Kiểm tra viết là phương pháp kiểm tra phổ biến, được sử dụng đồng thời với nhiều HS cùng một một thời điểm, được sử dụng sau khi học xong một phần của chương, một chương hay nhiều chương[r]
Trang 1NGÂN HÀNG THẾ GIỚI DỰ ÁN HỖ TRỢ ĐỔI MỚI GDPT
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HS TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC
(Mô–đun 3.8) Môn Lịch sử Địa lí
HÀ NỘI, 2020
Trang 3BAN BIÊN SOẠN TÀI LIỆU
TS Nguyễn Thị Thu Thủy – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
PGS.TS Nguyễn Thị Tuyết Nga – Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Trang 4Table of Contents
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BAN BIÊN SOẠN TÀI LIỆU
A MỤC TIÊU
B NỘI DUNG CHÍNH
C HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG
D TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC
PHẦN 1 GIỚI THIỆU LÍ THUYẾT VÀ PHÂN TÍCH YÊU CẦU, QUY TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC
CHƯƠNG 1: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG MÔN LỊCH SỬ ĐỊA LÍ CẤP TIỂU HỌC
1.1 Phương pháp kiểm tra, đánh giá
1.1.1 Phương pháp kiểm tra viết
1.1.2 Phương pháp quan sát
1.1.3 Phương pháp hỏi đáp
1.1.4 Phương pháp đánh giá bằng hồ sơ học tập
1.1.5 Phương pháp đánh giá qua sản phẩm học tập
1.2 Hình thức kiểm tra, đánh giá
1.2.1 Đánh giá thường xuyên
1.2.2 Đánh giá định kì
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÔNG CỤ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP VÀ SỰ TIẾN BỘ CỦA HS TIỂU HỌC VỀ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC ĐỐI VỚI MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ
2.1 Xây dựng công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí
2.1.1 Câu hỏi
2.1.2 Bài tập
2.1.3 Đề kiểm tra
Trang 52.1.4 Sản phẩm học tập
2.1.5 Hồ sơ học tập
2.1.6 Bảng kiểm (checklist)
2.1.7 Thang đánh giá (rating scales)
2.1.8 Phiếu đánh giá theo tiêu chí (Rubrics)
2.2 Xây dựng câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực hs tiểu học đối với môn Lịch sử và Địa lí
2.2.1 Quy trình và kĩ thuật xây dựng câu hỏi, đề kiểm tra tự luận
2.2.2 Quy trình và kĩ thuật xây dựng câu hỏi, đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan
2.3 Xây dựng kế hoạch đánh giá trong một chủ đề
2.3.1 Phân tích yêu cầu cần đạt, xác định mục tiêu của chủ đề
2.3.2 Bảng kế hoạch kiểm tra, đánh giá trong chủ đề
2.3.3 Thiết kế và sử dụng công cụ đánh giá theo kế hoạch đã lập
CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ THEO ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỂ GHI NHẬN SỰ TIẾN BỘ CỦA HS VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
3.1 Quan niệm về đường phát triển năng lực
3.2 Đường phát triển năng lực đối với môn Lịch sử và Địa lí
3.3 Phân tích, sử dụng kết quả đánh giá theo đường phát triển năng lực đối với môn Lịch sử và Địa lí
3.3.1 Thu thập bằng chứng về sự tiến bộ của HS
3.3.2 Phân tích, giải thích bằng chứng
3.3.3 Báo cáo sự phát triển năng lực của cá nhân HS
3.4 Sử dụng kết quả đánh giá theo đường phát triển năng lực để ghi nhận sự tiến bộ của HS và đổi mới phương pháp dạy học đối với môn Lịch sử và Địa lí
3.4.1 Định hướng đánh giá kết quả hình thành, phát triển một số phẩm chất chủ yếu thông qua dạy học môn Lịch sử và Địa lí
3.4.2 Định hướng đánh giá kết quả hình thành, phát triển năng lực chung thông qua dạy học môn Lịch sử và Địa lí
Trang 63.4.3 Định hướng đánh giá kết quả hình thành, phát triển năng lực đặc thù trong
dạy học môn Lịch sử và Địa lí
PHẦN 2 CÁC VÍ DỤ MINH HỌA CÁC PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HS TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC
I Tài liệu minh họa 1
II Tài liệu minh họa 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7A MỤC TIÊU
Sau khi học mô - đun này, học viên có thể:
– Khái quát được những điểm cốt lõi về phương pháp, hình thức, kĩ thuật kiểm tra,đánh giá phát triển phẩm chất, năng lực HS;
– Lựa chọn và vận dụng được các phương pháp, hình thức, kĩ thuật kiểm tra,đánh giá phù hợp với nội dung và định hướng đường phát triển năng lực của HS;– Xây dựng được các công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và sự tiến bộcủa HS về phẩm chất, năng lực;
– Sử dụng và phân tích được kết quả đánh giá theo đường phát triển năng lực đểghi nhận sự tiến bộ của HS và đổi mới phương pháp dạy học môn học;
– Hỗ trợ đồng nghiệp phát triển về kiến thức, kĩ năng tổ chức kiểm tra, đánh giá
HS theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực
B NỘI DUNG CHÍNH
Phần 1: Giới thiệu lí thuyết và phân tích yêu cầu, quy trình, phương pháp kiểm tra, đánh giá HS tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực
– Chương 1: Sử dụng phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập
trong dạy học, giáo dục HS tiểu học môn Lịch sử – Địa lí.
– Chương 2: Xây dựng công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập và sự tiến bộcủa HS tiểu học về phẩm chất, năng lực đối với môn học, hoạt động giáo dục mônLịch sử – Địa lí
– Chương 3: Sử dụng và phân tích kết quả đánh giá theo đường phát triển nănglực để ghi nhận sự tiến bộ của HS và đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử – Địalí
Phần 2 Các ví dụ minh họa các phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá
HS tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực môn Lịch sử – Địa lí
C HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG
– Bồi dưỡng trực tiếp
– Bồi dưỡng qua mạng
D TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC
– Tài liệu đọc của Mô đun 3, môn Lịch sử và Địa lí
– Chương trình Giáo dục phổ thông môn Lịch sử và Địa lí 2018
– Video bài giảng tương ứng với các nội dung Mô đun 3 môn Lịch sử và Địa lí– Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá theo các nội dung
– Máy tính, máy chiếu nối mạng internet
Trang 8PHẦN 1 GIỚI THIỆU LÍ THUYẾT VÀ PHÂN TÍCH YÊU CẦU, QUY TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHƯƠNG 1: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG MÔN LỊCH SỬ ĐỊA LÍ CẤP TIỂU HỌC 1.1 Phương pháp kiểm tra, đánh giá
1.1.1 Phương pháp kiểm tra viết
Kiểm tra viết là phương pháp kiểm tra phổ biến, được sử dụng đồng thời vớinhiều HS cùng một một thời điểm, được sử dụng sau khi học xong một phần củachương, một chương hay nhiều chương, hoặc sau khi học xong toàn bộ chương trìnhmôn học, nội dung kiểm tra có thể bao quát từ vấn đề lớn có tính chất tổng hợp đếnvấn đề nhỏ, HS phải diễn đạt câu trả lời bằng ngôn ngữ viết
Phương pháp kiểm tra viết giúp cho người đánh giá thu được các chứng cứ về kếtquả học tập của người học thông qua các bài viết trên giấy hoặc trên máy Khi HS làmmột bài kiểm tra trắc nghiệm đa lựa chọn, hoàn thành một bài tập về nhà dạng viếtluận, viết một bản báo cáo, vẽ một bức tranh, viết một bài luận, hoặc điền vào mộtbảng ma trận ghi nhớ, bảng ma trận đặc trưng, tức là các em đang cung cấp cácchứng cứ trên giấy hoặc trên máy tính cho GV Phương pháp đánh giá này là có khảnăng đánh giá được năng lực tư duy bậc cao trong dạy học Lịch sử và Địa lí như phântích, tổng hợp, đánh giá, liên hệ thực tiễn,…
Xét theo dạng thức của bài kiểm tra có hai loại là kiểm tra viết dạng tự luận vàkiểm tra viết dạng trắc nghiệm khách quan
a) Phương pháp kiểm tra dạng tự luận
– Là phương pháp GV thiết kế câu hỏi, bài tập, HS xây dựng câu trả lời hoặc làmbài tập trên bài kiểm tra viết Một bài kiểm tra tự luận thường có ít câu hỏi, mỗi câuhỏi phải viết nhiều câu để trả lời và cần phải có nhiều thời gian để trả lời mỗi câu, nócho phép một sự tự do tương đối nào đó để trả lời các vấn đề đặt ra
– Câu tự luận thể hiện ở hai dạng:
+ Câu có sự trả lời mở rộng, là loại câu có phạm vi rộng và khái quát HS tự do
biểu đạt tư tưởng và kiến thức
+ Câu tự luận trả lời có giới hạn, các câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu
hỏi được nêu rõ để người trả lời biết được độ dài ước chừng của câu trả lời Bài kiểmtra với loại câu này thường có nhiều câu hỏi hơn bài tự luận với câu tự luận có sự trảlời mở rộng Nó đề cập tới những vấn đề cụ thể, nội dung hẹp hơn nên đỡ mơ hồ hơnđối với người trả lời; do đó việc chấm điểm dễ hơn và có độ tin cậy cao hơn
– Ưu điểm của phương pháp kiểm tra dạng viết tự luận: Trong cùng một thời
gian GV kiểm tra được một số lượng lớn HS, giúp thu được thông tin về kiến thức và
kĩ năng hoạt động trí tuệ của HS Do HS được kiểm tra trong những thời lượng, thờigian và điều kiện như nhau nên tạo điều kiện có được thông tin tương đối khách quan
Trang 9về kết quả học tập Câu hỏi tự luận có khả năng đo lường được các mục tiêu cần thiết
và đo lường tốt ở mức độ hiểu, tổng hợp, đánh giá Câu tự luận khi được soạn mộtcách cẩn thận có thể tạo điều kiện để HS bộc lộ khả năng suy luận, sắp xếp dữ kiện,khả năng phê phán, đưa ra những ý kiến mới Việc chuẩn bị câu tự luận không quá khókhăn và mất thời gian
– Nhược điểm phương pháp kiểm tra dạng viết tự luận: Số lượng câu hỏi ít nên
khó bao quát được nội dung của chương trình học Việc đánh giá vẫn chịu ảnh hưởngnhiều ở chủ quan người chấm bài, mặt khác, chấm điểm các bài tự luận là tốn nhiềuthời gian, độ tin cậy không cao
– Yêu cầu khi sử dụng câu hỏi tự luận:
+ Đối với câu hỏi cần được diễn đạt rõ ràng, chú ý đến cấu trúc ngữ pháp, chọn
từ ngữ chính xác, tránh tăng mức độ khó của câu hỏi bằng cách diễn đạt phức tạp gây
ra sự khó hiểu, tránh những từ hoặc câu thừa
+ Khi tiến hành tổ chức kiểm tra cần đảm bảo phù hợp về thời gian làm bài, tránhcác yếu tố gây nhiễu từ bên ngoài, đảm bảo nghiêm túc khi làm bài
+ Khi chấm bài cần xác định thang điểm một cách chuẩn xác và chi tiết, nên dựkiến đưa ra một số vấn đề có thể xuất hiện trong bài làm để có cách xử lí và cho điểm,người chấm không nên biết tên HS hoặc lớp HS, việc chấm điểm cần có sự độc lậpgiữa những người chấm
– Phương pháp kiểm tra dạng bài tự luận thường được sử dụng trong nhữngtrường hợp sau:
+ Khi nhóm HS được khảo sát có số lượng vừa phải và chỉ nên sử dụng một lần,không nên dùng lại ngay ở lần sau
+ Khi muốn khuyến khích HS phát triển kĩ năng diễn tả bằng khả năng viết.+ Khi GV muốn thăm dò thái độ hay tìm hiểu tư tưởng, quan điểm của HS vềmột vấn đề nào đó
Dùng bài kiểm tra dạng tự luận chỉ thực sự có hiệu quả khi GV chấm bài mộtcách vô tư và thận trọng để đảm bảo tính khách quan, chính xác
b) Phương pháp kiểm tra viết dạng trắc nghiệm khách quan
– Một bài trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câuthường được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản hay một từ, một cụm từ
– Câu trắc nghiệm khách quan bao gồm các loại sau:
+ Loại câu nhiều lựa chọn: Là loại câu thông dụng nhất, còn gọi là câu đa
phương án, gồm hai phần là phần câu dẫn và phần lựa chọn
+ Loại câu đúng – sai: Thường bao gồm một câu phát biểu để phán đoán và đi
đến quyết định là đúng hay sai
+ Loại câu điền vào chỗ trống: Loại câu này đòi hỏi trả lời bằng một hay một
cụm từ cho một câu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ
+ Câu ghép đôi: Loại câu này thường bao gồm hai dãy thông tin gọi là các câu
Trang 10dẫn và các câu đáp Hai dãy thông tin này có số câu không bằng nhau, một dãy là danhmục gồm các tên hay thuật ngữ và một dãy là danh mục gồm các định nghĩa, đặcđiểm, Nhiệm vụ của người làm bài là ghép chúng lại một cách thích hợp.
