận lợi cho quá trình khai thác Nhưng theo bản
đồ phân đới thủy văn địa hoá thẳng đứng và nằm ngang thì toàn bộ các huyện nằm ở phía nam sông Trà Lý bao gồm Vũ Thư, Kiến Xương, Thị xã và hai huyện ven biển nước ngầm bị nhiễm mặn, không thể dùng cho sinh hoạt và sản xuất Ngược lại, các huyện nằm ở phía bắc sông Trà Lý bao gồm Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng thì nước ngầm thường là nước ngọt có trữ lượng lớn có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất
Tóm lại, về tài nguyên nước ở Thái Bình nói chung và Đông Hưng nói riêng có3 nguồn nước như đã mô tả ở trên, song rất nhiều người khi mới tiếp cận về đây điều tra cho rằng Thái Bình rất dồi dào về tài nguyên nước, nhưng thực tế hiện nay Thái Bình cũng đang đối mặt về ván đề cung cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Về hiện trạng sử dụng tài nguyên nước, đến nay thị xã Thái Bình có một nhà máy nước công suất từ 20.000m3/ngày đêm, mới cung cấp 60% dân cư có nước sạch, tại thị trấn Đông Hưng hiện nay chưa có nhà máy mới Theo số liệu điều tra, tính
đến tháng 8/2002 cả tỉnh đã triển khai được 108.000 giếng khoan các loại để cung cấp nước sạch và 46 trạm cấp nước vừa và nhỏ, công suất từ 50-250m3/ngày đêm để cung cấp nước cho khu vực nông thôn Theo tài liệu của Trung tâm NS-VSMT nông thôn, đến nay đã cung cấp được 60% dân số ở khu vực nông thôn được dùng nước sạch, sẽ phấn đấu đến năm 2005 có 80% dân số ở khu vực nông thôn được dùng nước sạch
- Về hiện trạng tài nguyên nước trên địa bàn huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
là rất tốt, tại đây nguồn nước mặt rất phong phú như sông Trà lý, sông Tiên Hưng,
Trang 18đặc biệt nguồn nước ngầm ở đây không bị nhiễm mặn, qua các công trình khoan thăm dò ở ngay thị trấn Đông Hưng, tại giếng khoan số 10 sâu 70m có lưu lượng 11l/s thuộc loại nước ngọt có thể cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp quy mô lớn Qua tài liệu điều tra đến tháng 10/2001 đã có 18.000 giếng khoan lấy nước và 22.747 giếng đào, 50.554 bể nước mưa, bảo đảm cho 60% dân số ở khu vực nông thôn dùng nước sạch Tại thị trấn Đông Hưng mới có một trạm cấp nước nhỏ khoảng 50m3/ngđ, song hiện nay UBND huyện Đông Hưng đã lập dự án khả thi để xây dựng nhà máy nước công suất 2000m3/ngđ để cung cấp cho cả thị trấn, các cơ quan và cho phát triển công nghiệp
1.1.6 Tài nguyên sinh vật trên địa bàn nghiên cứu:
Là tỉnh đồng bằng ven biển, thuần nông, trên thực tế từ bao đời nay người dân ở
đây sống bằng nghề khai thác tài nguyên sinh vật thông qua việc nuôi trồng đánh bắt thủy hẩin, sản xuất nông nghiệp từ việc trồng lúa, hoa mầu, chăn nuôi đến việc khai thác các nguồn lợi sinh vật sẵn có trong thiên nhiên Về tài nguyên sinh vật trên
địa bàn tỉnh Thái Bình mô tả như sau:
a.Tài nguyên thực vật ven biển:
Thực vật ven biển của tỉnh Thái Bình đóng một vai trò quan trọng và thuận lợi cho việc phát triển đường bờ Hệ sinh thái ven bờ tỉnh Thái Bình mang đầy đủ các yếu tố thực vật vùng triều, thực vật vùng ven bờ, thực vật ngập mặn, thực vật phụ cận sau đới ngập triều, thảm thực vật trong hệ sinh thái có biển Những yếu tố này
đóng vai trò quyết định tới môi trường sống và còn là tài nguyên kinh tế đa lợi nhuận Kết quả nghiên cứu của mẫu thực vật cho thấy dải ven biển Thái Bình có các kiểu thẩm thực vật sau:
- Thảm thực vật tự nhiên:
+ Tham gia trong cấu trúc quần xã có các đại diện muống biển, cỏ chông, ngoài hai đại diện trên bắt gặp loại đại diện cho thân thảo, dây leo Quần xã đặc trưng cho kiểu này gặp ở bãi cát mới hình thành ngoài biển trên cồn bãi Rừng ngập mặn thứ sinh phát triển tự nhiên, gần đây nhân dân trồng bổ xung
+ Quần xã bần - Ôrô - vẹt: phân bố bãi lầy bán ngập triều cửa Ba Lạt đến cửa Trà Lý
+ Quần xã trang - sú - Ôrô: trên các bãi bùn cát mới hình thành
+ Quần xã dứa dại - sài - hổ
+ Quần xã cỏ may, cỏ gà
- Thảm thực vật trồng và canh tác:
+ Quần xã cây trồng phát triển trong khu dân cư: cây ăn quả bưởi, chanh, mít… + Quần xã cây công nghiệp: Dâu tằm trồng ở bãi cát, cây đay trồng vùng bãi ven đê
+ Quần xã cây thuốc và tinh dầu: củ gấu biển, cà độc dược, bạc hà, hương lau…
Trang 19+ Quần xã cây lúa nước: chứa 95% diện tích đất canh tác, năng suất 12 - 15tấn/ha/năm
+ Quần cây mầu ở cạn
+ Quần xã cói
+ Quần xã phi lao, quần xã rừng trồng
b Tài nguyên sinh vật: Nguồn lợi các nhóm giáp xác như tôm, cua biển,
nguồn lợi thân mềm như ngao, don, dắt, nguồn lợi cá biển, cá nước ngọt
Tóm lại, hiện nay tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Đông Hưng nói riêng chủ yếu tập trung khai thác thảm thực vật trồng và khai thác tài nguyên sinh vật thông qua nuôi trồng đánh bắt
Trang 201.2
Đặc điểm kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu:
Toàn bộ tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Đông Hưng nói riêng có các đặc
điểm kinh tế xã hội như sau:
1.2.1 Dân số, lao động, phân bố dân cư, tỷ lệ dân đô thị, nông thôn ở Thái Bình
Theo số liệu niên giám thống kê năm 2001 do Cục thống kê tỉnh Thái Bình công
bố về tình hình dân số lao động của Thái Bình gồm (xem bảng 7, 8):
a Dân số trung bình toàn tỉnh Thái Bình (xem bảng):
Bảng 7: Đơn vị: nghìn người
Chia theo giới tính Chia theo thành thị,
nông thôn
Tính theo phần trăm Năm
Dân số bình quân
toàn tỉnh Nam Nữ Thành
thị
Nông thôn
