1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình

63 881 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm hiện trạng môi trường nông thôn Hòa Bình
Trường học Học viện Kỹ thuật Quân sự
Chuyên ngành Môi trường và Bảo vệ môi trường
Thể loại Nghiên cứu đề xuất
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hòa Bình
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian quá trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, đã triển khai nhiều đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về môi trường nông thôn với sự tham gia của nhiều đơn vị nghiên

Trang 1

Mục lục

Chương.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - x∙

1.3 vùng sinh thái môi trường của tỉnh Hoà Bình 18

Chương 2 Hiện trạng môi trường nông thôn tỉnh

Hoà Bình

21

2.1 Hiện trạng sử dụng và diễn biến tài nguyên tỉnh Hoà Bình 21

2.1.1- Hiện trạng sử dụng và diễn biến tài nguyên đất 21

2.1.2- Hiện trạng sử dụng và diễn biến tài nguyên nước 23

2.1.3- Hiện trạng tài nguyên rừng và tài nguyên sinh vật 25

2.1.4- Hiện trạng, tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản 29

2.1.5- Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch 32

Trang 2

2.2 Đánh giá hiện trạng môi trường 34

2.3 các nguồn gây ô nhiễm môi trường, dự báo diễn

biến môi trường nông thôn tỉnh Hoà Bình đến năm 2010

41

2.3.1- Sự cố môi trường và nguồn gây ô nhiễm tự nhiên 41

2.3.3- ảnh hưởng của môi trường xã hội, nhân văn đến môi trường nông

thôn Hoà Bình

44

2.3.4- Dự báo diễn biến môi trường nông thôn Hoà Bình 46

2.4 Các vấn đề môi trường của các vùng sinh thái 51

Chương.3 Đề xuất các giải pháp và chính sách để quản

lý và phát triển môi trường nông thôn tỉnh Hoà Bình

52

3.I Quan điểm và mục tiêu định hướng quản lý và phát

triển môi trường nông thôn

3.2.1- Xây dựng hệ thống chính sách, cơ chế quản lý môi trường nông thôn 54

3.2.2- Tăng cường công tác nghiên cứu Khoa học công nghệ phục vụ

phát triển bền vững môi trường nông thôn

57

3.2.3- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến kiến thức,

kỹ thuật bảo vệ môi trường sâu rộng trong nhân dân

59

Trang 3

Lời nói đầu

Phát triển kinh tế – xã hội nông thôn miền núi, đã và đang là vấn đề được

Đảng Nhà nước đặc biệt quan tâm Hoà Bình là tỉnh miền núi, kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào nền tảng kinh tế nông nghiệp, vì vậy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm ở tỉnh Hoà Bình Trong nhiều năm qua đặc biệt là sau khi tái lập tỉnh, khu vực kinh tế nông nghiệp – nông thôn Hoà Bình

đã có sự phát triển vượt bậc, đạt nhiều kết quả khả quan làm tiền đề quan trọng cho sự phát triển trong thời gian tới Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, sự nghiệp bảo vệ môi trường nông thôn cũng đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong Tỉnh quan tâm giải quyết

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội sẽ kéo theo những biến

động môi trường nông thôn theo nhiều hướng khác nhau Để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội ổn định theo hướng phát triển bền vững cần

có những nghiên cứu tổng thể về các vấn đề môi trường nông thôn, từ đó có những giải pháp khoa học đảm bảo cho sự cân bằng hữu cơ giữa phát triển kinh

tế – xã hội với vấn đề bảo vệ môi trường

Trong thời gian quá trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, đã triển khai nhiều đề tài,

dự án nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về môi trường nông thôn với sự tham gia của nhiều đơn vị nghiên cứu từ Trung ương đến các huyện thị, trong nước và tổ chức nước ngoài các nội dung đã được đề cập khá đa dạng như:

đánh giá tài nguyên, dự báo sự cố môi trường nông thôn, xây dựng các mô hình ứng dụng các công nghệ trong quản lý, bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường, tuy nhiên các đề tài, dự án đều được triển khai ở dạng đơn lẻ chưa có nghiên cứu tổng hợp đánh giá một cách toàn diện thực trạng môi trường nông thôn Hoà Bình

Được sự quan tâm của Ban chủ nhiệm Chương trình KC.08 và ban chủ nhiện đề tài KC.08.06, nhóm nghiên cứu Môi trường – Sở Khoa học, công nghệ

và môi trường tỉnh Hoà Bình đã tiến hành nghiên cứu tổng thể những vấn đề môi trường nông thôn tỉnh Hoà Bình theo các vùng sinh thái từ đó đã đề xuất các giải pháp quản lý và kiểm soát một cách khoa học dựa trên phương pháp luận khoa học quản lý và công nghệ môi trường

Trong thời gian ngắn, với sự cố gắng của từng thành viên nhóm nghiên cứu, đề tài đã nghiên cứu khá chi tiết các vấn đề về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Hoà Bình, xác định các lợi thế so sánh về vị trí địa lý, tài nguyên và con người Hoà Bình Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng tài nguyên và môi trường nông thôn tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 (chủ yếu từ các năm 1991- 2002), từ đó xác định những tác động của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, phong tục tập quán và biến động tự nhiên đến môi trường nông thôn Hoà Bình, xác định xu hướng và những diễn biến môi trường nông thôn Hoà Bình trong thời gian tới Bằng đánh giá thực tế và phương pháp luận khoa học nhóm nghiên cứu cũng đã mạnh dạn

Trang 4

đề xuất một số giải pháp cần thực hiện đề quản lý và kiểm soát môi trường nông thôn của tỉnh một cách hiệu quả hơn, các giải pháp tập trung vào 4 nhóm chủ yếu, đó là: nhóm giải pháp về chính sách và cơ chế; nhóm giải pháp về nghiên cứu khoa học; nhóm giải pháp về tuyên truyền; nhóm giải pháp về tài chính Kết quả nghiên cứu của đề tài được nhóm nghiên cứu trình bày trong báo cáo nghiên cứu khoa học gồm 04 chương:

Chương I: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế – x∙ hội tỉnh Hoà Bình

Chương II: Hiện trạng môi trường nông thôn tỉnh Hoà Bình

Chương III: Đề xuất các giải pháp và chính sách để quản lý và phát triển môi trường nông thôn tỉnh Hoà Bình

Báo cáo khoa học kết quả nghiên cứu của đề tài, tuy đã được nhóm nghiên cứu cố gắng xây dựng với trách nhiệm cao nhất, nhưng do điều kiện thời gian, phương tiện nghiên cứu và trình bộ cán bộ có nhiều hạn chế, chắc chắn báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của chuyên gia và đồng nghiệp để chúng tôi hoàn thiện báo cáo tốt hơn, để báo cáo trở thành tài liệu khoa học giúp cho các cấp Đảng, chính quyền và các cơ quan chuyên môn tỉnh Hoà Bình tham khảo vận dụng, góp phần cho công tác quản lý môi trường nông thôn của địa phương có hiệu quả hơn

Nhóm nghiên cứu chúng tôi xin chân thành cám ơn sự định hướng và giúp đỡ quý báu Ban chủ nhiệm Chương trình KC.08 và Ban chủ nhiện đề tài KC.08.06 trong quá trình thực hiện đề tài, xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, cố vấn của các đồng chí Lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo và cán bộ chuyên môn Sở KHCN&MT, sở NN&PTNT, Sở Công nghiệp, Sở Địa chính, UBND các huyện, thị xã của tỉnh Hoà Bình, xin chân thành cảm ơn sự công tác chặt chẽ và có hiệu quả trong quá trình thực hiện đề tài của các cơ quan nghiên cứu, phân tích môi trường ở Trung ương và tỉnh Hoà Bình, các đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

Chương

1

Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã

hội tỉnh Hoà Bình 1.1

Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý, diện tích:

Hoà Bình là tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng núi Tây Bắc nước ta, tiếp giáp với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và Tam giác tăng trưởng kinh tế:

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Tỉnh có tọa độ địa lý: 20017’ - 21008’ vĩ độ Bắc, 104048’ - 105040’ kinh độ

Đông Trung tâm của tỉnh (thị xã Hoà Bình) cách Hà Nội 75 km theo quốc lộ 6

- Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ

- Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình

- Phía Đông giáp tỉnh Hà Tây

- Phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Thanh Hoá

1.1.2- Đặc điểm địa hình

Một cách khái quát thì hình thái địa hình Hoà Bình có thể chia ra làm hai vùng rõ rệt:

- Vùng thứ nhất: tạm gọi là vùng núi cao gồm phần tây và tây bắc của tỉnh

bao gồm hầu hết diện tích huyện Đà Bắc, huyện Mai Châu, kéo dài xuống các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ Độ cao trung bình của vùng núi này khoảng 600 - 700

m, trong đó một số đỉnh cao từ 1000 m trở lên phân bố rải rác ở các huyện Đà Bắc (đỉnh Phu Canh đến gần 1400 m ), ở huyện Mai Châu khu vực xã Cun Pheo, Hang Kia, Pà Cò cũng có các đỉnh cao đến hơn 1200 m Độ dốc trung bình của khu vực đạt con số khá lớn đến 30 - 350, cá biệt một số nơi đến hơn 400

- Vùng thứ 2: Tạm gọi là vùng đồi núi thấp, phân bố chủ yếu ở phần đông

nam, chiếm hơn một nửa diện tích của tỉnh Độ cao trung bình của vùng này đạt khoảng 200 - 300m, nhưng cá biệt cũng có nơi độ cao đạt xấp xỉ 1000m như khu vực tây bắc thị trấn Kim Bôi thuộc phần cực nam xã Tú Sơn