– Ưu điểm của phương pháp kiểm tra viết dạng trắc nghiệm khách quan: Trắc
nghiệm khách quan có khả năng đo được các mức độ của nhận thức (biết, hiểu, áp dụng,phân tích, tổng hợp, đánh giá), bao quát được phạm vi kiến thức rộng nên đại diện cho nộidung cần đánh giá Trắc nghiệm khách quan giúp nâng cao tính khách quan, độ giá trị vàtin cậy cho kiểm tra, đánh giá vì nội dung kiểm tra bao quát được chương trình học, tiêuchuẩn đánh giá rõ ràng, hạn chế sự phụ thuộc của đánh giá vào chủ quan người chấm
– Nhược điểm của phương pháp kiểm tra viết dạng trắc nghiệm khách quan: Trắc
nghiệm khách quan có khó khăn trong việc đo lường khả năng diễn đạt, sắp xếp trìnhbày và đưa ra ý tưởng mới, quá trình chuẩn bị câu hỏi khó và mất nhiều thời gian Trắcnghiệm được sử dụng để kiểm tra chủ yếu là kiến thức và kĩ năng của người học
– Khi sử dụng trắc nghiệm khách quan cần chú ý:
+ Phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung và cách diễn đạt, đảm bảo các chỉ số củamột câu trắc nghiệm khách quan, các câu hỏi đưa vào bài trắc nghiệm phải đại diệnđược cho nội dung cần đánh giá, khi sắp xếp câu trắc nghiệm cần xếp theo từng chủ đề
và từ dễ đến khó
+ Khi sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong đánh giá thì số lượng bàitrắc nghiệm và phiếu trả lời được nhân bản theo số lượng người làm trắc nghiệm, đồngthời cần có các biện pháp chống gian lận khi làm bài thông qua thiết kế bài trắc nghiệm
– Phương pháp trắc nghiệm khách quan nên sử dụng trong những trường hợp sau:
+ Khi cần khảo sát kết quả học tập trên một số lượng lớn HS hoặc muốn tiếp tụcdùng bài trắc nghiệm đó ngay ở những lần sau
+ Muốn đo lường tốt nhất các mục tiêu biết và hiểu
+ Trong trường hợp đã có những câu trắc nghiệm tốt, tức là những câu đã quathử nghiệm và đạt được các yêu cầu nhất định về độ khó, độ phân biệt, những câu trắcnghiệm khách quan được dự trữ sẵn sẽ rất tiện lợi khi soạn một bài kiểm tra mới.+ Khi không muốn mất nhiều thời gian để chấm điểm, muốn chấm điểm nhẹnhàng, nhanh chóng và có được những điểm số đáng tin cậy không phụ thuộc vào chủquan của người chấm bài
+ Khi muốn ngăn ngừa HS học tủ và gian lận trong khi làm bài
1.1.2 Phương pháp quan sát
– Quan sát là phương pháp đề cập đến việc theo dõi HS thực hiện các hoạt động(quan sát quá trình) hoặc nhận xét một sản phẩm do HS làm ra (quan sát sản phẩm)
Quan sát quá trình: đòi hỏi trong thời gian quan sát, GV phải chú ý đến những
hành vi của HS như: phát âm sai từ trong môn tập đọc, sự tương tác (tranh luận, chia
sẻ các suy nghĩ, biểu lộ cảm xúc ) giữa các em với nhau trong nhóm, nói chuyện
Trang 11riêng trong lớp, bắt nạt các HS khác, mất tập trung, có vẻ mặt căng thẳng, lo lắng, lúngtúng, hay hào hứng, giơ tay phát biểu trong giờ học, ngồi im thụ động hoặc khôngngồi yên được quá ba phút
Quan sát sản phẩm: HS phải tạo ra sản phẩm cụ thể, là bằng chứng của sự vận
dụng các kiến thức đã học Những sản phẩm rất đa dạng: bài luận ngắn, bài tập nhóm,báo cáo ghi chép/bài tập môn khoa học, báo cáo khoa học, báo cáo thực hành, biểu đồ,biểu bảng theo chủ đề, vẽ một bức tranh tĩnh vật, tạo ra được một dụng cụ thực hành/thí nghiệm… HS phải tự trình bày sản phẩm của mình, còn GV đánh giá sự tiến bộhoặc xem xét quá trình làm ra sản phẩm đó GV sẽ quan sát và cho ý kiến đánh giá vềsản phẩm, giúp các em hoàn thiện sản phẩm
Trong thời gian quan sát, GV phải quan tâm đến những hành vi của HS như phát
âm sai từ trong môn tập đọc, quan hệ tương tác giữa các em với nhau trong nhóm, nóichuyện riêng trong lớp, bắt nạt các HS khác, mất tập trung, mặt có vẻ lúng túng, kiênnhẫn chờ đến lượt mình, giơ tay phát biểu trong giờ học, ăn mặc xoàng xĩnh, và khôngngồi yên được quá ba phút Khi HS nộp báo cáo đề tài môn khoa học, vẽ một bứctranh tĩnh vật, tạo ra được một dụng cụ làm thí nghiệm, hoặc hoàn thành kế hoạchtrong lớp, GV sẽ quan sát và cho ý kiến về các sản phẩm các em làm ra
– Phương pháp quan sát có các dạng chủ yếu sau:
+ Quan sát được tiến hành chính thức và định trước
Đây là loại quan sát mà GV đã có thời gian để chuẩn bị cho HS và xác định trướctừng hành vi cụ thể đã được quan sát, ví dụ như trong trường hợp GV đánh giá HS khicác em đọc bài trong nhóm tập đọc hoặc trình bày bài báo cáo trước lớp Trong nhữngtình huống như thế, GV có thể quan sát một tập hợp các hành vi ứng xử của HS
+ Quan sát không được định sẵn và không chính thức
Đây là những quan sát mang tính tự phát, phản ánh những tình huống, khoảnhkhắc, sự việc xảy ra thoáng qua không định sẵn mà GV ghi nhận được và phải suynghĩ diễn giải, ví dụ như khi GV thấy hai HS nói chuyện thay vì thảo luận bài học,nhận thấy một em HS có biểu hiện bị tổn thương khi bị bạn cùng lớp trêu chọc về quần
áo của mình, hoặc nhìn thấy một HS bồn chồn, ngồi không yên và luôn nhìn ra cửa sổtrong suốt giờ khoa học
Các quan sát chính thức và không chính thức của GV đều là những kĩ thuật thuthập thông tin quan trọng trong lớp học
– Ưu điểm: Giúp cho việc thu thập thông tin của GV được kịp thời, nhanh chóng.
Quan sát được dùng kết hợp với các phương pháp khác sẽ giúp việc kiểm tra, đánh giáđược thực hiện một cách liên tục, thường xuyên và toàn diện
– Hạn chế: Kết quả quan sát phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của người
quan sát; Khối lượng quan sát không được lớn, khối lượng thu được không thật toàndiện nếu không có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin; Chỉ thu được những biểu hiệntrực tiếp, bề ngoài của đối tượng
– Yêu cầu khi sử dụng phương pháp quan sát:
Trang 12+ Cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng, nội dung, phạm vi cần quan sát.
+ Xác định rõ các tiêu chí/chỉ báo khi quan sát cho từng nội dung quan sát + Thiết lập bảng kiểm, phiếu quan sát cho các nội dung quan sát
+ Ghi chú và điền các thông tin chính vào phiếu quan sát/bảng kiểm khi tiếnhành quan sát
+ Công bố kết quả quan sát và tổ chức cho HS sẽ rút kinh nghiệm cho các sảnphẩm học tập
Như vậy, đánh giá thông qua quan sát là một hình thức đánh giá rất quan trọng,
nó giúp cho người dạy có cái nhìn tổng quan về thái độ, hành vi, sự tiến bộ của các kĩnăng học tập của người học suốt cả quá trình dạy học, để từ đó có thể điều chỉnh chongười học có thái độ học tập và tăng cường các kĩ năng tốt hơn Thông qua việc quansát, GV sẽ thu thập được chứng cứ về hành vi của người học (có xác định được đúng
vị trí nơi xảy ra sự kiện lịch sử trên lược đồ không? Có trao đổi, thảo luận với bạn đểhoàn thành sản phẩm không? có nói chuyện riêng trong lớp không? ) Với phươngpháp đánh giá này, sẽ không chỉ cung cấp thông tin về lượng kiến thức, kĩ năng, chiếnlược học của người học mà còn giúp cho GVcó các thông tin về cảm xúc của HS (tíchcực hay không tích cực, tập trung hay mất tập trung,…) Điều quan trọng nhất khi sửdụng phương pháp quan sát là cân bằng giữa hai mục tiêu là khẳng định những dựđoán về kết quả học tập của HS và khám phá ra các khía cạnh mới mà trước đây chưatừng được HS thể hiện Để tiến hành quan sát có hiệu quả, GV cần sử dụng các loạicông cụ để thu thập thông tin như: Ghi chép các sự kiện thường nhật, thang đo và bảngkiểm, bảng đánh giá theo tiêu chí,…
1.1.3 Phương pháp hỏi đáp
Hỏi – đáp là phương pháp GV đặt câu hỏi và HS trả lời câu hỏi (hoặc ngược lại),nhằm rút ra những kết luận, những tri thức mới mà HS cần nắm, hoặc nhằm tổng kết,củng cố, kiểm tra mở rộng, đào sâu những tri thức mà HS đã học
Phương pháp đặt câu hỏi vấn đáp cung cấp rất nhiều thông tin chính thức và khôngchính thức về HS Việc làm chủ, thành thạo các kĩ thuật đặt câu hỏi đặc biệt có ích trongkhi dạy học Cho nên, việc làm chủ, thành thạo các kĩ thuật đặt câu hỏi đặc biệt có íchđối với GV khi tiến hành đánh giá, nhất là khi cần ôn lại một chủ đề trước đó, suy nghĩ
về một chủ đề mới, xem HS có hiểu bài hay không và thu hút sự chú ý của một HS nào
đó đang mất tập trung GV có thể thu thập được thông tin mình muốn mà không cần đếnbất kì một loại đánh giá viết nào Vấn đáp là một đặc trưng rất phổ biến của mọi lớp học
và sau mỗi chủ đề dạy học, đây là hoạt động dạy học thường dùng nhất Thi vấn đápđang là phương pháp đang được áp dụng trong các lĩnh vực như ngoại ngữ, diễn thuyết
và âm nhạc,
Ưu điểm của phương pháp hỏi – đáp là kích thích tính tích cực, độc lập tư duy ở
HS để tìm ra câu trả lời tối ưu trong thời gian nhanh nhất; Bồi dưỡng HS năng lực diễnđạt bằng lời nói; kích thích hứng thú học tập qua kết quả trả lời; Giúp GV thu tín hiệungược từ HS một cách nhanh gọn để điều chỉnh hoạt động của mình, mặt khác có điều
Trang 13kiện quan tâm đến từng HS, nhất là những HS giỏi và kém; Tạo không khí làm việc sôinổi, sinh động trong giờ học.