Thành thị (%)
Nông thôn (%)
Trang 21b Dân số chia theo huyện thị trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Bảng 8: Đơn vị: Nghìn người Năm
Tỉnh,
huyện, thị
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Toàn tỉnh 1751 1760 1770 1779 1788 1801 1814 Quỳnh Phụ 235 236 237 239 240 241 243 Hưng Hà 237 239 241 243 244 246 248 Thái Thụy 258 258 259 259 261 262 263
Đông Hưng 242 243 245 247 248 251 252
Vũ Thư 221 222 223 223 224 226 227 Kiến Xương 230 232 233 235 236 236 238 Tiền Hải 200 201 202 203 204 206 209 Thị xã 128 129 130 130 131 132 132,5
c Một vài nhận định về phát triển dân số trên địa bàn tỉnh Thái Bình
- Theo số liệu điều tra dân số 1/4/1979 thì dân số Thái Bình 1.382.931 người
- Sau 10 năm, tức là 1/4/1989 dân số Thái Bình là 1.632.349 người
Qua 10 năm điều tra tháy rằng, bình quân mỗi năm dân số tăng 25.000 người tương đương với 5 xã trung bình của đồng bằng sông Hồng
- Theo số liệu điều tra dân số 1/4/1999 thì dân số Thái Bình là 1.785.600 người
+ Tiếp tục so sánh giứa dân số 1989 đến 1999 sau 10 năm dân số Thái Bình tăng 153.600 người, tương đương với dân số 3 xã trung bình của tỉnh
+ So sánh giai đoạn 1979 - 1989 và 1989 - 1999 thấy rằng giai đoạn sau ít hơn giai đoạn trước hàng trăm nghìn người, nói lên kết quả của cuộc vận động sinh đẻ có
sinh bình quân toàn quốc 19,8%0, điều này phản ánh kết quả của cuộc vận động sinh
đẻ có kế hoạch của tỉnh Thái Bình trong những năm qua
d Về lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Theo tài liệu niên giám thống kê năm 2001 của Cục thống kê tỉnh Thái Bình, đã thống kê về lực lượng lao động từ 1996 đến 2001 như sau (xem bảng 9):
Lao động làm việc trong khu vực nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Trang 22Bảng 9: Đơn vị tính: người Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Tổng số toàn tỉnh 42.286 43.421 46.332 48.632 48.699 48.445 Thuộc Trung
ương quản lý 6.413 7.180 7.525 8.334 8.293 8.843 Thuộc địa phương
quản lý 35.873 36.241 38.807 40.298 40.406 39.609 Tài liệu thống kê mới đề cập đến lực lượng lao động tại các khu vực do nhà nước quản lý, còn lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn rất lớn chưa thống kê được Để làm rõ lực lượng lao động hiện tại Thái Bình, cũng theo tài liệu thống kê điều tra dân số từ 1/4/1999 thì tại Thái Bình
- Nhóm tuổi từ 0 - 14 tuổi chiếm 28,21% (chưa đến tuổi lao động)
- Nhóm tuổi > 60 tuổi chiếm 11,98% (hết tuổi lao động)
Từ số liệu này, cho thấy số người đang độ tuổi lao động trên địa bàn tỉnh Thái Bình chiếm xấp xỉ 60% tương đương hơn một triệu người Với số liệu này cho thấy hiện nay ở khu vực nông thôn Thái Bình có hàng triệu lao động, mỗi năm chỉ hoạt
động không 2,5 - 3 tháng, lực lượng lao động nông nhàn còn rất lớn
Tóm lại: Về dân số càng ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước Theo số
liệu điều tra năm 1999 thì dân số toàn tỉnh 1.785.600 người thì năm 2000 tăng lên là 1.1801.000 người và năm 2001 là 1.814.000 người, mật độ dân số xấp xỉ 1.200 người/km2 vượt xa so với quy định của tổ chức lương thực thế giới đối với đất nước, phát triển nông nghiệp là 200 người/km2 Mặt khác tỷ lệ dân cư đô thị và nông thôn chênh nhau khá lớn, khi tỷ lệ dân cư đô thị < 10% thì tỷ lệ dân cư ở khu vực nông thôn chiếm hơn 90%
Về dân số huyện Đông Hưng với diện tích là 198,35km2 bao gồm 45 xã và một thị trấn, dân số năm 2001 toàn huyện là 252.822 người, mật độ dân số 1.275 người/km2 trong số 252.822 người thì nam gần chiếm 120.058 người, nữ giới 132.764 người, thành thị 3.318 người, nông thôn 249.504 người chiếm 98,50%
1.2.2 Đời sống dân cư vùng nghiên cứu:
Là một tỉnh thuần nông, năng suất bình quân 12 - 15 tấn/ha là một trong những tỉnh đạt 1 triệu tấn lương thực một năm Hiện nay mức thu nhập bình quân của người nông dân là 32 triệu đồng/ha/năm đang phấn đấu 50 triệu/ha/năm thu nhập bình quân đầu người 300USD/năm, thấp hơn so với bình quân cả nước 500USD/năm (xem bảng 10)
Theo tài liệu của Cục thống kê của tỉnh Thái Bình như sau:
Bảng 10:
Khu vực Đơn vị tính 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Trang 23quân đầu người năm kg/người/năm 552 579 552 569 606 595 650
Theo tài liệu tổng kết năm 2002 và xây dựng kế hoạch năm 2003 các chỉ tiêu
phát triển kinh tế của tỉnh Thái Bình như sau:
- Tốc độ tăng trưởng GDP > 7%
- Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tăng 3,50%
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng > 15,5%
- Giá trị dịch vụ tăng > 11,5%
- Kim ngạch xuất khẩu 18,20%
- Kim ngạch nhập khẩu 13%
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 1,52 tỷ
- Hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở
- Đào tạo nghề cho khoảng 3500 người
- Giảm tỷ lệ sinh bình quân cả năm 0,03%, tốc độ phát triển dân số 0,7%
- Tạo việc làm cho khoảng 18.000 người, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 6% tỷ lệ
người lao động nông thôn 76%
Toàn tỉnh 100% số hộ dân có điện thắp sáng, 60% số hộ được dùng nước sạch,
32% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, 95% các xã có đường giao thông nhựa, bêtông,
100% các xã có trạm xá, trường học cao tầng, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng < 26%
Phấn đấu giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 6% xuống còn 5,5% vào năm 2003 tỷ lệ đói
