2> Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: Năm 2001 Tỉnh đã tập trung đầu tư cao độ cho nông nghiệp 170 tỷ đồng, nhất là một số chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông thôn như tăng diệ
Trang 1BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KC.08
“BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI” h
DE TAI KC - 08 - 06
"NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NÔNG THON VIET NAM THEO CAC
VÙNG SINH THÁI ĐẶC TRUNG, DỰ BÁO XU THẾ DIỄN BIẾN, ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP KIỀM SOÁT THÍCH HỢP"
ĐỀ TÀI NHÁNH: TỈNH NGHỆ AN BAO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
"NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ Môi TRƯỜNG NÔNG THÔN
TINH NGHE AN THEO CÁC VÙNG SINH THÁI ĐẶC TRƯNG,
DU BAO XU THE DIEN BIẾN, ĐỀ XUẤT CÁC CHÍNH SÁCH
VÀ GIẢI PHÁP KIỂM SOAT THICH HOP"
Cơ quan thực hiện: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An
Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Xuân Bí
Người tham gia: Ths Võ Văn Hồng
HÀ NỘI, 12/2003
SỪN- 9,
¿1[ 410
Trang 2CHƯƠNG 1 NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN,
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN
1.1 ĐẶC ĐIỂM TỤ NHIÊN
1.1.1 Vị trí địa lý
"Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, tọa độ địa lý 18°3310) đến
1992443 vĩiđộ Bắc và từ 10395253" đến 105945'50" kinh độ Đông
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dang, phức tạp và
bị chia cắt bởi các hệ thống đổi núi, sông suối, hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông Nam, cao nhất là đính Pulaileng (2.711 m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2 m so với
mực nước biển ( xã Quỳnh Thanh, huyện Quỳnh Lưu)
Đổi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn Tỉnh
1.1.3 Khí hậu
Do đặc điểm địa hình và vị trí địa lý, Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gid chính đó là:
- Gió mùa Tây Nam khô nóng vào mùa hạ (từ tháng 4 đến tháng 8)
- Gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt vào mùa đông (từ tháng !1 đến tháng 3 năm sau)
* Nhiệt độ:Nhiệt độ bình quân cả năm là: 25,15 °C
* Lượng mua: Tổng lượng mưa trung Bình năm 2001 là 1665,9 mm nhỏ hơn tổng lượng mưa trung bình nhiều năm là 2,3 mm và nhỏ hơn năm 2000 là 234.5 mm
Số ngày có mưa trong năm 2001 là 166 ngày nhiều hơn trung bình nhiều năm (TBNN) là 23 ngày và nhiều hơn năm 2000 là 22 ngày
* Độ ẩm : Trung binh nam: 87%
Trang 3* Nắng: — Tổng số giờ nắng trong năm là: 1413 giờ, ít hơn tổng giờ nắng TBNN 1a 150 giờ và thấp nam 2000 là 25 giờ
* Bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi năm 2001 là 720,4 mm; nhỏ hơn TBNN là 183,6 mm và nhỏ hơn năm 2000 là 34,8 mm; Số ngày mưa phùn: 24 ngày
1.1.4 Thuỷ văn
Mật độ sông suối : 0,6 - 0,7 km/km? Sông lớn nhất là sông Cả bắt nguồn từ thượng Lao dai 532 km (đoạn chảy qua Nghệ An dai 375 km)
* Neudn nudc song sudi:
Mực nước trung bình trên sông Cả năm 2001 thấp hơn mực nước TBNN 16 cm
và thấp hơn năm 2000 là 2 cm nhưng thời kỳ cạn kiệt nhất năm 2001 mực nước lại cao hơn thời kỳ cạn kiệt nhất của năm 2000 là 11 cm Sông Cả là sông chính ở Nghệ
An (còn gọi là sông Lam) bất nguồn từ Lào chảy vào Việt Nam trong lưu vực 27103km?, mỗi phần lưu vực ở Lào là 9740km? Sông Cả có 45 nhánh sông cấp I, 94 nhánh cấp II và 46 nhánh cấp III Trong những nhánh sông cấp l có 4 nhánh có khu vực dẫn nước lớn hon 1000km?
1.1.5 Dia giới hành chính
Nghệ An có 19 huyện, thành thị: trong đó có 1 thành phố loại 2 (thành phố Vinh), 1 thi xã (thị xã Cửa Lð) và có 17 huyện (gồm 7 huyện đồng bằng và 10 huyện miền núi); tổng số xã hiện nay là 469, Thành phố Vinh là trung tâm chính trị - kinh tế
- xã hội của Tỉnh
1.1.6 Thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất được xác định năm 2000 là 1.649.991 ha, trong đó điện tích
đã điều tra lập bản đồ thổ nhưỡng là: 1.501.228 ha Theo nguồn gốc phát sinh, có thể phân đất Nghệ An thành 2 nhóm chính: đất thủy thành: 247.774ha chiếm 16,51% và đất địa thành: 1.253.454ha chiếm 83,49%
1.1.7 Tài nguyên Rừng và thẳm thực vát
Nghệ An có tổng diện tích đất lâm nghiệp 1.195.447/1.649.991 ba đất tự nhiên;
đất rừng là 684.398 ha chiếm khoảng 41,57% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh
Trong đó:
- Diện tích đất rừng tự nhiên là 622.535,14 ha
- Diện tích đất rừng trồng 62.961,16 ha
- Diện tích đất ươm cây giống 7,99 ha
Theo kết quả điều tra khảo sát đa dạng sinh học ở một số khu rừng đặc dụng ở Nghệ An cho thấy :
- Thực vật: Có 1.193 loài thuộc 537 chỉ -163 họ
- Động vật: Phát hiện 342 loài thuộc 91 họ - 27 bộ
Từ năm 1992 đến cuối năm 2000, nhờ các chính sách, các dự án đầu tư hỗ trợ khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới nên diện tích rừng ở Nghệ An đã tăng thêm được
108.200 ha, do đó độ che phủ tăng từ 41,8% (1999) lên 42,5% năm 2001.