Xét về mặt hình thái địa mạo thì địa hình tỉnh Hoà Bình chia thành: + Loại bình sơn và cao nguyên đá vôi: Thuộc loại này là dải núi chạy

dọc theo phần tây nam của tỉnh, từ Mai Châu, qua Tân Lạc, Lạc Sơn và về Yên

Trang 6

Thuỷ Độ cao ở phần tây bắc như ở Mai Châu đến hơn 1200m, giảm dần theo hướng đông nam, đến vùng Yên Thuỷ chỉ còn vài ba trăm mét Độ cao các dãy núi cũng giảm dần từ tây nam sang đông bắc, tạo thành những vùng bình sơn nhỏ như khu vực Thung Khe

+ Loại hình thái địa hình thứ hai bao gồm một số dãy núi tương đối

đẳng thước có dạng khối, dạng vòm với các dải rìa hẹp ôm lấy phần trung tâm như vòm Đà Bắc, Kim Bôi v.v Các dải núi này cũng liên kết với nhau tạo thành chuỗi kéo dài theo phương tây bắc - đông nam

+ Một dạng khác theo hình thái địa mạo là kiểu địa hình gồm các đồi núi thấp ven đồng bằng Các dải núi đá vôi xen kẽ các thung lũng castơ hẹp kéo dài

với các đỉnh nhọn có độ cao từ 100-200m đến 400-500m khá phổ biến ở vùng Kim Bôi, Lạc Thuỷ thuộc kiểu địa hình rìa tây nam của đồng bằng Sông Hồng

Về độ dốc đất đai: Hoà Bình là một tỉnh có độ dốc tương đối thấp hơn so

với các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Kết quả xác định trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của tỉnh cho thấy:

+ Độ dốc cấp I (độ dốc dưới 30) chiếm 9,77%

+ Độ dốc cấp II (độ dốc 3 - 150) chiếm 4,07%

+ Độ dốc cấp III (độ dốc 8 - 150) chiếm 24,91%

+ Độ dốc cấp IV (độ dốc 15 - 250) chiếm 6,5%

+ Độ dốc cấp V-VI (độ dốc trên 250 chiếm 54,72%

Như vậy với cách chia theo độ cao bề mặt thì bức tranh địa hình của tỉnh Hoà Bình được mô tả khá đơn giản, tuy vậy nếu chia theo hình thái địa mạo thì

xâm nhập) trên phạm vi tỉnh Hoà Bình gồm nhiều hệ tầng Chính việc tạo thành từ

các hệ tầng khác nhau nên thành phân địa chất đã tạo nên sự phong phú về thổ nhưỡng đó cũng là những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là tạo vùng nông sản hàng hoá tập trung

1.1.4- Thuỷ văn:

1.1.4.1- Sông suối

Hoà Bình là một tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn vùng Tây bắc,

có lưới sông suối dầy, những con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là sông Đà có chiều dài 151/983 km, sông Bôi dài 66 km, sông Bưởi dài 48 km, sông Bùi dài 9

km và một số sông suối nhỏ Trữ lượng nước mặt rất lớn, lưu lượng dòng chảy cao, do đặc điểm địa hình tương đối dốc Đáng lưu ý nhất là sông Đà

Trang 7

Sông Đà là nhánh lớn của sông Hồng, được bắt nguồn từ núi Nguỵ sơn - Vân Nam- Trung Quốc, có cao độ đầu nguồn là 1500 m Diện tích lưu vực sông

đến đầu mối Thuỷ điện Hòa bình là 51.700 km2 chiếm 31% lưu vực sông Hồng, nhưng về tổng lượng nước thì lại chiếm 49% tổng lượng nước của sông Hồng Độ rộng trung bình lưu vực là 76 km, nơi lưu vực có độ rộng lớn nhất là 165 km thuộc tỉnh Lai Châu

Sông Bôi là nhánh chính của sông Đáy, có độ dài 66km, chiều dài lưu vực

m3, đây là nguồn tài nguyên có giá trị rất lớn cho việc sản xuất điện năng, hàng năm Nhà máy Thuỷ điện Hòa Bình sản xuất được khoảng hơn 7 tỷ KWh điện

đến muộn hơn và kết thúc cũng muộn hơn từ 15 - 20 ngày

Mùa khô (lạnh, khô): thường được bắt đầu từ tháng XI năm trước tới tháng IV năm sau Với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm chỉ đạt 150 -

250mm, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa năm Đặc biệt vào các tháng chính đông (tháng XII, I, II), tổng lượng mưa tháng phổ biến ở các nơi chỉ đạt xấp xỉ 30mm Thậm chí có năm vào thời kỳ này có vùng cả tháng không có mưa Hoặc có mưa lượng không đáng kể

1.1.6- Đất đai, thổ nhưỡng:

Tỉnh Hoà Bình gồm 10 huyện và 1 Thị xã Hoà Bình Tổng diện tích đất tự nhiên là 466.253 ha Trong đó: Đất nông nghiệp 66.758 ha chiếm 14,3 %, đất rừng: 194.308 ha chiếm 41,67%, đất trống đồi núi trọc 135.000 ha chiếm 28,96% còn lại là các loại đất khác (theo số liệu kiểm kê đất năm 2000)

Trong quỹ đất trống đồi núi trọc 135.000 ha: Đất có khả năng nông nghiệp là: 2.448 ha, đất có khả năng lâm nghiệp là: 132.561 ha (trong đó diện tích khoanh nuôi là 31.870 ha đất có thể trồng rừng và cây ăn quả là 93.233 ha).( Nguồn số liệu kiểm kê đất năm 2000- Sở Địa chính Hoà Bình)

Trang 8

Do sự chi phối của địa hình, sự tác động tổng hợp của các điều kiện tự nhiên và quá trình khai thác sử dụng đất của cộng đồng dân cư trong tỉnh, nên

đất đai của Hoà Bình phần lớn là đất đồi núi, phong hoá nhanh, mạnh, triệt để,

dễ bị thoái hoá, rửa trôi, xói mòn mạnh một khi mất cân bằng sinh thái

Theo tài liệu về đất và bản đồ thổ nhưỡng 1/100.000 tỉnh Hoà Bình của Viện

QH - TKNN thì trên địa bàn tỉnh có 7 nhóm đất với 19 loại đất chính sau đây:

1.1.6.1- Nhóm đất phù sa:

Diện tích 13.658 ha, chiếm 2,9% diện tích tự nhiên Tuy diện tích nhỏ nhưng đây là loại đất thích hợp với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lương thực, thực phẩm Đây là nhóm đất đã tạo lập nên các cánh đồng tập trung của tỉnh ở huyện Tân Lạc, Lạc Thủy, Kim Bôi, Lương Sơn…

1.1.6.2- Nhóm đất lấy và than bùn:

Nhóm đất này chỉ có 1 loại đất là đất lầy, có diện tích 396 ha, chiếm 0,08% diện tích tự nhiên Loại đất này được hình thành trong địa hình thấp, trũng, thung lũng khép kín khó thoát nước Trong môi trường yếm khí đất hình thành từ các vật liệu không gắn kết với đặc trưng quan trọng nhất là bị glây mạnh toàn phẫu diện Phân bố chủ yếu ở huyện Lương Sơn

1.1.6.3 Nhóm đất đen:

Nhóm đất này chỉ có 1 loại đất chính là đất đen cácbônát có diện tích 3.775,6 ha, chiếm 0,8% diện tích tự nhiên Đất được hình thành do quá trình rửa trôi của sản phẩm phong hoá đá vôi ở địa hình bậc thềm thung lũng thuộc các huyện Yên Thủy, Tân Lạc, Lạc Sơn… Hiện nay loại đất này đang được nhân dân của Hoà Bình khai thác trồng lúa và các loại cây công nghiệp ngắn ngày

1.1.6.4 Nhóm đất đỏ vàng:

Diện tích 359.872,1 ha chiếm tới 76,1% diện tích tự nhiên Đây là nhóm

đất có diện tích lớn nhất trong 7 nhóm đất ở Hoà Bình Trong nhóm đất này, các loại đất nâu đỏ trên đá mác ma BaZơ và trung tính, đất đỏ nâu trên đá vôi, đất

đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất là những loại đất tốt, rất thích hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả

1.1.6.5 Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi:

Diện tích 45.670 ha, chiếm 9,66% diện tích tự nhiên Đây là nhóm đất phân bố ở độ cao trên 700 m so với mặt biển, nơi có khí hậu lạnh, ẩm, địa hình chia cắt mạnh độ dốc lớn Do các loại đất này phân bố ở các vùng núi cao, nên chủ yếu được sử dụng vào mục đích lâm nghiệp và trồng các cây đặc sản

1.1.6.6 Nhóm đất thung lũng:

Diện tích 4.821,9ha, chiếm 1,02% diện tích tự nhiên Loại đất này được hình thành do quá trình rửa trôi, xói mòn của các đồi núi hoặc khe dốc Do địa hình thung lũng, lớp đất mặt thường bị đọng nước làm cho đất bị glây lớp thực vật mọc dầy đặc bị vùi lấp trong phẫu diện đất Hiện nay nhân dân đã sử dụng loại đất này để trồng lúa hoặc rau màu

Trang 9

1.1.6.7 Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá:

Diện tích 14.726,9ha, chiếm 3,13% diện tích tự nhiên của tỉnh Loại đất

này được hình thành là do kết quả của một quá trình rửa trôi, xói mòn rất mãnh

liệt trong một thời gian dài ở vùng miền núi nhiệt đới mưa lớn và tập trung khi

lớp thảm thực vật bề mặt đã bị cạn kiệt, đây là loại đất “có vấn đề” tầng đất

mỏng, chặt, nghèo dinh dưỡng

Với đặc điểm các loại đất của tỉnh như trên, căn cứ vào yêu cầu đất của

các nhóm cây trồng trong nông nghiệp để phân hạng đánh giá sự thích nghi của

đất đối với sản xuất nông lâm nghiệp cho kết quả như sau:

- Đất thích nghi với trồng lúa nước: 29.260 ha

- Đất thích nghi với trồng cây trồng cạn ngắn ngày: 15.067 ha

- Đất thích nghi với trồng mía: 11.073

- Đất thích nghi với trồng chè: 4.050 ha

- Đất thích nghi với trồng cây ăn quả: 18.148 ha

- Đất thích nghi với sản xuất nông – lâm kết hợp: 33.255

thị

Nông thôn

Mật

độ

(Người/km2)