nghèo từ 8,5 - 9%
Trang 241.2.3 Trình độ dân trí:
Thái Bình là tỉnh có duy nhất một dân tộc kinh, do đó trình độ nhận thức và dân trí rất tương đồng đều, trình độ dân trí cao, do đó Thái Bình luôn đi đầu trong các thời đại từ chống giặc ngoại xâm đến phát triển kinh tế thông qua các tiêu chí cụ thể sau:
- Thái độ của người dân đối với các thiết chế văn hoá của địa phương
- Nhu cầu hưởng thụ văn hoá và nghệ thuật
- Nếp sống nông thôn qua việc tác động của cơ chế thị trường
- Mối quan hệ giữa gia đình, họ mạc về vấn đề xây dựng gia đình văn hoá
- Mối quan hệ giữa các cộng đồng để xây dựng gia đình văn hoá
1.2.4 Các thiết chế nông thôn tại Thái Bình
Thái Bình được thành lập từ năm 1890, hơn 100 năm qua dưới các triều đại đều
đưa ra các thiết chế về làng xã để quản lý Từ hoà bình lập lại đến nay, khu vực nông thôn Thái Bình nói riêng và cả nước nói chung cũng áp dụng nhiều thiết chế quản lý như sau (xem bảng 11):
a Sau cách mạng tháng 8/1945, Bộ máy chính quyền của ta dưới xã có chức danh trưởng thôn, trưởng xóm (Miền Bắc), trưởng ấp (Miền Nam), trưởng bản (ở Miền núi) Trưởng thôn, trưởng xóm đã có nhiều tác dụng trong kháng chiến
b Năm 1958 mô hình hợp tác xã phát triển, kinh tế tập thể trở thành nòng cốt dẫn đến thành lập nhiều đội sản xuất ở thôn, ở xóm Năm 1962, Chính phủ có Thông tư số 61/CP ngày 9/5/1962 về cải tiến tổ chức lề lối làm việc của chính quyền cấp xã
và Bộ nội vụ có công văn số 30/CV-BNV ngày 25/5/1967 quy định bãi bỏ chức danh trưởng thôn, trưởng xóm Lúc này, nhiều hợp tác xã nông nghiệp phát triển lên quy mô toàn thôn, một số lên quy mô xã thì vai trò của đội sản xuất càng trở nên quan trọng, hai chức năng quản lý hành chính và điều hành sản xuất đều do đội trưởng sản xuất đảm nhiệm, mô hình này kéo dài 30 năm từ 1958 đến 1988
c Từ năm 1988 sau khi có khoán 100, đặc biệt là khoán 10 (1988) theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khoá VI về đổi mới kinh tế nông nghiệp, Ban quản lý hợp tác xã và đội trưởng đội sản xuất không còn vai trò như trước, việc quản lý dân cư và truyền đạt chính sách, pháp luật tới dân rất khó khăn Để khắc phục tình trạng trên, nhiều địa phương khôi phục chức thôn, xóm Tại Thái Bình, UBND tỉnh có quyết
định số 54/QĐ-UB ngày 5/3/1999 ban hành quy định về tổ chức xóm, chức năng, nhiệm vụ của trưởng xóm Theo quyết định này, xóm là một khu vực dân cư, được hình thành theo địa lý tự nhiên có quy mô dưới 500 khẩu, từ 500 - 1000 khẩu và trên
1000 khẩu Xóm không phải là một đơn vị hành chính, có chức năng giúp UBND xã, hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi quyền hạn được giao về quản lý hành chính, kinh tế - xã hội trên địa bàn dân cư của mình
Trang 25Theo quyết định số 551/1998/QĐ-UB ngày 5/10/1998 của UBND tỉnh Thái Bình về việc thành lập và chia tách điều chỉnh tổ chức xóm do UBND tỉnh quyết
định
Tổ chức xóm là một mô hình mới, lúc đầu hoạt động chưa hoàn chỉnh, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, hoàn chỉnh, bổ xung củng cố hoàn thiện Hiện nay, tại Thái Bình có 2716 xóm, so với 3389 đội sản xuất trước đây chiếm 80,14% trong đó có
577 xóm nguyên là thôn cũ và được chia làm ba cấp xóm (xem bảng 11)
- Xóm loại I trên 1000 khẩu chiếm 5,22%
- Xóm loại II từ 500 - 1000 khẩu, chiếm 57,40%
- Xóm loại III nhỏ hơn, 500 khẩu chứa 3,33%
Mỗi xóm có một chi bộ Đảng, tổ Mặt trận tổ quốc Việt Nam, chi đoàn thanh niên, chi hội phụ nữ, chi nội nông dân, chi hội cựu chiến binh, tổ hoà giải, nhiều xóm có tổ an ninh từ 3 - 5 người
Mỗi xóm có một trưởng xóm do chi bộ Đảng giới thiệu để các hộ trong xóm bầu
ra bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc giơ tay, cuộc họp xóm phải được 2/3 số hộ trong xóm tham gia, nhiệm kỳ của trưởng xóm là 5 năm hai nhiệm kỳ Chế độ chính sách đối với trưởng xóm 100.000đ/tháng không phân biệt quy mô
- Đánh giá tình hình hoạt động của xóm và trưởng xóm:
Sau một thời gian hoạt động của tổ chức xóm và trưởng xóm như hiện nay được khẳng định là phù hợp, gọn nhẹ, dễ quản lý và điều hành, huy động được sự tham gia, đóng góp của nhân dân, tổ chức họp hành, vận động đôn đốc, đóng góp nghĩa
vụ đối với nhà nước, tập thể cộng đồng dân cư
Bảng 11: Cơ cấu xóm tại các huyện thị địa bàn tỉnh Thái Bình
Chia ra STT Tên huyện,
thị
Tổng số đội SX trước khi có nghị quyết 54/NQ-UB
Tổng
số xóm (trên 1000 Xóm loại I
khẩu)
Xóm loại II (từ 500-1000 khẩu)
Xóm loại III (<500 khẩu)
Trang 26- Những hạn chế, nhược điểm và nguyên nhân tồn tại:
+ Về quy mô xóm: có 2.574/2.716 xóm có cơ số dân < 1000 khẩu chiếm 94,78% tổng số xóm, nhiều xóm quy mô < 100 khẩu, vì nhiều xóm nhỏ, Đảng viên
ít, nhiều xóm không có đảng viên nên việc tổ chức họp giới thiệu nhân sự trưởng xóm, việc huy động đóng góp huy động sức người, sức của, đường, trường, trạm liên thôn xóm, công trình phúc lợi làng xã, tổ chức hoạt động văn hoá, xây dựng hương
Từ những lý do khách quan nêu trên, theo chủ trương của nhà nước, Thái Bình
đã xây dựng mô hình tổ chức thôn nằm trong hệ thống quản lý hành chính ở Thái Bình thời kỳ 2000 - 2010
d Mô hình tổ chức thôn ở Thái Bình
- Cơ sở nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức thôn ở Thái Bình
Việc xây dựng mô hình tổ chức thôn ở Thái Bình được đúc rút từ những kinh nghiệm của hơn 10 năm tổ chức thực hiện mô hình tổ chức xóm, những quy chế về