Trang 41.1.8 Tài nguyên Khoáng sản
Nhìn chung tài nguyên khoáng sản ở Nghệ An được đánh giá là đa dạng về chủng loại, nhưng trữ lượng nhỏ, chất lượng quặng không cao, không có khả năng khai thác công nghiệp, ngoại trừ một số loại như than, thiếc, vật liệu xây dựng
1.1.9 Biển và nguồn lợi thuỷ sản
Biển Nghệ An rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40 m vào bờ, biển có đáy bằng phẳng, từ 40 m ra khơi có nhiều đá ngầm, cồn cát, là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao
Bờ biển Nghệ An dài 82 km, có 6 cửa lạch, thuận lợi cho phát triển cảng biển, nghề làm muối (khoảng 750 ha) và nuôi trồng thuỷ sản
Mặt khác, bờ biển Nghệ An có nhiều bãi biển đẹp: cát trắng, nước trong, bãi biển thoai thoải, thích hợp cho các hoạt động du lịch tắm biển như Cửa lò, Diễn
Thành, Cửa Hội, Quỳnh Phương,
1.2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
Năm | Tổng số Phân theo giới tính Phân theo thành thị, nông thôn
(người) Nam Nữ Thành thị Nông thôn
(Nguồn: Sở Y tế Nghệ An, năm 2001)
& Tinh hình dịch bệnh và kết quả thực hiện công tác phòng chống dịch năm
2001
Trang 5Bảng 3: Tình hình dịch một số bệnh truyến nhiễm gây dịch ở Nghệ An năm 2000 - 2001
‘ Số nhiễm bệnh Số tử vong Số nhiễm bệnh | Số tử vong |
(Nguồn: Trung tâm y tế dự phòng Nghệ An năm 2001)
6 Tình hình nhiễm HIV tại Nghệ An:
Ở Nghệ An tính đến ngày 30 tháng 4 năm 2002 đã phát hiện 1.460 người nhiễm HIV, trong đó tỉnh có 1.167 người, còn lại 293 người ngoại tỉnh (Hà Nội 166 người, Hà Tĩnh 44, còn lại của các tỉnh khác) Tính về số lượng tỉnh ta xếp vào hàng thứ sáu trong 61 tỉnh thành trong cả nước Nghệ An đã có 158 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 51 người chết
Địa phương có nhiều người nhiễm HIV cao nhất là thành phố Vinh với 730 người (chiếm 63% của toàn Tỉnh), Con Cuông 63 người, Nghĩa Đàn 60 người, Đô Lương 49 người, Hưng Nguyên 39 người, Nghi Lộc 36 người v.v
Đặc biệt trong 4 tháng đầu năm 2002 đa phát hiện được 170 người nhiễm HIV
88 người chuyển sang giai đoạn A1DS
Những người nhiễm HIV của Nghệ An đa phần không có nghề nghiệp, một số làm nghề tự do và một số là cán bộ công nhân viên chức Nhà nước
Công tác xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV trên địa bàn tĩnh Nghệ An đang được tiến hành một cách đồng đều, có chất lượng và đúng theo quy định của Nhà
Trang 6Đồ thị 1: Số lượng trường học trên địa bàn tỉnh năm 200 Ï
(Nguồn: Chỉ cục thống kê Nghệ An, năm 2001)
Đồ thị 2: Số hượng giáo viên và học sinh năm 2001
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 9,1 % (kế hoạch đề ra là: 9-10%)
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2001 tuy không đạt kế hoạch đề ra nhưng cao hơn năm 2000 Nông nghiệp tăng trưởng chưa vững chắc, thương mại dịch vụ có biểu hiện chững lại một phần do biến động thị trường thế giới và đạt kế hoạch thấp
> Ngành công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm ước đạt 1.562,5 tỷ đồng tăng 32.8% so với cùng kỳ Trong đó Công nghiệp TW tăng 28% công nghiệp quốc doanh địa phương
Trang 7tăng 15,2%, Công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 21,3%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,8 lần so với cùng kỳ (chủ yếu là sản xuất mía đường)
- Một số ngành nghề ở nông thôn được phục hồi và du nhập mới như: mây tre đan, mộc mỹ nghệ, ươm tơ lấy sợi đã có bước phát triển
2> Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:
Năm 2001 Tỉnh đã tập trung đầu tư cao độ cho nông nghiệp 170 tỷ đồng, nhất
là một số chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông thôn như tăng diện tích lúa lai, bê tông hoá kênh mương, chè, dứa, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản kết quả sản lượng lương thực cả năm ước đạt 85,] vạn tấn, vượt 3, vạn tấn so với năm 2000; các vùng chuyên canh cây công nghiệp khác như mía đạt 21363 ha, lạc 27150 ha, chè
5000 ha, dứa 1 100 ha
Dan gia súc tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ (lợn 2,97%; bò 2,5%; trâu
1,48%) Tổng đàn lợn 846.039 con; đàn bò 274.849 con; đần trâu 269.879 con
Thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, năm 2001 đã trẻng được
6200 ha rừng tập trung, trồng 18 triệu ha cây phân tán, bảo vệ 402.363 ha rừng, khoanh nuôi 75.220 ha rừng, chăm sóc 27.632 ha rừng, khai thác 15.000 m` gỗ
Nuôi trồng thuỷ sản tiến bộ nhanh: sản lượng tôm nuôi đạt 320 tấn, gấp 2 lần năm 2000, cao nhất từ trước đến nay Bốn trại sản xuất tôm giống trong tỉnh đã sản xuất được 12,5 triệu con tôm giống Phong trào nuôi tôm, nuôi cá trên ruộng lúa phát triển khá tốt (850 ha) sản lượng khai thác thuỷ sản tăng 3,3% so với năm 2000 Sản lượng sản xuất muối đạt 70.000 tấn
