Tại Nghị Quyết 36/NQ/TU " Nghị Quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về các chương trình phát triển kinh tế xã hội cần tập trung chỉ đạo trong giai đoạn 2001-2005, thực hiện Nghị quyết Đạ
Trang 1Để tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc liên quan đến phát triển nông thôn Bắc Giang, vấn đề môi trường nông thôn hầu như chưa được các cấp các ngành quan tâm tương xứng Tại Nghị Quyết 36/NQ/TU " Nghị Quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về các chương trình phát triển kinh tế xã hội cần tập
trung chỉ đạo trong giai đoạn 2001-2005, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh lần thứ XV" của Tỉnh Uỷ Bắc Giang đã xây dựng 6 chương trình phát triển kinh tế xã hội nhưng vấn đề môi trường nông thôn chỉ được đề cập từng phần trong các chương trình: Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, chương trình phát triển kinh tế xã hội miền núi gắn với xóa đói giảm nghèo, chương trình phát triển cơ sở hạ tầng chứ chưa có một chương trình riêng
" Khi đề cập đến vấn đề môi trường nông thôn, thực chất là đề cập tới các vấn đề hệ thống sinh thái nông nghiệp, tổ chức nông thôn và chất lượng môi trường trong sự phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn tài nguyên của vùng, ảnh hưởng của các chính sách vĩ mô của Nhà nước, tác động của khoa học và công nghệ và
đặc biệt là những ứng xử của người dân đối với môi trường " (Lê văn Khoa , tài liệu tham khảo số 21 )
Với cách đăt vấn đề trên, Bắc Giang được chủ nhiệm đề tài KC.08.06 chọn
là một điểm triển khai nghiên cứu về môi trường nông thôn Được sự phối hợp và giúp đỡ của các chuyên gia thuộc Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhóm chuyên viên 2 sở đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về môi trường nông thôn Bắc Giang theo định hướng của Chủ nhiệm đề tài nhằm cung cấp thông tin không chỉ cho Đề tài KC.08.06 mà hy vọng sẽ cung cấp các đánh giá, các đề xuất giải quyết vấn đề môi trường nông thôn cho chương trình phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh trong thời gian tới,
Trang 2nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá -hiện đại hoá trong thời ký
đổi mới
I- Đối tượng và thời gian nghiên cứu:
1/ Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Nhánh đề tài tập trung nghiên cứu các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế xã hội nông thôn tỉnh Bắc Giang, các vấn đề liên quan đến môi trường và diễn biến môi trường nông thôn Tập trung xem xét các biến động về kinh tế, xã hội của dân cư nông thôn; các vấn đề về quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên liên quan đến môi trường sống, đến phát triển kinh tế xã hộ cũng như một số vấn đề liên quan đến quan điểm phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và Nhà nước Những nguyên nhân
và hậu quả gây tác động xấu đến môi trường nông thôn, dự báo diễn biến môi truờng nông thôn, từ đó đề xuất một số giải pháp kiểm soát thích hợp cho sự phát triển bền vững
Một số đánh giá đặc thù về sử dụng đất cho phát triển cây ăn quả vùng núi thấp, bán sơn địa và các ảnh hưởng của nó đến môi trường nông thôn sẽ tập trung tại huỵện Lục Ngạn
Các số liệu sử dụng cho phân tích các biến động được thu thập từ các cơ quan nhà nước của tỉnh trong vòng 5 năm trở lại đây
2/ Thời gian thực hiện
Nhánh đề tài bắt đầu được thực hiện ở Bắc Giang từ tháng 3 năm 2002 đến tháng 11 năm 2003
II- Phương pháp nghiên cứu:
1- Nghiên cứu môi trường nông thôn thực chất là nghiên cứu các mối quan
hệ (hoạt động kinh tế và khoa học công nghệ, các thiết chế của Nhà nước, hoạt
động của cộng đồng, môi trường văn hoá nhân văn, các đặc thù nông thôn nhất
là miền núi và chất lượng môi trường nông thôn, ảnh hưởng bình thường và bất thường của điều kiện tự nhiên ) liên quan đến các hoạt động sống của người dân
Trang 3số liệu phân tích các chỉ tiêu, các hoạt động cụ thể ở nông thôn ), từ đó đánh giá, rút ra các kết luận làm cơ sở đề xuất các giải pháp tác động tiếp theo
2 Các tài liệu, các thông tin được thu thập, đối chiếu, so sánh với kết quả điều tra thực địa để tổng hợp nhằm xây dựng các kết luận và đề xuất giải pháp kiểm soát môi trường thích hợp
Nội dung 1 :
Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế x∙ hội vùng nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Sau khi được tái lập tháng 1.1997, Bắc Giang trở thành tỉnh miền núi, nằm
ở trung tâm vùng Đông Bắc, có toạ độ địa lý:
- Từ 21007’ đến 21037’ vĩ độ Bắc
- Từ 105053’ đến 107002’ kinh độ Đông
Về mặt địa giới:
- Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn
- Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương
- Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh
- Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và thành phố Hà Nội
Tổng diện tích tự nhiên: 382 200 ha với 206 xã, 7 phường, 14 thị trấn ở 9 huyện & 1 thị xã, dân số: 1.538.184 người ( trong đó: 91,76% sống ở nông thôn); Kinh tế nông - lâm - thuỷ sản vẫn chiếm 49% tổng sản phẩm trong tỉnh (số liệu năm 2002 ) Hệ thống đường giao thông thuỷ, bộ nối với Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh ,Bắc Thái, Lạng Sơn, Hải Dương và các tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ tương đối thuận lợi Trung tâm văn hoá, chính trị của tỉnh là thị xã Bắc Giang nằm trên Quốc lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc
+ Huyện Lục Ngạn là huyện có diện tích lớn nhất (101.220 ha = 26,48%
DT toàn tỉnh) các huyện trong tỉnh, nằm hai bên quốc lội 131, cách Bắc Giang 50km về phía Đông Bắc, dân số 192.335 người (190 người/km2 =47,26% mật độ trung bình toàn tỉnh), dân số nông thôn chiếm 96,61% dân số toàn huyện, diện tích gieo trồng cây hàng năm 12.184 ha (bằng 6.67% toàn tỉnh), sản lượng lương
Trang 4thực có hạt bình quân đạt 181,48kg/người/năm so với 350,86kg/người /năm bình quân của tỉnh nhưng là huyện có diện tích cây ăn quả lớn nhất tỉnh:14.808
ha = 33,3% toàn tỉnh (số liệu niên giám thống kê năm 2002) và là huyện có phong trào phát triển cây ăn quả trên đất đồi núi nhanh và mạnh nhất trong tỉnh Hiện nay, huyện Lục Ngạn coi cây ăn quả ( chủ yếu là vải thiều) là thế mạnh để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế nhằm bù đắp cho thiếu hụt về lương thực tự sản xuất Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991-1995 đạt 9.7% và giai đoạn 1996-2000 đạt 24,4% do tăng nhanh cả về số lượng và giá trị cây vải thiều tham gia vào cải thiện thu nhập của người dân Kinh tế nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng rất cao và chuyển đổi chậm: năm 1996 chiếm 63,35%
đến năm 2000 vẫn ở mức 63,46% và cây ăn quả vẫn chiếm76.6% tổng thu nhập nông lâm nghiệp nhưng tính cạnh tranh của sản phẩm từ cây ăn quả chưa cao,
mặc dù đã hình thành thị trường tương đối tốt (số liệu Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Lục Ngạn thời kỳ 2001-2010 )
1.2 Địa hình, địa thế
Địa hình Bắc Giang là phần chuyển tiếp giữa các tỉnh vùng núi cao và
đồng bằng Bắc Bộ: các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên, Yên thế là phần kéo dài của dãy núi Tam Đảo về phía Đông ; phía Đông Nam các huyện Lục Nam, Sơn Động nằm ở phía Tây và Tây Bắc cánh cung Đông triều và dãy núi
Nh am Biền - Yên Dũng là điểm thấp khởi đầu của cánh cung này; huyện Lục Ngạn, Lạng Giang và phía Tây huyện Lục Nam, Sơn Động là phần tiếp giáp phía
Đông và Đông Nam dãy CaiKinh (Lạng Sơn), do vậy địa hình của Tỉnh có thể chia làm 2 vùng chính :
- Vùng trung du: Gồm các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên, Yên Dũng và Lạng Giang thị xã Bắc Giang với đặc điểm có đất gò đồi rải rác xen lẫn các dải đồng bằng, độ rộng, hẹp tuỳ theo từng khu vực Độ cao trung bình dưới 150m, điểm cao nhất lá núi Bay thuộc dãy Nham Biền cao 151 m , độ dốc thường dưới 250
- Vùng núi: gồm các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, trong đó Sơn Động là huyện vùng cao Đặc điểm chính là địa hình chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn Nhiều vùng còn được che phủ bằng
Trang 5có thể trồng cây ăn quả Độ cao trung bình từ 300 ữ 400m, điểm cao nhất là
đỉnh núi Yên Tử cao 1012 m độ dốc trung bình từ 20 ữ 300
+ Huyện Lục Ngạn được bao quanh bằng 2 hệ thống núi lớn là dãy Đông Triều ở phía Đông Nam và phần cuối của núi Cai Kinh ở phía Bắc tạo thành vùng đồi núi thấp hai bên sông Lục Nam Địa hình phía Bắc chia cắt mạnh, có