Tổng

đơn vị

Phường thị trấn

1.T.x Hoà Bình 132 80.560 56.230 24.330 606 14 8 6 2.H Đà Bắc 820 50.440 4.540 45.900 62 21 1 20 3.H Mai Châu 519 48.493 5.285 43.208 93 22 1 21 4.H .Kỳ Sơn 202 43.037 2.655 31.382 168 10 1 9 5.H Lương Sơn 375 79.768 13.160 66.608 213 18 1 17

6 H Cao phong 254 39.445 4.330 35.115 155 13 1 12 7.H Kim Bôi 681 139.150 6.400 132.750 204 37 2 35 8.H Tân Lạc 523 76.534 4.380 72.154 146 24 1 23 9.H Lạc Sơn 580 129.780 4.450 125.330 224 29 1 28 10.H Lạc Thuỷ 293 49.330 5.770 43.563 168 13 1 12 11.H Yên Thuỷ 282 61.760 5.145 56.615 219 13 1 12

1.2.2- Dân số và cơ cấu dân số

Tại Hoà Bình có 30 dân tộc khác nhau cùng chung sống, trong đó có 6 dân

tộc chính, có văn hoá và truyền thống riêng tương đối đa dạng và phong phú

Trang 10

• Dân tộc Mường đông nhất chiếm 64,73% dân số toàn tỉnh

• Dân tộc Kinh có dân số đông thứ hai của tỉnh, chiếm 26,75% dân số của tỉnh

• Dân tộc Thái có dân số đứng thứ ba của tỉnh, chiếm 3,75% dân số của tỉnh, chủ yếu tập trung nhiều ở huyện Mai Châu

• Dân tộc Tày đứng thứ tư chiếm 2,44% dân số toàn tỉnh, chủ yếu tập trung ở huyện Đà Bắc

• Dân tộc Dao đứng thứ năm chiếm 1,54% chủ yếu tập trung ở huyện Đà Bắc

và huyện Kim Bôi

• Dân tộc H’ Mông có khoảng 4.000 nhân khẩu chủ yếu tập trung ở 2 xã Hang Kia, Pà Cò thuộc huyện Mai Châu

Các dân tộc khác còn lại có con số khoảng 2000 nhân khẩu

Phân bố dân số trong tỉnh không đều, về đời sống vật chất và tinh thần giữa các vùng rất chênh lệch

Là một tỉnh miền núi phía Tây Tổ quốc, về cơ cấu dân số Hoà Bình cũng giống như một số tỉnh miền núi phía Bắc là dân số không đông, mật độ dân thấp, có nhiều huyện còn được xếp vào danh mục vùng cao Dân số của Tỉnh Hoà Bình là 789.300 người (Số liệu đến ngày 31-12-2002) Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 169 người/km2 Dân số phân bố không đều, tập trung cao nhất

là ở thị xã Hoà Bình (606 người/km2) và các thị trấn, thị tứ hoặc nơi huyện lỵ, nơi có cơ quan nhà nước, xí nghiệp, nhà máy Trong khi đó ở các nơi hẻo lánh mật độ dân số rất thấp, thấp nhất là huyện Đà bắc chỉ có 62 người/km2

Trang 11

dân số và nhà ở năm 1999 Toàn tỉnh có 37,1% dân có trình độ tiểu học, 34,6% dân có trình độ THCS, 17,3% dân số có trình độ PTHT, 2,5% dân có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học (tính số dân từ 5 tuổi trở lên) Theo số liệu trên, tỉnh Hoà Bình là tỉnh có trình độ dân trí ở mức khá so với các tỉnh miền núi Tuy nhiên, so với các tỉnh đồng bằng thì tỷ lệ trên là rất thấp Đặc biệt, có

sự chênh lệch rất lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn Tại khu vực thành thị dân số trên độ tuổi đi học chỉ chiếm 13,7% nhưng chiếm trên 50% dân có trình

độ cao đẳng, đại học

Một trong những lực lượng đảm bảo sự phát triển khu vực nông thôn là lực lượng lao động khoa học kỹ thuật ngành nông – lâm nghiệp của tỉnh có đến 1/4/1999 là 922 người, gồm 5 tiến sỹ, 724 đại học và 182 cao đẳng Ngoài ra hiện có gần 4.000 chủ trang trại là những người am hiểu về quản lý và kỹ thuật, trong nông nghiệp và có hàng vạn lao động nông – lâm nghiệp thông qua việc tham gia các mô hình khuyến nông khuyến lâm, các dự án nông, lâm nghiệp đã ít nhiều có hiểu biết nhất định về khoa học kỹ thuật Lực lượng lao động khoa học

kỹ thuật này trong thời gian qua và trong tương lai là lực lượng nòng cốt trong việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, để làm cho sản xuất nông – lâm nghiệp của tỉnh phát triển với tốc độ cao

1.2.5- Các thiết chế nông thôn

Hệ thống thiết chế nông thôn tỉnh Hoà Bình cũng có những nét tương

đồng như các địa phương phương khác trong cả nước Gồm có 2 cấp cấp xã và xóm, làng, bản

Tại đơn vị cấp x∙: Các tổ chức hành chính, chính trị xã hội gồm có:

+ Hội đồng nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã hai tổ chức này hoạt động theo luật Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban nhân dân

+ Các tổ chức chính trị xã hội gồm có: Đảng bộ xã, Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi Các

tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại các xã hoạt động theo điều lệ và sự lãnh

đạo toàn diện của Đảng bộ Xã

Tại làng, xóm, bản:

Trưởng thôn là đại diện chính quyền ở xóm, bản Các tổ chức chính trị xã hội ở cấp xóm, bản thường có đầy đủ như cấp xã: Chi bộ Đảng, Chi đoàn Thanh niên, Các chi hội nông dân, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi

Các thành viên các tổ chức trên ngoài việc chấp hành điều lệ tổ chức tham gia tại xóm, còn có nghĩa vụ thực hiện các quy định của các xóm, bản (hương ước)

Các dân tộc thiểu số, qua bao đời sinh sống trên quê hương Hoà Bình đã hình thành nên phong tục tập quán phong phú của dân tộc mình, trong lao động sản xuất, trong đời sống sinh hoạt

Trang 12

1.2.6- Hệ thống đô thị

Hệ thống đô thị Hoà Bình được hình thành 3 cấp: Thị xã, thị trấn và thị

tứ, trung tâm cụm xã

Thị x∙: Hoà Bình có một thị xã là Thị xã Hoà Bình, tỉnh lỵ của tỉnh Hoà

Bình, đây là đô thị loại 4 (theo phân loại tại quyết định 132/HĐBT ngày 5/5/1990) Dân số thị xã là 80.560 người (tính đến năm 2002), trong đó có 56.230 dân thành thị, 24.330 dân nông thôn Từ khi tái lập tỉnh Hoà Bình, thị xã Hoà Bình đã được quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, nhằm đáp ứng yêu cầu là trung tâm chính trị, văn hoá - xã hội, kinh tế của tỉnh Hoà Bình và cả vùng Tây Bắc Trong chiến lược xây dựng thị xã Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình định hướng đến năm 2007 phân đấu xây dựng thị xã Hoà Bình đạt tiêu chuẩn đô thị loại 3 và được đổi tên là Thành phố Hoà Bình

Tuy có nhiều cố gắng trong đâu tư xây dựng, nhưng do điều kiện kinh tế của tỉnh eo hẹp, nên việc xây dựng cơ sở hạ tầng có nhiều mặt còn hạn chế, trong đó nổi bật là cơ sở hạ tầng về vệ sinh môi trường đô thị

Thị trấn: Hệ thống thị trấn của tỉnh Hoà Bình được phân bố đều tại 10

huyện, toàn tỉnh có 11 thị trấn, mỗi huyện có một thị trấn là huyện lỵ (riêng huyện Kim Bôi có thêm một thị trấn vùng) Các thị trấn tại các huyện đóng vai trò là trung tâm chính trị, văn hoá - xã hội, kinh tế của huyện Dân số thị trấn các huyện dao động từ 3.500 – 5.000 người Hệ thống các thị trấn trong nhiều năm qua đã được đầu tư cơ sở hạ tầng đáng kể tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội các vùng nông thôn

Thị tứ và trung tâm cụm x∙: Để tạo điều kiện phát triển kinh tế nông

thôn, tỉnh Hoà Bình đã và đang xây dựng hệ thống thị tứ, trung tâm cụm xã Thị

tứ và trung tâm cụm xã hình thành với chức năng chính là nơi giao lưu về kinh

tế - văn hoá của một vùng Hiện nay đã có trên 30 thị tứ, trung tâm cụm xã đã

được định hình trên địa bàn toàn tỉnh

Với việc quy hoạch, xây dựng hệ thống đô thị trên địa bàn toàn tỉnh đã hình thành một bộ mặt mới của tỉnh Hoà Bình, đặc biệt là các vùng nông thôn miền núi Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế vấn đề đô thị hoá nông thôn tỉnh Hoà Bình, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó trọng tâm là xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, đảm bảo cho việc phát triển bền vững

1.2.7- Hoạt động giáo dục, văn hoá

Hoạt động giáo dục - đào tạo, văn hoá, y tế của tỉnh Hoà Bình trong những năm qua đã có những bước tiến bộ đáng kể:

Giáo dục - đào tạo: Giáo dục đại trà luôn được coi trọng, đến nay Hoà

Bình là một trong 23 tỉnh, thành trong cả nước được công nhận hoàn thành chương chình phổ cập THCS Giáo dục mũi nhọn liên tục nhiều năm đứng đầu bảng B (gồm các tỉnh Miền núi phía Bắc, Tây nguyên và đồng bằng sông Cửu Long) về số lượng và chất lượng giải học sinh giỏi quốc gia Hàng năm đội ngũ