Nhược điểm: Dễ làm mất thời gian ảnh hưởng không tốt đến kế hoạch lên lớpcũng như mất nhiều thời gian để soạn hệ thống câu hỏi; Nếu không khéo léo sẽ khôngthu hút được toàn lớp mà chỉ là đối thoại giữa GV và một HS
Tuỳ theo vị trí của phương pháp vấn đáp trong quá trình dạy học, cũng như tuỳtheo mục đích, nội dung của bài, người ta phân biệt những dạng vấn đáp cơ bản sau:
+ Hỏi đáp gợi mở: là hình thức GV khéo léo đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt
HS rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quan sát đượchoặc những tài liệu đã học được, được sử dụng khi cung cấp tri thức mới
Hình thức này có tác dụng khêu gợi tính tích cực của HS rất mạnh, nhưng cũngđòi hỏi GV phải khéo léo, tránh đi đường vòng, lan man, xa vấn đề
+ Hỏi đáp củng cố: Được sử dụng sau khi giảng tri thức mới, giúp HS củng cố
được những tri thức cơ bản nhất và hệ thống hoá chúng: mở rộng và đào sâu những trithức đã thu lượm được, khắc phục tính thiếu chính xác của việc nắm tri thức
+ Hỏi đáp tổng kết: được sử dụng khi cần dẫn dắt HS khái quát hoá, hệ thống
hoá những tri thức đã học sau một vấn đề, một phần, một chương hay một môn họcnhất định
Phương pháp này giúp HS phát triển năng lực khái quát hoá, hệ thống hoá, tránhnắm bắt những đơn vị tri thức rời rạc – giúp cho các em phát huy tính mềm dẻo của tưduy
+ Hỏi đáp kiểm tra: được sử dụng trước, trong và sau giờ giảng hoặc sau một
vài bài học giúp GV kiểm tra tri thức HS một cách nhanh gọn kịp thời để có thể bổsung củng cố tri thức ngay nếu cần thiết Nó cũng giúp HS tự kiểm tra tri thức củamình
Như vậy là tuỳ vào mục đích và nội dung bài học, GV có thể sử dụng 1 trong 4hoặc cả 4 dạng phương pháp vấn đáp nêu trên Ví dụ khi dạy bài mới GV dùng dạngvấn đáp gợi mở, sau khi đã cung cấp tri thức mới dùng vấn đáp củng cố để đảm bảo
HS nắm chắc và đầy đủ tri thức Cuối giờ dùng vấn đáp kiểm tra để có thông tin ngượckịp thời từ phía HS
– Yêu cầu khi sử dụng phương pháp này:
+ Đối với câu hỏi cần phải chính xác rõ ràng, sát với trình độ của HS
+ Diễn đạt câu đúng ngữ pháp, gọn gàng sáng sủa
+ Câu hỏi phải có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy của HS.+ Khi vấn đáp cần chăm chú theo dõi câu trả lời, có thái độ bình tĩnh, tránh nônnóng cắt ngang câu trả lời khi không cần thiết
+ Có từ hai GV trở lên tham gia đánh giá để đảm bảo tính khách quan
1.1.4 Phương pháp đánh giá bằng hồ sơ học tập
Hồ sơ là tập hợp các bài tập, bài kiểm tra, bài thực hành, sản phẩm công việc,
Trang 14bằng video, ảnh,… HS đã hoàn thành một cách tốt nhất trong quá trình học tập Chúng
có thể được sử dụng như là bằng chứng về quá trình học tập và sự tiến bộ của HS,đồng thời cũng có thể sử dụng như là bằng chứng của đánh giá tổng kết –bằng chứng
về các tiêu chuẩn cần đạt
Các danh mục (hay còn gọi là mẫu nhiệm vụ) trong hồ sơ học tập luôn đóng vaitrò quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập của HS, nhất là các khóa học tiếpcận năng lực Yêu cầu HS thiết lập, trình bày các danh mục trong hồ sơ là một cáchđánh giá hiệu quả, nó liên quan đến việc thu thập các vật liệu nhằm cung cấp bằngchứng rõ ràng về tiêu chí cần đánh giá Hồ sơ cần được tổ chức tốt, có mục lục tra cứu
dễ dàng
Thường có hai loại hồ sơ: hồ sơ quá trình sẽ cung cấp vật liệu học tập tốt nhất đểminh chứng sự tiến bộ qua các thời kì; hồ sơ sản phẩm chứng minh về việc thực hiệnmột nhiệm vụ cụ thể, một hồ sơ thường bao gồm: Bìa; Mục lục; mục tiêu của hồ sơ;Các mục thể hiện sự hiểu biết khái niệm; Các mục minh họa cho quá trình học tập,chẳng hạn như trích đoạn nhật kí học tập, dự án mẫu, chú thích về các quyết định quantrọng,…; Phần thực hiện công việc (các sản phẩm cụ thể); Tự đánh giá; Giải thích bốicảnh, lí do chọn sản phẩm này,…
Như vậy, hồ sơ học tập giúp phát triển kĩ năng tổ chức, kĩ năng thể hiện, trình bày,
… của HS Khi được khuyến khích tạo sản phẩm tốt nhất, HS sẽ tự tôn trọng mình, tự chủ
và tự thể hiện bản thân một cách rõ rệt Thông qua hồ sơ, HS có cơ hội minh chứng nănglực bằng những sản phẩm tốt nhất; lập sơ đồ về sự tiến bộ của mình; giám sát và điềuchỉnh hành động và kế hoạch cá nhân; trao đổi học tập với người khác; tạo những thay đổicần thiết theo đường phát triển năng lực
1.1.5 Phương pháp đánh giá qua sản phẩm học tập
Là phương pháp đánh giá kết quả học tập thông qua sản phẩm hoạt động của HS.Thông qua sản phẩm học tập, GV đánh giá sự tiến bộ của HS, đánh giá quá trình tạo rasản phẩm và đánh giá mức độ đạt được các năng lực của HS Sản phẩm học tập của
HS rất đa dạng, là kết quả của thực hiện các nhiệm vụ học tập như thí nghiệm/chế tạo,làm dự án học tập, nghiên cứu, bài luận HS phải trình bày sản phẩm của mình, GV
sẽ nhận xét và đánh giá Dưới đây là một số sản phẩm hoạt động học tập cơ bản củaHS:
– Dự án học tập là kế hoạch cho một hoạt động học tập, được thiết kế và thựchiện bởi người học trong dưới sự hỗ trợ của GV Thông qua các dự án thực hiện trongvài giờ hoặc một vài tuần, GV theo dõi quá trình HS thực hiện để đánh giá các em vềkhả năng tự tìm kiếm và thu thập thông tin, tổng hợp và phân tích chúng theo mục tiêucủa chủ đề, đánh giá các kĩ năng cần thiết trong cuộc sống như cam kết làm việc, lập
kế hoạch, hợp tác, nhận xét, bình luận, giải quyết vấn đề, ra quyết định, thuyết trình – Sản phẩm nghiên cứu khoa học của HS là một dạng dự án học tập có tính chấtnghiên cứu Thông qua sản phẩm nghiên cứu khoa học của HS, GV đánh giá được kĩnăng tự tìm kiếm và thu thập thông tin, kĩ năng tư duy, khả năng tư duy biện chứng, kĩnăng nhận xét, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng trình bày…
Trang 15– Sản phẩm thực hành, thí nghiệm/chế tạo: HS sẽ đươc đánh giá trên cơ sở hoạtđộng trình diễn, tiến hành thực hiện thí nghiệm/chế tạo để có được một sản phẩm cụ thể.Thông qua sản phẩm thực hành, thí nghiệm, GV đánh giá được kiến thức, kĩ năng của HS,khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, thí nghiệm, ý thức, thái độ của các
em, cũng như các mức độ đạt được của năng lực mà GV cần đánh giá Các tiêu chí và tiêuchuẩn để đánh giá sản phẩm rất đa dạng, dựa trên ngữ cảnh cụ thể của hiện thực
– Ưu, nhược điểm và yêu cầu khi sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm học tập
+ Ưu điểm: giúp cho việc giảng dạy gắn với thực tiễn, kích thích hứng thú học
tập của HS, làm cho môn học trở nên ý nghĩa hơn, HS học tập năng động hơn Thôngqua sản phẩm hoạt động, HS có thể tự đánh giá được khả năng thực hiện của mình.Trọng tâm của đánh giá sản phẩm là hướng vào những gì HS đã làm nên HS có cơ hội
để thể hiện điều đã học theo các cách khác nhau, nhờ đó mà phát huy được tính sángtạo cho người học
+ Nhược điểm: Còn chịu tác động chủ quan từ phía người đánh giá, đôi khi mất
nhiều thời gian để xây dựng tiêu chí đánh giá, quan sát, phân tích, phản hồi kết quảđến từng HS
+ Yêu cầu khi sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm học tập: Cần xây dựng
chỉ dẫn cụ thể cho việc chấm điểm, bao gồm các tiêu chí và mức độ cho từng sảnphẩm của HS nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan
Các công cụ, kĩ thuật được sử dụng trong phương pháp đánh giá sản phẩm học tập: Bảng kiểm, thang đánh giá.
1.2 Hình thức kiểm tra, đánh giá
1.2.1 Đánh giá thường xuyên
Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiệnhoạt động dạy học theo yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lựccủa từng môn học, hoạt động giáo dục và một số biểu hiện phẩm chất, năng lực của
HS Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS, để kịp thờiđiều chỉnh quá trình dạy học, hỗ trợ, thúc đẩy sự tiến bộ của HS theo mục tiêu giáodục tiểu học
Có nhiều phương pháp đánh giá thường xuyên, tuỳ vào từng mục đích đánh giá
sẽ có các công cụ đánh giá khác nhau Dưới đây là một số phương pháp thường được
sử dụng trong đánh giá thường xuyên:
a) Đánh giá qua nghiên cứu sản phẩm học tập của HS
HS thể hiện ý tưởng của mình thông qua các sản phẩm như các dự án học tập,các bài kiểm tra trên giấy, hồ sơ học tập, vở ghi chép trên lớp, vở bài tập, Đây lànhững minh chứng cụ thể nhất, thông qua sản phẩm, GV có thể đánh giá được nănglực của HS
- Đánh giá qua các dự án học tập: Khi đánh giá sản phẩm dự án của HS, GV có
Trang 16thể xây dựng phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí rubric.