độ cao trên 100m ( phần trên đèo), địa hình phía Nam ít núi cao Đặc điểm này tạo thành tiểu vùng khí hậu nóng ít, mưa ít bao trùm phàn lớn diện tích đất đai của huyện Lục Ngạn
1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc Việt Nam, một năm có hai mùa rõ rệt : mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 10
đến tháng 4, các tháng mùa khô, lượng mưa đều < 50 mm/tháng Sự phân mùa khí hậu này ảnh hưởng rất lớn đến canh tác nông lâm nghiệp của tỉnh như mùa
vụ canh tác, khả năng tích trữ, sử dụng nước trong năm cho nông nghiệp và đời sống nông thôn cũng như sức sinh trưởng, phát triển của cây trồng hoặc dịch hại cho vật nuôi , các biến động đột biến xấu về thời tiết ít xảy ra và hậu quả thường không nghiêm trọng
+ Một số chỉ tiêu về khí tượng của tỉnh Bắc Giang :
(Số liệu trung bình 5 năm 1997- 2001 tại trạm Bắc Giang )
Bảng a Các chỉ tiêu
mưa (mm)
Số giờ nắng(giờ)
Nhiệt độ bình quân
o C
Độ ẩm không khí
Trang 6đến 181 giờ, nếu tính theo khu vực thì vùng phía Bắc tỉnh có số giờ nắng luôn thấp hơn vùng phía Nam và Tây Nam của tỉnh : Sơn Động có số giờ nắng thấp nhất và cao nhất là thị xã Bắc Giang
b/ Nhiệt độ không khí:
Nhiệt độ không khí trung bình năm từ 22,7 o đến 23,7 o , vùng núi Sơn Động ( cách Bắc Giang trên 80km về phía Đông-Bắc ) luôn có nhiệt độ bình quân năm thấp nhất (22,7 o C) và cao nhất là thị xã Bắc Giang Năm 2001 nhiệt độ không khí có chiều hướng tăng cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,2 đến 0,4 oC
Nhiệt độ bình quân cao nhất là tháng 6 : 27,6 đến 28,7oC và nhiệt độ không khí đạt tối cao tại tháng 7 : 36,5-37,8 oC; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12, nhiệt độ trung bình: 16-17,2 oC và đạt tối thấp từ 1,9 đến 6,4 o C, riêng vùng núi cao phía Bắc huyện Lục Ngạn và Huyện Sơn Động, nhiệt tối thấp
từ 1,9-4,4 o C, trong khi đó nhiệt độ vùng thấp chỉ xuống tới 6,2-6,4 oC ( Hiệp Hoà và TX Bắc Giang ) ( Số liệu năm 2001- Niên giám thống kê Bắc Giang năm 2001) c/ Lượng mưa :
Trang 7Lượng mưa năm 2001 tại các vùng trong tỉnh đạt từ 1.684 mm đến 2.179
mm, lớn hơn trung bình nhiều năm từ 128mm đến 672mm Mùa mưa năm 2001
đến sớm hơn các năm 1 tháng ( bắt đầu từ tháng 3 và kết thúc vào tháng 10 ) Lượng mưa lớn nhất từ 363,5 đến 555,1 vào tháng 8 và cao nhất tại Sơn động
d/ Độ ẩm không khí :
Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt từ 83% đến 86%, lớn hơn trung bình nhiều năm từ 2-5% Tháng 7,8 có độ ẩm không khí cao nhất (mùa mưa) đạt từ 85% đến 90% Tháng 12 có độ ẩm không khí thấp nhất trong năm tại tất cả các vùng : 75% đến 81%
e/ Các hiện tượng thời tiết đặc biệt :
+ Không khí lạnh , gió mùa đông bắc :
Trong năm có 36 đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến thời tiêt, khí hậu Bắc Giang, nhiều hơn trung bình nhiều năm 5 đợt Trong đó có 20 đợt có cường độ mạnh , 8 đợt cường độ trung bình và 8 đợt yếu Tháng 1 có 3 đợt rét đậm, rét hại, tháng 2 có 2 đợt nhưng các đợt rté đậm không kéo dài quá 10 ngày, nhiệt độ bình quân thường ở mức: 8-10oC Riêng đợt rét đậm từ 19 tháng 12 năm 2001 kéo dài đến 09 tháng 01 năm 2002 đã tạo ra thiệt hại lớn về rừng và một số loài cây ăn quả ít chịu lạnh bởi sương muối ở một số vùng huyện Sơn Động và phía Bắc huyện Lục Ngạn
+ Nắng nóng :
Từ tháng 5 đến tháng 8 đã xảy ra 5 đợt nắng nóng với thời gian không kéo dài (2-3 ngày/ đợt), nhiệt độ trung bình cao của các đợt nắng nóng từ 35-36 oC , cao nhất từ 37-38oC
+ Bão và áp thấp nhiệt đới :
Mùa mưa bão năm 2001 có 99 cơn bão và 4 cơn áp thấp nhiệt đới ở biển
Đông nhưng chỉ có 2 cơn bão ảnh hưởng tới thời thiết và thuỷ văn tỉnh Bắc Giang.Cụ thể :
- Cơn bão số 2 ( ngày 2- 6 tháng 6) đổ bộ vào Quảng Tây-Trung Quốc
đã gây mưa to đến rất to trên diẹn rộng, lượng mưa từ 57mm đến 149
Trang 8mm làm nước các sông đều lên cao, đỉnh lũ tại cả 3 con sông đều vượt mức báo động 3 từ 26- 146 cm
- Cơn bão số 4 (ngày 26-27/7) đổ bộ vào Quảng Đông -Trung Quốc gây mưa vừa đến mưa to trong tỉnh, sinh lũ lớn trên sông Thương và lũ quýet ở thượng nguồn sông Sỏi huyện Yên Thế
+ Mưa vừa và mưa to trên diện rộng :
Năm 2001 có 5 đợt mưa vừa và mưa to trên diện rộng :
- Đợt 1: Từ ngày 3 / 6 đến 7/6 với lượng mưa từ 30 mm đến 108 mm
Mưa đá xảy ra tại khu vực thị xã Bắc Giang lúc 23 giờ 30 ngày 10 tháng
4, thời gian mưa khoảng 10 phút nhưng gây thiệt hại không đáng kể
g/ Tình hình lũ :
- Năm 2001, hạ lưu các sông trong tỉnh xuất hiện 5 trận lũ tương ứng 5 trận mưa lớn trên diện rộng trên địa bàn tỉnh Mức lũ xấp xỉ nhiều năm với 2 trận lớn, 2 trận trung bình và 1 trận nhỏ Thời gian xảy ra lũ từ đầu tháng 6 đến trung tuần tháng 8
- Mức đỉnh lũ tại 1 số điểm đo như sau :
+ Sông Cầu: Tại Đáp Cầu , mức nước cao nhất đạt 726 cm, cao hơn báo
động 3: 146 cm và cao hơn đỉnh lũ năm 2000 : 82 cm
Trang 9+ Sông Thương: Tại Phủ Lạng Thương , mức nước cao nhất đạt 650 cm, cao hơn báo động 3: 70 cm và cao hơn đỉnh lũ năm 2000: 61 cm
+ Sông Lục Nam: Tại Lục Nam , mức nước cao nhất đạt 606cm cm, cao hơn báo động 3 :6 cm và cao hơn đỉnh lũ năm 2000: 31 cm
Thời gian xuất hiện lũ cao nhất tại sông Thương vào ngày 28 tháng 7 và cao nhất tại sông Lục Namvào ngày 7 tháng 7
Thời gian duy trì mức nước ở cấp báo động 2,3 thường dài khoảng 30 ngày , từ đầu tháng 7 đến đầu tháng 8
Theo đánh giá và phân loại của Sở Khoa học-Công nghệ và Môi trường năm 1999 về đặc điểm khí hậu nông nghiệp tỉnh được chia thành 6 tiểu vùng:
+ Tiểu vùng IB: vùng nóng và mưa trung bình gồm toàn bộ khu vực đồng bằng thị xã Bắc Giang,Yên Dũng Việt Yên
+ Tiểu vùng IIB: vùng nóng vừa , mưa trung bình gồm thung lũng và gò đồi phía Tây của tỉnh: huyện Hiệp Hoà, Tân Yên và một phần huyện Yên Thế
+ Tiểu vùng IIC: nóng vừa, mưa ít gồm một phần huyện Yên Thế, huyện Lạng Giang, Lục Nam và một phần vùng tây Nam huyện Lục Ngạn;
+ Tiểu vùngIIIA: vùng nóng ít, mưa nhiều, lạnh, ẩm tập trung ở thung lũng Dương Hoá ( phía Bắc huyện Lục Ngạn - vùng trên đèo)
+ Tiểu vùng IIIB: vùng nóng ít mưa vừa tập trung phía Bắc huyện Lục Ngạn và phía Đông huyện Sơn Động;
+ Tiểu vùng IIIC: vùng nóng ít, mưa ít thuộc đồi núi phía Bắc huyện Sơn
Động( Dương Hưu, Long Sơn và phần còn lại của huyện Lục Ngạn (Đánh giá tài nguyên khí hậu phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái tỉnh Bắc Giang- Sở Khoa học CN&MT năm 1999)
Trang 10nhát Qmax = 1.400 m3/s mực nước lũ lớn nhất tại Bắc Giang là 6,2 ữ 6,8m, thường xuất hiện vào tháng 7 và tháng 8
Khả năng khai thác hệ thống sông ngòi để vân tải thuỷ đến hầu hết các tuyến phía Tây, Đông Nam và Đông Bắc là rất thuận lợi và ít bị ảnh hưởng bởi
lũ và mức mước kiệt hàng năm
Năng lực sử dụng của hệ thống hồ đập cho canh tác và đời sống, cảnh quan, du lịch rất dồi dào, các hồ lớn như Cấm Sơn, Khuôn Thần, Làng Thum ( Lục Ngạn ), Cây Đa, Suối Nứa ( Lục Nam) luôn là nguồn dự trữ và cung cấp nước cho canh tác nông nghiệp và đời sống vùng hạ lưu của tỉnh Các khu vực vùng cao huyện Sơn Động, Lục Nam, phía Đông Bắc huyện Lục Ngạn thường bị thiếu nước trong mùa khô Hệ thống các suối đã giảm lượng nước trong nhiều
năm nay không thể khai thác để vận tài thuỷ như những năm 1980
1.5 Đặc điểm địa chất và đất đai
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ lập địa trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm
1982 của Đoàn điều tra Qui hoạch rừng Trên địa bàn tỉnh có các loại đất chính sau:
- Đất Feralit trên núi trung bình: Diện tích 200 ha, chiếm 0,1% diện tích tự nhiên Phân bố ở độ cao > 700m thuộc dãy An Châu, Yên Tử Đất có tầng mùn dày, chủ yếu ở dạng mùn thô, tầng đất mỏng, độ dốc lớn, đá lộ nhiều, thành phần cơ giới nhẹ
- Đất Feralit mùn trên núi thấp: Diện tích 28.530 ha , chiếm 7,5 diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam Đất chủ yếu phát triển trên đá sa thạch và phiến thạch sét, tầng đất trung bình nhiều đá lẫn, dễ xói mòn
- Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá sa thạch: Diện 76.400 ha, chiếm 20% diện tự nhiên Phân bố chủ yếu ở huyện Lục Nam, Sơn Động Tầng đất mỏng, thành phần cơ giới trung bình, đất bị xói mòn mạnh
- Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá phiến thạch sét Diện tích 83.910
ha, chiếm 22% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang Tầng đất trung bình ữ mỏng, thành phần
Trang 11- Đất phù sa cổ: Diện tích 8.880ha, chiếm 2,3% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở hạ lưu sông Lục Nam và các huyện miền trung du