tổ chức thôn của Chính phủ Tại Thái Bình từ nhiều năm nay thôn thường trùng với làng, mỗi làng có vài xóm So với xóm thôn, có bề dày văn hoá, có tính ổn định cao,
có mối quan hệ chặt chẽ về lãnh thổ, kinh tế, văn hoá, quan hệ họ hàng, những đặc trưng này có không đầy đủ hoặc không có các tổ chức xóm hiện nay Vì vậy, xây dựng mô hình tổ chức thôn, chúng ta cần nghiên cứu các tiêu chí sau:
+ Đặc trưng về huyết tộc: Từ lâu quan hệ huyết tộc có vai trò trong việc hình thành các làng xã đầu tiên như Lê xá, Đặng xá, Nguyên xá chiếm 10%
+ Đặc trưng địa lý, kinh tế: Từ xưa đã lấy đặc trưng của địa lý để quy định đơn
vị cơ sở Theo triết tự của chữ Hán thì đơn vị bộ thổ là của đồng bằng bộ thuỷ là ven sông, bộ thị là ở thị tứ, bộ sơn là ở vùng núi Điều đó nói lên đặc trưng về địa lý kinh
tế vô cùng quan trọng đối với việc quy hoạch điều chỉnh dân cư
+ Đặc trưng về văn hoá: ở Thái Bình các làng đều có thờ Thành hoàng bản thổ
để quản trị về tâm linh Thường mỗi làng có một đình, một chùa, hoặc một trung tâm văn hoá cộng đồng thường được kiến trúc Tiền Thần, hậu phật Việc xây dựng
tổ chức thôn dựa trên cơ sở đặc trưng văn hoá là cần thiết và đúng quy luật
+ Đặc trưng chính trị: Đây là đặc trưng bao hàm nhất, mặc dù có khác nhau về yếu tố địa lý, kinh tế, văn hoá, dân cư, nhưng cần có đơn vị hành chính với quy mô thích hợp, phương thức quản lý thích hợp, thể hiện rõ tính giai cấp của chế độ chính
Trang 27trị, bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nó quy
định quy mô, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động
Như vậy, từ khi xuất hiện đội sản xuất từ 1958 kéo dài 30 năm đến năm 1988, nhất là khi nhà nước có chủ trương xoá bỏ chứ danh trưởng thôn, trưởng xóm năm
1962, thì vai trò của thôn vẫn tồn tại, và hoạt động không ngừng Qua điều tra xã hội học, thì 73% số người được hỏi đồng ý mô hình tổ chức thôn thay mô hình tổ chức xóm hiện nay Đồng thời có 94,74% ý kiến đề nghị xây dựng mô hình tổ chức thôn hiện nay là cần thiết, khách quan, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và quản lý nông thôn hiện nay phù hợp với thiết chế dân chủ tại Nghị định số 29/NĐ-
CP ngày 11/5/1998 và Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 19/6/1998 về việc xây dựng hương ước làng xã của Thủ tướng Chính phủ
Như vậy, hơn 40 năm thay đổi từ thôn đến đội sản xuất, rồi quy lại xóm đến nay, kể từ năm 2000, Thái Bình lại quay trở lại thiết ché thôn ở nông thôn đồng thời quy định có 3 mức: thôn loại I có quy mô dân số < 1000 khẩu, có 459 thôn chiếm 38,81%, thôn loại II có quy mô dân số từ 1000 - 2000 khẩu, bao gồm 470 thôn chiếm 39,79%, thôn loại III có quy mô dân số > 2000 khẩu có 252 thôn chiếm 21,33% Người ta cũng quy định cụ thể việc đặt tên thôn, xác định vai trò, vị trí của thôn cùng chức năng nhiệm vụ của trưởng thôn
1.2.5 Các thị tứ, trung tâm xã:
a Các thị tứ trên địa bàn tỉnh Thái Bình (xem bản đồ quy hoạch đô thị và
công nghiệp của tỉnh Thái Bình tỷ lệ 1:200.000)
- Các tiêu chí về thị tứ trên địa bàn tỉnh Thái Bình
+ Là một địa điểm tập trung dân cư, trên các trục đường giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã có quy mô dân số > 2000 khẩu
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm trên 50% tổng số lao động hiện có và là nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, sản xuất hàng hoá của địa bàn, có nhân
tố đô thị
+ Cơ sở hạ tầng, đô thị cơ bản được hình thành và hoàn thành ở các trục chính + Về kinh tế: có mức sống bình quân cao hơn mức bình quân trong khu vực lân cận và đã hình thành lối sống đô thị
- Danh mục các thị tứ trên địa bàn tỉnh Thái Bình (xem bản đồ)
Sở Xây dựng Thái Bình đã phối hợp với UBND các huyện để điều tra nghiên cứu đưa ra 61 điểm dân cư để quy hoạch thành thị tứ giai đoạn 2000-2010 (xem bảng đồ thị tứ)
Trang 28+ Huyện Thái Thụy: 8 điểm
+ Huyện Tiền Hải: 8 điểm
+ Huyện Kiến Xương: 7 điểm
Về mặt địa giới, một số thị tứ nằm gọn trong địa giới hành chính của một xã trực tiếp do UBND xã quản lý Một số thị tứ nằm trong phạm vi 2 đến 3 xã, khi quy hoạch thị tứ được phê duyệt viẹc quản lý xây dựng nằm ở địa giới xã nào thì xã đó quản lý theo quy chế thống nhất và quản lý xây dựng đô thị
1.2.6 Các hoạt động giáo dục - văn hoá, y tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình
a Các hoạt động giáo dục: Theo báo cáo của ngành giáo dục và tài liệu niên
giám thống kê năm 2001, toàn tinỉh Thái Bình có 285 xã phường thì cả 285 xã phường có trường tiểu học và trung học cơ sở, có 818 huyện thị đã hoàn thành đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục phổ thông cơ sở, đã có 285/285 xã phường đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, có 275/285 xã phường hoàn thành chương trình phổ cập cơ sở Ngoài ra cần kể đến giáo dục trung học chuyên nghiệp, đại học cao đẳng, đào tạo công nhân kỹ thuật khu vực nhà nước phát triển rất tốt cả về số lượng và chất lượng Để đánh giá về giáo dục của Thái Bình cho ngành giáo dục khi mà 100% các trường từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông đều được xây cao tầng khang trang và đẹp
b Các hoạt động văn hoá: Cả tỉnh có một trung tâm văn hoá, 8/8 huyện thị