Trang 13

giáo viên đều được đào tạo, đào tạo lại Đội ngũ giáo viên các cấp tăng nhanh, khắc phục được cơ bản tình trạng thiếu giáo viên Các loại hình giáo dục thường xuyên, bổ túc văn hoá, đại học tại chức, cao đẳng, trung học nghề được quan tâm phát triển Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước, cán bộ chính quyền cơ sở được coi trọng Công tác dạy nghề, học nghề đã gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội Mở rộng thêm các chuyên ngành đào tạo tại các trường cao đẳng, trung học và trường dạy nghề

Cơ sở hạ tầng phục vụ giáo dục, đào tạo được tăng cường, với việc lồng ghép nhiều nguồn vốn, vốn đầu tư được tăng lên hàng năm, năm 2002 gần 40 tỷ

đồng, năm 2003 kế hoạch là 99,5 tỷ đồng (trong đó chương trình kiên cố hoá trường lớp học 50 tỷ đồng)

Toàn tỉnh có 32 Trung tâm học tập cộng đồng, chủ yếu tập trung tại các vùng nông thôn, đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia và có xu hướng phát triển mạnh trong thời gian tới Chính sự phát triển các Trung tâm học tập cộng

đồng với nhiều chuyên đề về môi trường và bảo vệ môi trường được thảo luận, bước đầu đã tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân về ý thức trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường sống

Hệ thống y tế: từ tỉnh đến cơ sở được tập trung củng cố, 100% số xã trong

tỉnh có trạm y tế, mỗi trạm có 3-5 cán bộ y tế, trên 30% trạm y tế xã có bác sĩ Thực hiện tốt các chính sách xã hội trong công tác y tế Toàn tỉnh hiện đã có 74/214 xã, phường được công nhận là địa bàn không có tệ nạ xã hội

Công tác phòng bệnh, chất lượng khám chữa bệnh ở các tuyến y tế được nâng cao và tiến bộ Thực hiện việc cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm viện phí

đối với đối tượng là người nghèo, thương binh, người có công với cách mạng, nạn nhân chiến tranh, người nhiễm chất độc màu dự án cam Công tác xã hội hoá chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được các cấp, các ngành và nhân dân được các cấp, các ngành và nhân dân đồng tình, ủng hộ Các ngành, các cấp, đoàn thể đã

tổ chức nhiều hoạt động nhằm phổ biến các biện pháp phòng chống HIV/AIDS

Công tác dân số được đặc biệt quan tâm, nhất là vùng nông thôn Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2003 giảm còn 1,2% (đạt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII trước 2 năm) Tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm từ 9% năm 2001 xuống còn dưới 6% năm 2003 Tỷ lệ trẻ em <5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2003 còn 33,5%

Hoạt động văn hoá: Phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sông

văn hoá” đã thu hút đông đảo nhân dân hưởng ứng Toàn tỉnh đã xét và công nhận 172.596 lượt hộ gia đình, trên 700 làng bản và 674 lượt trường học được công nhận đạt tiêu chuẩn “Nếp sống văn hoá” Thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy vốn văn hoá cổ truyền của các dân tộc (vật thể và phi vật thể) góp phần vào việc phát triển sâu rộng phong trào văn hoá, văn nghệ, giữ gìn và phát huy vốn văn hoá quý báu của các dân tộc thiểu số trong tỉnh Hiện toàn tỉnh đã có 215 tổ thông tin cấp xã, phường; 100% huyện, thị xã có đội thông tin lưu động; có hơn

500 tuyên truyền viên thôn bản, trên 800 đội văn nghệ quần chúng với hơn 10.000 diện viên không chuyên tại các xã, phường trong tỉnh tham gia hoạt động

Trang 14

Hoạt động báo chí, phát thanh truyền hình: trên 70% số hộ được xem

truyền hình, 96% số hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam 100% số xã có báo

Diện tích đất rừng tự nhiên còn rất rộng, mạng lưới sông suối dầy, tài nguyên

nước vô cùng phong phú do có vùng hồ chứa trữ lượng nước rất lớn, nên vùng đồng

đất trồng trọt của Hoà Bình cũng có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp,

chăn nuôi, khai thác chế biến lâm sản, nuôi trồng thuỷ sản

Theo tài liệu của Cục thống kê Hoà Bình cho thấy, ngành kinh tế này đã

đóng góp cho việc đảm bảo phát triển và ổn định kinh tế chung của tỉnh

Bảng 1 2: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (giá cố định năm 1994)

Trang 15

các nguồn vốn trong nước và nước ngoài, trong thời gian vừa qua, ngành lâm nghiệp ở đây cũng đã đạt được những thành tích đáng kể Diện tích rừng trồng ngày càng được mở rộng, các sản phẩm và nguồn tài nguyên từ rừng được khai thác và chế biến đã đóng góp quan trọng cho nguồn thu ngân sách tỉnh Đặc biệt quan trọng là diện tích rừng được mở rộng thì diện tích che phủ tăng lên, một phần bù vào chỗ thiếu hụt do khai thác, góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc làm giàu thêm thảm thực vật

Việc phát triển diện tích rừng trong những năm gần đây được các ngành các cấp quan tâm đúng mức Chỉ tính riêng diện tích trồng rừng tập trung tại Hoà Bình đã tăng từ 2 354 ha năm 1995 lên 3.080 ha năm 1996, 3.775 ha năm

1997, 5.359 ha năm 1998 và từ năm 1999 đến nay diện tích rừng trồng hàng năm khoảng trên 7.000ha/năm Trong đó nhiều nhất là các huyện: Kim Bôi, Đà Bắc, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ và khu vực các lâm trường quốc doanh Hiện nay các

dự án trồng rừng vẫn tiếp tục được thực hiện nên diện tích rừng trồng ngày càng

được mở rộng

1.2.8.3- Ngành Thuỷ sản:

Hoà Bình có điều kiện tương đối thuận lợi về trữ lượng nước mặt Về

điều kiện tự nhiên có 4 con sông lớn và nhiều sông suối nhỏ, diện tích mặt nước

là 4.489ha Có 353 hồ lớn nhỏ với tổng diện tích mặt nước hơn 11.100ha, trong

là 50m) ít được xáo trộn, lượng oxy hoà tan trong nước bị thay đổi

Ven hồ (Địa phận Hòa Bình) có 5218 hộ dân cư với trên 30.000 nhân khẩu hầu hết các hộ ít nhiều đều có phương tiện khai thác thuỷ sản

Các loài cá từ sông Hồng ngược dòng di cư vào sông Đà cũng giảm hẳn hầu như không còn đó là nguyên nhân chính gây sự giảm sút nguồn cá tự nhiên của sông Đà

Hiện nay Tỉnh Hòa Bình đang có Dự án “ Quy hoạch bảo vệ nguồn lợi

và phát triển nuôi trồng Thuỷ sản giai đoạn 2000-2010” Thực hiện dự án này sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng thêm việc làm cho người lao động

và góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho nhân dân, đây là việc làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ em trong tỉnh thiết thực nhất

1.2.8.4- Ngành Công nghiệp

Ngành công nghiệp của Hoà Bình cũng nằm trong xu thế chung của các tỉnh miền núi Hàng công nghiệp của Hoà Bình còn rất đơn điệu, chất lượng

Trang 16

chưa cao do thiết bị máy móc và công nghệ lạc hậu Chủ yếu là các nhà máy chế biến chè, rau quả thực phẩm, bia, nước giải khát Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng là thế mạnh của Hòa Bình, hiện nay có 3 nhà máy xi măng lò

đứng, nhà máy gạch tuy nen công suất 20 triệu viên/ năm và nhiều cơ sở khác

đang xây dựng, lò gạch, vôi được phát triển ở các địa bàn trong tỉnh đáp ứng nhu cầu xây dựng trong và ngoài tỉnh

Công nghiệp được đầu tư vốn nước ngoài rất ít, chỉ có một nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu 100% vốn nước ngoài (Nhật bản), Xưởng sản xuất tre thanh, ngoài ra không có gì đáng kể

Một đặc điểm đáng lưu ý là tại Hoà Bình có nhà máy thuỷ điện lớn nhất

Đông Nam á Đây là một công trình được xếp vào tầm quan trọng số một của Quốc gia Hàng năm thuỷ điện Hoà Bình sản xuất 7,5-7,8 tỷ KWh bằng khoảng 30% sản lượng điện toàn quốc, tính từ ngày Nhà máy bắt đầu phát điện (năm 1989) đến nay (9/2003) nhà máy đã sản xuất được 89,244 tỷ KWh Qua đây ta thấy tài nguyên nước thật quý giá vô cùng

Bảng 1.3: Giá trị sản xuất và sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp Hoà Bình

Vùng núi Hoà Bình với những làng bản, phong tục tập quán đậm đà bản sắc dân tộc, thời gian gần đây cũng là nơi thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Khách du lịch đến đây ngoài việc được sống trong thiên nhiên hoang dã còn được thưởng thức những nét văn hoá, tập quán của đồng bào dân tộc vùng Tây bắc và nghệ thuật ẩm thực của nhân dân địa phương

* Nhận xét chung:

Qua những thành tích đạt được về mặt kinh tế, xã hội đã chứng minh

đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước được cụ thể hóa bằng việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Hoà Bình lần thứ XII Hoà Bình đã và đang tiếp tục khẳng định mình, khai thác và phát huy nội lực bên trong tranh thủ sự giúp đỡ về mọi mặt của Trung ương để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong tỉnh

Trang 17

Cơ cấu kinh tế từng bước phát triển và chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Tính đến năm 2003, cơ cấu kinh tế tỉnh Hòa Bình như sau:

- Công nghiệp - xây dựng: 19,3%

Những chỉ tiêu cơ bản trong sản xuất công nông nghiệp và dịch vụ đã đạt

được chỉ tiêu của các ngành các cấp đề ra Quy mô đầu tư xây dựng cơ bản trên

địa bàn ngày càng được tăng cường Việc đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hoá, phát thanh truyền hình được chú trọng Các thành phần kinh tế phát triển tương đối đa dạng, tạo thêm nhiều sản phẩm tiêu dùng, xuất khẩu Các hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường được trú trọng và có những bước tiến mới kể cả

về nhận thức và tổ chức thực hiện Nhận thức về việc trồng và bảo vệ rừng cũng

được nâng cao nhiều dự án trong nước và Quốc tế về việc trồng rừng và bảo vệ rừng đang được triển khai và có nhiều hứa hẹn Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn được giữ vững

Việc định canh định cư của đồng bào vùng dân tộc ít người có lúc chưa

được quan tâm đúng mức, hiện tượng du canh du cư phá đốt rừng làm rẫy có hạn chế nhưng chưa chấm dứt Hướng đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản là thế mạnh vốn có của địa phương chưa được định hướng rõ ràng

và quan tâm đúng mức Nên chất lượng hàng nông, lâm sản xuất khẩu chưa cao, chưa đủ sức cạnh tranh với các loại hàng cùng chủng loại trong khu vực

Do kinh tế của tỉnh còn chưa đủ mạnh nguồn vốn dự trữ ít khả năng huy

động vốn trong nhân dân yếu nên các doanh nghiệp cần vốn vay để cải tiến thiết

bị hoặc thay đổi dây chuyền công nghệ bị hạn chế, các thủ tục vay vốn, thanh toán ở ngân hàng còn phiền hà Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn chậm Sự năng động sáng tạo trong quá trình tổ chức sản xuất còn hạn chế, có lúc còn bị động do nhu cầu của thị trường Quản lí điều hành có lúc còn buông lỏng thiếu tập trung thống nhất Việc thực hiện từng bước

cổ phần hoá doanh nghiệp tiến hành chậm và chưa chủ động

Cơ sở hạ tầng còn chưa được quan tâm đúng mức, xây dựng theo quy hoạch chưa thống nhất, còn nhiều phiền hà trong thủ tục cấp đất, đền bù giấy phép sử dụng đất, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và việc ổn định chỗ ở cho nhân dân

Hoạt động thương mại dịch vụ tuy có phát triển trong thời gian gần đây nhưng do chưa có đầu tư đúng mức và định hướng rõ ràng, đội ngũ cán bộ và nhân viên chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm ít nên còn phát triển theo hướng nhỏ, lẻ chưa phát huy hết được thế mạnh của địa phương trong lĩnh vực này

Trang 18

1.3

vùng sinh thái môi trường của tỉnh Hoà Bình

Căn cứ điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, nông thôn tỉnh Hòa Bình được chia thành 4 vùng sinh thái môi trường đặc trưng đó là:

1.3.1- Vùng sinh thái núi cao

Hoà Bình có 2 huyện vùng núi cao là Đà Bắc và Mai Châu Diện tích tự nhiên của vùng núi cao là 133.879 ha, chiếm 28,71% diện tích tự nhiên của tỉnh, dân số năm 2002 có 98.933 người, trong đó 93% là nhân khẩu nông nghiệp

Đây là tiểu vùng núi cao, địa hình chia cắt mạnh, dốc nhiều mật độ dân

số thưa thớt (73người/km2) tình trạng du canh còn nhiều hiện nay trong vùng

có 34.290 khẩu, 6.806 hộ thuộc diện vận động ĐCĐC, chiếm 42,7% số khẩu diện tổ chức ĐCĐC của tỉnh đất sản xuất nông nghiệp ít, manh mún, chủ yếu là sản xuất lâm nghiệp

Theo số liệu tổng hợp về tình hình sử dụng đất, hiện nay ở vùng này có 8.524,36 ha đất nông nghiệp, chiếm 6,37% diện tích tự nhiên của vùng và chiếm 12,77% diện tích đất nông nghiệp của cả tỉnh Diện tích đất ruộng rất ít, chỉ có 2.072,58 ha (bình quân có 217 m2/người), đất nương rẫy chiếm gần 70%

đất nương rẫy của tỉnh Đất rừng có 66.030,58 ha, chiếm 49,32% diện tích tự nhiên và chiếm 34% diện tích rừng của toàn tỉnh

Với điều kiện tự nhiên, đất đai như trên, cộng thêm trình độ dân trí còn ở mức thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, hệ thống cơ sở hạ tầng thấp kém, nên sản xuất nông – lâm nghiệp của vùng chủ yếu là tự cung tự cấp, sản xuất nương rẫy là chính

Theo số liệu thống kê năm 2002, một số nét về kinh tế vùng này như sau:

- Diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 15.775 ha, chiếm 16,1% so với toàn tỉnh Trong đó diện tích gieo trồng lúa cả năm có 4.219 ha, chiếm 9,7% diện tích lúa của tỉnh

- Sản lượng lương thực (lúa ngô) đạt khoảng 26,8 nghìn tấn, bình quân

276 kg/người (thấp hơn so với bình quân chung của tỉnh)

- Đàn trâu đạt 15.073 con, đàn bò 9.271 con, đàn lợn 43.244 con bình quân mỗi hộ nuôi 1,3 con trâu bò và 2,3 con lợn

- Toàn vùng hiện có 82 trang trại, chiếm 0,02% số trang trại của tỉnh

- Công tác cấp nước sạch nông thôn đến nay đã có 1.453 giếng đào, 249

bể nước mưa, 90 công trình tự chảy đảm bảo cấp nước sạch cho 25.956 người (chiếm 27,2% so với dân số chung)

- Trong công tác thực hiện tổ chức ĐCĐC làm tương đối tốt hiện đã có 45/123 xóm hoàn thành công tác ĐCĐC, tổ chức ĐCĐC cho được 2.973 hộ với 14.312 nhân khẩu

Trang 19

1.3.2- Vùng sinh thái núi thấp (trung du)

Diện tích của vùng này là 274.822,5 ha chiếm 58,94% diện tích của tỉnh Dân số năm 2002 là 588.274 người, chiếm 74,5% dân số chung của tỉnh, dân số nông nghiệp chiếm 81% dân số chung là vùng có tỷ lệ dân số Nông nghiệp thấp nhất so với dân số chung

Đây là vùng trọng điểm sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh, điều kiện đất

đai ít dốc hơn, đất màu mỡ hơn vùng cao, lao động đông, dồi dào, mật độ dân

số tới 214 người/km2 (nhiều gấp 2,93 lần tiểu vùng cao)

Hiện tại đất nông nghiệp của vùng có 45.806,68 ha, chiếm 16,6% diện tích tự nhiên và chiếm 68,62% đất nông nghiệp của tỉnh Diện tích đất ruộng có 22.143,44 ha, chiếm 75,68% đất ruộng của toàn tỉnh Bình quân đất ruộng đạt

398 m2/người (gấp 1,87 lần so với vùng núi cao) Diện tích đất lâm nghiệp có 105.057,38 ha, chiếm 38,23% diện tích tự nhiên

Với đặc điểm của vùng như trên, đây là vùng sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và tương đối phát triển Hầu hết các vùng sản xuất tập trung mang tính hàng hoá đều có ở vùng này

- Theo thống kê 2000, diện tích gieo trồng cây hàng năm của vùng đạt 66.768 ha, chiếm 68,1% diện tích cây hàng năm của tỉnh, hệ số sử dụng đất khá cao (2,2 lần/năm) Trong đó diện tích gieo trồng lúa là 33.260 ha, chiếm gần 76,5% so với diện tích lúa của tỉnh Diện tích chè, cây ăn quả phần lớn tập trung ở vùng này

- Sản lượng lương thực (lúa, ngô) đạt gần 161 nghìn tấn, bằng 75,84% sản lượng của cả tỉnh Bình quân lương thực sản xuất trên đầu người đạt 285 kg/người (cao hơn so với bình quân chung của tỉnh)

- Đàn trâu hiện có 99.065 con, đàn bò 30.648 con, đàn lợn 208.557 con Bình quân mỗi hộ nông dân nuôi 1,4 con trâu, bò và 2,3 con lợn

- Trong vùng này hiện có 3.140 trang trại, chiếm 84,6% số trang trại hiện nay của tỉnh Đây là tiền đề quan trọng đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp ở vùng này và tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hoá

- Các lĩnh vực khác như công tác cung cấp nước sạch nông thôn, công tác

ĐCĐC cũng được triển khai tổ chức tốt Số nhân khẩu được sử dụng nước sạch

có 178.854 người, chiếm 32,1% so với dân số của vùng

- Sản xuất công nghiệp, dịch vụ ở vùng này phát triển nhất trong các vùng của tỉnh Hòa Bình chiếm khoảng 85% giá trị sản xuất công nghiệp, 77% giá trị dịch vụ của tỉnh

1.3.3- Vùng sinh thái đồng bằng

Vùng thấp bao gồm 2 huyện Lạc Thủy và Yên Thủy, diện tích tự nhiên 57.551,38 ha, dân số 111.090 người, Trong đó dân số nông nghiệp chiếm 85,2% Mật độ dân số 193 người/km2

Trang 20

Địa hình bằng phẳng, đất tương đối thuận lợi cho sản xuất nông – lâm nghiệp, lao động nông nghiệp dồi dào, trình độ hiểu biết kỹ thuật khá

Hiện tại đất nông nghiệp của vùng có 12.427,88 ha, chiếm tới 21,59% (cao hơn vùng giữa 4,92% và cao hơn vùng cao là 15,22%) Diện tích đất ruộng

có 5.044,31 ha, bình quân đầu người đạt tới gần 470 m2/người

Kết quả một số nét kinh tế nông thôn của vùng như sau:

- Về diện tích gieo trồng cây hàng năm của vùng đạt 15.554 ha, chiếm 15.86% diện tích gieo trồng cây hàng năm của toàn tỉnh Trong đó diện tích lúa

là 5.995 ha, chiếm 13,8% so với toàn tỉnh)