- Đất thung lũng dốc tụ: Diện tích 8.170 ha , chiếm 2,1% diện tích tự nhiên Phân bố ở ven các sông, suối chính trong tỉnh Tầng đất dày, độ phì cao, giàu dinh dưỡng Đây là đối tượng chính để trồng cây nông nghiệp
- Đất Feralit biến đổi do trồng lúa Phân bố tập trung ở các huyện Việt Yên, Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Đây là đối tượng chủ yếu để canh tác nông nghiệp Đất giàu dinh dưỡng tầng đất dày, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng
Nhìn trung đất đai tỉnh Bắc Giang được hình thành chủ yếu trên loại đá mẹ
sa thạch, phiến thạch và phù sa cổ Có tầng đất trung bình, đất nghèo dinh dưỡng, nhiều nơi khô cằn, khả năng giữ nước kém
Riêng huỵên Lục Ngạn cả vùng núi cao phía Bắc và vùng trung tâm huyện
đều nằm trên nền đá phiến thạch sét, đất feralit tầng đất mỏng đến trung bình, khả năng giữ nước kém trong mùa khô nhưng rất thích hợp với cây vải cả trên
đất đồi núi và vùng đất thấp, Huyện đã tranh thủ được lợi thế đất đai để phát triển cây vải tương đối ồ ạt từ năm 1985 trở lại đây và đã trở thành huyện trọng
điểm phát triển cây ăn quả của tỉnh
1.6 Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên rừng
1.6.1 Diện tích các loại đất đai
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh theo kết quả kiểm kê tháng 7/2000 là 382.200 ha, giảm 65 ha so với năm 1998 do việc tính lại và chuyển một phần về tỉnh Thái Nguyên Biến động về sử dụng đất đai đến năm 2001 (31/12/năm) như sau :
Bảng b
VĐT : ha
Trang 13- Khác 9097
Về biến động sử dụng đất : Đất trồng cây hàng năm có xu hướng giảm nhưng diện tích cây ăm quả (cây lâu năm), diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng tăng đều đặn và rất đáng kể do kết quả trồng thêm rừng và khoanh nuôi, bảo vệ rừng thành công trong các năm qua Diện tích rừng trồng toàn tỉnh từ 1997-2003
đạt 35.816 ha và làm giảm diện tích đất trống trọc trong toàn tỉnh tương ứng diện tích trên
Diện tích đất chuyên dùng cũng tăng do có nhiều qui hoạch mới (các khu công nghiệp Đình Trám huyện Việt Yên 120 ha, khu công nghiệp Song Khê- Nội Hoàng-Tiền Phong huyện Yên Dũng 250 ha, chưa kể đến diện tích đất nông nghiệp quy hoạch cho các khu vực dân cư, dịch vụ quanh thị xã Bắc Giang và các thị trấn huyện lị, các thị tứ mới thành lập ) được thực hiện và như vậy diện tích đất chưa sử dụng hàng năm cũng giảm đi tương ứng Điều này ảnh hưởng lớn đến diện tích đất sản xuất lượng thực, thực phẩm các vùng nông thôn và tăng nhanh số lượng lao động nông nghiệp phải chuyển đổi nghề gây sức ép lớn đến việc tạo thêm việc làm mới phi nông nghiệp và sử dụng các nguồn nhân lực của tỉnh
Riêng năm 2001 trong tổng số đất nông nghiệp tăng 421 ha, đất lâm nghiệp tăng 1459 ha , đất đô thị tăng 18,5 ha , đất ở nông thôn tăng 35,5 ha và đất chưa
sử dụng giảm 1564 ha Hiện năy, hệ số sử dụng đât nông nghiệp của tỉnh mới
đạt khoảng 2 lần Việc tăng hệ số sử dụng đất nông nghiệp luôn mang tính tích cực ( sản xuất nhiều sản phẩm ) và tiêu cực (bóc lột dinh dưỡng đất, sử dụng nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ) rất cần có chiến lược điều chỉnh để
đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên đất và bảo vệ môi trường sinh thái
UBND xã
Các tổ chức
Trang 14KT khác Nông nghiệp 123733 32.37 113320.5 1749.6 8326.8 286.3
Như vậy diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp cơ bản đã có chủ quản lý,
khai thác và sử dụng, nhưng diện tích đất chưa sử dụng còn lại là quá lớn chiến
21% diện tích tự nhiên
1.6.2 Rừng và tài nguyên rừng :
Nếu chuyển diện tích cây ăn quả là cây gỗ, có tán lớn, sống lâu năm trồng
trên đất đồi núi từ phần đất nông nghiệp sang đất lâm nghiệp có rừng ( số liệu
QHLN naưm 2002 ) chúng ta có số liệu ở bản sau :
- Đất có rừng : 143.944 ha, chiếm 37,7%
+ Rừng tự nhiên : 64.874 ha
+ Rừng trồng : 79.070 ha (có 29.614 ha cây ăn quả tán lớn trồng
trên đất lâm nghiệp)
- Đất nông nghiệp : 94.119 ha, chiếm 24,6%
- Đất chuyên dùng : 54.892, chiếm 14,4%
- Đất ở : 11.604, chiếm 3,0%
- Đất chưa sử dụng : 77.641 ha, chiếm 20,3%
Như vậy, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 40,5 ( lấy thêm diện tích cây lâu năm
và đất vườn rừng) Tỷ lệ che phủ của rừng tập trung trên đất lâm nghiệp là
37,7% Phân bố không đều và tỷ lệ đất chưa sử dụng không lớn nhưng lại tập
trung ở một số huyện Sơn Động, Lục Ngạn, trong đó đất đồi núi chưa sử dụng
chiếm 29,0% diện tích đất chưa sử dụng Đây là đối tượng chính để xây dựng
rừng và sản xuất nông nghiệp khác Mặt khác, Bắc Giang là một tỉnh có vị trí địa
Trang 15lý rất quan trọng trong khu vực Đông Bắc Việt Nam Do vậy, cần phải khẩn trương trồng và phục hồi rừng trên diện tích đất đồi núi chưa sử dụng có khả năng lâm nghiệp để nhanh chóng tăng độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh là việc làm quan trọng và cấp bách hiện nay
1.6.2.1 Đặc điểm các loại rừng
a Rừng tự nhiên
Diện tích 64.874 ha , chiếm 45,1% diện tích đất có rừng
- Rừng giàu ( IIIA3):
Diện tích 675 ha, chiếm 0,5% diện tích đất có rừng Chỉ còn phân bố ở xã
An Lạc (huyện Sơn Động) Đây là loại rừng ít bị tác động, chiều cao trung bình (H tb): 17,0m, đường kính trung bình( D tb): 28cm, mật độ > 400 cây / ha, trữ lượng 120 - 150 m3 / ha Thành phần loài cây gồm có Dẻ, Trám, Trâm, Re, Táu, Sến, Xoan đào, Chẹo, Vạng
- Rừng trung bình ( IIIA2 ):
Diện tích chiếm 4.573 ha, chiếm 3,2% diện tích đất có rừng Đây là loại rừng đã bị khai thác nhưng đã có thời gian phục hồi Phân bố ở những nơi cao,
xa và dốc thuộc địa bàn các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn
Động), Lục Sơn ( Huyện Lục Nam ), chiều cao bình quân 16,0m, đường kính bình quân 24cm, trữ lượng bình quân 100 - 120 m3 / ha Thành phần cây gỗ chủ yếu là các loài dẻ, re, táu muối, sến, xoan đào, chẹo, vạng, ràng ràng, lim xẹt, trường
- Rừng nghèo ( III A1 ):
Diện tích 18.646 ha, chiếm 13,0% diện tích đất có rừng Phân bố chủ yếu ở các xã An Lạc, Tuấn Đạo, Long Sơn, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn
Động), xã Lục Sơn ( huyện Lục Nam )
Đây là loại rừng đã bị khai thác quá mức với cường độ cao, kết cấu tầng tán
bị phá vỡ Tầng chính chỉ còn sót lại một vài cây có đường kính lớn, chất lượng
gỗ xấu Chiều cao bình quân: 13,0m, đường kính bình quân: 26 cm, trữ lượng(M): 50 ữ 60 m3/ ha Thành phần cây gỗ chủ yếu là các loài ràng ràng, trám, dẻ, hồng mang, phay
Trang 16- Rừng phục hồi ( IIA, IIB ):
Diện tích 39.716 ha, chiếm 27,6% diện tích đất có rừng Phân bố ở các xã
An Lạc, An Bá, Long Sơn, Tuấn Đạo, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn
Động) Phong Minh, Đèo Gia, Tân Lập (huyện Lục Ngạn), Lục Sơn, Đông Hưng, Nghĩa Phương, Vô Tranh, Trường Sơn, Huyền sơn (huyện Lục Nam ) độ tàn che 0,4 - 0,5 Tổ thành ưu thế gồm các loài : ba soi, ba bét, mần tang, sồi phảng, dẻ kết cấu tầng tán đơn giản, tán thưa, khả năng phòng hộ kém
- Rừng hỗn giao tre nứa, gỗ
Diện tích 1.117 ha, chiếm 0,8% diện tích đất có rừng Phân bố ở các xã Thanh Sơn, Thanh Luận, Tuấn Đạo ( huyện Sơn Động ) Độ tàn che 0,5 - 0,6 Tầng trên chủ yếu là các loài cây gỗ gồm các loài : dẻ, ràng ràng, trâm, trám Tầng dưới chủ yếu là nứa Trữ lượng gỗ bình quân 45m3 / ha; trữ lượng tre nứa 4.000 cây / ha
- Rừng tre nứa:
Diện tích 147 ha, chiếm 0,1 % diện tích đất có rừng Phân bố ở các xã An Lạc ( huyện Sơn Động ) Loài cây chủ yếu là nứa Đường kính bình quân 3 - 4
cm, chiều cao bình quân 6 - 7m, mật độ trung bình 4.000 cây / ha
Tóm lại : Rừng tự nhiên của tỉnh Bắc Giang còn không nhiều 17%, trong đó rừng còn trữ lượng, kết cấu 3 - 4 tầng có nguồn gen động thực vật ( giàu + trung bình ) còn quá ít : 5.248 ha Phân bố phân tán trong rừng phòng hộ, đặc dụng của 3 huyện miền núi , Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam Đây là đối tượng cần được đóng cửa bảo vệ để phục hồi và phát triển
- Còn lại rừng nghèo, rừng phục hồi, hỗn giao, tre nứa có hầu hết các huyện
Đối với các loại rừng này cần được khoanh nuôi bảo vệ - làm giàu rừng để rừng phục hồi và phát triển
b Rừng trồng:
Diện tích 79.070 ha (gồm cả 29.614 ha cây ăn quả) , chiếm 54,9% diện tích
đất có rừng Rừng trồng trên địa bàn tỉnh được trồng theo các chương trình PAM, 327, dự án lâm nghiệp Việt - Đức và rừng trồng nguyên liệu cho công nghiệp khai thác than phân bố tập trung ở các xã : Dương Hưu, Hữu Sản, Giáo
Trang 17Tân Hoa, Sơn Hải ( huyện Lục Ngạn ), Đông Hưng, Nghĩa Phương (huyện Lục Nam, Đồng Hưu, Đồng Vương, Xuân Lương (huyện Yên Thế )
Đánh giá tăng trưởng rừng trồng trên địa bàn tỉnh:
Kết quả điều tra đánh giá năng suất lập địa các loại cây trồng rừng tỉnh Bắc Giang như sau:
Các loài cây trồng đều sinh trưởng và phát triển tốt, phù hợp với khí hậu và
đất đai trong tỉnh Lượng tăng trưởng: đường kính bq ( D bq) = 1,1 - 1,5 cm / năm, chiều cao bq( Hbq) = 1,0 - 1,5m / năm, trữ lượng (M) = 6 - 8 m3 / ha / năm
- Các loài cây keo, bạch đàn năng suất sinh trưởng cao hơn, đặc biệt loài bạch đàn urophylla trồng bằng hom tăng trưởng rất nhanh, lượng tăng trưởng bình quân đạt từ 16- 20 m3 /ha/năm, được trồng nhiều ở xã Đồng Sơn ( huyện Yên Thế )
Loài keo tai tượng, năng suất sinh trưởng từ 8 - 10 m3 /ha/năm, thông mã vĩ năng suất từ 4 -6 m3 /ha/năm
Nhìn chung, các loài cây bạch đàn, keo thích nghi ở các huyện vùng trung
du và phía Tây tỉnh Yên Thế, Hiệp Hoà,Việt Yên, Yên Dũng, còn các loài cây muồng, trám Sấu thích nghi các huyện phía Đông của tỉnh
- Đối với một số nơi trên các dạng lập địa độ dốc > 200, độ dầy tầng đất < 50cm, hầu hết các loài bạch đàn phát triển không tốt, gây trồng kém hiệu quả
- Rừng trồng của tỉnh nhất là rừng phòng hộ phần lớn là rừng thuần loại, tuổi thấp chưa phát huy tốt chức năng phòng hộ
- Cây ăn quả ( tập trung )
Diện tích 29.614 ha, chiếm 20,6% diện tích đất có rừng Đây là nhóm cây thế mạnh của tỉnh, phát triển tương đối nhanh và phân bố rộng rãi trên nhiều huyện trong tỉnh Diện tích cây vải thiều phát triển thành các vùng tập trung ở một số huyện như : Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế Thành công đáng kể về phát triển cây ăn quả là đã góp phần đưa hàng nghìn hộ nông dân đi lên xóa đói, giảm nghèo và hàng trăm hộ trở nên giàu có
- Diện tích cây ăn quả (cây vải) phát triển tốt trên đất lâm nghiệp dải thấp nhưng phải đầu tư cao Một số nơi có hiện tượng "vén rừng" tự nhiên, rừng trồng
Trang 18sử dụng đến năm 2002 là 29.614, phần lớn không được qui hoạch và do người dân tự làm và chính quyền buộc phải hợp thức hoá Việc không kiểm soát được tình trạng phá rừng trồng cây ăn quả đã đem lại hậu quả xấu trong quản lý rừng
và đất lâm nghiệp nhưng tận dụng được lao động, vốn và kinh nghiệm trồng cây
ăn quả trên đất dốc của người dân, tăng thu nhập trên đất dốc hơn hẳn trồng cây lâm nghiệp ( tại Lục Ngạn đạt 5,88 triệu đồng/ ha năm 1991 và 18,30 triệu
đồng/ha năm 2000- số liệu Báo cáo QH tổng thể PTKTXH huyện Lục Ngạn thời kỳ
2001-2010) Tuy nhiên các ảnh hưởng của việc "vén rừng" vẫn chưa được các cơ quan chuyên ngành xem xét cụ thể cả về mặt tích cực và tiêu cực ví dụ như thu nhập thực tế của việc đưa trồng vải trên các dạng lập địa không phù hợp (độ dốc > 250,
độ dày tầng đất < 50 cm ) hoặc thiếu kỹ năng canh tác, thiếu nước tưới, bảo vệ thực vật chưa đảm bảo khi trồng vải trên núi ảnh hưởng thế nào đến thu nhập của người dân và môi trường sinh thái
* Hiện trạng đất trống đồi núi trọc
Trong tổng diện tích đất chưa sử dụng là 77.641 ha, trong đó đất đồi núi chưa sử dụng ( ĐTĐNT ) là 22.521 ha
Diện tích ĐTĐNT trong vùng còn không lớn, chiếm 5,9% tổng diện tích tự nhiên, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam Trong đó có một số diện tích không thể trồng rừng được hoặc nếu có thì phải đầu tư cao mới thành rừng được
* Tình hình tái sinh phục hồi rừng
Kết quả điều tra tái sinh trên đất trống đồi núi trọc thông qua việc thiết lập
hệ thống ô tiêu chuẩn cho thấy:
- Tái sinh tự nhiên trên đất trống cây rải rác (IC )
Mật độ cây tái sinh biến động từ 6.000 - 7.000 cây / ha, trong đó số cây tái sinh có triển vọng (H >1,0m) chiếm từ 50 - 60% tổng số cây tái sinh, tổ thành cây tái sinh có từ 8 - 12 loài, bao gồm sau sau, thành ngạnh, thẩu tấu, hoóc quang, chẹo, sòi tía, dẻ
Trang 19Đối với trạng thái này nếu được đầu tư khoanh nuôi tái sinh rừng sẽ phục hồi tốt, phát huy được chức năng phòng hộ, bảo tồn tính đa dạng sinh học của rừng trong tỉnh và cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp, gỗ gia dụng, củi
- Tái sinh tự nhiên trên đất trống cây bụi ( IB )
Mật độ cây tái sinh biến động từ 3.000 - 4.000 cây / ha trong đó cây tái sinh
có triển vọng ( H > 1,0 m ) chiếm từ 20 - 30% tổng số cây tái sinh Tổ thành loài cây tái sinh chủ yếu là các loài cây ưa sáng, chịu khô hạn từ 5 - 8 loài gồm có sau sau, bún sừng, thành ngạnh, hoóc quang, thẩu tấu, mần tang
Tuỳ theo mật độ cây tái sinh có triển vọng có thể khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung cây lâm nghiệp hoặc nơi thuận tiện tiến hành trồng rừng mới
1.6.2.2 Khái quát về hệ động thực vật rừng Bắc Giang và tính đa dạng sinh học rừng :
- Chó sói : Coun alpinuc
- Gấu ngựa : Selenarotos thibethanus
- Báo gấm : Neofenis nebunosa
- Sơn dương : Capricornis sumatraensis
- Sóc bay lớn : Petaurista lypei
-Sóc bay đen trắng : Hylopetes albonigen
- Khỉ đuôi lợn : Macaca nemestrina
- Khỉ vàng : Macaca mulatta
Trang 20b/ Hệ thực vật rừng
Bắc Giang là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hệ thống thực vật phong phú Thành phần thực vật chủ yếu nằm trong kiểu phụ miền thực vật nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam với thảm thực vật rừng thường xanh nhiệt
đới và á nhiệt đới có hệ thực vật phong phú gồm 276 loài cây gỗ, 136 chi của 57
họ thực vật Ngoài ra, còn có 452 loài cây dược liệu thuộc 53 chi của 28 họ cây
cỏ, dây leo Rừng ở đây có nhiều loài quý hiếm có thông tre, thông nàng, gụ, lim xanh
c/ Về tính đa dạng sinh học rừng Bắc Giang :
Kết quả điều tra tại vùng hồ Cấm Sơn và Khe rỗ :
c1- Lưu vực hồ Cấm Sơn ( Lục Ngạn):
Kết quả điều tra của Sở Khoa học CN&MT tỉnh Bắc Giang, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Viện khí tượng thuỷ văn và Ban QL rừng phòng hộ Cấm Sơn tháng 12/1999 như sau :
+Trong khu vực có 1.046 loài thực vật có mạch đã được ghi nhận thuộc
171 họ, 609 chi, 6 ngành thực vật có mạch với 33 họ có số loài trên 10
+ Động vật có xương sống có 235 loài thuộc 94 họ ở 34 bộ của 5 lớp : Thú, chin, bò sát, lưỡng cư và cá
+ Động vật không xương sống có 32 loài thuộc 3 nhóm giáp xác chân chèo, giáp xác râu ngành và trùng bánh xe
+ Về côn trùng đã phát hiện 214 loài thuộc 74 họ và 11 bộ
c2- Khu bảo tồn thiên nhiên Khe rỗ (huyện Sơn Động):
Kết quả điều tra của Trường Đại học Lâm nghiệp và Ban QL khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ tháng 6/1999 như sau :
+ Đa dang các hệ sinh thái gồm: Hệ sinh thái rừng; hệ sinh thái đồng cỏ;
hệ sinh thái sông suối; hệ sinh thái làng bản và hệ sinh thái đồng ruộng
+ Các kiểu rừng ( phân loại theo Thái văn Trừng): rừng rậm thường xanh mưa mùa nhiệt đới đai thấp; rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim á nhiệt đới núi thấp;
+ Các quần xã thực vật( phân loại theo UNESCO):
Trang 21- Lớp quần hệ rừng rậm : gồm 2 phân quần : phân quần hệ rừng rậm nhiệt đới thường xanh, mưa mùa trên núi thấp (8 quần xã) và phân quần hệ rừng rậm nhiệt đới thường xanh, mưa mùa trên núi cao (3 quần xã)
- Lớp quần hệ trảng cây bụi
- Lớp quần hệ trảng cỏ gồm 2 phân quần với 2 quần xã
+ Đa dang trạng thái rừng: gồm các trạng thái rừng: phục hồi (IIa,b ) , rừng nghèo (IIIa1 ), rừng trung bình (IIIa2 )
+ Đa dạng về loài cây: Trong khu vực có 786 loài thực vật có mạch đã
được ghi nhận thuộc 167 họ, 501 chi, 5 ngành thực vật trong đó có 131 họ có số chi > 5 loài 10 họ thực vật chính có số loài lớn nhất là : Họ 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Cúc (asteraceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họCỏ ( Poaceae), họRe (Lauraceae),họ Cà phê (Rubiaceae) họ Vang (Caessalpiniaceae), họ Sồi dẻ (Fagaceae), họ Ráy (araceae)
+ Đa dạng về công dụng sử dụng :
- Cây cho gỗ: 276 loài = 33,9%
- Cây làm thuốc: 452 loài=57%
- Cây làm cảnh: 107 loài=13,6%
- Cây làm rau ăn: 68 loài=7,9%
- Cây cho quả ăn được: 58 loài=7,5%
- Cây cho nhựa mủ: 30 loài=2,1%
- Câycho ta nanh: 17 loài =2,1 %
- Cây cho tinh dầu: 15 loài =1,8%
- Cây lấy củ: 14 loài=1,7%
- Cây cho vật liệu đan lát: 12 loài=1,5%
- Cây lấy lá lợp:10 loài=1,2 %
- Cây cho màu nhuộm: 9 loài=1,1 %
- Cây cho dầu béo, nhựa sáp: 9 loài=1,1% và cây cho sợi 8 loài = 1% + Thực vật quí hiếm: có 43 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam
Trang 22Nhìn chung, (+) hệ sinh thái rừng ở Bắc Giang có sự đa dạng sinh học cao nhưng các nghiên cứu chi tiết để có chiến lược bảo tồn và sử dụng còn nhiều hạn chế (+) Rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phòng hộ đầu nguồn 3 con sông lớn : Lục Nam, sông Thương và Sông Cầu, tham gia tích cực vào tính đa dạng sinh học vùng Đông Bắc Việt nam, duy trì và bảo tồn môi trường sinh thái, cung cấp lâm đặc sản, làm đẹp cảnh quan, phát triển du lịch góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh và cả nước