2> Các ngành Dịch vụ - thương mại
- Tổng mức bán lẻ và dịch vụ thị trường xã hội đạt 5.584 tỷ đồng tăng 5,02% so
với cùng kỳ
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 35 triệu USD, chủ yếu là xuất
khẩu trực tiếp Sản phẩm xuất khẩu khá là hàng hải sản 2400 tấn, lạc nhân 4000 tấn, chè búp khô 2200 tấn, gỗ mỹ nghệ 1,5 triệu sản phẩm
- Hoạt động du lịch có chuyển biến tốt, doanh thu đạt 112 tỷ đồng tăng 15% so với cùng kỳ Các hoạt động dịch vụ vận tải hàng hoá, bưu điện, dịch vụ xã hội tăng trưởng khá Hàng hoá luân chuyển tăng 24% so với năm 2000 {1]
> Đầu tư xây dung
Vốn tín dụng nhà nước năm 2001 : Chi nhánh quỹ hỗ trợ phát triển đã cho vay
ưu đãi 47 tỷ đồng cho 25 dự án, đã triển khai chỉ tiêu kế hoạch nguền vay không lãi
65 tỷ đồng (25 tỷ bê tông hoá kênh mương và 40 tỷ đồng đầu tư vào 4 lĩnh vực thuỷ lợi giao thông, hạ tầng, thuỷ sản và làng nghề)
1.2.5 Văn hoá -xã hội
- Đảm bảo thực hiện tốt các chính sách xã hội, thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm có kết quả Tạo việc làm tập trung cho 7000 lao động, đưa được 2700 lao động đi làm việc ngoài tỉnh và ngoài nước Đưa tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 17,6% (theo tiêu chí mới)
- Hoạt động văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình, báo chí xuất bản có nhiều tiến bộ Nhiều hoạt động văn hoá tổ chức chu đáo, tạo ấn tượng tốt và thu hút được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân.
Trang 8- Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân có chuyển biến Đã có bước tiến
trong các loại dịch vụ y tế như các phòng khám chất lượng cao, dịch vụ vận chuyển
cấp cứu, Số người được khám bệnh tăng 10,6% so với năm 2000 Công tác y tế dự phòng có nhiều cố gắng không để xẩy ra dịch bệnh lớn
- Phong trào toàn đân tham gia luyện tập thể dục thể thao ngày càng thu hút được nhiều người hưởng ứng Hoạt động văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình có nhiều tiến bộ, phục vụ tốt Đại hội Đảng các cấp, các ngày lễ hội và nhu cầu của nhân
dân
1.2.6 An ninh, Quốc phòng
Cấp uỷ, UBND các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc pháp lệnh dân quân tự
vệ và dự bị động viên; Nghị định 40/CP của Chính phủ về công an xã Nghị định 34 NĐ/CP chính phú về “Quy chế, khu vực biên giới đất liền", Chỉ thị 62-CT/TW của Bộ chính trị về "Tăng cường giáo dục quốc phòng toàn dân trước tình hình mới” Tổ chức
sơ kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh Dân quân tự vệ và Pháp lệnh Dự bị động viên Công tác khám tuyển, gọi thanh niên nhập ngũ đạt chỉ tiêu 100% (4040 người), kết quả tốt Công tác hậu phương quân đội, đến ơn đáp nghĩa được chú ý hơn
Công tác chỉ đạo điều hành có đổi mới, cải cách hành chính đang triển khai tích
cực, ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, thu hút nhân tài khuyến khích
phát triển sản xuất, tăng thu ngân sách, phân công phân cấp mạnh cho các ngành và cấp huyện Số đơn thư giảm 13,6% so với năm 2000, ít đơn thư và khiếu kiện đông người vượt cấp ra trung ương
Trang 9CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC VÙNG SINH THÁI Ở NGHỆ AN
2.1 TÀI NGUYÊN VA MOI TRUONG MIEN NUI NGHE AN
Miền núi Nghệ An có diện tích tự nhiên hơn 13.000km”, chiếm 83% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, có gần 40 vạn đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 30%
dan số miền núi, 14% dân số toàn tỉnh, cư trú trên địa bàn 102/201 xã miền núi của
10 huyện miền núi Nghệ An, có 6 cộng đồng tộc người cùng chung sống, trong đó ngoài tộc người Việt (Kinh) cồn có 5 tộc người dân tộc thiểu số được thể hiện
Bảng 5: Dân số và sự phân bố
(Nguồn Cục thống kê Nghệ An năm 2001)
* Dan toc Thai
Người Thái thuộc nhóm chủng Mongolod Nam Á Tiếng Thái thuộc ngôn ngữ Tày Thái Người Thái có chữ viết riêng từ lâu Ở Việt Nam chữ Thái có 7 cách viết khác nhau trong đó người Thái ở miền Tây Nghệ An có cách viết riêng
Trong lịch sử phát triển, người Thái phân chia thành các nhóm khác nhau và có mặt trên một địa bản rộng Người Thái ở Nghệ An có 3 cách nhóm chính:
- Nhóm Tày Mường, hay còn gọi là Tày Chiểng hoặc Hàng Tổng đến cư trú lập nghiệp sớm nhất ở vùng Châu Kim, Mường Nọc (Quế Phong)
- Nhóm Tày Thanh hay thường gọi là Mán Thanh lập nghiệp ở những vùng Môn Sơn, Lục Dạ, Mậu Đức, Đôn Phục (Con Cuông) hay Tiên Đồng (Tân Kỳ)
- Nhóm Tày Mười hay còn gọi là Tày Muỗi cư trú chủ yếu ở vùng Yên Na, Yên Hoà, Yên Tĩnh, Yên Thắng (Tương Dương)
Người Thái quen làm lúa nước, ở nhà sàn Bản làng thường gần nguồn nước Người Thái thích cư trú ở nơi trước bản là ruộng, sau lưng bản là đổi núi có khe suối Gia đình người Thái nói chung giữ tập quán phong tục liên quan đến quan hệ 2 chiều: quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân Tổ chức xã hội cổ truyền của người Thái