- Sản lượng lương thực (thóc, ngô) đạt 24.529 tấn, bình quân lương thực sản xuất trên đầu người đạt 230 kg/người

- Đàn trâu hiện có 17.685 con trâu, 8.038 con bò và 42.878 con lợn Bình quân 1 hộ nông dân nuôi 1,33 con trâu bò, chăn nuôi lợn đạt 2,2 con

Số lượng trang trại của vùng này có 490 trang trại đang đi vào sản xuất

ổn định, các công tác cung cấp nước sạch nông thôn cũng được triển khai tốt, hiện nay đã có 25.454 người được sử dụng nước sạch

- Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của vùng tương đối phát triển so với các vùng khác, tuy có một số cơ sở sản xuất loại vừa và nhỏ như các công ty xi măng, cơ khí, đúc những nhìn chung công nghiệp - tiêu thủ công nghiệp ở vùng này chủ yếu vấn là công nghiệp khai khoáng, sản xuất gạch ngói thủ công,

1.3.4- Vùng sinh thái môi trường ven đô

Vùng này gồm 6 xã thuộc thị xã Hòa Bình và vùng ven 11 thị trấn, 52 thị

tứ và trung tâm cụm xã

Tổng dân số khu vực ven đô khoảng 80.000 người, nghề nghiệp dân cư khu vực này chủ yếu vấn là sản xuất nông nghiệp Nhưng cây cây trồng vật nuôi ở khu vực này cơ bản là những loai cây trồng vật nuôi phục vụ cho khu vực

đô thi, như các loại rau, quả,

Trình độ dân trí khu vực nay tương đối cao so với các vùng nông thôn khác của tỉnh

Trang 21

Chương

2

Hiện trạng môi trường nông thôn tỉnh Hoà Bình 2.1

Hiện trạng sử dụng và diễn biến tài nguyên tỉnh Hoà Bình

2.1.1- Hiện trạng sử dụng và diễn biến tài nguyên đất

2.1.1.1- Hiện trạng sử dụng đất

Diện tích đất nông nghiệp theo kiểm kê đất đai năm 2000 ở Hoà Bình có 66.758,92 ha, chiếm 14,32% diện tích tự nhiên, bình quân đất nông nghiệp trên nhân khẩu nông thôn là 1.020 m2/người

- Diện tích đất cây hàng năm là 45.045,32 ha, chiếm 67,47% đất nông nghiệp, trong đó đất ruộng lúa là 29.260,33 ha (gồm 2.027,75 ha đất 3 vụ, 15.871,88 ha đất 2 vụ và 10.953,09 ha đất 1 vụ) đất nương rẫy 2.734,83 ha, đất màu 13.050,15 ha

Như vậy tuy là một tỉnh miền núi đất dốc nhưng hiện nay do yêu cầu của cuộc sống nên 67,47% đất nông nghiệp của tỉnh được sử dụng để trồng cây ngắn ngày và gần 44% đất nông nghiệp được sử dụng trồng lúa Hệ số sử dụng

đất ruộng tương đối khá (đạt 1,71 lần/năm), diện tích đất nương rẫy có xu hướng giảm dần, đây là xu thế tốt trong sử dụng đất nông nghiệp

- Đất cây lâu năm hiện có 4.053,13 ha, chiếm 6,07% đất nông nghiệp Trên loại đất này hiện nay chủ yếu được sử dụng trồng chè và các loại cây ăn quả

Với điều kiện đất đai Hoà Bình thì hiện tại mới sử dụng 4.000 ha để trồng cây lâu năm là quá ít so với điều kiện có thể cho phép Trong thời gian tới cần khai thác đất đồi đưa vào trồng chè, cây ăn quả nhằm tăng nhanh diện tích các loại cây này để đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất dốc của tỉnh

- Đất vườn hiện có 16.330,65 ha chiếm 24,46% đất nông nghiệp Trên loại đất nông nghiệp này vừa qua đã thực hiện chương trình cải tạo vườn tạp làm kinh tế trang trại nên đất vườn tạp hiện nay đã sử dụng có hiệu quả, góp phần nâng cao mức sống của các hộ nông dân

- Diện tích ao hồ dùng vào nông nghiệp (chủ yếu nuôi trồng thủy sản) có

900 ha, chiếm 1,35% đất nông nghiệp Hiện nay chủ yếu để sử dụng nuôi cá

- Diện tích đồng cỏ dùng vào chăn nuôi hiện có 429,82 ha, chiếm 0,65%

đất nông nghiệp Diện tích này hiện nay chủ yếu được sử dụng nuôi thả trâu bò

tự nhiên, chưa có tác động cải tạo đất đồng cỏ

Trang 22

Về hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp, qua kết quả điều tra

ở một số điểm cho thấy trên các chân đất hiện được trồng các cây trồng chính

hiện tại thu nhập chưa cao Cụ thể:

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất ruộng lúa 2 – 3 vụ đạt 15 – 17 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng mía đạt 18 – 20 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng chè đạt 15 – 16 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất cây ăn quả đạt 27 – 28 triệu đồng

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2000 Tỉnh Hoà Bình

Hạng mục Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

- Đất chuyên màu, CCNNN 10.629,60

- Đất trồng cây hàng năm khác 2.398,95

III Đất trồng cây lâu năm 4.053,13 6,07

IV Đồng cỏ chăn thả 429,82 0,65

V Diện tích nuôi trồng thủy sản 900,00 1,35

2.1.1.2- Diễn biến sử dụng đất

Hoà Bình tương đối đa dạng về các loại hình sử dụng đất nhưng chủ yếu

vẫn là sử dụng đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp là chính đất chưa sử dụng cũng

chiếm tỷ lệ đáng kể còn lại các dạng sử dụng đất khác không nhiều

a- Đất nông nghiệp có xu thế tăng do những nguyên nhân sau:

- Do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và chính sách giao đất đến hộ nông dân

việc khai hoang phục hoá khai thác những quỹ đất chưa sử dụng được trước đây

để làm đất sản xuất nông nghiệp, do bồi lắng ở các khu vực ven sông, hồ và

những hồ chết

- Đất lâm nghiệp cũng có xu hướng tăng do các dự án trồng rừng phủ

xanh đất trống đồi trọc và khai thác trong quỹ đất chưa sử dụng

- Đất đô thị và đất khu công nghiệp có chiều hướng tăng do tốc độ đo thị

hoá và phát triển công nghiệp trong tỉnh

Nhìn chung việc sử dụng đất ở hầu hết các mục đích đều tăng chỉ có quỹ

đất chưa sử dụng là bị thu hẹp Đất trồng trọt ven thị xã và nơi tập trung dân cư

là bị thu hẹp phần nào do tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng, và sự phát triển của

ngành công nghiệp

Trang 23

b- Tình trạng rửa trôi, xói mòn đất

Tình trạng rửa trôi, xói mòn đất ở Hoà Bình đã ở mức báo động, do tập quán canh tác của người dân ở một số vùng, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng núi cao canh tác nương rẫy đã làm đất bị rửa trôi, xói mòn chất dinh dưỡng đất giảm sút, theo thống kê của ngành Nông nghiệp Hoà Bình năm 2000 toàn tỉnh hiện có 2.727,64 ha đất nương rẫy Năng suất lúa nương hiện giảm xuống rất thấp chỉ đạt 600-700kg/ha Tình trạng sử dụng ở mức vắt kiệt đất đồi núi có xu hướng tăng, do sức ép dân số, do việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng, đã làm giảm thời gian bỏ hoá nương rẫy, đất đồi rừng mất khả năng phục hồi

Ngoài nguyên nhân xói mòn rửa trôi đất do canh tác nương rẫy, còn có nguyên nhân đó là chất lượng bảo vệ đất của rừng giảm sút do khả năng bảo vệ

đất của rừng trồng kém, rừng tự nhiên bị chặt phá khai thác nghèo kiệt Theo kết quả kiểm kê tài nguyên rừng thì hiện tại rừng gỗ tự nhiên ở khu vực núi đất không có diện tích rừng có cấp trữ lượng loại từ 1 đến 3, có tới 25,4% diện tích cấp trữ lượng loại 5 và 61,5% là rừng non, trữ lượng rất thấp

2.1.2- Hiện trạng sử dụng và diễn biến tài nguyên nước

2.1.2.1- Hiện trạng tài nguyên nước

ao, hồ, đầm

Tuy lượng nước trên các sông, suối ở Hoà Bình lớn, song do độ dốc lớn nên lượng nước bị dốc kiệt khá nhanh, trong mùa mưa sau các trận mưa lớn thường bị lũ quét xảy ra làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của cư dân Như vậy tài nguyên nước (kể cả nước mặt và nước ngầm) ở Hoà Bình tương đối dồi dào đáp ứng được yêu cầu phát triển của nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp và phục vụ đời sống của cư dân trong tỉnh

b-Nước ngầm

Dựa vào những số liệu đánh giá về nước ngầm ở vùng Tây Bắc và những kết quả khoan thăm dò ở một số nơi trên địa bàn tỉnh cho thấy, nước ngầm ở Hoà Bình ở độ sâu 40 ữ 50m có tổng lượng nước 150 + 200 m3/h Đối với các giếng đào ở độ sâu trên dưới 20 m đều có nước, một số nơi nguồn nước ngầm thấy xuất hiện ở độ sâu 5 m

Trang 24

Do đặc điểm ở Hoà Bình là một tỉnh miền núi với địa hình chia cắt phức tạp, núi đồi, thung lũng, sông suối xen kẽ nhau tạo thành nhiều dải hẹp Với đặc

điểm địa hình như vậy sự phân bố nước ngầm không đồng đều Tập trung nhiều

ở vùng các lưu vực sông, suối và vùng ven hồ, bị ảnh hưởng bởi lượng mưa và mực nước sông trong khu vực Lượng nước ngầm tập trung rất ít ở những huyện vùng cao, có những khu vực sử dụng nước giếng sâu hàng chục mét mà chỉ đến