2 Đặc điểm kinh tế - x∙ hội
2.1 Dân tộc, dân số và lao động
2.1.1 Dân tộc và các tập quán :
Bắc Giang có 17 dân tộc anh em cùng chung sống : Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa, Mường, Dao, cao Lan đông nhất là dân tốc Kinh chiếm gần 90% (huyện Lục Ngạn có 11 dân tộc)
Với đặc điểm một tỉnh có nhiều dân tộc, phân bố trên địa bàn lãnh thổ khác nhau với mật độ không đều, người Kinh sống chủ yếu ở vùng trung du, thị xã, thị trấn, ven các trục đường giao thông, còn các dân tộc khác sinh sống chủ yếu trên vùng núi cao, phong tục tập quán sinh hoạt và sản xuất cũng khác nhau, trình độ dân trí cũng có phần chênh lệch, tạo nên một môi trường xã hội ít đồng đều về mức sống cũng như trình độ văn minh
2.1.2 Dân số và lao động - đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
Bắc Giang có 10 huyện, thị xã với 206 xã, 7phường và 14 thị trấn, dân số 1.538.184 người ( năm 2002) Mật độ dân số bình quân 402 người / km2, thấp nhất là huyện Sơn Động ( 82 ngươi / km2 ), cao nhất là Thị xã Bắc Giang ( 3.022 người / km2 ) Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,21%
Phân bố dân cư:
+ Nông thôn: năm 1996: 94.18%, năm 2002: 91,76%
+ Thành thị: năm 1996: 5.82%, năm 2002: 8,24%
Trang 23Tổng số lao động toàn tỉnh là 732.695 người chủ yếu là lao động nông nghiệp ( chiếm 87,7% ) Với lực lượng lao động nông - lâm nghiệp rất lớn và trong nông nghiệp thì trồng trọt là chính, thời gian giành cho nông nghiệp chiếm khoảng 1/2 thời gian trong năm, nên tình trạng lao động nông nghiệp thiếu việc làm còn nhiều, khoảng 30 - 40%
Lao động của tỉnh Bắc Giang khá dồi dào, dân số đông, mặt khác đồng thời với gia tăng dân số, các nhu cầu về lương thực, thực phẩm nhất là nhu cầu về gỗ, củi và các lâm sản ngày càng gia tăng, đây là sức ép rất lớn đối với tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng
Lực lượng lao động qua đào tạo trong các cơ quan nhà nước: 90.798 người
= 5,9% ( Số liệu năm 2002)
2.2 Thực trạng kinh tế
Kinh tế chung : Tổng sản phẩm xã hội GDP theo giá thực tế năm 2002 đạt
4.381.738triệu đồng Trong đó: Ngành nông - lâm - thuỷ sản 2.107.153triệu
đồng (48.08%); Ngành công nghiệp và xây dựng 761866 triệu đồng (17.38%), ngành dịch vụ 1512.719 triệu đồng (34.52%) GDP bình quân đầu người đạt 2.8486 triệu đồng Mức tăng trưởng bình quân đạt 11.59% (số liệu NGTK- 2002)
2.2.1 Sản xuất nông nghiệp :
- Về trồng trọt: Kết quả nổi bật trong nông nghiệp những năm qua là đã cơ bản giải quyết được vấn đề lương thực cho nhu cầu tiêu dùng, khắc phục được tình trạng đói lúc giáp hạt của những năm trước
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 182.663 ngàn ha, năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, năm 2002 lúa đạt 44,5 tạ / ha / năm, ngô 227,9 tạ /
ha Sản lượng lương thực có hạt đạt 53,96 vạn tấn Bình quân lương thực đầu người đạt 350,86 kg/ năm
Cây ăn quả lâu năm : Mấy năm gần đây, nhóm cây ăn quả là nhóm cây thế mạnh của tỉnh, tổng diện tích cây ăn quả toàn tỉnh: 44.496 ha , trong đó huyện Lục Ngạn có 14.809ha (33,3%), Lục Nam 8.962ha (20,15%), huyện Yên thế có 6.682ha (15%) Tổng sản lượng vải nhãn đạt 59.774 tấn, na đạt 6.534tấn chuối
đạt11.137tấn và dứa đạt 8.586 tấn
Trang 24- Về chăn nuôi: Chăn nuôi phát triển chậm, đàn gia súc, gia cầm tăng đều tăng không đáng kể: đàn trâu có 98.970 con (giảm 1854 con), đàn bò có 76.670 con (tăng 1573 con), đàn lợn có 803.368 con (tăng22.404 con) và đàn gà có 7.007.000 con ( tăng 465.000 con) so với năm 2001, sản lượng thuỷ sản đạt 7.268 tấn
* Đánh giá chung về thực trạng sản xuất nông nghiệp:
Từ năm 1997-2002, nông nghiệp chiếm 51,1% đến 48% trong cơ cấu GDP và sử dụng 90-80 lao động của tỉnh Trong những năm gần đây, nông nghiệp đạt tăng trưởng 7,2- 5,2% & thấp hơn mức tăng chung GDP của tỉnh (7.7%), sản lượng lương thực tăng 5%-1,5% /năm ( Số liệu so sánh năm 2007
+ Trình độ kỹ thuật của người dân còn thấp
+ Chế biến và bảo quản sau thu hoạch chưa có bước đột phá
+ Vấn đề thị trường nông sản chậm phát triển
+ Chi cục Kiểm lâm là cơ quan thừa hành pháp luật có chức năng quản lý
và bảo vệ rừng
Trang 25+ Các huyện và thị xã đều có cán bộ phụ trách lâm nghiệp ở trong phòng
Các lâm trường quản lý 35.000 ha đất lâm nghiệp (21% đất lâm nghiệp toàn tỉnh) làm nhiệm vụ kinh doanh rừng và dịch vụ lâm nghiệp cung ứng kỹ thuật, cây giống dịch vụ cho các dự án lâm nghiệp
Các cơ sở quốc doanh lâm nghiệp được Nhà nước quan tâm đầu tư , xây dựng đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng kinh tế và phát triển lâm nghiệp xã hội, thực sự đã làm tốt chức năng là nòng cốt và là cầu nối thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp của Nhà nước và là trung tâm chuyển giao khoa học
kỹ thuật lâm nghiệp
c Các ban quản lý
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có các Ban quản lý rừng sau:
- Ban quản lý rừng phòng hộ Cấm Sơn diện tích đất lâm nghiệp quản lý: 21.537ha
- Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử quản lý 15.411ha đất lâm nghiệp
8 ban quản lý dự án 661 ( Gồm 6 lâm trường , bao Quản lý Dự án 661 huyện Yên Dũng và Liên huyện)
Trong các ban quản lý rừng phòng hộ , đặc dụng trên chỉ có Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Cấm sơn và Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên tử ) hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đúng nội dung Quyết
định số : 08 / 2001 / QĐ-TTg, số còn lại hoạt động còn kiêm nhiệm, kém hiệu quả, cần được rà soát sắp xếp lại theo đúng nội dung quy chế quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ
Trang 26000 ha nâng tỉ lệ rừng được đầu tư bảo vệ lên 51,5% năm 2003
Để thu hút được đông đảo nhân dân tham gia vào bảo vệ và phát triển rừng, công tác tuyên truyền vận động nhân dân đóng vai trò hết sức quan trọng Hàng năm, ngành lâm nghiệp tỉnh đã mở được hàng chục hội nghị tại các cụm địa bàn dân cư ở các thôn bản trọng điểm với hàng trăm lượt người tham dự gồm các cán
bộ chủ chốt ở các xã, bí thư chi bộ, các đoàn thể, trưởng thôn, cán bộ lâm nghiệp xã In ấn được hàng ngàn bộ tài liệu phát cho đồng bào để phổ biến các chính sách, pháp luật về lâm nghiệp, hướng dẫn công tác bảo vệ và phát triển rừng tại cộng đồng dân cư cho hàng chục ngàn lượt người
Công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản Theo số liệu của Chi cục kiểm lâm tỉnh trong 2 năm 2000 và 2001 trên địa bàn đã bắt và xử lý 3.045 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu về 2.131m3, phạt tiền và nộp ngân sách Nhà nước 1,6 tỷ đồng
Hiện nay, khó khăn lớn nhất của công tác quản lý, bảo vệ rừng tỉnh Bắc Giang là do địa hình rừng núi phức tạp, dân cư sống đan xen trong rừng chủ yếu
đồng bào dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn, một bộ phận không nhỏ đồng bào dựa vào nương rẫy và khai thác tài nguyên rừng
Khí hậu diễn biến phức tạp, hạn hán khô hanh, sương muối kéo dài, gây ra không ít khó khăn cho công tác chăm sóc và bảo vệ rừng
Trang 27Tổ chức lực lượng kiểm lâm chưa được đổi mới, kiện toàn để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chế độ chính sách còn nhiều bất cập, nhất là chính sách đối với có công trồng cây gây rừng, bảo vệ rừng, chính sách ưu đãi đối với cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa
b Trồng rừng
Đến năm 2003, tổng diện tích rừng trồng trên địa bàn tỉnh là 87 729ha, chiếm 53.4% diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh ( trong đó có 29 000 ha cây ăn quả trồng trên đất lâm nghiệp), bình quân mỗi năm trồng được từ 3.500 - 4.000
ha Rừng trồng chủ yếu theo nguồn vốn 327, PAM, dự án lâm nghiệp Việt - Đức, trồng rừng nguyên liệu công nghiệp Loài cây trồng phần lớn là bạch đàn , keo, thông
Nhìn chung, các loài cây trồng phù hợp với khí hậu, đất đai trong vùng, sinh trưởng và phát triển trung bình
Những khó khăn và tồn tại của công tác trồng rừng
Do quá coi trọng về mục đích kinh tế nên loại cây trồng còn đơn điệu, chủ yếu là bạch đàn, được trồng qua nhiều năm làm cho đất đai thường bị thoái hoá Suất đầu tư cho 1ha trồng rừng phòng hộ còn thấp, do vậy ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng
c Khoanh nuôi phục hồi rừng