lấy Bản làm tổ chức cộng đồng, trong đó mỗi thành viên đều tổ hợp thành từng gia đình riêng của mình Đơn vị gia đình hạt nhân hay mở rộng đều có một nếp nhà sàn riêng
Trang 10Quan hệ dòng họ đóng vai trò quan trọng trong đời sống người HMông Vì thế bên cạnh trưởng bản thì trưởng họ và chủ gia đình có vai trò rất quan trọng trong hệ thống tự quản truyền thống
An, Nghĩa Lợi
Nguồn sống chính của người Thổ là làm ruộng nước bậc thang, gieo trỉa lúa nước và chăn nuôi trâu bò, lợn và gia cầm Tuy ở gần sông Hiếu, sông Dinh nhưng do địa thế khó khăn nên không khai thác được các yếu tố thuỷ lợi như người Thái Sản xuất của Người Thái phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết Ngoài nông nghiệp, người Thổ còn có nghề trồng gai, đan lưới săn thú rừng, đan võng gai rất nổi tiếng
Người Thổ sống thành làng có trùm làng đo dân bầu ra Tuy vậy, địa vị xã hội
và đời sống kinh tế của trùm làng vẫn không biệt lập ra ngoài quan hệ cộng đồng cư trú làng cổ truyển của người Thổ Người Thổ có tập quán ở nhà sàn Hiện nay dang trong quá trình chuyển xuống nhà đất
Người thổ lấy vợ, lấy chồng trong cộng đồng tộc người của mình Phải chăng đây là yếu tố biểu thị ý thức về cộng đồng tộc người, có tác dụng cũng cố cộng đồng bền vững Sinh hoạt văn hoá đặc trưng của người Thổ là điệu hát “đu du điểng điểng"
và có tục thờ nhiều vị thần của làng
* Người Ởđu
Trang 11Người Ởđu trước có tên gọi miệt thị là Tày Hat tức là kể đói rách Ở Nghệ An
người Ởđu sinh sống ở huyện Kỳ Sơn Họ quần tụ thành các trung tâm quần cư, làm rẫy làm ruộng Người Ởđu có tiếng nói riêng, thuộc hệ ngôn ngữ Môn - Khơme Hiện nay, cách ăn mặc, tiếng nói và những nét sinh hoạt văn hoá của người Ởđu đang bị hoà đồng vào các dân tộc khác
2.1.1 Hiện trạng rừng và đa dạng sinh học
*Áp lực
- Do đời sống của đồng bào miền núi còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu phụ thuộc vào khai thác tài nguyên rừng như: săn bắt động vật, đốt rừng làm nương rẫy,
khai thác dược liệu,
- Lợi nhuận từ buôn bán lâm sản, động vật rừng cao nên bọn lâm tặc hoạt động
ngày càng gia tăng và tinh vị hơn
- Nhận thức về bảo vệ rừng của người dân mặc dù đã được nâng lên, nhưng nhiều nơi ở miễn núi do khó khăn về đời sống nên họ vẫn khai thác triệt để và buôn bán trái phép gỗ và động vật rừng quý hiếm để làm hàng hoá trao đổi Nhiều chính quyền ở địa phương chưa thực sự quan tâm bảo vệ rừng Mặt khác, địa bàn hoạt động của lực lượng kiểm lâm rộng, địa bàn đi lại khó khăn hiểm trở, đặc biệt là vùng giáp ranh giới với tỉnh bạn, vùng biên giới
Trang 12Từ những năm trước năm 1990 bình quân mỗi năm diện tích rừng tỉnh Nghệ An mất đi khoảng 1000 ha Trước tình hình trên Thủ tướng chính phủ ban hành Chỉ thị
90, Chỉ thị 286, Chỉ thị 287 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách nhầm han chế khai thác chặt phá rừng trái phép và tiến hành đóng cửa rừng tự nhiên một số khu rừng trọng điểm và quy định những loài quý hiếm không được thiết kế khai thác
Do khai thác lạm đụng nhiều đến vốn rừng tự nhiên bởi vậy nên diện tích rừng
tự nhiện thu hẹp dần, chất lượng rừng ngày càng giảm sút, một số loài có nguy cơ tuyệt chủng, chất lượng rừng nguyên sinh giảm dân về tổ thành loài, sản lượng cũng như cấu trúc tầng thứ
Năm 1990, 1991 toàn tỉnh có 10 Lâm trường quốc doanh có chỉ tiêu khai thác
gỗ rừng tự nhiên Sản lượng khai thác mỗi năm 22.000 mỶ, trên diện tích rừng 250 ha
Từ năm 1999 đến nay diện tích rừng được cấp giấy phép khai thác bình quân 120 ha/năm, sản lượng 10.000 mỶ/ năm
(Nguồn: Chỉ cục kiển lâm Nghệ An, năm 2002)
* Tình hình quản lý và bảo tồn tài nguyên rừng:
Căn cứ vào mục đích sử đụng rừng được phân chia làm 3 loại:
- Rừng đặc dụng: 223.647,6 ha
Trong đó có 03 khu bảo tồn thiên nhiên và khu mộ Bà Hoàng Thị Loan, rú chung Hiện nay các khu rừng đặc dụng đã thành lập ban quản lý và đã đi vào hoạt động có hiệu quả, khu bảo tồn Pù Hoạt (Quế Phong) đang xúc tiến thành lập ban quản
Trang 13Hiện nay, ở Nghệ An công tác quản lý bảo tổn còn một số bất cập ví dụ như Khu bảo tổn thiên nhiên Pù Hoạt đã thành lập song chưa có ban quản lý, các ban quan
lý rừng phòng hộ cũng chưa có ban quản lý nên diện tích rừng đang bị phá hoại về chất lượng và diện tích
* Các khu rừng đặc dụng ở Nghệ An
Tổng diện tích quy hoạch xây dựng và sử dụng vào các khu bảo tổn thiên nhiên
223.647,6 ha, chiếm hơn 30% tổng diện tích rừng tự nhiên của cả tỉnh bao gồm:'
l Vườn quốc gia Pù mát