+ Nội dung: với các tiêu chí phù hợp với mục tiêu dự án, đầy đủ, cập nhật, bổsung kiến thức mới…
+ Cách làm việc nhóm: với các tiêu chí về tính khoa học, tính kế hoạch, sự thamgia, thái độ làm việc của các thành viên trong nhóm…
+ Hình thức của sản phẩm: với các tiêu chí về bố cục, tính khoa học, tính độcđáo, sinh động…
+ Cách trình bày sản phẩm với các tiêu chí về ngôn ngữ trình bày, phong cáchtrình bày, trả lời câu hỏi…
- Đánh giá qua hồ sơ học tập
+ Hồ sơ học tập là bộ sưu tập có hệ thống các hoạt động học tập của HS trongthời gian liên tục Thông qua hồ sơ học tập, GV đánh giá được sự phát triển và trưởngthành của HS, mặt khác HS hình thành ý thức sở hữu hồ sơ học tập của bản thân, từ đóbiết được bản thân tiến bộ đến đâu, cần hoàn thiện ở mặt nào
+ Nội dung hồ sơ học tập khác nhau ứng với cấp độ của HS và phụ thuộc vàonhiệm vụ môn học mà HS được giao GV và HS cần thống nhất các mục chính và tiêuchí lựa chọn các mục để đưa sản phẩm vào hồ sơ một cách hợp lí
+ Việc đánh giá hồ sơ học tập được thực hiện ở 3 đối tượng:
• Bản thân học sinh: Mô tả ngắn gọn mỗi nội dung trong hồ sơ, nêu rõ lí dochọn nội dung đó, nội dung nào đã học được, mục tiêu tương lai của mình và đánh giátổng thể hố sơ học tập của bản thân
• Bạn cùng lớp tham gia đánh giá hồ sơ, chỉ ra những điểm mạnh, những câuhỏi cho hồ sơ và đề xuất một số công việc tiếp theo cho bạn mình
• GV đánh giá hồ sơ học tập dựa trên chính các đánh giá của HS và bạn học Việc đánh giá hồ sơ học tập của HS có thể vận dụng theo các tiêu chí như: bốcục của hồ sơ học tập, chất lượng hồ sơ…
- Đánh giá qua vở ghi chép/vở bài tập
Căn cứ vào vở ghi chép/vở bài tập của HS có thể đánh giá được sự nghiêm túc,đam mê học tập của HS Đây cũng có thể được coi như kết quả HS lĩnh hội được saumỗi bài học/tiết học
Các tiêu chí đánh giá qua vở ghi chép/vở bài tập gồm:
+ Nội dung: mức độ đầy đủ, chủ động, tự giác, tích cực trong ghi chép, làm bàitập
+ Hình thức: mức độ sạch, đẹp, đa dạng, hấp dẫn…
b) Đánh giá qua quan sát hoạt động học của HS
Quan sát hoạt động học của HS sẽ giúp GV thu thập thông tin về HS thông quatri giác trực tiếp và ghi chép trung thực những hoạt động, phản ứng, thái độ, sắc tháitình cảm, của HS trong những tình huống cụ thể Bằng quan sát, GV đánh giá đượccác thao tác, các phản ứng, kĩ năng giải quyết vấn đề Từ đó, nhận xét kết quả học
Trang 17tập của HS được khách quan hơn.
Mỗi bài học trên lớp có một chuỗi nhiệm vụ/ hoạt động học, HS phải thực hiệnnhiệm vụ nhiều hay ít, tích cực hay không còn tuỳ thuộc vào nội dung bài học và cáchthức tổ chức hoạt động học của GV GV tổ chức để HS thực hiện một nhiệm vụ họctập thường trải qua các bước sau:
- Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả
năng của HS, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành khi thực hiệnnhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thúnhận thức của HS; đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ
- Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích HS hợp tác với nhau khi thực hiện
nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của HS và có biện pháp hỗ trợphù hợp, hiệu quả Khi HS thực hiện nhiệm vụ học tập, GV có thể quan sát, đánh giá
HS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ với các tiêu chí sau:
+ Khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả HS tronglớp
+ Mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của HS trong việc thực hiện cácnhiệm vụ học tập
+ Mức độ tham gia tích cực của HS trong xây dựng kế hoạch nhóm; trách nhiệmthực hiện nhiệm vụ học tập; tinh thần, thái độ hỗ trợ các thành viên trong nhóm, tôntrọng các quyết định chung của nhóm…
- Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học tập
và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho HS trao đổi, thảo luậnvới nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cáchhợp lí GV có thể đánh giá phần trình bày kết quả của HS qua các tiêu chí sau:
+ Nội dung trình bày: mức độ đúng đắn, chính xác, phù hợp của các kết quả thựchiện nhiệm vụ học tập của HS
+ Cách trình bày: mức độ sử dụng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ cơ thể, khả năngtương tác với người nghe, khả năng quản lí thời gian trình bày…
+ Đối với các HS nghe trình bày kết quả học tập, sẽ sử dụng các tiêu chí để đánhgiá như: mức độ lắng nghe, mức độ phản hồi (thông qua câu hỏi, đưa ra ý kiến, cungcấp thêm thông tin…)
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình thực hiện
nhiệm vụ học tập của HS; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
và những ý kiến thảo luận của HS; chính xác hoá các kiến thức mà HS đã học đượcthông qua hoạt động
c) Đánh giá qua việc trả lời câu hỏi vấn đáp
GV đặt câu hỏi, HS trả lời là phương pháp được GV sử dụng thường xuyên vàphổ biến nhất trong đánh giá lớp học nhằm thu thập thông tin về việc học tập từ đầucho đến cuối giờ học Ở đó mỗi câu hỏi có một chức năng nhất định như kiểm tra lạiviệc tái hiện thông tin/những kiến thức đã học, phát hiện vấn đề mới, những kết luận
Trang 18rút ra từ bài học, vận dụng kiến thức đã học vào tình huống mới, Thông qua việc HStrả lời các câu hỏi vấn đáp, GV sẽ biết được khả năng tiếp thu bài học đến đâu; đồngthời sẽ góp phần hình thành và nâng cao các kĩ năng cho HS như: nói/trình bày (lưuloát, diễn cảm, nói đúng, nói đủ, có sức thuyết phục, ), thể hiện tự tin khi trình bàyvấn đề trước lớp (chỗ đông người), Và cũng thông qua việc trả lời được nhiều hay ít,câu hỏi ở mức độ khó hay dễ, GV có thể đánh giá được phần nào năng lực HS.
Các câu hỏi vấn đáp trên lớp, chủ yếu là câu hỏi tự luận GV nên đặt câu hỏi mở,
là dạng câu hỏi có nhiều cách trả lời Với dạng câu hỏi mở, HS có cơ hội để chia sẻđược nhiều ý kiến của cá nhân, phát triển tư duy sáng tạo
d) HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng
- Tự đánh giá là quá trình HS tự trả lời các câu hỏi chẳng hạn như: Tôi đã học
được những gì? Tôi chưa biết những gì? Tôi muốn biết những gì? Tôi cần phải làmgì?, Thông qua việc trả lời những câu hỏi này sẽ giúp cá nhân HS tự nhận thứcđược quá trình học tập của chính mình, từ đó có những điều chỉnh, phấn đấu tronghọc tập, hoàn thiện bản thân GV có thể hướng dẫn HS ghi chép thông qua nhật kí tựđánh giá bản thân
- Đánh giá đồng đẳng là quá trình đánh giá giữa các HS, nhằm cung cấp các
thông tin phản hồi để cùng học hỏi và hỗ trợ lẫn nhau Nó tạo cơ hội để trao đổi, thảoluận, giải thích với nhau giữa người đánh giá và người được đánh giá Từ đó tạothêm động lực để HS học được cách học, mang lại lợi ích cho cá nhân và của cảnhóm
1.2.2 Đánh giá định kì
Theo thông tư 27/2020/TT–BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 quy định:
- Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục HS sau một giai đoạn học tập, rèn
luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn luyện của HS theo yêucầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt độnggiáo dục được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hìnhthành, phát triển phẩm chất, năng lực HS
- Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, GV dạy môn
học căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và yêu cầu cần đạt, biểu hiện cụ thể
về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục để đánh giá HSđối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau:
+ Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường xuyên có biểu hiện
cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
+ Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện cụ thể về cácthành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
+ Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập hoặc chưa cóbiểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục
- Vào cuối học kì I và cuối năm học, đối với môn Lịch sử và Địa lí có bài kiểm
tra định kì Đề kiểm tra định kì phù hợp với yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể
Trang 19về các thành phần năng lực của môn học, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theocác mức như sau:
+ Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả được nội dung đã học và áp dụng trựctiếp để giải quyết một số tình huống, vấn đề quen thuộc trong học tập;
+ Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số nội dung đã học để giải quyết vấn đề cónội dung tương tự;
+ Mức 3: Vận dụng các nội dung đã học để giải quyết một số vấn đề mới hoặcđưa ra những phản hồi hợp lí trong học tập và cuộc sống
1.2.2.1 Quy trình biên soạn đề kiểm tra môn Lịch sử và Địa lí
Bước 1 Xác định mục đích của đề kiểm tra
Đề kiểm tra môn Lịch sử và Địa lí là một công cụ để đánh giá kết quả học tậpmôn học này của HS sau khi học xong học kì I hoặc kết thúc năm học Đề kiểm tra nàycòn gọi là đề kiểm tra định kì Căn cứ vào mục đích cụ thể của việc kiểm tra (cuối học
kì I hoặc cuối năm học) để xây dựng nội dung, cấu trúc của đề kiểm tra một cách phùhợp
Bước 2 Xác định hình thức đề kiểm tra
Đề kiểm tra (viết) có các hình thức sau:
- Đề kiểm tra tự luận;
- Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;
- Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi
dạng trắc nghiệm khách quan
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lícác hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nângcao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của HS chính xác hơn
Bước 3 Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra).