Kết quả từ năm 1993 đến nay, toàn tỉnh đã khoanh nuôi phục hồi được 11.427 ha Nhìn chung, diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh có rất nhiều triển vọng, khả năng thành rừng rất lớn, cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt Nhiều khu vực diện tích rừng khoanh nuôi sau 5 - 6 năm đã có độ tan che 0,4 - 0,5, chiều cao đạt từ 4 - 5 m Nếu được quan tâm đầu tư thoả đáng thì khả năng phục hồi rừng tự nhiên rất tốt
Trang 28dân, mỗi năm khai thác từ rừng trồng 10 000 - 12 000 m3 cung cấp cho khai thác than ở Quảng Ninh Lâm sản phụ chủ yếu là tre nứa khoảng 4 triệu cây/năm Theo Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, giá trị sản xuất trong khai thác gỗ và lâm sản năm 2002 đạt 93.526 triệu đồng, đạt tỷ lệ 61.56% tổng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp
e Chế biến lâm sản
Bắc Giang có nhà máy chế biến lâm sản như sau:
- Xí nghiệp chế biến bột giấy Yên Định thuộc Sở Công nghiệp, công suất 10.000 tấn / năm
- Xí nghiệp chế biến bộ giấy Hoa My ( của Hải Phòng ), công suất 10.000
+ Chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre nứa: 10.071 triệu đồng
+ Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy : 7.460 triệu đồng
+ Sản xuất giường tủ, bàn ghế : 25.923 triệu đồng
g Công tác giao đất, khoán rừng
Theo số liệu của Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang từ năm 1993 đến nay đã giao được 74.620 ha cho 44.770 hộ gia đình, khoán bảo vệ được 44.355 ha rừng cho 6.708 hộ Từ diện tích được giao, khoán các hộ gia đình đã tích cực sản xuất
và kinh doanh thông qua kết quả trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng Tính
đến nay có khoảng 97% diện tích đã giao đến các chủ quản lý Từ kết quả giao
đất khoán rừng Bắc Giang được đánh giá là một trong những địa phương khai thác tiềm năng đất trống đồi núi trọc có hiệu quả nhất
2.2.2.3 Hoạt động của các dự án lâm nghiệp
+ Dự án PAM " Phát triểnlâm nghiệp hộ gia đình"
Trang 29Thời gian thực hiện dự án từ năm 1997 đã trồng được 8.217 ha
Loài cây trồng chủ yếu là : Bạch đàn , Keo
+ Dự án 327 ( nay là dự án 661 )
Đây là dự án lâm nghiệp lớn trên qui mô toàn tỉnh từ năm 1993 đến năm
1999 thực hiện Quyết định số 661 đã sáp nhập một số dự án, đến nay còn 10 dự
án Từ năm 1993 đến năm 2003 đã trồng được 20 778 ha rừng, khoanh nuôi 11.427 ha, bảo vệ 24.318 ha
Nhờ có dự án, nhiều hộ gia đình nông dân miền núi đã có việc làm, thu nhập và đời sống nhân dân vùng dự án tăng lên rõ rệt
+ Dự án lâm nghiệp Việt - Đức:
Là dự án do Chính phủ cộng hoà liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua ngân hàng tái thiết Đức Đây là dự án đầu tiên hoạt động thuộc lọai hình hợp tác tài chính Việt - Đức về lâm nghiệp
Kết quả sau 5 năm thực hiện dự án đã xây dựng được 90 vườn ươm làng bản, trồng được 5.294 ha rừng với 4.261 hộ gia đình tham gia và được cấp sổ tiền gửi tại ngân hàng Nông nghiệp và PTNT huyện Ngoài ra, còn đào tạo, tập huấn
và phổ cập, xây dựng các mô hình Nông - lâm kết hợp, trình diễn kỹ thuật trồng rừng, canh tác bền vững trên đất dốc
+ Dự án trồng rừng cung cấp nguyên liệu gỗ mỏ tại các huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Thế:
Dự án xây dựng năm 1995 với mục đích trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp khai thác vơí quy mô 20.000 ha trên địa bàn 3 huyện Lục Nam, lục Ngạn và Yên Thế Kết quả bình quân mỗi năm trồng được 250 ha
+ Dự án lâm nghiệp Việt - Đức 3
+ Dự án Việt - Đức 3 mở rộng:
Dự án bắt đầu thực hiện năm 2000 trên địa bàn 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam Kết quả sau 2 năm đã trồng được 886 ha rừng và khoanh nuôi tái sinh 210 ha
* Đến tháng 10 năm 2003 ; tổng đầu tư của Dự án Việt Đức đạt 24278 triệu cho trồng 10.051 ha rừng và khoanh nuôi 2 928 ha rừng tự nhiên
Trang 30+ Dự án lâm nghiệp Việt - Thái
Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 1998, đến nay đã trồng được 648 ha rừng,
xâydựng 10 đường ranh cản lửa
* Đánh giá chung về thực trạng sản xuất lâm nghiệp
- Thuận lợi:
Là tỉnh có điều kiện tự nhiên tương đối phù hợp với phát triển lâm nghiệp
Có hệ thống các lâm trường quốc doanh với đội ngũ cán bộ CNVC và nhân dân có kinh nghiệm trồng rừng, trồng cây ăn quả, cây bản địa là động lực tốt
để thực hiện phát triển lâm nghiệp toàn diện
Kinh tế lâm nghiệp và nghề rừng trong tỉnh đã có bước phát triển, cơ sở hạ tầng từng bước được cải thiện so với những năm trước, do có sự hỗ trợ đầu tư của các dự án
Lao động dồi dào, có trình độ, năng lực hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật cho nhân dân trong tỉnh
Các thành quả về bảo vệ và phát triển rừng, giảm nhanh diện tích đất trống trọc trong 7 qua đã làm tăng diện tích rừng thêm 35.816 ha, đưa độ che phủ của rừng từ 29,57% năm 1997 lên 38,7% năm 2003, đóng góp đáng kể vào cải thiện
hệ sinh thái và hỗ trợ phát triển các nguồn tài nguyên nông nghiệp của tỉnh
Chuyển biến về nhận thức vai trò của rừng trong cung cấp các loại lâm sản, cung cấp và gìn giữ nguồn nước, chống xói mòn đất cũng như nguy cơ mất nguồn cây thuốc, cây gỗ quí đã được phần đông dân cư sinh sống ở rừng nhận
ra và là động lực quan trọng để ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức người dân tham gia tích cực vào bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng đất dốc hiệu quả trên địa bàn tỉnh
- Khó khăn
Rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở rừng đặc dụng, phòng hộ, diện tích đất trống, đồi núi trọc còn ở những vùng cao, xa và dốc, độ phì của đất đang bị thoái hoá, gây khó khăn cho việc trồng và tạo rừng mới
Tình hình tài chính đầu tư cho lâm nghiệp rất hạn chế, do vậy ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư và pơhát triển rừng
Trang 31Để duy trì được môi trường sinh thái bền vững và cung cấp nhiều lâm sản cho nhu cầu xã hội thì vấn đề bảo vệ cho được diện tích rừng hiện còn, đẩy nhanh tốc độ trồng rừng mới và phục hồi rừng trên diện tích đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ của rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của tỉnh Bắc Giang
2.2.3 Kinh tế trang trại:
Số lượng trang trại đến năm 2001, toàn tỉnh Bắc Giang có :
2 808 trang trại = 7974 ha, gồm:
+ Trang trại trồng cây ăn quả : 2 460 trang trại chiếm 87,6 %
+ Trang trại lâm nghiệp 317 trang trại chiếm 11,29%
+ Trang trại nuôi trồng thuỷ sản : 24 trang trại chiếm 0,85 %
+ Trang trại chăn nuôi gia cầm : 2 trang trại chiếm 0,07 %
+ Trang trại tổng hợp : 5 trang trại chiếm 0,18%
( Nguồn : Sở NN& PTNT 6/2001)
Trang trại và trang trại lâm nghiệp ở Bắc Giang cũng mới được hình thành , chưa ổn định , mặc dù đã tham gia rất tích cực vào kiến tạo thị trường và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây Điều này phù hợp với chủ trương, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển của
Đảng và Nhà nước Kinh tế trang trại đang tham gia thúc đẩy tiến trình phát triển nông thôn miền núi, từng bước khai thác hiệu quả đất đai cho sản xuất hàng hoá, cải thiện mức sống cho người dân miền núi
Các trang trại tại Bắc Giang nhìn chung hình thành tự phát chưa được qui hoạch sắp xếp lại cho phù hợp thế mạnh từng vùng
Để trang trại Bắc Giang phát triển đúng hướng và phát huy tốt vai trò trang trại trong nền kinh tế mới, theo chúng tôi Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện các chính sách sau :
+ Chính sách về thị trường và tiếp cận thị trường, bán hàng (các hiệp hội,
đại diện nhóm hàng )
+ Chính sách về thị trường vốn cần được cải thiện và thị trường lao động nên hình thành ( đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế trang trại )
+ Chính sách bảo hộ hàng hoá, bảo hiểm cây trồng vật nuôi
+ Chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông, điện + Các chủ trang trại cũng phải đuợc quản lý sản xuất kinh doanh như các hình thức kinh doanh khác
Trang 32+ Miễn thuế thu nhập cho trang trại ít nhất 5 năm sau thời gian kiến thiết
để họ bù đắp đầu tư ban đầu /
- Đường sông: Hệ thống đường sông chủ yếu theo các tuyến sông Thương, Sông Cầu và sông Lục Nam với tổng chiều dài 347 km; các tuyến đường sông này có thể sử dụng phục vụ giao thông thuận tiện
- Đường sắt: Bắc Giang có 3 tuyến đường sắt chạy qua với chiều dài 77 km; gồm các tuyến Hà Nội- Đồng Đăng, Kép - Hạ Long, Kép - Lưu Xá
+ Tuyến liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng đăng - Trung Quốc đoạn đi qua Bắc Giang đã được cải tạo, nâng cấp
+ Tuyến Hà nội - Kép- Hạ Long; thuộc địa phận Bắc Giang dài 28 km có 5
ga hiện đang khai thác nhưng kém hiệu quả