- Nam ở phía tây Nghệ An, cách thành phố Vinh 120 km, trên địa phận của 3 huyện Tương dương - Anh Son - Con Cuông Khu bảo tồn thiên nhiên Pùmát có diện
tích 91.000 ha
2 Khu bảo tôn Pù huống
Có diện tích 50.075 ha, nằm ở Trung tâm lưu vực sông Hiếu và thượng nguồn sông Cả Được thành lập năm 2001, là khu bảo tổn có nhiều động ví vật thực vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ ở Việt Nam
3 Khu bảo tôn thiên nhiên Pù hoại
Nằm ở phía tây bắc huyện Quế phong, có điện tích 67.943 ha là khu bảo tồn có nhiều loài gỗ quý
4 Khu rừng đặc dụng núi Chung, Mộ bà Hoàng thị Loan, huyện Nam Đàn, Khu rừng đặc dụng Vực Mấu - Quỳnh lưu
* Đánh giá tốc độ phục hồi rừng trong những năm qua
Thời gian qua, công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng đã được tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh cùng các cấp, ngành, các địa phương quan tâm chỉ đạo
Ngoài việc giao đất cho các lâm trường, Ban quản lý, các hộ gia đình sử dụng
và sản xuất kinh doanh, Ngành lâm nghiệp còn chú trọng xây dựng vốn rừng và kết quả đã đạt được qua thực hiện các dự án như: Trồng rừng tập trung 8.000ha/năm, khoanh nuôi rừng:100.000ha/năm
* Nguyên nhân dân đến mát rừng:
- Hoạt động đốt nương làm rẫy của đồng bào miền núi do nạn du canh, du cư
- Cháy rừng, chặt phá rừng, khai thác lâm sản bừa bãi lấy củi và lâm sản
- Vấn đề đổi mới lam trường quốc doanh tiến hành còn chậm
-= Vai trò quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của Chính quyền địa phương các cấp hiệu quả chưa cao :
- Công tác tiến hành giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân quản lý, sử dụng chưa kịp thời
- Đầu tư cho lâm nghiệp còn ít, chưa tập trung, quản lý vốn đầu tư chưa hiệu
°
quả
* Kế hoạch khai thác rừng năm 2003:
Hiện nay chỉ có 6 lâm trường trên địa bàn toàn tỉnh (Con Cuông, Anh Sơn,
Thanh Chương, Quỳ Châu, Cô Ba, Quỳ Hợp) có chỉ tiêu khai thác rừng tự nhiên
Sản lượng năm 2003: 10.151 mỶ, trên diện tích: 354 ha
12
Trang 14Ngoài việc khai thác rừng tự nhiên, còn khai thác các lam sản phụ như song, mây, tre, nứa, nhựa thông,
* Tổ chức quản lý bảo vệ rừng:
Lực lượng quản lý bảo vệ rừng chuyên trách (lực lượng kiểm lãm) hiện nay có gần 500 cán bộ được phân cấp từ cấp tỉnh đến cấp huyện
Nhiệm vụ chính của lực lượng Kiểm lâm là quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy
chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và
quản lý lâm sản
Thời gian qua lực lượng Kiểm lâm đã thực hiện đề án đổi mới lực lượng Kiểm lâm và tăng cường 2/3 Kiểm lâm xuống cơ sở Cho đến nay đã thành lập 33 cụm Kiểm lâm địa bàn và bước đầu hoạt động có kết quả nhằm bảo vệ rừng tai Đốc, theo hướng xã hội hoá công tác quản lý bảo vệ rừng
Hiện nay, Chỉ cục Kiểm lâm Nghệ An là một trong những Tỉnh ứng dụng sớm công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và bước đầu đã có kết quả
Ngoài ra các vườn Quốc gia Pù mát, Khu bảo tên thiên nhiên Pù Huống, điều tra
nghiên cứu khoa học và bước đầu khai thác du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn
Ngoài công tác quản lý bảo vệ rừng đã được Nhà nước thể chế hoá bằng Quyết định số 245/QĐ-TTg về việc phân cấp quản lý Nhà nước về rừng cho chính quyền các
cấp đặc biệt là cấp xã
Các khu rừng đã thực sự có chủ, hầu hết điện tích rừng đã giao cho các doanh
nghiệp, các ban quản lý rừng đặc dụng, các đơn vị lâm, nông trường và giao trực tiếp cho hộ dân theo Nghị định 163/CP nên người dân trực tiếp tham gia quản lý bảo vệ rừng và kinh doanh có hiệu quả nhất là trên đất đốc bằng nghề rừng, vườn rừng _
Các dự án lâm nghiệp đã đầu tư quy mô trên địa bàn tỉnh Nghệ An như dự án
661, dự án Vườn Quốc gia Pù mát, dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên Pù mát, dự án bảo vệ rừng và lưu vực sông Cả tỉnh Nghệ An,
* Đa dạng sinh học rừng Nghệ An
Nghệ An có 2 kiểu rừng chính: Rừng nhiệt đới mưa ẩm lá rộng thường xanh và
kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới, ngoài ra còn có các kiểu phụ tre nứa và núi đá nên hệ thực vật, động vật rất phong phú đại diện cho các kiểu rừng nói trên
Theo điều tra mới nhất hiện nay rừng Nghệ An có 117 họ thực vật, 342 chị, 612 loài thực vật Việt Nam điển hình như Pơ mu, sa mu, kim giao, lựu xanh, trầm hương,
lát hoa, đinh hương, lim, sến, tấu, de, đổi, xoay, chò chỉ,
Về động vật: Theo kết quả điều tra ban đầu đã phát hiện 291 loài động vật có
xương sống, trong đó có 63 loài thú, 176 loài chím, bò sát 35 loài, lưỡng cư L7 loài
Trong đó có 45 loài quý hiếm được ghi vào sách đỏ động vật Việt Nam Đặc biệt có 3 loài mới phát hiện là Sao la, mang lớn, mang Trường Sơn đã được các nhà khoa học thế giới công nhận