đầu mùa khô đã không có nước để sử dụng Trữ lượng nước ngầm còn bị ảnh hưởng bởi độ che phủ của thảm thực vật với diện tích rừng bị thu hẹp do phá rừng và nhiều nguyên nhân khác

Như vậy tài nguyên nước (kể cả nước mặt và nước ngầm) ở Hoà Bình tương đối dồi dào đáp ứng được yêu cầu phát triển của nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp và phục vụ đời sống của cư dân trong tỉnh

c- Nước khoáng

Hoà Bình cũng như một vài địa phương trong cả nước được sự ưu đãi

hiếm có của thiên nhiên, đó là nguồn nước khoáng

Nước khoáng Kim Bôi khai thác từ độ sâu trong lòng đất, có nhiều công dụng đối với sức khoẻ của con người Trong nước khoáng có các nguyên tố vi lượng và các chất vô cơ với hàm lượng thích hợp, có thể sử dụng cho nhiều mục

đích khác nhau, như xử lý đóng chai làm nước khoáng, phục vụ cho giải khát Nước khoáng Kim Bôi là một trong các loại nước khoáng được tiêu thụ mạnh

trên thị trường và có chất lượng tương đối tốt

2.1.2.2- Tình hình sử dụng tài nguyên nước

a- Sử dụng nước phục vụ sinh hoạt

Trong nhiều năm qua vấn đề cung cấp nước sinh hoạt nông thôn ở Hoà Bình đã được các ngành, các cấp hết sức quan tâm

Tính đến nay toàn tỉnh đã có 29.517 giếng đào (chỉ tính những giếng đủ tiêu chuẩn nước sạch như được xây thành, có sân rửa, chất lượng nước tốt), 1.104 bể chứa nước mưa, 140 công trình cấp nước tập trung (trong đó có 132 công trình cấp nước bằng hệ thống tự chảy) Trong đó 2 huyện vùng cao xây dựng được 1.453 giếng đào, 249 bể nước mưa và 90 hệ thống tự chảy

Với kết quả trên hiện tại các công trình nước sạch nông thôn đã cung cấp nước sạch cho 35,5 vạn người, đưa tỷ lệ số người được sử dụng nước sạch của tỉnh đạt 44,5% tổng số nhân khẩu nông thôn

Tuy đã đạt được kết quả như trên, song hiện tại vẫn còn tới 55,5% số dân nông thôn chưa được sử dụng nước sạch Tình trạng thiếu nước sạch sử dụng đã dẫn đến một số bệnh liên quan đến dùng nước xảy ra ở nông thôn, ảnh hưởng

đến sức khoẻ của dân cư và sản xuất Theo báo cáo tổng hợp từ các xã lên hiện nay ở Hoà Bình có khoảng 30% dân số nông thôn mắc bệnh đường ruột, 18,8%

đau mắt hột và 12,6% mắc bệnh phụ khoa

Trang 25

Bảng 2.2: Hiện trạng cấp nước sinh hoạt nông thôn Tỉnh Hoà Bình

Hạng mục Giếng đào Bể nước mưa C.T cấp nước

tập trung

Số người dược sử dụng nước sạch

b- Sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

Hiện nay trên địa bàn Hoà Bình có 308 hồ chứa, 275 phai đập kiên cố, 241 phai, đập tạm, 26 trạm bơm điện, 31 trạm thủy luân, 16 trạm thủy điện nhỏ và 4 hệ thống đê bao chống lũ Trong những năm qua tỉnh đã chú ý đến việc đầu tư sửa chữa, nâng cấp, tu bổ thường xuyên hàng năm, nên đã nâng cao được hiệu quả tưới tiêu của các công trình Theo báo cáo của ngành thủy lợi, hiện nay các công trình trên tưới được cho khoảng gần 13.000 ha vụ xuân, trên 20.000 - 22.000 ha vụ mùa

và ngoài ra còn tưới thêm cho 1 số diện tích hoa màu trong vùng tưới của công trình Diện tích tiêu úng chắc chắn cho gần 300 ha

2.1.2.3- Diễn biến tài nguyên nước

Là một tỉnh miền núi, trong nhiều năm qua nhờ sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, nỗ lực của địa phương trong đầu tư xây dựng hệ thống các công trình thuỷ lợi Tuy nhiên, đánh giá chung hiệu quả khai thác, sử dụng của các công trình này còn nhiều hạn chế, lượng nước sử dụng hữu ích cho sản xuất ở mức thấp

Nước sinh hoạt trong các hộ gia đình hiện nay phần lớn sử dụng nước tự snhiên như nguồn nước khe suối, sông hồ, nước giếng đào, giếng khoan Nguồn nước này được sử dụng trực tiếp không qua xử lý nên chất lượng nước hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng nguồn nước và biến động khá cao theo mùa Nguồn nước này còn phụ thuộc rất nhiều vào vùng sinh thuỷ, vào độ che phủ rừng trên lưu vực, vào các điều kiện địa lý hoá của đất trên lưu vực đặc biệt phụ thuộc và hoạt động sản xuất và hoạt động sông trên lưu vực tụ thuỷ Tập tục sản xuất và sinh hoạt tự nhiên của vùng nông thôn, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu thường dẫn đến sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt Diện tích và chất lượng rừng tự nhiên giảm sút trong nhiều năm qua cũng là nguyên nhân gây nên hiện tượng suy thoái nguồn nước trên địa bàn tỉnh Hoà Bình Điều này được thể hiện rất rõ nét thông qua số liệu thuỷ văn của hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh

2.1.3- Hiện trạng tài nguyên rừng và tài nguyên sinh vật

1.3.1-Hiện trạng tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng tại Hoà Bình là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cùng với tài nguyên nước, hai thế mạnh này cũng là đặc điểm của Hoà Bình mà nhiều tỉnh khác không có Diện tích trồng rừng tập trung hiện dang có chiều hướng

Trang 26

tăng và ngày càng có quy hoạch chặt chẽ Rừng Hoà Bình cũng được xem như

đặc trưng của rừng lưu vực sông Đà

Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trên thì thành phần các loài hệ thực vật đã xác định được 2566 loài thuộc 6 ngành: Ngành hạt kín, ngành hạt trần, ngành lá thông, ngành cỏ tháp bút, ngành thông đất và ngành dương xỉ Rừng gỗ đa số phân bố ở vùng núi có độ cao từ 600 m trở lên Những loài thực vật có số lượng nhiều và phát triển mạnh thuộc các họ Mộc lan, họ Nong lão, họ Cáng lò, họ Sau sau, họ Thông, họ Dầu, họ Dẻ, họ Chè Các loài thuộc nhóm tre, nứa có số lượng nhiều, mọc ven bờ sông Đà có thể kể đến như: Tre sâng, Tre hoóc, Vầu đắng, Mạy sang, Mạy sọt, và Nứa lá nhỏ v.v

+ Khu vực cao dưới 700m gặp hai kiểu rừng chính là:

- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

- Kiểu rừng kín nửa rụng lá vùng nóng và khô có chế độ khí hậu 2 mùa: mùa khô và mùa mưa

- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng trên núi đá vôi

+ Khu vực cao 700 m trở lên có các kiểu rừng chính là:

- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng và lá kim

- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng trên núi đá vôi

- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng trên núi đá hoa cương

Trong thành phần hệ thực vật có nhiều loài quý hiếm có giá trị cao như:

Thông (Pinus) (Pà cò Mai châu Hoà Bình) và các loài cần được bảo tồn như

Tam thất, ô đâu, Thông đỏ Những loài thuộc diện khoanh nuôi tái sinh như: Nghiến, Lát, Hà thủ ô đỏ, Trai, Dổi, Ba gạc,vv

Trên địa bàn Hoà Bình địa phương có nhiều rừng nhất phải kể đến huyện

Đà bắc, ở đây diện tích che phủ của rừng đến 30% diện tích tự nhiên, các huyện miền núi khác cũng có độ che phủ khá cao

Ngoài giá trị tài nguyên của các cây gỗ quý vùng rừng lưu vực sông Đà và

rừng Hoà Bình còn có các cây thuốc khá phong phú và đa dạng Đó là các loại cây

họ Cúc, họ Bạc hà, họ Thầu dầu, họ Cỏ roi ngựa, họ Cói, họ Gừng, họ Rau răm.vv Các cây có giá trị như Đẳng sâm, Tục đoạn, Bình vôi, Hoàng thảo, Địa liền, Xa nhân Đây là nguồn tài nguyên quý, có giá trị kinh tế cao nếu được đầu tư nghiên cứu kỹ đồng thời có kế hoạch trồng, khai thác sẽ là nguồn thu đáng kể

b- Tình hình quản lý, bảo vệ và xây dựng vốn rừng ở Hoà Bình

Ngành lâm nghiệp Hoà Bình, trong gần 10 năm qua sản xuất lâm nghiệp của Hoà Bình đã tập trung vào giao đất giao rừng cho các hộ quản lý sử dụng,

đẩy mạnh công tác trồng rừng, chăm sóc tu bổ rừng theo các chương trình dự

án, nên đã đạt được những kết quả khả quan, đưa độ che phủ của rừng năm

2000 đạt 37,2% gần đạt mức đảm bảo yêu cầu sinh thái ở một tỉnh miền núi, giá

Trang 27

trị sản lượng ngành lâm nghiệp đạt 208.669 triệu đồng (giá 1994) tăng khoảng 100.000 triệu đồng so với năm 1995

Dưới đây là kết quả đạt được trong hoạt động của ngành lâm nghiệp

Do làm tốt công tác giao đất khoán rừng nên hầu hết rừng đã có chủ, mặt khác tỉnh đã xây dựng nhiều dự án phát triển vốn rừng thông qua các chương trình dự án 327, 747, ĐCĐC… đã làm cho các hộ gia đình yên tâm trồng chăm sóc bảo vệ và phát triển rừng Do đó đã đạt được kết quả khá tốt trong trồng rừng, chăm sóc tu bổ rừng