đều có trung tâm văn hoá và 3 đoàn nghệ thuật Khi nói đến các hoạt động văn hoá của một tỉnh, cần đề cập đến hệ thống thư viện, cho đến nay ở Thái Bình có 10 thư viện lớn nhỏ, với số sách có trong thư viện khoảng 300.000 cuốn, ngoài ra các xã trong toàn tỉnh có tủ sách pháp luật và khoa học kỹ thuật
c Các hoạt động y tế: Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Thái Bình có 18 bệnh
viện, 1 viện điều dưỡng, 10 phòng khám khu vực, một trại phong và 288 trạm y tế xã phường, nâng tổng số giường bệnh là 1980 giường với 4486 cán bộ y tế Ngoài các cơ sở khám chữa bệnh, Thái Bình còn làm rất tốt công tác chăm sóc sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, hoạt động bảo vệ bà mẹ trẻ em, nuôi dạy trẻ
1.2.7 Các hoạt động về thể chế quản lý (hương ước, luật tục)
Trang 29Cũng như nhiều địa phương trên cả nước, Thái Bình khi chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập trung quan liêu bao cấp với đội sản xuất là đầu mối chỉ đạo 30 năm từ
1958 - 1988, khi khoán 10 ra đời, đội sản xuất được thay thế bằng xóm, rồi từ xóm
do đòi hỏi của thực tế, sự biến động của cơ chế thị trường xóm đến nay được thay thế bằng thôn Khi chuyển đổi cơ chế, đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở thay đổi theo, đòi hỏi các hoạt động về thể chế quản lý cũng thay đổi
Từ năm 1990, bắt đầu bỏ vai trò của đội sản xuất, chuyển sang mô hình tổ chức xóm, chức năng quyền hạn của trưởng xóm được quy định tại quyết định số 54/QĐ-
UB và quyết định số 242/QĐ-UB ngày 5/6/1997 của UBND tỉnh Thái Bình Tổ chức xóm đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phù hợp với thiết chế dân chủ quy định tại Nghị định
số 29/1998/QĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ, Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy
ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện cải cách hành chính nhà nước theo tinh thần Nghị quyết TW 3 khoá 7, Nghị quyết 16 của tỉnh Đảng bộ Thái Bình , nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về việc đổi mới tổ chức, giảm đầu mối trong quản lý, kiện toàn hợp lý bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước ở cơ sở phù hợp với mô hình hợp tác xã theo luật hợp tác xã, khắc phục những thiếu sót của mô hình tổ chức xóm, đến nay tại Thái Bình đã xây dựng mô hình quản lý theo thôn, đã được trình bày ở trên
Từ mô hình đội sản xuất chuyển sang xóm, từ xóm chuyển sang thôn, đến nay thôn hành chính được lập lại trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tạo nên những động lực làm thúc đẩy những tiềm năng văn hoá làng, nếu định hướng đúng, thì các hoạt động văn hoá truyền thống sẽ làm người dân nông thôn phát huy những nhân tố tích cực, khơi dậy các hương ước, luật tục có giá trị phục vụ về văn hoá còn góp phần cho các thể chế quản lý được tốt hơn, đó là:
- Thái độ của người dân đối với thiết chế văn hoá địa phương:
Dấu ấn văn hoá của một quốc gia hay một cơ sở được biểu hiện qua các thiết chế văn hoá, như đình, chùa, đền, miếu là những thiết chế văn hoá chung của cộng
đồng, làng xã cổ truyền Việc người dân giữ gìn, tự hào về ngôi đình, mái chùa, nhà thờ, không chỉ là nơi diễn ra các nghi thức tín ngưỡng, tôn giáo, hội hè, mà nó còn
có giá trị về lịch sử, văn hoá, giáo dục, kiến trúc Trong nông thôn, đình, chùa, đền
được sử dụng cho các hoạt động văn hoá mới Vì thế, hiện nay nhiều lễ hội đình chùa đựơc lập lại, nhiều hương ước làng xã, dòng họ từ đây được lập lại giúp cho công tác quản lý, cũng như khuyến khích con em học tập, xây dựng quê hương
- Nhu cầu hưởng thụ văn hoá - nghệ thuật của người dân nông thôn Thái Bình : Qua công tác điều tra, đến nay vùng nông thôn Thái Bình đã dẫn đầu cả nước về
hệ thống điện - đường - trường - trạm đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn Bên cạnh
đó việc cung cấp nước sạch - vệ sinh môi trường rất tốt, 60% số dân ở nông thôn
được dùng nước sạch, 32% số hộ có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn, 85% số hộ ở nông thôn có ti vi, 90% có đài, 100% số hộ có điện thắp sáng
Trang 30- Nếp sống nông thôn trước biến động của kinh tế - xã hội: Đi cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, mức sống tinh thần văn hoá được nâng lên, song xuất hiện nhiều việc cưới, việc tang chạy theo văn hoá tiêu thụ, lợi nhuận, thiếu lành mạnh
- Vấn đề quan hệ gia đình và họ mạc và vấn đề xây dựng gia đình văn hoá: Trong nông thôn hiện nay, do tác động của cơ chế thị trường cũng diễn ra chuyển đổi quan trọng về văn hoá, về cuộc sống gia đình, trước hết là kết cấu gia
đình, các chuẩn mực về truyền thống, quan hệ họ hàng, làng xóm là cơ sở xây dựng các thiết chế gia đình, làng xã để quản lý xã hội
Từ các thể chế quản lý, ngày nay để các hương ước liên tục mới bao gồm:
* Làng văn hoá bao gồm các mặt sau:
- Xây dựng quy ước nếp sống văn hoá trong cộng đồng làng Đây là quy ước về nếp sống văn hoá bao hàm nếp ăn, ở, đi lại, lao động, ứng xử trong làng
- Xây dựng gia định văn hoá: hoà thuận, đoàn kết xóm giềng, làm kinh tế giỏi
- Tổ chức các hoạt động thông tin thể thao của làng, khai thác các tiềm năng văn hoá
Tất cả các hoạt động nêu trên phục vụ cho công tác quản lý xã hội của làng, xã…
- Tổng giá trị sản xuất ngành nông - lâm - ngư đạt 4060,40 tỷ đồng Việt Nam tăng 2,6% so với năm 2000 Trong đó: nông nghiệp tăng 1,6%, thủy sản tăng 17%
- Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng đạt 220.532 ha, tăng không đáng kể so với năm 2000 Trong đó diện tích cấy lúa tăng 0,1%, diện tích các cây lương thực
đều giảm Diện tích cây công nghiệp giảm 2,89%, diện tích cây thực phẩm tăng 8,1% so với năm 2000
- Sản xuất lương thực: Cơ cấu giống lúa tiếp tục được đổi mới, theo hướng tiến
bộ, nhưng chưa đều giữa các huyện Vụ xuân, tỷ lệ lúa xuân muộn đạt 65,5%, trong
đó lúa lai đạt 24,47% Tỷ lệ lúa xuân sớm giảm còn 34,4% Năng suất lúa xuân đạt bình quân 64,4 tạ/ha Sản lượng đạt 555.845 tấn Vụ mùa do mưa nhiều cuối vụ, sâu bệnh nặng, diện tích bị chuột phá 9% nên năng suất đạt 50,1 tạ/ha, sản lượng đạt 438.104 tấn Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 1.013.000tấn, trong đó thóc đạt 993.920 tấn
- Về chăn nuôi: Đàn trâu bò có 69.360 con tăng 1,24% trong đó đàn bò là 58.840 con tăng 2,56%, riêng bò lai Sind có 12.375 con tăng 4,3% so với cùng thời
Trang 31kỳ năm trước Đàn lợn 776.000 con tăng 12,33%, trong đó lợn nái tăng 9,56%, lợn thịt tăng 13,25% , sản lượng thịt xuất chuồng 57.000tấn
- Về thuỷ sản: Năm 2001, sản lượng ước đạt 43.080 tấn trong đó thủy sản khai thác 22.600 tấn, bao gồm mặn lợ đạt 19.460 tấn, tăng 8% Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 9.493 ha, sản lượng nuôi trồng ước đạt 20.480 tấn, trong đó mặn lợ đạt 9.492 tấn, tăng 3,4%, sản lượng nuôi tôm mặn lợ đạt 972 tấn tăng 67,6% so với năm 2000
b Các hoạt động về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Thái Bình hiện nay có 5 khu công nghiệp, đó là khu công nghiệp Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Tiền Phong (3 khu vực này thuộc thị xã), khu công nghiệp khí
mỏ Tiền Hải, khu công nghiệp Diêm Điền, nâng tổng diện tích khu công nghiệp của Thái Bình lên 600 ha, đang thu hút 21 dự án đầu tư trong và ngoài nước, tập trung chủ yếu là các ngành vật liệu xây dựng, dệt may, lương thực, thực phẩm, đưa giá trị sản xuất công nghiệp năm 2001 đạt 1627 tỷ đồng tăng 14,02% so với năm 2000 Trong đó khu vực quốc doanh đạt 442,56 tỷ đồng tăng 14,4%, khu vực ngoài quốc doanh đạt 1165 tỷ tăng 12% so với năm 2000
Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, Thái Bình hiện nay có hơn 100 làng nghề xã nghề, chính sách phát triển nghề và làng nghề đã khuyến khích các doanh nghiệp
đầu tư, thu hút hàng nghìn lao động, tạo giá trị sản xuất đạt 565 tỷ đồng tăng 17,2%
so với cùng kỳ năm trước
c Các hoạt động thương mại và dịch vụ:
Các hoạt động dịch vụ phát triển khá, lưu thông trên thị trường trong tỉnh tương
đối ổn định, đáp ứng yêu cầu của nhân dân
- Du lịch tăng 2,1%
- Dịch vụ bưu điện tăng 56,6% ,số máy điện thoại đạt 1,8máy/100 người dân
- Giá trị xuất khẩu đạt 21,5 triệu USD, tăng 1,5% so cùng kỳ năm trước
- Xuất khẩu thịt lợn sữa tăng 20,2%, may mặc, thêu ren đều tăng
Bảng 12: Cơ cấu tổng sản phẩm trên toàn tỉnh phân theo khu vực kinh tế
(giá trị hiện hành - đơn vị tính %) Khu vực kinh tế Năm 2000 Năm 2001
Nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản 54,06% 51,51%
Công nghiệp và xây dựng 15,02% 16,09%
Trang 322.1
Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên
2.1.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất và hệ thống canh tác ở Thái Bình (xem bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 tỷ lệ 1:200.000 và bảng 13, 14)Theo tài liệu thống kê (01-10-2001), diện tích đất tự nhiên của tỉnh Thái Bình là 154.351,43 ha, của huyện Đông Hưng là 19.835 ha, dân số trung bình 1.814.485 người, mật độ dân số 1176 người/km2 Về mặt hành chính, toàn tỉnh có một thị xã
được xếp đô thị loại 3 cùng 7 thị trấn của 7 huyện thị trong toàn tỉnh, 7 phường và
271 xã, 277 hợp tác xã nông nghiệp cùng hơn 9000 điểm dân cư
Trang 34Bảng 13: Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Thái Bình
Chia theo các đơn vị hành chính huyện, thị xã
Loại đất
Tổng diện tích địa giới hành chính
Thị xã Thái Bình Quỳnh Phụ Hưng hà Thái Thụy
Đông Hưng Vũ Thư
Kiến Xương Tiền hải Tổng diện tích tự nhiên 154.351,43 4.330,47 20.733,81 20.032,92 25.683,20 19.835,06 19.843,24 21.037,66 22.585,07
I Đất nông nghiệp 103.995,43 2.641,47 14.845,74 13.981,5 16.680,05 14.603,76 13.264,57 14.751,66 13.227,01
1.Đất trồng cây hàng năm 93.775,00 2332,23 13.327,5 12.668,02 15.105,2 13.521,08 11.466,48 1347,04 11.881,95 1.1 Đất ruộng lúa, hoa mầu 88.445,08 2,176,51 12.532,27 11.466,53 14.639,5 13.381,82 9.565,41 13.207,89 11.475,75 1.2 Đất trồng cây hàng năm
Trang 355 Đất quốc phòng và an ninh 88,70 12,85 4,6 1,29 9,38 5,68 2,68 3,05 49,17
6 Đất khai thác khoáng sản 7,2 0,0 0,0 0,0 3,59 1,02 0,89 0,0 1,7
7 Đất làm nguyên vật liệu
xây dựng
150,64 5,55 9,01 28,68 55,.6 9,14 11,82 20,98 9,86
8 Đất làm muối 208,32 0,0 0,0 0,0 110,97 0,0 0,0 0,0 97,35
9 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 1.561,79 39,31 183,93 264,02 335,98 194,9 230,57 185,0 146,08
10 Đất chuyên dụng khác 82,53 7,10 12,72 2,52 12,27 0,26 5,95 1,90 39,81
IV Đất ở 12.445,32 541,33 1.478,03 1.611,90 2038,58 1707,12 1.670,58 1.746,33 1.651,45
1 Đất đô thị 326,31 139,72 19,93 48,82 44,94 10,18 22,16 13,71 26,75
2 Đất nông thôn 12.119,11 401,61 1.458,10 1.563,08 1993,64 1.696,94 1.648,42 1.732,62 1.624,7
V Đất ch−a sử dụng 9.431,61 201,79 561,75 916,33 1.266,51 325,35 1.819,41 1.179,57 3.133,93
1 Đất bằng ch−a sử dụng 3.228,86 50,42 165,85 66,37 497,31 49,7 156,97 339,34 2022,27