Một số loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng như: Bò tót, hổ, báo hoa mai, voi,
sao la, gấu chó, ; thực vật như: Trầm hương, Lim xanh, Pơ mu, Định hương, Sa
mu
* Tình hình quản lý cháy rừng:
13
Trang 15Do thực hiện tốt quản lý rừng tại địa bàn nên trong 3 năm từ năm 2000 đến nay
số vụ cháy rừng đã giảm đáng kể, diện tích rừng thiệt hại không đáng kể nhưng trong
năm 2002 diện tích cháy rừng tăng lên so với năm 2000 và 2001
Đồ thị 15: Diện tích cháy rừng
DIỆN TÍCH CHÁY RỪNG
Từ kết quả điều tra thăm dò cho thấy: Nghệ An là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú cả về số lượng, chất lượng và nguồn gốc thành tạo
Có thể nói rằng đấy là thế mạnh của tỉnh trong việc phát triển kinh tế xã hội
Hiện trạng môi trường trong khai thác khoáng sản Quỳ Hợp, Nghệ An Trên địa bàn huyện Quỳ Hợp đã tiến hành kiểm tra 34 đơn vị khai thác thiếc,
đá vôi, đá vôi trắng,
Hiện trạng môi trường nước đã được cải thiện rất nhiều so với năm 2000, 2001,
2002 Đặc biệt so với thời kỳ nóng bỏng năm 1991, 1992 mức độ ô nhiễm đã giảm ít
nhất 80%
Tuy nhiên, nước sông Nậm Tôn vẫn còn đục (mức độ đỡ hơn so với trước đây)
vì còn một số nhóm tư nhân khai thác thiếc tự do mà Chính quyền huyện chưa quản lý được, chưa đưa được vào tổ chức (HTX, DN tư nhân, Công ty TNHH ) Uỷ ban nhân
14
Trang 16dan huyén và các ban ngành chức năng đang từng bước tổ chức đưa các các nhân này vào nề nếp để quản lý
- Hiện trạng khai thác đá vôi, đá trắng không gây ô nhiễm môi trường nước nhưng gây ô nhiễm nặng do bụi từ các máy xay nghiền đá, hầu hết các cơ sở chưa chấp hành tốt các giải pháp kỹ thuật như phun nước ở bộ phần xay nghiền để giảm thiểu ô nhiễm bụi, mặc dù trong Bản kê khai đã có cam kết Tuy nhiên, việc ô nhiễm này có tác động trực tiếp đến công nhân đứng máy và bốc xúc trong phạm vi cục bộ chứ không phát triển rộng ra bên ngoài khu vực sản xuất
Như vậy, khi đánh giá tài nguyên khoáng sản Nghệ An chúng ta có thể nhận
xét như sau:
+ Tiểm năng tài nguyên khoáng sản của tỉnh Nghệ An rat da dang về chủng loại từ các khoáng sản kim loại, phi kim loại, vật liệu xây dựng các nguyên liệu nhiên liệu đến các khoáng sản quý hiếm .và có nhiều mỏ trữ lượng lớn, chất lượng cao
+ Các mỏ thường phân bố ở phía Tây, Tây Bắc và Tay Nam của tỉnh là vùng núi uốn nếp và có điều kiện tạo thuận lợi, nhưng điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
và cơ sở hạ tầng chưa phát triển
+ Một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn, chất lượng cao điều kiện khai thác
dễ đàng như thiếc sa khoáng, vật liệu xây dựng đã được điều tra nghiên cứu về địa ' chất tương đối chỉ tiết ở mức độ có thể thiết kế cho khai thác, sử dụng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Trên thực tế, nhiều mỏ đã được đưa vào khai thác như than Khe
Bố, thiếc Quỳ Hợp, Quế Phong, đá trắng Quỳ Hợp
Việc khai thác khoáng sản bừa bãi, thiếu tổ chức với nhiều thành phần kinh tế tham gia đã làm cho môi trường khai thác khoáng sản ở khu vực này vốn dễ bị suy thoái do nạn phá rừng, lại càng bị ô nhiễm và xuống cấp nghiêm trọng
Nhìn chung mức độ khai thác tài nguyên khoáng, sản ở Nghệ An chưa nhiều, công nghệ khai thác và chế biến còn lạc hậu nên hiệu quả kinh tế chưa cao, đã gây tác động xấu đến môi trường
2.1.3 Tài nguyên đất
Do ảnh hưởng địa hình, khí hậu và thảm thực vật đất đai miền núi Nghệ An hết sức đa đạng và được phân theo ranh giới hành chính như sau
Bảng 8: Tổng hợp đất tự nhiên các huyện miền núi Nghệ An
Tên huyện DT đất tự | Đấtnông | Đất lâm nghiệp có Dat =| data Đất chưa
Trang 17Tân Kỳ 70850 | 13110,2 | 5615 390,0 | 2612,0 649,0 48483,8 Nghĩa Đàn 72770 |24860,6| 9171 7420 | 4034,3 | 1481,0 | 32480,! Cong 1363590 {| 83536,5 | 543159 | 9704,0 | 24463,7 | 6815,3 | 679968,2 |
(Nguén tdi liéu dia chinh 1997)
Qua bảng số liệu ta thấy, miền núi Nghệ An có diện tích đất rộng, chiếm 83,29% tổng đất tự nhiên toàn tỉnh; đất có rừng chiếm 41,57%, đất trống đổi núi trọc chưa sử dụng chiếm 41,97% Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít khoảng 5 - 10%, cụ thể theo từng huyện: Các huyện vùng núi cao chiếm tỷ lệ rất thấp
(Tương Dương chiếm 0,27% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, Kỳ Sơn chiếm 1,71%,
Con Cuông chiếm 1,78%, Quế Phong chiếm 1,42%, Quỳ Châu chiếm 2,39%)
Vùng núi thấp tỷ lệ đất nông nghiệp khá lớn, cụ thể: Quỳ Hợp 7,37%, Thanh
Chương 15,65%, Anh Sơn 12,92%, Tân Kỳ 18,50% và Nghĩa Đàn 34,16%
Đất miền núi Nghệ An tuyệt đại bộ phận là đất tại chỗ, phát triển trên các nguồn đá mẹ khác nhau, được phân chia nguồn gốc theo nhóm sau:
* Đất Fcralit vùng đồi: Tập trung ở Thanh Chương và Anh Sơn, phần lớn là đồi trọc, hoặc có cây bụi đo rừng bị tàn phá Do đất bị rửa trôi, xói mòn nhiều nên ít mùn