+ Tuyến Kép - Lưu Xá - Thái Nguyên, chủ yếu để vận chuyển hàng hoá Ngoà ra, Bắc Giang còn có 2 tuyến đường sắt chuyên dùng vào cảng Alữ và nhà máy phân đạm
2.3.2 Thuỷ lợi:
Hệ thống thuỷ lợi trong tỉnh bao gồm hệ thống sông, đê bao, công trình đầu mối, kênh mương Đến nay, đã xây dựng được 214 trạm bơm, hàng trăm hồ đập với dung tích chứa nước 365 triệu m3 Tổng công suất tưới của các công trình thuỷ lợi là 73.000 ha, năng lực thực tế chỉ tưới được 41.684 ha, đạt 56% năng lực thiết kế và 46% so với nhu cầu tưới Năng lực tiêu thực tế 19.227 ha, đạt 55% công suất thiết kế và 42% nhu cầu tiêu nước
Trang 332.3.3 Giáo dục đào tạo
Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục được củng cố, phát triển và có chuyển biến tích cực Đến nay, toàn tỉnh có 1 trường Cao đẳng sư phạm, 4 trường trung học chuyên nghiệp, 18 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, giáo dục thường xuyên, ngoại ngữ tin học, 5 trường dân tộc nội trú, 16 trường THPT trong đó : 1 trường cấp 2,3 quốc lập, 7 trường PTTH dân lập, 199 trường THCS, 24 trường tiểu học và 215 trường mầm non
Về chất lượng giáo dục đào tạo tiếp tục có chuyển biến tích cực, nhiệm vụ giáo dục toàn diện đối với học sinh, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được coi trọng Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo Cơ sở vật chất từng bước được đổi mới, không còn tình trạng học ba ca
Công tác bảo vệ sức khoẻ và nâng cao thể lực nhân dân nhất là chăm sóc sức khoẻ ban đầu đã được chú trọng đúng mức Đã thực hiện thành công nhiều chương trình y tế - xã hội như : Chương trình chống sốt rét, bướu cổ
Tuy vậy đến nay hệ thống cơ sở vật chất ngành y tế đang xuống cấp nhiều, hầu hết trang thiết bị cũ lạc hậu, thuốc men và dụng cụ y tế còn thiếu và yếu, một số dịch bệnh như viêm não, tỷ lệ sốt rét, bệnh lao có chiều hướng gia tăng
2.3.5 Văn hoá, thể dục thể thao
Công tác văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao đang tiếp tục phát triển theo hướng xã hội hoá cao, dưới hình thức, phát huy đầy đủ khả năng văn hoá truyền thống của các dân tộc trong tỉnh Chương trình xây dựng làng văn hoá đang được nhân dân hưởng ứng mạnh Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp trên địa bàn tập trung vào các đối tượng giáo dục thể chất trong trường học
Trang 342.3.6 Thương mại, dịch vụ ở nông thôn
Các hoạt động thương mại dịch vụ vùng nông thôn hầu hết diến ra ở các chợ mang tính sản xuất tự túc, tự cấp là chính trên địa bàn cụm xã Thông thường chợ họp 3-5 ngày/1 phiên, giao lưu hàng hoá không nhiều
3 phát triển công nghiệp và dịch vụ làm chính và vùng 4 phát triển theo hướng lấy công nghiệp- xây dựng cơ bản và dịch vụ làm hướng phát triển chủ đạo
Nhìn chung, nền kinh tế Bắc Giang vẫn chưa thoát khỏi thực trạng của
một tỉnh nghèo, lao động nông nghiệp nông thôn chiếm trên 80% , thu nhập thấp (thu trên địa bàn chỉ đáp ứng 14,6% nhu cầu chi của tỉnh ), mặc dù có thể
tự cân đối được lương thực nhưng mức sống, điều kiện sống của người dân nông thôn vẫn ít được cải thiện, tình trạng chậm phát triển vẫn diễn ra phổ biến mọi nơi trừ vùng vải thiều xung quanh thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn
Nội dung 2 :
Đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên
và môi trường nông thôn vùng nghiên cứu
1- Thực trạng môi trường ở Bắc Giang:
Qua khảo sát đánh giá hiện trạng môi trường trong những năm qua có thể nhận định chung về thực trạng môi trường của tỉnh như sau:
a- Những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ môi trường:
* Vấn đề cung cấp nước sạch: ngoài khu vực thị xã Bắc Giang, chưa có
Trang 35thống cấp nước tập trung cho 8/12 thị trấn và 10 khu dân cư trong tỉnh Đến nay toàn tỉnh đã có 39% số dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh Chỉ tiêu này
đối với các tỉnh trung du, miền núi mới đạt 18%, cả nước đạt 25%
* Hệ thống đường giao thông: Trong 4 năm (1996-1999) đã rải nhựa được
235 km đường quốc lộ và tỉnh lộ, lát gạch, đổ bê tông 400 km đường làng ngõ xóm Tỷ lệ đường xá được nhựa hoá, bê tông hoá tăng không chỉ góp phần phát triển KT-XH mà cũng góp phần tích cực vào việc cải thiện môi trường
* Công tác bảo vệ và phát triển rừng: Diện tích rừng tự nhiên đã được khoanh nuôi bảo vệ, Diện tích rừng trồng mỗi năm tăng trên 4000 ha Đến nay
độ che phủ của rừng tăng từ 19,5% năm 1997 lên 30% năm 2000 và đạt 37,8% năm 2002 Việc giao đất khoán rừng đến nay đã đạt tỷ lệ trên 80% diện tích đất rừng của tỉnh
* Công tác bảo tồn đa dạng sinh học: Đã thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên tử, Ban quản lý rừng phòng hộ Cấm sơn Hệ động, thực vật của tỉnh tương đối phong phú Trong hơn 7000 ha của phân khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ có tới 786 loài thực vật, tương đường với số loài của một số khu bảo tồn Quốc gia như Ba Bể, Cát Bà, trong đó có 43 loài quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam (chiếm 13% số cây quý hiếm toàn quốc) Về số loài động vật chiếm 35- 60% số loài động vật trong cả nước, trong đó có 38 loài động vật quý hiếm Đó là nguồn gen phong phú của tỉnh cần được đầu tư bảo vệ Hiện nay Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên tử đã được Nhà nước công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên
Năm 1998 tỉnh Bắc Giang đã tiến hành điều tra, khảo sát hiện trạng môi trường tự nhiên làm căn cứ lập phương xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên vùng
hồ Cấm sơn Đã điều tra thấy 234 loài thực vật và 376 loài động vật điều kiện khí hậu thuỷ văn vẫn còn tương đối tốt, đảm bảo cho việc phục hồi rừng đầu nguồn Từ năm 1990 đến nay rừng phòng hộ Cấm sơn đã phát huy được chức năng phòng hộ
* ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng: Mô hình về xã hội hoá công tác BVMT ngày được nhân rộng Đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã thành lập 3 HTX vệ sinh môi trường tự quản, 6 câu lạc bộ môi trường và 13 tổ, đội vệ sinh môi trường Nhiều cá nhân, tập thể đã trở thành những điển hình tiên tiến toàn quốc về công tác BVMT ý thức của cộng đồng về BVMT đã nâng lên rõ rệt
b- Những tồn tại trong công tác BVMT nông thôn của tỉnh:
Trang 36- Tình hình cung cấp nước sạch:
Hiện nay trong khi tỷ lệ người dân đô thị được cấp nước sạch là trên 80%, thì tỷ lệ người dân nông thôn của tỉnh được cung cấp nước sạch trong sinh hoạt mới đạt 39% và đáp ứng ở mức 40L nước sạch / ngày/người Tuy nhiên nguồn nước sạch ở nông thôn chủ yếu được cung cấp từ giếng khơi, giếng khoan UNICEF là những nguồn dễ bị nhiễm bẩn, nhất là nhiễm bẩn vi sinh vật ở một
số làng nghề người dân không có nguồn nước sạch để sử dụng
Đối với người dân vùng núi, nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt là nước sông, suối tự chảy hoặc giếng đào, nhìn chung các nguồn nước này ít bị ô nhiễm công nghiệp và thuốc bảo vệ thực vật, phân bón nhưng dễ nhiễm bẩn vi sinh vật
do tập tục chăn thả gia súc, gia cầm không điều kiển
- Vấn đề vệ sinh môi trường:
Hiện nay trong khu vực nông thôn của tỉnh vấn đề môi trường đã có nhiều chuyển biến tích cực trong nhận thức cũng như trong hành động thực tiễn như:
đã duy trì một số tập tục truyền thống, đường làng ngõ xóm nhân dân tự lát gạch, đổ bê tông, đăng ký gia đình văn hoá mới, phong trào xây dựng làng văn hoá Nhưng những khu vực dân cư gần đường tỉnh lộ, huyện lộ, liên xã chưa
được rải nhựa đều có hàm lượng bụi trong không khí cao hơn TCCP từ 1,2- 1,7 lần, tiếng ồn vượt TCCP từ 1,1-1,35 lần
Một số chỉ tiêu về nước sạch và vệ sinh môi trường năm 2001 như sau:
Số giếng nước sạch đủ tiêu chuẩn vệ sinh : 280.350 (85% số hộ), nhà tắm: 246.255 cái (75% số hộ) và 75.5% số hộ nông dân có hố xí hợp vệ sinh và 36% chuồng trại chăn nuôi được quản lý tốt phân rác đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
Như vậy tỷ lệ đạt được hiện nay về vấn đề cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn còn rất thấp so với định hướng đến năm 2010
- Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:
Trang 37dụng IPM ( ha)