Trang 36Từ bảng trên, chúng ta thấy rằng, đất dùng trong nông nghiệp chiếm 67,375% so với tổng diện tích đất tự nhiên, tức là 2/3 diện tích tự nhiên của toàn tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuốc trừ sâu và phân hoá học trong nông nghiệp Tuy nhiên 67,375% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, diện tích dùng vào mục đích nông nghiệp này, lại được
bố trí các loại cây trồng khác nhau Trong tổng số 103.995,70 ha dùng vào mục đích nông nghiệp, thì 93.775ha là đất trồng cây hàng năm chiếm 92%, từ con số này cảnh báo rằng có hơn 90% đất dùng vào mục đích nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của thuốc trừ sâu và phân hoá học
Bảng 14: Hiện trạng sử dụng đất canh tác hàng năm trên địa tỉnh Thái Bình
TT Cơ cấu cây trồng trên đất canh tác
hàng năm tại Thái Bình
Tổng diện tích (ha)
Diện tích từng loại (ha)
Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất canh tác 93.775,60
1 Ruộng hai vụ lúa+Một vụ năm 4.512 4,80
2 Ruộng hai vụ lúa thuần 69.289 74,00
3 Ruộng một vụ lúa + Một vụ màu 3.047 3,20
4 Ruộng một vụ lúa 10.812 11,50
II Đất chuyên mầu và cây công nghiệp 5.078 5,54
3 Cây công nghiệp dâu tằm 619 0,69
4 Cây công nghiệp cây mía 85 0,09
5 Cây công nghiệp cây đay 1.503 1,60
IV Đất chuyên trồng cói 494 0,52
2.1.2 Hiện trạng sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Thái Bình:
Cũng như nhiều tỉnh của đồng bằng sông Hồng về tài nguyên nước của tỉnh Thái Bình theo số liệu thống kê có 3 nguồn chính như sau (xem bảng 15)
Trang 37B¶ng 15: Tæng hîp hiÖn tr¹ng c«ng tr×nh cÊp n−íc n«ng th«n ë Th¸i B×nh n¨m 2000
TT TØnh/huyÖn D©n sè
CÊp n−íc tËp trung
Trang 38a Nguồn nước mưa: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa
bình quâ hàng năm 1700-1800mm, chia ra hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm Nước mưa trong vùng có độ khoáng hoá nhỏ, dao động từ 30-160mg/l, dựa vào nồng độ sol khí và khối lượng nước mưa trong khí quyển, có thể nhận xét
độ khoáng hoá của nước mưa thay đổi theo mùa Vào mùa khô, độ khoáng hoá của nước mưa cao hơn nhiều, do nồng độ của sol khí trong nước mưa giảm Thành phần hoá học trong nước mưa bao gồm các ion như Cl-, SO4-, NH3-, NO3-, K+, Na+, Ca2+ Nhìn chung nguồn nước mưa của tỉnh Thái Bình chưa bị nhiễm mặn và nhiễm bẩn Hiện nay vào mùa mưa, một lượng lớn nước mưa trực tiếp tưới cho cây trồng, bổ xung vào các dòng nước mặt, dòng ngầm Còn lại được hầu hết nhân dân xây dựng
bể từ 3 - 5 m3, nhiều gia đình có bể 10 - 15m3, đủ nước mưa ăn quanh năm
b Nguồn tài nguyên nước mặt: Như phần địa lý chúng tôi đã trình bày, Thái
Bình có 5 con sông lớn chảy qua với tổng chiều dài khoảng 250km, cùng 11.000 ha
ao, hồ, sông ngòi Chỉ tính riêng sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình là hai hệ thống sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam, hai con sông này trung bình hàng năm đổ
ra biển 122.109m3 nước và 120.106 tấn phù sa, trong đó tính riêng sông Hồng có lưu lượng 114.109 m3/năm, sông Thái Bình 8.109m3/năm Toàn bộ lượng nước trên đổ ra biển phía Thái Bình qua 5 cửa sông thuộc 2 huyện Tiền Hải và Thái Thuỵ đó là sông Hồng, cửa Lân, cửa Trà Lý, cửa Diêm Điền và cửa Thái Bình Nước chảy ra biển, qua cửa sông Ba Lạt trung bình hàng năm từ 28.109m3 và qua cửa Thái Bình 4.109m3, sông Trà Lý 10.109 - 12.109m3 Hiện nay tài nguyên nước mặt đang bị khai thác nhiều nhất, 80% tài nguyên nước mặt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, hiện nay do nước ngầm bị nhiễm mặn, nên tài nguyên nước mặt còn được khai thác phục vụ sinh hoạt như nhà máy nước của thị xã Thái Bình, nhà máy nước các thị trấn
Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Diêm Điền và nhiều nhà máy nước mini trên phạm
vi toàn tỉnh Tóm lại tài nguyên nước mặt trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Đông Hưng nói riêng hiện nay đang được khai thác chủ yếu phục vụ cho sản xuất tưới nông nghiệp ngoài ra còn được sử dụng vào sinh hoạt qui mô các nhà máy của địa phương Song trên thực tế nguồn nước mặt ở Thái Bình đang bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân sau:
- Từ thượng nguồn sông Hồng, sông Thái Bình mang ô nhiễm về đây bởi dòng nước
- Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp trên phạm vi toàn tỉnh không xử lý, thải trực tiếp vào dòng mặt
- Ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân hoá học…
c Hiện trạng khai thác tài nguyên nước ngầm trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Toàn bộ thành tạo địa chất, địa chất thủy văn trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Đông Hưng nói riêng đều có khả năng tàng trữ nước dưới đất Như
đã mô tả chi tiết ở trên, trên quan điểm địa chất, địa chất thủy văn đã phân chia vùng
Trang 39nghiên cứu thành 8 phân vị chứa nước và cách nước từ tuổi Holoxen đến Neogen Song đặc điểm của từng địa bàn của tỉnh Thái Bình, việc khai thác nước ngầm ở các
độ sâu khác nhau
- Tại thị xã Thái Bình, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và Thái Thuỵ nước ngầm tầng sâu bị nhiễm mặn, vì vậy các giếng khoan kiểu UNICEF của nhân dân thuộc vùng này đều tập trung khai thác nước trong hệ tầng Thái Bình, tầng này phân bố từ mặt đất đến độ sâu khoảng 15m, đất đá chứa nước là cát - bột, khả năng chứa nước kém chỉ có giá trị cung cấp quy mô gia đình, chất lượng nước kém, hàm lượng sắt cao, dễ gây ô nhiễm Theo số liệu điều tra năm 2002, thì số lượng giếng khoan khai thác tầng nông tập trung vào địa bàn thị xã, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thuỵ khoảng 60.000 giếng khoan, chiếm 50% số giếng khoan nước ngầm trên địa bàn tỉnh Thái Bình