(<2%), độ chua cao (pH = 4- 4,5) có hiện tượng đá ong hoá mạnh
* Đất Feralit vùng núi thấp có thảm thực vật che phủ tương đối cao Do sườn núi đốc mạnh, nước ngầm không đọng lại trong đất, dòng nước ngầm chảy mạnh, nên các dạng kết vón và tầng đá ong không phát triển được Hàm lượng mùn 2% - 4%, đạm tổng số 0,1% - 0,25%, lân tổng số 0,06% = 0,07%, kali tổng số 1% - 2%, độ chưa thuỷ phân 6,6I đi - 1511 đl/100gđất, tổng số cation trao đổi 91 dil - 141 đỊ/100g đất, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét nhẹ, độ đày tầng đất phổ biến trên 50 cm,
ỏ các nơi đổi trọc, đất hoang hoá, tầng đất mỏng hon (30 cm - 50 cm)
* Đất Feralit trên núi cao do khí hậu mang tính á nhiệt đới, độ ẩm tăng do mưa nhiều, rừng bị tàn phá, thực vật còn nhiều, trong đó số lượng cây rụng lá tăng lên nên
hàm lượng mùn cao (S%-8%)
* Đất Feralit mùn trên núi cao: có ở độ cao từ 1800 m trở lên, tap trung 6 day Puxaileng Khí hậu mang tính á ôn đới rõ rệt, có thời gian nhiệt độ hỗn giao giữa cây
lá kim với cây rụng lá vùng ôn đới Quá trình Feralit hầu như không có, các chất hữu
cơ được phân dải rất chậm nên lượng mùn cao (8% - 12%) Đất xốp, giữ nước mạnh, kết cấu tốt
* Đất phù sa: Phân bố rải đọc sông Cả, sông Giăng, sông Con Đất hàng năm bị ngập đo lụt, lượng phù sa lớn, độ phì cao Đây là vùng đất có ý nghĩa trong sẵn xuất nông nghiệp, chuyên trồng các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày
16
Trang 18Kết quả lấy mẫu phân tích của Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Vinh cho thấy chỉ tiêu về nông hoá thổ nhưỡng đất núi Nghệ An
Bảng 9: Một số chỉ tiêu nông hoá thổ nhưỡng đất vùng núi Nghệ An
Con 35 Nt 0,65 0,12 Vệt 0,08 Vệt 5,5 8,5
K} Son 15 Lan dé 0,98 0,20 Vệt 0,073 Vệt 8,5 17,5
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phái triển Nông thôn Nghệ An 2001)
Từ kết quả bảng trên ta có thể thấy rằng: Đất vùng núi Nghệ An nghèo mùn (trên 900m hàm lượng mùn cao) Đạm tổng số ở mức trưng bình (rừng ở vườn nhà hàm lượng cao) Lân dễ tiêu thường thấp, lân tổng số ở mức trung bình và giàu
Vùng đổi núi trọc và phù sa nghèo lân dễ tiêu Tổng số cation trao đổi thường thấp Với đặc điểm trên phải cơ cấu cây trồng và chế độ canh tác hợp lý và tận dụng phân hữu cơ để làm tăng độ phì của đất
2.1.4 Tài nguyên nước
Các huyện miền núi Nghệ An là vùng đầu nguồn các hệ thống sông suối, mật
An qua các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương qua Nam Đàn, Hưng Nguyên rồi đổ ra biển ở Cửa Hội
- Sông Hiếu dài 300km cùng bất nguồn từ Lào chảy qua các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ rồi đổ vào Sông Cả
- Sông Giăng: Bất nguồn từ Môn Sơn, Con Cuông qua Anh Sơn đổ nước về Sông Lam ở chợ Chùa (Thanh Chương) có chiều đài khoảng 50km
Về lượng mưa, 05 tháng mùa lạnh ở miền núi chỉ đạt khoảng 1/3 - 1/2 lượng
mưa vùng đồng bằng, ven biển nên vụ đông xuân ở miển núi thường thiếu nước nghiêm trọng Do đó, phải cơ cấu cây trồng chịu hạn hoặc đầu tư các công trình thuỷ lợi mới đảm bảo an toàn cho sản xuất Đông Xuân
Miền núi Nghệ An, mùa mưa bắt đầu và kết thúc sớm hơn đồng bằng và ven biển thuận lợi cho gieo trồng vụ hè thu
2.1.5 Tình hình dân cư, lao động miền núi Nghệ An
Miền núi Nghệ An chiếm đa.phần lãnh thể của tỉnh (83,29%) nên có vai trò, vị
trí, tầm quan trọng chiến lược phát triển kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và bảo
vệ môi trường của tỉnh
17
Trang 19Dân số và lao động miễn núi còn chiếm tỷ lệ thấp trong toàn tỉnh (36,69% va 36,50%) mật độ dân cư thấp so với đồng bằng (75,49 người/km”) chưa tương xứng với tiểm năng đất đai, lãnh thổ và tài nguyên của vùng miền núi Nghệ An
Sự phân bố dân cư lao động miền núi Nghệ An không đều giữa các huyện và bất cập giữa vùng núi thấp và núi cao
Bảng 10: Phân bố dân cư ở vàng núi Nghệ An
Để phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường miền núi, vấn đề điều chỉnh
bố trí lại dân cư là một vấn đề cần được các cấp, các ngành quan tâm
Ngoài đặc điểm trên, môi trường, dân cư, lao động và dân số miền núi còn có
đặc điểm là dân cư miền núi Nghệ An tuyệt đại bộ phận là thuần nông Vùng núi cao chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người dân trí thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn
2.1.6 Các giải pháp tổng bợp bảo vệ môi trường gắn với phát triển
kinh tế niền núi Nghệ an
* Về công tác quy hoạch
- Đánh giá và kiểm tra lại hiện trạng rừng tự nhiên ở miền núi Nghệ An Tốt nhất là điều tra lại toàn bộ tài nguyên rừng bằng các phương pháp tiên tiến, hiện đai như ảnh vệ tinh, ảnh hàng không để từ đó có cơ sở cho quy hoạch, kế hoạch, hoạch định các chính sách bảo vệ tài nguyên rừng