Để thuận tiện trong việc xác định các nội dung, đặc biệt là các nội dung trọngtâm, cũng như số lượng các câu hỏi/bài tập, các mức người ta có thể dùng một công cụquen gọi là ma trận đề kiểm tra (bao gồm ma trận nội dung, ma trận câu hỏi/bài tập)
Ma trận đề kiểm tra có thể coi là một kĩ thuật để xây dựng các đề kiểm tra có tính môhình hóa Tuy nhiên, đây không phải là một kĩ thuật bắt buộc phải sử dụng khi xâydựng đề kiểm tra
- Khung ma trận, mỗi ô trong khung nêu: Nội dung yêu cầu cần đạt kiến thức,
biểu hiện cụ thể của năng lực môn học cần đánh giá; Hình thức các câu hỏi; Số lượngcâu hỏi; Số điểm dành cho các câu hỏi
- Khung ma trận câu hỏi, mỗi ô trong khung nêu: Hình thức các câu hỏi; Số thứ
tự của câu hỏi trong đề; Số điểm dành cho các câu hỏi
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cầnđánh giá, một chiều là các các mức: Mức 1, Mức 2, Mức 3
Trong mỗi ô là yêu cầu cần đạt trong chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm,
Trang 20số lượng câu hỏi và tổng số điểm (TSĐ) của các câu hỏi
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩncần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từngmạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức
Cách xác định nội dung kiểm tra
- Nội dung kiểm tra được xác định rõ ràng yêu cầu cần đạt và những biểu hiện
cụ thể năng lực môn Lịch sử và Địa lí đến trong học kì I hoặc cả năm học Trong đó,cần xác định yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực củamôn học cần được kiểm tra
- Là một chương trình môn học tích hợp nên các kiến thức lịch sử, địa lí, văn
hóa, xã hội được xây dựng và sắp xếp đan xen, logic và thống nhất trong các mạchnội dung và yêu cầu cần đạt cụ thể Tuy nhiên, trong việc lựa chọn nội dung đánhgiá, vẫn cần lưu ý bảo đảm sự cân đối giữa các các yêu cầu cần đạt mang nhiềunội dung lịch sử và các yêu cầu cần đạt mang nhiều nội dung địa lí
+ Yêu cầu cần đạt có nội dung lịch sử: khoảng 50 %
+ Yêu cầu cần đạt đối với các nội dung địa lí: khoảng 50 %
- Các câu hỏi/bài tập trong đề kiểm tra là câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự
luận Cần tăng cường loại câu hỏi mở, câu hỏi phát huy năng lực của HS như nănglực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề của HS,…
Gợi ý cách phân phối tỉ lệ số câu, số điểm và các mức
- Việc thiết kế số lượng câu hỏi, bài tập cho từng mạch nội dung cần căn cứ:
+ Mức độ quan trọng của yêu cầu cần đạt đối với việc thực hiện mục tiêu chươngtrình môn học
+ Dung lượng phân phối chương trình cho mạch kiến thức được gợi ý trongChương trình môn Lịch sử và Địa lí
- Đối với các mức: Tỉ lệ % số câu và số điểm cho mỗi mức độ (1, 2, 3) dựa vào
Mức 1: Khoảng 30%; Mức 2: Khoảng 40%; Mức 3: khoảng 30%;
+ Tỉ lệ số câu, số điểm theo các mức và hình thức câu hỏi trong đề kiểm tra cầnđảm bảo yêu cầu cần đạt và những biểu hiện cụ thể về năng lực môn học, phù hợp vớiđối tượng HS Chẳng hạn: số câu hỏi trắc nghiệm khách quan: khoảng 60%; số câu hỏi
Trang 21Câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận
Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: loại câu hỏi, số câuhỏi và nội dung câu hỏi do ma trận đề quy định, mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quanchỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm
Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, cần biên soạn câu hỏi thoả mãn các
yêu cầu sau: (ở đây trình bày 2 loại câu hỏi thường dùng nhiều trong các đề kiểm tra)
- Các yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
+ Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;
+ Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và sốđiểm tương ứng;
+ Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;
+ Không nên trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;
+ Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi HS;
+ Mỗi phương án nhiễu phải hợp lí đối với những HS không nắm vững kiến thức;+ Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch củaHS;
+ Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏikhác trong bài kiểm tra;
+ Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;
+ Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;
+ Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có phương án nào đúng”.
- Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận
+ Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình;
+ Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và sốđiểm tương ứng;
+ Câu hỏi yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức vào các tình huống mới;
+ Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
+ Nội dung câu hỏi đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về cách thực hiệnyêu cầu đó;
+ Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của HS;
+ Yêu cầu HS phải hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin;
+ Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những yêu cầu củacán bộ ra đề đến HS;
+ Câu hỏi nên gợi ý về: Độ dài của bài luận; Thời gian để viết bài luận; Các tiêuchí cần đạt
+ Nếu câu hỏi yêu cầu HS nêu quan điểm và chứng minh cho quan điểm củamình, câu hỏi cần nêu rõ: bài làm của HS sẽ được đánh giá dựa trên những lập luận
Trang 22logic mà HS đó đưa ra để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình chứ không chỉđơn thuần là nêu quan điểm đó.
Một số lưu ý:
- Để đánh giá được các năng lực chung và năng lực chuyên biệt GV cần xác
định rõ ràng mỗi câu hỏi sẽ hướng tới đánh giá năng lực nào và mức độ cần đạt được
- Chú trọng đánh giá dựa trên những tình huống gắn với thực tiễn Việc chú
trọng vào các tình huống thực tiễn sẽ làm cho quá trình đánh giá không quá tập trungvào đánh giá việc ghi nhớ và tái hiện kiến thức mà đòi hỏi HS vận dụng kiến thức vàthực tiễn, đem thực tiễn để soi sáng lí thuyết
- Kết hợp đa dạng các hình thức đánh giá: Bài kiểm tra cá nhân (trắc nghiệm, tự
luận), đánh giá nhóm (bài tập nhóm, bài tập dự án)
1.2.2.2 Biên soạn câu hỏi/bài tập môn Lịch sử và Địa lí
(1) Chọn một nội dung cần kiểm tra, xác định mục đích kiểm tra nội dung đó; (2) Viết một câu hỏi / bài tập thuộc 1 trong 3 mức độ;
(3) Từ câu hỏi / bài tập trên :
+ Chuyển thành câu hỏi/ bài tập mức độ dễ hơn, bằng cách: giảm bớt thao tác,giảm độ nhiễu, giảm yêu cầu,…
+ Chuyển thành câu hỏi / bài tập ở mức độ khó hơn, bằng cách: tăng thao tác,tăng độ nhiễu, tăng yêu cầu, …
Đề kiểm tra môn Lịch sử và Địa lí là một công cụ để đánh giá kết quả học tậpmôn học này của HS sau khi học xong học kì I hoặc kết thúc năm học Đề kiểm tra nàycòn gọi là đề kiểm tra định kì Căn cứ vào mục đích cụ thể của việc kiểm tra (cuối học
kì I hoặc cuối năm học) để xây dựng nội dung, cấu trúc của đề kiểm tra một cách phùhợp
Đề kiểm tra định kì phù hợp với yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể về cácthành phần năng lực của môn học, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mứcsau:
- Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả được nội dung đã học và áp dụng trực
tiếp để giải quyết một số tình huống, vấn đề quen thuộc trong học tập
- Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số nội dung đã học để giải quyết vấn đề có
nội dung tương tự
- Mức 3: Vận dụng các nội dung đã học để giải quyết một số vấn đề mới hoặc
đưa ra những phản hồi hợp lí trong học tập và cuộc sống
Bài kiểm tra được GV sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang 10 điểm, không chođiểm 0, không cho điểm thập phân và được trả lại cho HS
- Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả được nội dung đã học và áp dụng trực
tiếp để giải quyết một số tình huống, vấn đề quen thuộc trong học tập
Cụm từ để hỏi
Khi xây dựng câu hỏi GV có thể sử dụng các từ/ cụm từ / động từ: ai, cái gì, ở đâu,
Trang 23khi nào, thế nào, nêu, mô tả, kể tên, liệt kê, trình bày, giải thích, so sánh, phân biệt,
vì sao nói, vì sao, khái quát,…
Ví dụ
Ví dụ 1 Nối các thông tin ở cột A với cột B sao cho phù hợp
A B
a) Tên gọi đầu tiên của nước ta 1 Sơn Tinh, Thủy Tinh
Ví dụ 2 Quan sát bảng số liệu và trả lời
a) Quan sát bảng số liệu dưới đây:
Diện tích của một tỉnh/thành phố ở nước ta năm 2020 (tên tỉnh/thành phố địaphương em là A)
- Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số nội dung đã học để giải quyết vấn đề có
nội dung tương tự
Cụm từ để hỏi
Khi xây dựng câu hỏi GV có thể sử dụng các cụm từ / động từ dự đoán, suy luận,thiết lập liên hệ, vẽ sơ đồ, vẽ đồ thị, lập niên biểu,…
Trang 24Ví dụ 2 Hoàn thành sơ đồ thể hiện ảnh hưởng của khí hậu tới đời sống và sản
xuất của nhân dân ta
- Mức 3 Vận dụng các nội dung đã học để giải quyết một số vấn đề mới hoặc
đưa ra những phản hồi hợp lí trong học tập và cuộc sống
Cụm từ để hỏi
Khi xây dựng câu hỏi, GV có thể sử dụng các cụm từ /động từ: bình luận, đánh giá,rút ra bài học, liên hệ với thực tiễn, đề xuất giải pháp…
Ví dụ
Ví dụ 1 Tìm hiểu về Văn Miếu– Quốc Tử Giám, bày tỏ cảm nghĩ của em về
truyền thống hiếu học của dân tộc
Ví dụ 2 Đọc một đoạn trích “Chiếu rời đô” của Lý Công Uẩn:
“…ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh”
Nêu một vài đặc điểm tự nhiên của Thăng Long thể hiện ở Chiếu dời đô
Bước 5 Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
Việc xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm đối với bài kiểm tra cầnđảm bảo các yêu cầu:
Nội dung: khoa học và chính xác Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn
và dễ hiểu, phù hợp với ma trận đề kiểm tra
Trang 25Cần hướng tới xây dựng bản mô tả các mức độ đạt được để HS có thể tự đánh giáđược bài làm của mình (kĩ thuật Rubric).
Bước 6 Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra
Sau khi biên soạn xong đề kiểm tra cần xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra,gồm các bước sau:
1) Đối chiếu từng câu hỏi với hướng dẫn chấm và thang điểm, phát hiện nhữngsai sót hoặc thiếu chính xác của đề và đáp án Sửa các từ ngữ, nội dung nếu thấy cầnthiết để đảm bảo tính khoa học và chính xác
2) Đối chiếu từng câu hỏi với ma trận đề, xem xét câu hỏi có phù hợp với chuẩncần đánh giá không? Có phù hợp với cấp độ nhận thức cần đánh giá không? Số điểm
có thích hợp không? Thời gian dự kiến có phù hợp không? (GV tự làm bài kiểm tra,thời gian làm bài của GV bằng khoảng 70% thời gian dự kiến cho HS làm bài là phùhợp)
3) Thử đề kiểm tra để tiếp tục điều chỉnh đề cho phù hợp với mục tiêu, chuẩn
chương trình và đối tượng HS (nếu có điều kiện, hiện nay đã có một số phần mềm hỗ trợ cho việc này, GV có thể tham khảo).
4) Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm
VÍ DỤ MINH HỌA
Đề kiểm tra cuối học kì I, lớp 4
a) Nội dung kiểm tra:
- Đề kiểm tra cần bảo đảm tính toàn diện về nội dung kiến thức cần đánh giá Cụ
thể:
+ Đề kiểm tra cần bao quát toàn diện tất cả các mạch nội dung được tổ chức dạyhọc trong học kì I
+ Đối với các yêu cầu cần đạt cụ thể, đề kiểm tra cần đánh giá được các nội dung
về lịch sử, địa lí (đặc điểm tự nhiên, hoạt động sản xuất, phân bố dân cư ), văn hóa,
xã hội
+ Đánh giá một số biểu hiện các năng lực, một số kĩ năng đặc thù của môn học
và việc thể hiện thái độ, tình cảm của HS
Căn cứ vào nội dung dạy học trên thực tế đến hết học kì I để xác định nội dungđánh giá học kì I Tuy nhiên, căn cứ vào gợi ý phân bổ thời lượng cho các mạch nộidung ở lớp 4, có thể xác định những mạch nội dung và yêu cầu cần đạt chủ yếu đãđược tổ chức dạy học ở học kì I Qua đó, xác định các mạch nội dung được đưa vàothiết kế đề kiểm tra định kì Cụ thể:
+ Làm quen với phương tiện học tập môn Lịch sử và Địa lí (Mạch nội dung này
đề cập tới các kĩ năng sử dụng một số phương tiện môn học vào học tập môn Lịch sử
và Địa lí Vì vậy, trong quá trình dạy học ở học kì I các kĩ năng này đã được sử dụngthường xuyên và được GV đánh giá thường xuyên nên có thể không cần thiết phải đưavào nội dung đề kiểm tra định kì)
+ Địa phương em (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) với các nội dung:
Trang 26Thiên nhiên và con người địa phương; Lịch sử và văn hoá truyền thống địa phương
+ Trung du và miền núi Bắc Bộ với các nội dung: Thiên nhiên; Dân cư, hoạt
động sản xuất và một số nét văn hoá; Đền Hùng và lễ giỗ Tổ Hùng Vương
+ Đồng bằng Bắc Bộ với các nội dung: Thiên nhiên; Dân cư, hoạt động sản xuất
và một số nét văn hoá; Sông Hồng và văn minh sông Hồng; Thăng Long – Hà Nội;Văn Miếu – Quốc Tử Giám
- Đề kiểm tra đánh giá được việc hình thành một số năng lực đặc thù của môn
- Câu hỏi và bài tập kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận.
- Hình thức câu hỏi và bài tập đa dạng nhằm đánh giá việc nắm kiến thức, kĩ
năng, việc vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng để giải quyết những tình huống thựctiễn một cách phù hợp: phân tích bảng số liệu, xây dựng timeline, lập biểu đồ, vẽ sơ
đồ, so sánh sự kiện, trả lời câu hỏi/bài tập trên bản đồ trống, phát biểu suy nghĩ, giảiquyết tình huống,
c) Mức độ
- Mức 1: khoảng 50 % (5 câu);
- Mức 2: khoảng 30 % (3 câu);
- Mức 3: khoảng 20 % (2 câu).
Cấu trúc một đề kiểm tra môn Lịch sử và Địa lí học kì I có khoảng 10 câu, trong
đó số câu tự luận khoảng 40% (4 câu) và số câu trắc nghiệm khách quan (điền khuyết,đối chiếu cặp đôi, đúng – sai, nhiều lựa chọn ) khoảng 60% (6 câu)
Nên sắp xếp 50 % số câu liên quan nhiều đến nội dung lịch sử và 50 % số câuliên quan nhiều đến nội dung địa lí; cần tăng cường các câu hỏi có tính tích hợp nộidung lịch sử, địa lí, văn hóa, xã hội
- Các câu hỏi có nội dung bao quát những vấn đề cơ bản, trọng tâm của nội dung
chương trình, đảm bảo các yêu cầu về các mức theo quy định của Thông tư đánh giá
Trang 27e) Biên soạn câu hỏi theo ma trận
Câu 1 Lựa chọn 01 danh nhân, lễ hội, món ăn, di tích lịch sử/cảnh đẹp, nghề truyền thống… mà em cho là tiêu biểu cùng một số thông tin về địa phương em để hoàn thành sơ đồ sau (Mức 2)
Câu 2 Chọn và giới thiệu về một món ăn hoặc một loại trang phục hoặc một lễ
Trang 28hội…ở địa phương em (Mức 3).
Câu 3 Ghi Đ vào trước câu đúng, S trước câu sai (Mức 1)
Hoàng Liên Sơn là dãy núi cao, đồ sộ nhất nước ta với nhiều đỉnh nhọn, sườnnúi rất dốc, thung lũng thường hẹp và sâu
Hoàng Liên sơn là nơi dân cư đông đúc
Bản là nơi các dân tộc ở Hoàng Liên Sơn sống cùng nhau
Trung du Bắc Bộ là một vùng đồi với các đỉnh tròn, sườn thoải, xếp cạnh nhaunhư bát úp
Công nghiệp và thương mại là ngành kinh tế chính ở trung du Bắc Bộ
Cư dân Trung du Bắc Bộ chủ yếu là người Tày, Thái
Câu 4 Hoàn thành bảng mô tả một số lễ hội và nghệ thuật truyền thống của các dân tộc vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, chỉ điền vào những cột có dấu chấm ( ) (M 2)
Trang 29C ……… D ………
Câu 6 Ghi Đ vào trước câu đúng, S trước câu sai (Mức 1)
Đồng bằng Bắc Bộ là đồng bằng lớn nhất nước ta, địa hình khá bằng phẳng Đồng bằng Bắc Bộ được bồi đắp bởi sông Thái Bình và sông Hồng
Đồng bằng Bắc Bộ có mùa đông lạnh kéo dài từ 3 đến 4 tháng
Đồng bằng Bắc Bộ là nơi dân cư thưa thớt
Hội Chùa Hương, Hội Lim, Hội Gióng là những lễ hội nổi tiếng ở đồng bằngBắc Bộ
Trồng rừng và khai thác, chế biến lâm sản là ngành kinh tế chính của đồng bằngBắc Bộ
Câu 7 Chọn và viết các ý sau vào sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa khí hậu, sông ngòi và hoạt động cải tọa tự nhiên của người dân đồng bằng Bắc Bộ (Mức 1)
a) Nước sông dâng cao
Trang 30Câu 9 Nếu là hướng dẫn viên du lịch, khi có khách đến thăm Quốc Tử Giám, em
dự định sẽ giới thiệu những gì về di tích lịch sử – văn hóa này? (Mức 2)
Câu 10 Viết cảm nhận của em sau khi quan sát các hình ảnh sau về Thăng Long– Hà Nội xưa và nay (Mức 3)
Thăng Long xưa
Trang 31Một góc Hà Nội ngày này
Hướng dẫn chấm điểm
Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm.
Câu 1 Trả lời theo thực tế địa phương
Câu 2 HS lựa chọn 01 sản phẩm hoặc lễ hội ở địa phương để giới thiệu Ví dụ,
với món ăn: tên món ăn, thành phần, cách chế biến, mùi vị, ý nghĩa ; lễ hội: tên lễhội, thời gian tổ chức, các hoạt động chính, ý nghĩa
Câu 3 Điền Đ vào các ô: a, b, d; điền S vào các ô: b, c, f
Câu 4 Điền theo các thông tin sau:
1 Lễ hội Gàu Tào H’Mông 1–15 tháng Giêng Các tỉnh
miền núi Tây Bắc
Tổ chức nhiềutrò chơi, thi tài,múa hát: băn nỏ,bắn cung, múakhèn, chọi quay,đua ngựa
2 Lễ hội Lồng
Tồng
vùng ĐôngBắc
Ném còn, múa
sư tử, đi cà kheo
miền núi
Trang 32Câu 8 1 – Sản xuất; 2 – Vũ khí; 3 – Trang sức; 4 – Nghệ thuật
Câu 9 HS có thể có nhiều cách giới thiệu khác nhau, nhưng nếu nêu được 02 ý
trong các ý sau sẽ được điểm tối đa:
- Đây là trường đại học đầu tiên của Việt Nam
- Đây là nơi có bia ghi tên các tiến sĩ
- Đây là nơi khuyến học của người Việt
- Đây là nơi có công trình kiến trúc độc đáo
- Hiện nay, đây là nơi vinh danh các HS giỏi, thủ khoa, người tài của đất nước
Câu 10 Đây là câu hỏi mở, khai thác kiến thức thực tế của HS, HS có thể đưa ra
nhiều ý kiến nhưng cần nhấn mạnh vào sự đổi mới, hiện đại của Thăng Long – HàNội
bd
ac
Trang 33CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÔNG CỤ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP VÀ SỰ TIẾN BỘ CỦA HS TIỂU HỌC VỀ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC
ĐỐI VỚI MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ 2.1 Xây dựng công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí
Công cụ đánh giá kết quả học tập của HS được hiểu là những phương tiện hay kĩthuật được sử dụng trong quá trình đánh giá nhằm đạt được mục đích đánh giá Cáccông cụ đánh giá nhằm mục đích thu thập thông tin để cung cấp cho GV và HS trongquá trình đánh giá và tự đánh giá Tùy vào mục đích, mục tiêu, đối tượng, thời điểm mà
GV có thể sử dụng các công cụ đánh giá khác nhau cho phù hợp
2.1.1 Câu hỏi
2.1.1.1 Khái niệm
Câu hỏi là một trong các công cụ khá phổ biến được dùng trong KTĐG Câu hỏi
có thể được sử dụng trong kiểm tra miệng, kiểm tra viết với các dạng: tự luận, TNKQ,vấn đáp, bảng hỏi ngắn, thẻ kiểm tra, bảng KWLH…
2.1.1.2 Các loại câu hỏi và cách sử dụng
Có các loại câu hỏi cơ bản sau đây:
a) Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan là một loại công cụ kiểm tra, đánh giá, câu trắcnghiệm mang tên khách quan vì cách cho điểm mang tính khách quan, không phụthuộc vào người chấm Tuy nhiên độ khách quan cũng chỉ mang tính tương đối Bởi vìcâu hỏi và các lựa chọn trong trắc nghiệm khách quan vẫn do GV thiết kế Nếu người
GV thiết kế trắc nghiệm không chuẩn xác cũng sẽ dẫn tới đo lường sai lệch trình độcủa HS Ví dụ có những câu hỏi quá mơ hồ khiến HS không hiểu Hoặc có câu có hơnmột phương án đúng, trong khi có câu không có phương án trả lời nào nêu ra là thực
sự đúng
Bài trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều câu hỏi Mỗi câu hỏi cungcấp một thông tin cụ thể và HS được yêu cầu trả lời rất ngắn bằng một hay một vài từhoặc lựa chọn đáp án đúng Vì lượng câu hỏi nhiều mà thời gian trả lời lại ngắn nênbài trắc nghiệm khách quan thường bao hàm được rất nhiều nội đung cần đánh giá
Có nhiều loại câu trách nghiệm khách quan, mỗi loại có ưu nhược điểm riêng,việc sử dụng loại trắc nghiệm nào phụ thuộc vào mục đích đánh giá, loại kiến thức cần
đo lường và phụ thuộc vào những điểm mạnh, điểm yếu của từng loại Dưới đây làmột số loại trắc nghiệm được sử dụng trong kiểm tra, đánh giá môn Lịch sử và Địa lí:
Dạng câu hỏi nhiều lựa chọn:
- Là loại thông dụng nhất, còn gọi là câu đa phương án, gồm hai phần là phần
câu dẫn và phần lựa chọn Phần dẫn là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (câu chưahoàn tất) tạo cơ sở cho sự lựa chọn Phần lựa chọn gồm nhiều phương án trả lời
Trang 34(thường là 4/5 phương án trả lời) Người trả lời sẽ chọn một phương án trả lời duynhất đúng hoặc đúng nhất, hoặc không có liên quan gì trong số các phương án chotrước Phương án còn lại là phương án nhiễu
- Câu hỏi nhiều lựa chọn trong môn Lịch sử và Địa lí thường gồm hai phần:
+ Phần 1: thường là một câu hỏi, đưa ra một câu hỏi, đưa ra yêu cầu cho HS thựchiện, đưa ra một vấn đề, tình huống yêu cầu HS phải giải quyết Câu dẫn cần rõ ràng,ngắn gọn và cho phép HS biết chính xác họ được yêu cầu làm cái gì
+ Phần 2: phương án trả lời là những lựa chọn mà HS sẽ chọn ra một đáp ánđúng nhất Có hai dạng phương án: phương án đúng/chính xác nhất/đúng nhất/phù hợpnhất và phương án nhiễu là những lựa chọn sai, thiếu chính xác hoặc gần đúng Khithiết kế phương án trả lời chắc chắn có và chỉ có một phương án đúng nhất Cácphương án lựa chọn phải phù hợp với câu dẫn về mặt ngữ pháp
- Cách xây dựng câu hỏi nhiều lựa chọn:
+ Câu trắc nhiệm nhiều lựa chọn có câu dẫn dưới dạng là một câu hỏi thì nối vớiphương án trả lời đều viết hoa ở đầu câu và dấu chấm ở cuối câu
Dạng câu hỏi đúng – sai
Là dạng câu hỏi đưa ra các phát biểu để HS đánh giá Đúng hoặc Sai, hoặc để trảlời Có hoặc Không Loại câu hỏi này thích hợp để HS nhớ lại một khối lượng kiếnthức đáng kể trong một thời gian ngắn Do đó, câu hỏi này phải rất rõ ràng để HS cóthể trả lời dứt khoát Có hoặc Không, Đúng hoặc Sai Tuy nhiên, GV cũng cần cânnhắc khi lựa chọn dạng câu hỏi này, vì xác suất trả lời đoán mò rất cao (50%)
Dạng câu hỏi điền khuyết (điền vào chỗ trống):
Là dạng câu hỏi đòi hỏi HS trình bày sự hiểu biết bằng cách viết một từ, một cụm
từ hay một đoạn văn khoảng 4 – 5 dòng Khi thiết kế dạng câu hỏi này, GV phải chú ýtới một số kĩ thuật như: từ điền cần phải là các từ khóa thể hiện nội dung, bản cahastcủa sự kiện, nhân vật lịch sử, đánh số thứ tự các ô trống cần điền; dự đoán các phương
án HS có thể điền (nhất là các từ đồng nghĩa)
Dạng câu hỏi ghép đôi:
Dạng này thường có hai cột thông tin, một bên là các câu dẫn và một bên là cáccâu đáp HS phải tìm ra các cặp tương ứng Dạng câu hỏi này thường dùng để kiểm trakhả năng nhận biết hay xác lập các mối quan hệ giữa các sự kiện, nhân vật lịch sử
b) Câu hỏi tự luận
Câu hỏi tự luận là là loại công cụ được GV thiết kế để yêu cầu HS xây dựng câutrả lời hoặc làm bài tập, bài kiểm tra viết Loại câu hỏi này có ưu thế giúp GV “đo”được trình độ HS về lập luận, đòi hỏi các em lập kế hoạch và tự trình bày trực tiếp ýkiến của mình sao cho có kết quả, tạo cơ sở để GV bình luận về các ý kiến đó Phươngpháp kiểm tra, đánh giá bằng câu hỏi tự luận rèn luyện kĩ năng trình bày, diễn đạt, đođược cảm xúc của HS khi trình bày và đo được quá trình dẫn đến kết quả Một bàikiểm tra tự luận thường có ít câu hỏi, mỗi câu hỏi phải viết nhiều câu để trả lời và cần
Trang 35có nhiều thời gian để trả lời mỗi câu, nó cho phép một sự tự do tương đối nào đó để trảlời các vấn đề đặt ra.