- Tại các địa bàn còn lại là huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng nước ngầm
ở đây không bị nhiễm mặn, nên phần lớn giếng khoan khai thác nước tập trung chủ yếu vào tầng cát, cuội, sỏi ở độ sâu 70 - 80m, một số sâu hơn Đây là tầng chứa nước
có trữ lượng lớn, chất lượng đảm bảo, có thể cung cấp cho các thị trấn như Quỳnh Côi, Hưng Hà Số giếng khoan khai thác nước ngầm vào tầng này tại 3 huyện còn lại khoảng 60.000 giếng, nâng toàn bộ giếng khoan ở Thái Bình tính đến năm 2002 khoảng 120.000 giếng, đưa tổng số người dân dược dùng nước sạch ở khu vực nông thôn là 60%
Nhận xét: Việc khai thác nước ngầm bừa bãi như hiện nay ở Thái Bình với
120.000 giếng khoan sẽ không tốt, dễ làm ô nhiễm nguồn nước ngầm ở dưới sâu và dẫn đến lãng phí, cạn kiệt tài nguyên
Tóm lại, về tài nguyên nước ở Thái Bình có 3 nguồn chính, mỗi nguồn đều đang khai thác ở mức độ khác nhau, có thể tóm tắt như sau:
- Hiện trạng nước mưa đang được khai thác quy mô gia đình bằng việc xây bể hứng và lưu trữ, nhược điểm là không tích trữ qua đông và lúc hạn hán
- Nước ngầm ở Thái Bình rất phong phú, song một số huyện như thị xã, Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thuỵ tập trung khai thác tầng nông từ 15 - 20 m, còn
Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ khai thác tầng sâu từ 70 -80m Tính đến năm
2002, toàn tỉnh khoan được 120.000 giếng khoan, đây là một tín hiệu không tốt
- Nguồn tài nguyên nước mặt ở Thái Bình rất phong phú, hiện nay đang bị khai thác một cách triệt để phục vụ tưới tiêu nông nghiệp và các nhà máy nước thị xã, các huyện, ngoài ra ở Thái Bình còn nguồn tài nguyên nước mặn, lợ đang được khai thác nuôi trồng thủy sản
2.1.3 Hiện trạng khai thác tài nguyên rừng ngập mặn
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, không có đồi núi, vì vậy tài nguyên rừng ở Thái Bình chỉ có rừng ngập mặn ven biển thuộc hai huyện Tiền Hải và Thái Thuỵ Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Thái Bình mang đầy đủ yếu tố thực vật vùng triều, thực vật vùng ven bờ, thực vật ngập mặn, thực vật phụ cận sau đới ngập
Trang 40triều, thảm thực vật trong hệ sinh thái cỏ biển Những yếu tố này đóng vai trò quyết
định tới môi trường sống và còn là nguồn tài nguyên kinh tế đa lợi nhuận Đặc trưng
hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Thái Bình về quy mô diện tích cả hai huyện khoảng 10.000ha, chủ yếu là rừng trồng, rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn khoảng 500ha rừng bần nguyên sinh, vì vậy nó rất nghèo nàn về chủng loại
a Thảm thực vật tự nhiên: Quần xã rau muống biển và cỏ ơrô, che phủ 30%
diện tích các bãi cát, tiếp đến là rừng ngập mặn thứ sinh đang bị tác động rất mạnh Tại vùng ven biển Thái Bình, rừng nguyên sinh hiện nay còn rất ít khoảng 500ha chủ yếu là rừng bần, còn lại chủ yếu được trồng mói, trồng bổ sung Theo số liệu
điều tra năm 202, cả 2 huyện ven biển Thái Bình có 9.500ha rừng ngập mặn (Chủ yếu bần chua, sú, phi lao…)
b.Thảm thực vật trồng và canh tác: thảm thực vật trồng và canh tác phân bố
trong nội đồng và ngoài bãi triều
- Trong nội đồng chủ yếu là lúa nước, hoa mầu, cây ăn quả, cây lấy gỗ phân tán
- Ngoài bãi triều chủ yếu là rừng ngập mặn, cói, phi lao
Trong khuôn khổ báo cáo này chúng tôi chỉ đánh giá hiện trạng khai thác rừng ngập mặn của hai huyện ven biển Thái Bình như sau:
+ Giai đoạn trước những năm 1990 của thế ký 20 rừng ngập mặn ven biển Thái Bình phát triển rất tốt, được bảo vệ bởi lực lượng kiểm lâm và bộ đội biên phòng, mặt khác lúc bấy giờ chưa có phong trào làm đầm tôm tự phát
+ Giai đoạn từ 1990 đến 1995 thế kỷ trước, khi mà nhà nước có chủ trương phát triển kinh tế, trong đó có kinh tế ven biển, mọi người, mọi tổ chức kinh tế ven biển
đua nhau chặt rửng ngập mặn để làm đầm tôm quảng canh Hậu quả là sau một vài năm, cụ thể đến cuối năm 1995 đến 80% rừng ngập mặn hiện có của ven biển Thái Bình bị chặt phá, bị chết trong đầm, các loài thuỷ sinh, thủy sản giảm đi, chỗ trú
đông của các loài chim nước không còn, cơn bão số 2 và số 4 năm 1996 làm sạc lở nhiều đoạn đê biển ở Thái Bình rất nghiêm trọng
+ Từ năm 1996 đến nay do bài học phá rừng ngập mặn để lại hậu quả nghiêm trọng, được sự giúp đỡ của Hội chữ thập đỏ Đan Mạch, chương trình trồng rừng quốc gia 327 và 773 cũng như 5 triệu ha rừng, tại hai huyện ven biển đã trồng được gần chục nghìn ha rừng ngập mặn đã khép tán, từ đố đến nay, việc khai thác rừng ngập mặn được quản lý chặt chẽ hơn
+ Không còn tình trạng chặt phá rừng ngập mặn bừa bãi
+ Giao đất, giao rừng cho hộ nông dân quản lý, khai thác, tỉa cây làm củi, lá làm phân xanh, nuôi ong mật, tìm cua giống, chiết xuất tanin; Trồng được 1 ha rừng phía ngoài khép tán, cho phá để mở đầm tôm ở phía trong 2 ha
+ Khai thác qua con đường du lịch sinh thái
+ Một thực trạng hiện nay ở các huyện ven biển Thái Bình nói riêng, cả nước nói chung, trước nhu cầu của thị trường thủy hải sản, trước lợi nhuận khi mà chỉ cần