Quy hoạch tổng quan đất nông, lâm nghiệp và quy hoạch lâm nghiệp cho miền núi Chủ trương chính sách về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường của Nhà nước đã có nhiều đổi mới tích cực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc bổ sung, điều chỉnh quy hoạch phù hợp là rất cần thiết
Do điều kiện đất bằng để tăng gia sản xuất vùng miền núi, nhất là vùng núi cao của Nghệ An quá ít, không đủ để sản xuất lương thực đáp ứng nhu cầu của nhiều địa phương Nên Nhà nước cần có giải pháp quy hoạch canh tác đất đốc để đồng bào miền: núi có điểu kiện sản xuất, giải quyết lương thực ồn định
* Về việc giao đất giao rừng
Lâu nay, có nơi chúng ta đang lẫn lộn mục tiêu và biện pháp xung quanh việc giao đất, giao rừng Trong chỉ đạo việc này nhiều nơi bước đầu còn lúng túng Mục tiêu của việc giao đất, giao rừng là để phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội ở vùng miền núi
Giao đất, giao rừng gắn với việc khai thác vốn đất hợp lý, phát triển kinh tế rừng gắn với bảo vệ và làm phong phú tài nguyên rừng
* Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường
Tăng cường quản lý Nhà nước về khai thác rừng Theo kế hoạch giảm dần sản lượng khai thác hàng năm, tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 268/TTg ngày 02-5-1997 của Thủ tướng chính phủ
18
Trang 20Giám sát tốt kế hoạch khai thác rừng và thực hiện khai thác rừng thco quy định Đồng thời kiểm tra xem xét tư cách, tiêu chuẩn của chủ rừng, nhất là các đối tác khai
thác rừng, mua bán cây đứng Ngăn chặn việc chặt phá, vận chuyển, buôn bán lâm
sản trái phép Phân cấp quản lý Nhà nước về rừng cho chính quyền xã, huyện, đồng thời tăng cường cán bộ chuyên trách bảo vệ rừng ở địa phương
Tăng cường công tác giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức cho nhân dân
miễn núi về các văn bản pháp luật của Nhà nước như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật, công tác này cần được tuyên truyền
sâu rộng trong nhân dân để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ
và phát triển trong chiến lược phát triển bền vững
* Hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội
Để tạo động lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng miền núi, lồng ghép với các Chương trình 327, 661, định canh định cư, xoá đói giảm nghèo, khuyến nông, khuyến lâm tăng hiệu quả đầu tư
Tăng cường đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, tuyên truyền phổ cập, chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp ở miền núi; xây dựng các mô hình điển hình để hướng dẫn nhân dân, miễn núi làm ăn có hiệu quả
Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng các tiến bộ KHKT nông lâm nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, sinh thái địa phương về phát triển kinh tế hàng hoá, đồng thời tăng cường phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, vật liệu xây dựng và khôi phục phát triển các nghề thủ công truyền thống của địa
phương, có cơ chế chính sách cụ thể để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
thôn miền núi
Thực hiện triệt để chương trình xoá bỏ cây thuốc phiện, tăng cường đầu tư chuyển hướng thay thế các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế Tranh thủ sự đầu
tư Nhà nước cũng như quốc tế cho miền núi Nghệ An
* Tang cường đầu tư cơ sở hạ tầng cho miền núi
Nhà nước cần có chính sách đầu tư mở mới, nâng cấp các tuyến giao thông huyết mạch từ thị trấn vào các vùng sâu, vùng xa của huyện để thúc đẩy giao lưu kinh
Các tuyến đường chính cần đầu tư là: Mường Xén đi Mường Lống (Kỳ Sơn) Hoà Bình đi dọc sông vào vùng 4 Yên Một Nga (Tương Dương) Con Cuông đi Môn Sơn, đi Mậu Đức, Thạch Ngàn, đi Thác Kèm Pù Mát (Con Cuông), thị trấn đi Cao Véu doc phía Bắc sông Lam (Anh Sơn) vùng phiá Nam sông Lam thuộc Thanh Chương, Lạt đi Cừa, Lạt đi Đồng Văn, thị trấn đi châu Hồng, Châu Sơn (Quỳ Hợp), thị trấn đi Diễn Lâm (Quỳ Châu), thị trấn Kim Sơn đi Đồng Văn, Thông Thụ (Quế Phong)
Ngoài ra, cần có kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, hồ chứa nước phục vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt, củng cố quy hoạch lại các chợ, các thị tứ
để tạo điệu kiện giao lưu hàng hoá giữa các bản, các dân tộc với nhau Đầu tư, phát triển hệ thống dịch vụ y tế, các trạm xá và trường học tạo điệu kiện cho đồng bào dân
tộc có điều kiện đến trường học, nhân dân thuận tiện trong việc khám, chữa bệnh
Tăng cường nguồn lực cho miền núi, nhất là tăng cường cán bộ có trình độ kỹ thuật giúp đồng bào miền núi phát triển kinh tế, xã hội đáp ứng được tiến trình hiện
19