Có hai dạng câu hỏi tự luận:
- Câu tự luận trả lời có giới hạn, là loại câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi
câu hỏi được nêu rõ để HS biết được độ dài ước chừng của câu trả lời Loại câu nàythường có nhiều câu hỏi hơn bài tự luận hoặc câu tự luận có sự trả lời mở rộng Nó
đề cập tới những vấn đề cụ thể, nội dung hẹp hơn nên đỡ mơ hồ hơn đối với ngườitrả lời; do đó việc chấm điểm dễ hơn và có độ tin cậy cao hơn so với câu luận mở.Câu hỏi tự luận mở có hai mức độ: tự luận trả lời ngắn và tự luận trả lời dài
- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp kiểm tra viết bằng câu hỏi tự luận:
+ Đối với câu hỏi tự luận cần được diễn đạt rõ ràng, chú ý đến cấu trúc ngữ pháp,chọn từ ngữ chính xác, tránh tăng mức độ khó của câu hỏi bằng cách diễn đạt phức tạpgây ra sự khó hiểu, tránh những từ hoặc câu thừa
+ Khi tiến hành tổ chức kiểm tra cần đảm bảo phù hợp về thời gian làm bài, tránhcác yếu tố gây nhiễu từ bên ngoài, đảm bảo nghiêm túc khi làm bài
+ Khi chấm bài cần xác định thang điểm chuẩn xác và chi tiết, nên dự kiếnđưa ra một số vấn đề có thể xuất hiện trong bài làm để có cách xử lí và cho điểm,người chấm không nên biết tên HS hoặc lớp HS, việc chấm điểm cần có sự độc lậpgiữa những người chấm
+ Phương pháp kiểm tra viết bằng dạng bài tự luận được sử dụng khi: (1) Nhóm
HS được khảo sát có số lượng vừa phải và chỉ nên sử dụng một lần, không nên dùnglại ngay ở lần sau; (2) Muốn khuyến khích HS phát triển kĩ năng diễn tả bằng khả năngviết; (3) GV muốn thăm dò thái độ hay tìm hiểu tư tưởng, quan điểm của HS về mộtvấn đề nào đó
+ Bài kiểm tra dạng tự luận chỉ thực sự có hiệu quả khi GV chấm bài một cách
vô tư và thận trọng để đảm bảo tính khách quan, chính xác
Câu hỏi sử dụng trong cả trường hợp kiểm tra miệng và kiểm tra viết, khi đặt câuhỏi GV phải chú ý: (1) Các câu hỏi được lựa chọn đúng nội dung cơ bản của việc họctập và đạt được yêu cầu, mục đích kiểm tra; (2) Câu hỏi phù hợp với trình độ HS(không hỏi khó) và phát huy tư duy hoạt động sáng tạo của các em; (3) Khi nêu câuhỏi, GV phải dự đoán được câu trả lời của HS: ý nào trả lời được, trả lời ở mức độnào? thiếu sót nào các em gặp phải? cần gợi ý ở mức độ nào? Trên cơ sở đó, GV xácđịnh tiêu chuẩn đánh giá cho điểm câu trả lời của HS Vấn đề này còn giúp GV tự rút
ra kinh nghiệm để dạy học và KTĐG
c) Câu hỏi vấn đáp
Câu hỏi vấn đáp là một dạng công cụ được sử dụng cho việc hỏi và đáp giữa GV
và HS, qua đó thu được thông tin về kết quả học tập của HS, được sử dụng sau khi họcmột hay nhiều bài, một hay nhiều chương hay toàn bộ giáo trình Kiểm tra bằng câuhỏi vấn đáp có thể sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học cũng như trong khi thi cuốihọc kì hoặc cuối năm học, HS cần trình bày diễn đạt bằng ngôn ngữ nói
Trang 36Tuỳ theo vị trí, mục đích, nội dung của bài học, người ta chia vấn đáp thànhnhững dạng cơ bản sau:
Vấn đáp gợi mở: là hình thức GV khéo léo đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt HS
rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quan sát đượchoặc những tài liệu đã học được
Vấn đáp củng cố: được sử dụng sau khi thực hiện các hoạt động hình thành tri
thức, kĩ năng mới, giúp HS củng cố được những tri thức và kĩ năng cơ bản nhất hệthống hoá chúng theo hướng mở rộng, đào sâu và vận dụng những tri thức đã thuđược, khắc phục tính thiếu chính xác của việc hiểu hàn lâm, máy móc tri thức
Vấn đáp tổng kết: được sử dụng khi cần dẫn dắt HS khái quát hoá, hệ thống hoá
những tri thức đã học sau một vấn đề, một phần, một chương hay một môn học nhấtđịnh Phương pháp này giúp HS phát triển năng lực khái quát hoá, hệ thống hoá, tránhnắm bắt những đơn vị tri thức rời rạc – giúp cho các em phát huy tính mềm dẻo của tưduy
Vấn đáp kiểm tra: được sử dụng trước, trong và sau giờ học hoặc sau một vài bài
học giúp GV đánh giá được nhận thức, kĩ năng của HS một cách nhanh gọn kịp thời để
có thể bổ sung ngay nếu cần thiết Nó cũng giúp HS tự kiểm tra
Như vậy là tuỳ vào mục đích và nội dung bài học, GV có thể sử dụng 1 trong 4hoặc cả 4 dạng phương pháp vấn đáp nêu trên Ví dụ khi dạy bài mới GV dùng dạngvấn đáp gợi mở, sau khi đã cung cấp tri thức mới dùng vấn đáp củng cố để đảm bảo
HS nắm chắc và đầy đủ tri thức Cuối giờ dùng vấn đáp kiểm tra để có thông tin kịpthời từ phía HS
Thông qua loại câu hỏi vấn đáp, GV có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với ngườihọc, nhờ đó có thể đánh giá được thái độ của người học, mặt khác, bằng những câu hỏi
đa dạng, GV không chỉ thu thập được thông tin về hiểu biết của người học theo tiêuchuẩn chung mà còn có thể phát hiện ra những năng lực đặc biệt hoặc những khó khăn,thiếu sót của từng cá nhân người học Tuy nhiên, với số lượng câu hỏi rất ít nên khóbao quát toàn bộ chương trình môn học, việc đánh giá bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủquan, HS được hỏi những câu hỏi khác nhau với thời lượng, ở điều kiện không nhưnhau, do đó ảnh hưởng đến tính khách quan Câu hỏi vấn đáp được sử dụng chủ yếu đểkiểm tra kiến thức của người học, thường tốn nhiều thời gian để tiến hành
d) Bảng KWLH
Bảng KWLH là một công cụ nhằm yêu cầu HS bắt đầu bài học/chủ đề bằng việc
động não tất cả những gì các em đã biết, muốn biết, biết được về chủ đề bài học vàkhuyến khích HS tìm tòi nghiên cứu bài học
KWLH được sử dụng cho những mục đích: (1) Tìm hiểu kiến thức có sẵn của HS
về bài học; (2) Đặt ra mục tiêu cho hoạt động học; (3) Giúp HS tự giám sát hoạt độnghọc và hiểu của mình; (4) Cho phép HS tự đánh giá quá trình học và hiểu của mình;(4) Tạo cơ hội cho HS diễn đạt ý tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ của bàimới/chủ đề mới, được liên hệ và vận dụng vào thực tiễn Những mục đích trên đềuhướng tới phát triển các năng lực của HS
Trang 37KWLH có thể sử dụng trong những trường hợp sau: (1) Lần đầu tiên lên lớp, tiếpxúc với HS mới Mục đích: tạo cảm giác gần gũi, thân thiện với HS; tìm hiểu, thăm dòthái độ của người học, tìm hiểu để biết người học có mong muốn, đề xuất gì với GV;giúp GV có định hướng, điều chỉnh phương pháp dạy học và KTĐG tốt hơn (2) Trướckhi dạy một nội dung/chủ đề mới rất quan trọng Kĩ thuật này đặc biệt có hiệu quả vớicác bài mở đầu chương trình học, hoặc bài học mang tính chất gợi mở, tìm hiểu, giảithích.