Theo số liệu trên thì lượng thuốc BVTV sử dụng qua các năm có chiều hướng gia tăng , mặc dù diện tích canh tác có sử dụng biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp đã tăng3,5 lần từ năm 1997-2001 Lượng phân bón hoá học đã có giảm nhưng chậm, mặc dù lượng phân bón hữu cơ (phân gà đã ủ, phân vi sinh) cho vùng thâm canh vải tại Lục Ngạn đã được nhiều chủ trang trại sử dụng để thay thế phân hoá học (ước tính 5.000-7.000tấn/ năm) Nhưng việc sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh chưa có sự quản lý chặt chẽ Với 50 chủng loại thuốc BVTV lưu hành trên địa bàn tỉnh chủ yếu do 2 công ty và 250 hộ kinh doanh tư nhân đảm nhận, trong đó có 20% số hộ kinh doanh không có giấy phép, 45 hộ kinh doanh thuốc cấm, 4 hộ kinh doanh thuốc giả Do không có hướng dẫn khoa học cụ thể nên người nông dân vẫn còn sử dụng thuốc BVTV một cách tuỳ tiện cả về liều lượng lẫn chủng loại Làm cho số người bị nhiễm độc do hoá chất BVTV vẫn ở mức cao, nguồn nước bị ô nhiễm Theo kết quả phân tích tháng 5/1999 cho thấy dư lượng hoá chất BVTV trong nước thuỷ lợi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,3-3,5 lần
- Vấn đề rau sạch:
Do dư lượng thuốc BVTV trong đất, nước và việc dùng thuốc BVTV, bón phân hoá học không hạn chế, kỹ thuật canh tác chưa khoa học (chưa sử dụng phân vi sinh trong canh tác) đã tạo ra hàm lượng không nhỏ của một số chất hoá học có trong rau, củ, quả Theo kết quả phân tích thì hàm lượng NO3 trong bắp cải là 867 mg/kg, cà rốt; 190 mg/kg, hành tây: 180 mg/kg Người dân sử dụng các sản phẩm này đang từng ngày bị nhiễm độc ở các cấp độ khác nhau Bắc Giang chưa có vùng sản xuất rau, quả an toàn Phát triển vùng sản xuất, thị trường thực phẩm sạch nói chung, rau an toàn nói riêng đang là thách thức cần giải quyết
- Tình hình môi trường các làng nghề:
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 30 làng nghề thủ công khác nhau, nhưng do thu nhập trong sản xuất làng nghề chủ yếu lấy công làm lãi, dựa vào lực lượng lao động nông nhàn, tranh thủ mặt bằng, vốn liếng, khả năng quản lý
và kinh nghiệm sản xuất truyền thống của gia đình, mà không quan tâm đến bảo
vệ môi trường nên một số làng nghề đang có hiện trạng môi trường ô nhiễm nghiêm trọng như: làng Vân nấu rượu, làng Phúc Lâm giết mổ gia súc, làng Thổ
Hà làm bánh đa nem thuộc huyện Việt Yên; làng Đa mai làm bún, làng Kế đúc
Trang 38nhôm, làm bánh đa thuộc thị xã Bắc Giang; xã Hương Vĩ nung vôi thuộc huyện Yên Thế, làng làm bánh phở khô (mỳ Chũ) xã Nam Dương huyện Lục Ngạn
+ Theo kết quả phân tích chất lượng nước thải làng nghề Vân Hà - Việt Yên, các chỉ tiêu đều ô nhiễm, đặc biệt chỉ số coliform vượt TCVN 5945 - 95, loại B: 12,0 - 18,0 lần, BOD5 cao hơn tiêu chuẩncho phép từ 13,6 đến 22 lần, hàm lượng COD cao hơn 7,5-12,5 lần, chỉ số Feacal coliformcao hơn 675-750 lần trong nước ngầm
+ Phân tích chất lượng không khí làng nghề nung vôi Hương Vĩ- huyện Yên Thế có các chỉ số sau: Hàm lượng bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép (CTCP) 8-12,7 lần, NO2 cao hơn3,1 đến 9,12 lần và SO2 cao hơn TCCP từ 1,74 đến 5 lần, riêng chỉ tiêu H2S vượt TCCP 600 - 800 lần
+ Nước giếng dùng trong sinh hoạt của nhân dân vùng nông thôn các làng nghệ có độ màu cao hơn TCCP 2,5 lần, độ đục cao hơn 5,5 lần và vi sinh vật cao hơn đến 800 lần ( Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Giang năm 2002- Sở Khoa
học -CN và MT Bắc Giang -5/2002)
+ Một sự có môi trường nghiêm trọng đã xảy ra ven sông Cầu thuộc địa bản huyện Việt Yên tháng 2,3 năm 2001 là hơn 200 ha lúa mới cấy của các xã Vân Trung,Quảng Minh bị khói lò gạch từ các xã ven sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh tiêu huỷ
* Môi trường làng nghề là đang khó giải quyết Bởi vì làng nghề gồm yếu
tố làng và yếu tố nghề đan xen nhau và dựa vào nhau Các ý đồ cải tạo môi trường làng nghề thông qua các giải pháp quy hoạch, đổi mới công nghệ đều chưa thành công
- Vấn đề xây dựng mô hình làng sinh thái:
Làng sinh thái là mô hình lý tưởng về BVMT ỏ nông thôn Đến nay ở tỉnh chưa có làng sinh thái theo đúng nghĩa của nó Tuy nhiên cũng đã có những mô hình về làng năng suất xanh như: Tĩnh Lộc, Khả Lý hạ thuộc huyện Việt Yên, nếu được quan tâm nhân rộng và phát triển thì sẽ có được các làng sinh thái
* Suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học:
+ Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học là thành phần môi trường quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tỉnh, nhưng hiện nay đã bị suy giảm và cạn kiệt Mặc dù diện tích rừng của tỉnh đang được phục hồi tích cực: 35.816 ha rừng mới được trồng trong giai đoan 1997-2003, công tác khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng được quan tâm, song trên thực tế, xét về tổng thể tài
Trang 39nguyên rừng so với thời kỳ trước năm 1960 vẫn còn bị suy giảm cả về diện tích
và trữ lượng (đến năm 2002, tỉnh Bắc Giang không còn được Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép khai thác gỗ từ rừng tự nhiên) Nhiều khu vực giàu có thuộc phần Bắc, Tây dãy núi Yên Tử trước kia nay đã trở thành rừng nghèo kiệt, phục hồi yếu
* Cơ cấu chất lượng rừng tự nhiên năm 2002 như sau :
+ Tổng số: 64.874ha (100%)
- Rừng giàu: 675 ha (1,04%)
- Rừng trung bình trung bình: 4.573ha (7,3%)
- Rừng nghèo: 18.646ha (28,74%)
- Rừng non đang phục hồi: 39.716ha (61,22%)
- Rừng tre nứa gỗ: 1.117ha (1,72%)
- Rừng tre nứa: 147 ha (0,022%)
Như vậy rừng tự nhiên Bắc Giang vẫn chiếm 45,06% diện tích rừng nhưng chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng, rừng nghèo và rừng non đã chiếm 70% tổng diện tích rừng tự nhiên, đồng nghĩa với tỉ lệ này là: hiện nay rừng tự nhiên không còn khả năng cung cấp lâm sản, kết cấu rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm
bị phá vỡ và các tính năng đặc biệt của rừng như tồn trữ nguồn gien, đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước và giữ cân bằng sinh thái đã tổn hại nghiêm trọng, điều này cũng ảnh hgưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân sống bám vào rừng và nguồn lâm sản từ rừng
• Riêng huyện Lục Ngạn diện tích rừng hiện có như sau :
+ Rừng tự nhiên: 11.791ha (rừng nghèo: 4.243 ha và rừng non 7.491 ha)
+ Diện tích đất lâm nghiệp đã trồng cây ăn quả: 13.037 ha
Với cơ cấu rừng như trên, cho tới khoảng 10 năm nữa, huyện Lục Ngạn không thể có rừng tự nhiên đạt trữ lượng trên 70 m3/ha để khai thác Đây là hậu
Trang 40quả tất yếu của việc sử dụng chưa hợp lý tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp của
1 huyện miền núi và cũng là mặt trái của công cuộc phát triển cây ăn quả thiếu qui hoạch từ trước 1985 đến nay của huyện Lục Ngạn.( Số liệu Qui hoạch phát triển lâm nghiệp Bắc Giang đến 2010- Sở Nông nghiệp và PTNT -7/2002)
+ Các giống, loài sinh vật quý hiếm đã bị suy giảm mạnh (như các loài gỗ quí như lim, sến táu, thông tre, thông nàng, trầm hương, các loài dược liệu: cây
1 lá, ba kích, trầu tiên đã rất hiếm ở Bắc Giang), nhiều loài động thực vật hoang dã ( gấu, báo gấm,khỉ, voọc đen, cầy hương )bị khai thác cạn kiệt, ít có khả năng phục hôì, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, dẫn tới nạn chuột, dịch sâu róm thông, bọ que xuất hiện phá hoại cây trồng phát triển mạnh trong mấy năm gần
đây, tác động rõ rệt đến năng suất, sản lượng cây trồng như bệnh chết rũ vải thiều Lục Ngạn, sâu bệnh hại rừng dẻ ở Lục Nam
* Suy giảm tài nguyên nước:
+ Mặc dù tài nguyên nước (nước mặt và nước ngầm) tỉnh Bắc Giang khá dồi dào do nhiều hồ đập chứa, trữ nước mặt được xây dựng (454 hồ nhân tạo), diện tích rừng tăng nhanh (10% độ che phủ sau 7 năm) nhưng sử dụng nguồn nước chưa khoa học Nước ngầm vẫn được dụng phổ biến cho các hoạt động canh tác nông nghiệp, nhất là tưới vải ở các vùng trồng vải, nhãn tập trung từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau làm suy giảm chiều sâu cột nướcngầm ( điển hình mùa khô 1997-1998 và mùa khô năm 2002-203 hầu hết các giếng khoan tại Lục Ngạn không còn nuớc để bơm), hồ Khuôn Thần, Cấm Sơn huyện Lục Ngạn năm
2002, mức nước hồ đã xưống dưới mức kiệt nhiều mét ( người dân Cấm Sơn , Sơn Hải, Hộ Đáp đã trồng ngô đông trên vùng bán ngập hố Cấm Sơn đến khi thu hoạch ngô vẫn chưa có nước mưa bổ sung cho hồ) cho thấy nguồn nước mặt nếu không quản lý tốt cũng sẽ không đủ cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt
+ Nước các sông, hồ, nước ngầm đang bị ô nhiễm:
- Nước Sông Thương, Sông Cầu, do hàm lượng chất thải độc hại của các nhà máy, xí nghiệp, làng nghề thải ra không qua xử lý đã bị ô nhiễm nặng Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước sông Thương vượt TCCP từ 3-15 lần, nước sông Cầu khu vực làng Vân hà có chất rắn lơ lửng vượt 1,75 lần, NH3 vượt 24 lần Mặt khác do quá trình đốt nương làm rẫy, khai thác rừng bừa bãi làm rửa trôi lớp đất bề mặt, dẫn đến độ đục của sông Lục Nam vượt quá TCVN cho phép
từ 3 - 5 lần