Ví dụ: Bảng hỏi theo kĩ thuật “KWLH”
Họ và tên HS:……….………
Lớp: ……… ……….………
Trường: ……….………
Câu hỏi:
1 Em đã biết gì về chủ đề/bài học này? (HS điền vào cột K)
2 Em có mong muốn và đề xuất gì thêm khi học chủ đề/bài học này? (HS điền vào cột W).
3 Em đã học thêm được những gì sau khi học xong chủ đề/bài học này? (HS điền vào cột L).
4 Em có thể vận dụng vào thực tiễn những kiến thức nào và vận dụng như thế nào? (HS điền vào cột H).
e) Bảng hỏi ngắn
Bảng hỏi ngắn là loại công cụ với những câu hỏi mở hoặc đóng hoặc một bài trắc
nghiệm đơn giản là dạng bảng hỏi để kiểm tra kiến thức nền của HS, trong đó yêu cầu
HS hoàn thành trước khi bắt đầu một môn học hoặc một bài học mới
Với dạng câu hỏi này, GV thường viết các câu hỏi lên bảng hoặc lên giấy để phátcho HS, hướng dẫn HS cách trả lời và thông báo cho HS biết kết quả của bài kiểm trakhông ảnh hưởng tới kết quả học tập môn học mà nhằm mục đích giúp GV và HS xâydựng được kế hoạch dạy học hiệu quả
Ngay sau giờ học thông báo lại cho HS kết quả của bài kiểm tra và rút ra nhậnxét, kết luận về kết quả của bài đánh giá, giúp HS xác định được những công việc cầnphải chuẩn bị để học bài mới
Bảng hỏi ngắn kiểm tra kiến thức nền không mang tính chất thách đố hoặc thi cử
GV nên cân nhắc trong việc sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt vì đôi khi HS có thể hiểumột khái niệm nào đó nhưng không quen với thuật ngữ được sử dụng trong bài kiểmtra, có thể ảnh hưởng tới kết quả đánh giá
Trên cơ sở kết quả của bài kiểm tra kiến thức nền, GV có thể có phương án cấutrúc lại chương trình, nội dung môn học/bài học cho phù hợp
Tránh những định kiến về điểm mạnh và điểm yếu của một HS nào đó thông quakết quả của bài kiểm tra kiến thức nền
Bảng hỏi ngắn kiểm tra kiến thức nền không chỉ giúp GV có được thông tin về
Trang 38những kiến thức HS đã chuẩn bị cho môn học/bài học mà còn giúp xác định đượcđiểm bắt đầu hiệu quả nhất của một môn học/bài học mới phù hợp với từng đối tượng.Bên cạnh đó, kết quả thu được từ bảng hỏi ngắn kiểm tra kiến thức nền sẽ giúp HS hệthống lại những kiến thức cơ bản đã tích luỹ được liên quan đến môn học/bài học mới.
f) Thẻ kiểm tra
Thẻ kiểm tra là các câu hỏi ngắn GV đưa ra cho HS thực hiện trong thời gian từ3–5 phút nhằm đánh giá kiến thức của HS trước, trong và sau mỗi bài học hoặc saumỗi chủ đề học tập Sử dụng thẻ kiểm tra giúp GV có thể củng cố kiếm thức cơ bảncủa bài học
Ví dụ: sau khi kết thúc bài học/giờ dạy GV yêu cầu HS trả lời 3 câu hỏi ngắn sau:(1) Điều gì trong bài học hay giờ học này làm em thích nhất? (2) Nội dung nào, phầnnào hoặc điều gì trong bài học hay giờ học này làm em khó hiểu cần thầy/cô giải thíchlại? (3) Điều gì em đặc biệt quan tâm hay mong muốn được biết, nhưng thầy/cô trongbài học này chưa đề cập đến?
HS được GV yêu cầu viết nhanh câu trả lời vào thẻ hay phiếu kiểm tra GV cóthể đọc nhanh các câu trả lời sẽ biết được nhiều thông tin,… rất bổ ích và lập kế hoạchcho việc điều chỉnh hoạt động giảng dạy đáp ứng nhu cầu HS
2.1.2 Bài tập
2.1.2.1 Khái niệm
Bài tập là loại công cụ kiểm tra, đánh giá trong đó chứa các vấn đề cần phải giảiquyết Bài tập thường được trình bày dưới dạng câu hỏi, bài tập có thể là một câu hỏinhưng không phải bất kì câu hỏi nào cũng là bài tập Hai khái niệm này khác nhau ởchỗ: câu hỏi chỉ nêu yêu cầu mà HS cần phải trả lời Còn bài tập vừa có dữ liệu (điềukiện), vừa có yêu cầu (hoặc câu hỏi) Để giải quyết bài tập HS phải căn cứ vào dữ liệu
đã cho để tìm câu trả lời chính xác Nếu câu hỏi mà việc trả lời nó không chỉ là tái hiệnkiến thức, không chỉ đòi hỏi sự nhớ lại đơn thuần mà nhằm hình thành kiến thức vớichất lượng mới bằng các thao tác tư duy phức tạp thì nó trở thành bài tập nhận thức.Bài tập nhận thức có yêu cầu cao hơn, nội dung có tính chất khái quát, đòi hỏi phải cónhận thức sâu sắc mới giải quyết được qua đó giúp người học nâng cao trình độ lênmột bước
Bài tập trong đánh giá phát triển năng lực HS là những tình huống nảy sinh trongcuộc sống, trong đó chứa đựng những vấn đề mà HS cần phải quan tâm, cần tìm hiểu,cần giải quyết và có ý nghĩa giáo dục
Trang 39tự lực, tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong học tập của HS, giúp HS giảm thiểunhững rủi ro khi tham gia vào thực tiễn cuộc sống sau này, đồng thời HS hiểu được mộttình huống thực tiễn có nhiều phương diện xem xét khác nhau, nhiều cách giải quyếtkhác nhau, không có cách giải quyết duy nhất đúng
+ Câu hỏi của GV (nhiệm vụ học tập mà HS phải thực hiện)
GV không chỉ quan tâm đến nội dung câu trả lời mà còn quan tâm đến quá trình
HS tìm kiếm, thu thập thông tin, dữ liệu, phân tích, phát hiện và giải quyết vấn đề.Thông qua bài tập tình huống, HS sẽ được đánh giá dựa vào các hoạt động, kết quả trảlời các câu hỏi của chính các em
GV có thể đánh giá kết quả làm bài tập tình huống của HS bằng cách cho điểmhoặc nhận xét Trong trường hợp nhận xét, GV cần lưu ý như sau:
+ Viết nhận xét cần mang tính xây dựng, chứa những cảm xúc tích cực, niềm tinvào HS Như vậy khi viết nhận xét, GV cần đề cập đến những ưu điểm trước những
kì vọng sau đó mới đề cập đến những điểm cần xem xét lại, những lỗi cần điềuchỉnh;
+ Tránh những nhận xét chung chung, vô hồn: “chưa đúng/sai/làm lại ”; “chưađạt yêu cầu”; “lạc đề”; “cần cố gắng/có tiến bộ” ;
+ Khi viết nhận xét nên sử dụng lời lẽ nhẹ nhàng, thể hiện thái độ thân thiện, tôntrọng, tránh xúc phạm vì như vậy HS sẽ dễ tiếp nhận hơn;
+ Cần tập trung vào một số những lỗi/ sai sót có tính hệ thống, điển hình cần sớmkhắc phục
Các loại bài tập2:
a) Bài tập 1 phút (One Minute Paper)
“Bài tập một phút” là kĩ thuật kiểm tra đơn giản và nhanh nhất để thu thập cácthông tin phản hồi về việc học của HS Bài tập này có thể được tiến hành vào khoảng
3, 4 phút cuối giờ học hoặc sau khi thảo luận nhóm Bài tập này cũng có thể thực hiện
ở đầu giờ học khi GV muốn kiểm tra việc làm bài tập ở nhà của HS GV yêu cầu HStrả lời ngắn gọn (trả lời trực tiếp hoặc viết câu trả lời ra giấy): Nội dung quan trọngnhất mà em học được trong bài này là gì? Còn vấn đề nào em chưa hiểu? GV có thểnhận xét câu trả lời ngay sau khi HS trả lời nếu còn thời gian hoặc có thể thực hiện vào
5 phút đầu của giờ học tiếp theo
1 Herried, C.F (1994), Case studies In Science: A novel Method for science Education, Journal of college science teaching, p.221-229
2 Nguyễn Văn Cường, B Meier (2015), Lí luận dạy học hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
Trang 40Qua phần trả lời của HS, GV đánh giá được kiến thức mà HS đã thu nhận được,những nội dung HS còn chưa hiểu rõ.
Từ đó GV sẽ có biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn để HS thành công hơn trong việchọc của mình Kĩ thuật kiểm tra này còn giúp GV biết được thái độ; các kĩ năng chú ý,tập trung, kĩ năng phân biệt các vấn đề chủ yếu với các chi tiết phụ trong bài của HS.Bài tập một phút cũng tạo cơ hội cho HS được nêu câu hỏi về những vấn đề mà HSquan tâm, hứng thú muốn tìm hiểu sâu hơn
Bài tập một phút cũng có thể được thiết kế như là một câu hỏi mở để HS lựachọn, sắp xếp các nội dung cơ bản của một bài, một chủ đề theo mức độ quan trọng để
HS rèn luyện kĩ năng ghi nhớ, đánh giá sự kiện lịch sử của HS
b) Bài tập thực hành
Bài tập thực hành là dạng bài tập yêu cầu HS thực hiện một nhiệm vụ thực hànhmôn học để rèn luyện các kĩ năng bộ môn như lập bảng niên biểu, vẽ biểu đồ tiến trìnhcủa một cuộc cách mạng, sử dụng từ khóa để hoàn thiện sơ đồ trục thời gian về mộtcuộc khởi nghĩa, kháng chiến,
c) Bài tập nghị luận
Bài tập nghị luận là một dạng bài tập đặt ra những vấn đề cần giải quyết Sử dụngbài tập nghị luận góp phần nâng cao trình độ nhận thức lịch sử của HS Việc hoànthành các bài tập này đòi hỏi tính tích cực, sáng tạo thể hiện tư duy phê phán, mangyếu tố tìm hiểu, nghiên cứu khoa học Vì vậy, đây là loại bài khó, đòi hỏi HS phải tưduy cao trong khi làm bài
2.1.3 Đề kiểm tra
2.1.3.1 Khái niệm
Đề kiểm tra là công cụ đánh giá quen thuộc, được sử dụng trong phương phápkiểm tra viết Đề thi gồm các câu hỏi tự luận hoặc các câu hỏi trắc nghiệm hoặc kếthợp cả câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm
2.1.3.2 Mục đích sử dụng
Đề kiểm tra viết có thể được phân loại theo mục đích sử dụng và thời lượng:
– Đề kiểm tra ngắn (5 – 15 phút) dùng trong đánh giá trên lớp học
– Đề kiểm tra một tiết (45 phút) dùng trong đánh giá kết quả học tập sau khi hoànthành một nội dung dạy học, với mục đích đánh giá thường xuyên
– Đề thi học kì (45 – 90 phút tuỳ theo môn học, đối với môn chuyên tối đa 120 phút)dùng trong đánh giá định kì
2.2.3.3 Cách sử dụng
Đề kiểm tra ngắn có thể được ghi lên bảng, trình chiếu bằng máy chiếu hoặc in trêngiấy Sử dụng đề kiểm tra ngắn đầu giờ học để kiểm tra kiến thức cũ của học sinh, nhờvậy, củng cố các kiến thức cần huy động trong thực hiện các nhiệm vụ học tập của bài học