- Về công tác trồng rừng: Từ năm 1992 đến 2002 đã trồng được khoảng 60.000 ha rừng (bình quân mỗi năm trồng 5.000 - 5.500 ha rừng mới) Trong năm 2002 đã trồng được khoảng 8.154 ha rừng tập trung

- Về công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng: Trong gần 10 năm qua đã khoanh nuôi bảo vệ được gần 70.000 ha rừng, xây dựng và bảo vệ rừng đặc dụng 12.890 ha

Với kết quả của công tác xây dựng phát triển vốn rừng như trên, nên đến năm 2003 diện tích rừng của tỉnh đã đạt 194.308,24 ha, chiếm 41,67% diện tích

tự nhiên trong đó rừng tự nhiên là 146.470,06 ha và rừng trồng là 47.831,53 ha

Kết quả phát triển vốn rừng như trên đã làm cho độ che phủ của thảm thực vật rừng tăng dần từ 28% (giai đoạn 1992 - 1994) lên 30% (năm 1995), 41% (năm 2003)

2.1.3.2- Đa dạng sinh học và diễn biến khu vực tỉnh Hoà Bình

Trước đây Hoà Bình là một trong những khu vực được coi là có nguồn đa dạng sinh học tương đối đa dạng và phong phú Động vật và thực vật ở đây bao gồm nhiều loài quý hiếm

a- Đa dạng động vật có xương sống

- Thú (Mammalia)

Trước khi hồ Hoà Bình hình thành, có khoảng 70 loài trong 25 họ; trong

đó có các loại thú quý như Voi, Hổ, Nai, Gấu, Vượn, Sơn dương, Chồn, Cáo, Cầy hương, Tê tê, Khỉ đỏ, Khỉ vàng, Hoẵng, Bò tót

Từ ngày hình thành hồ và cho đến nay theo nghiên cứu mới nhất của Viện Sinh thái, các loài thú ở đây đã giảm đi 12 loài trong đó các loài thú bị biến mất như Voọc xám, Vượn khỉ, Sói đỏ, Cáo, Gấu chó, Cheo, Báo mai hoa, Báo gấm, Hươu sao, Hươu xạ, Cầy bay hầu như đã bị tiêu diệt (Đánh giá ảnh hưởng của hồ chứa Hoà Bình)

Số lượng các loài thú qua hơn 10 năm đã giảm mạnh mất tới 26,2% số loài và phân loài thú ở khu vực này Thành phần lượng, loài và số lượng thú bị giảm đi do hậu quả của sự săn bắn bừa bãi các loài thú có giá trị kinh tế, mặt khác sự tàn phá rừng do đốt nương rẫy, do nước hồ dâng cao là cản trở sự kiếm mồi và thu hẹp nơi cư trú

Trang 28

- Lưỡng cư (Amphibia), Bò sát (Reptilia)

Các loại lưỡng cư, bò sát trước đây tương đối phong phú và nhiều về số lượng Từ khi hình thành hồ chứa và qua quá trình bị săn bắt dữ dội trong thời gian vừa qua nên các loài bị giảm mạnh và về số lượng cũng giảm mạnh Các

loài lưỡng cư, bò sát có giá trị kinh tế cao như Tắc kè, Cạp nong, Cạp nia, Rắn

hổ mang, Hổ chúa, Ba ba,

Trải qua thời gian các loài này thường xuyên bị đe doạ về mặt số lượng

do mất sinh cảnh sống, do khai thác quá mức Ngoài sự suy giảm về số lượng do khai thác đánh bắt thì khi hình thành hồ làm một số loài bị thu hẹp nơi cư trú và

số lượng của chúng giảm đi nhiều nhất là những khu vực trước kia là cánh đồng nay bị ngập nước như cánh đồng Vạn Yên Các loài trước kia sống trong khu ruộng lúa nước như ếch đồng, ngoé, Rắn nước , nay số lượng của chúng chỉ còn rất ít hoặc không còn do ngập nước sâu

b- Động vật không xương sống

- Côn trùng (Insecta)

Theo tài liệu kết quả điều tra khu hệ côn trùng bắc Việt nam của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật từ năm 1980 trở về trước thì thành phần côn trùng vùng lưu vực sông Đà có trên 300 loài trong khi đó Hoà Bình cũng nằm trong vùng lưu vực này nên cũng có những đặc điểm chung như vậy Điển hình là: bộ Chuồn chuồn, bộ Cánh thẳng, bộ Cánh da, bộ Cánh đều, bộ Cánh khác,

bộ Cánh cứng và bộ Cánh màng Các loài côn trùng có lợi cũng tập trung ở đây như: Ong mật, Ong mắt đỏ Các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng ăn lá thuộc vùng hồ Hoà Bình có đến 162 loài (Đặng Thị Đáp, 1992) Nhìn chung thành phần loài côn trùng không thay đổi nhiều lắm trong khoảng thời gian trước và sau khi Hồ Hoà Bình hình thành Tuy nhiên số lượng loài côn trùng cũng có biến động do các điều kiện sống thay đổi như các vùng ruộng lúa khu dân cư bị ngập nước, các loài côn trùng, sâu hại trên hoa màu, lúa bị thu hẹp chỗ ở phải di chuyển đi nơi khác Đa dạng sinh cảnh bị biến đổi dẫn đến thay đổi cấu trúc quần xã các loài sinh vật sống trong đó

c- Tảo thuỷ sinh (Aquatic algae)

Trang 29

Thực vật nổi trong khu vực hồ, sông, suối, ruộng, ao ở Hoà Bình cho đến năm 1973 xác định được 6 ngành Tảo: Tảo silic, Tảo lục, Tảo lam, Tảo giáp, Tảo vàng và Tảo mắt Trong các ngành Tảo trên thì Tảo silic luôn chiếm tỷ lệ cao nhất là ở các khu vực sông suối, Tảo lục chiếm ưu thế ở khu ruộng và ao ngập nước Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng thực vật nổi tại các

ao và ruộng trũng luôn cao hơn so với số lượng thực vật nổi tại sông suối

2.1.4- Hiện trạng, tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản

2.1.4.1- Hiện trạng tài nguyên khoáng sản Hoà Bình

Tỉnh Hoà Bình có một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, đã thống kê

được 127 mỏ, điểm quặng thuộc 24 loại hình của 3 nhóm khoáng sản: năng lượng, kim loại và phi kim loại Cụ thể theo kết quả tài liệu tìm kiếm thăm dò của cục Địa chất Việt nam gồm có: than đá: 7, sắt: 7, đồng: 10, chì, kẽm: 6, vàng: 15, antinom: 1 và uran: 1, khoáng sản không kim loại: 30, nguyên liệu phân cách: 9, nguyên liệu xây dựng: 22, nguyên liệu gốm và thuỷ tinh: 1, nguyên liệu chịu lửa: 3, nguyên liệu giãn cách: 9 và các nguyên liệu khác: 5

Sự phân bố của chúng được thể hiện trên hình 49 Ngoài một số mỏ khoáng sản như : than (Đồi Hoa), vàng (Chợ Bến), sét (Tứ Nê), Talc (Tà Phú)

đã được thăm dò, số còn lại có tài liệu địa chất khảo sát, tìm kiếm hết sức sơ lược Hầu hết các tụ khoáng sản khu vực nhỏ, phân tán, có trữ lượng tập trung ở quy mô nhỏ (56 mỏ), số còn lại (71) là điểm quặng

Trong những năm qua, nhiều khoáng sản trong số đó (than, vàng, talc, pirit, vật liệu xây dựng, ) đã được khai thác và sử dụng, góp phần không nhỏ vào doanh thu, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Song mức độ và quy mô khai thác khoáng sản từng giai đoạn, từng loại hình diễn ra khác nhau, kể từ những năm 1990 trở về trước, khoáng sản than, vàng, vật liệu được khai thác sớm, tập trung, kết hợp qui mô công nghiệp và thủ công Một phần đáng kể trữ lượng loại hình khoáng sản nêu trên đã được khai thác sử dụng Thời kỳ 1990 trở lại đây do nhu cầu thị trường khoáng sản phát triển phục vụ nền kinh tế thị trường mở, hoạt động khoáng sản càng trở lên mạnh mẽ, rầm rộ và đa dạng hơn,

đặc biệt là đối với một số loại hình khoáng sản quí hiếm, trọng điểm như : vàng, antimon, pyrit và than Nhìn chung cách tổ chức và sử dụng công nghệ khai thác là tự phát, nhỏ lẻ, thủ công do các doanh nghiệp tư nhân hoặc cá nhân thực hiện Họ chú trọng vào những phần khoáng sản lộ thiên, quặng giàu, dễ khai thác nên ít hoặc hầu như không chú ý đến quy hoạch và hiệu quả kinh tế mỏ lâu

đời Một đặc điểm nữa là trong thời gian này do sự phức tạp của các thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoáng sản nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn, không những ở khâu nhân sự mà còn ở cả về sản lượng khoáng sản và công nghệ áp dụng khai thác chúng Từ những bất cập này đã nảy sinh nhiều vấn đề: tổn thất tài nguyên, an ninh xã hội và sự cố môi trường

Trang 30

C1+C2 TNDB

-

- C1+C2

TL

- C1+C2

- 4129.64 kg 412.64 kg 32.24

29996728 1638.0

11838.0

131877.0 1789.0

90 m3/ngày

2.1.4.2- Hiện trạng khai thác và chế biến một số khoáng sản:

1 Mỏ than Mường Vọ: Mỏ nằm ở xã Cuối Hạ - Kim Bôi Mỏ có 6 vỉa than nằm

trong các đá trầm tích thuộc phức hệ tầng giữa thuộc hệ tầng Suối Bàng

(T3n-rsb2 ) Trữ lượng cấp C1: 152000 tấn, đã khai thác 70000-75000 tấn Mỏ hiện

Trang 31

nay ở giai đoạn khai thác tận thu do Xí nghiệp Cung ứng Vật tư than Kim Bôi quản lý, công nghệ khai thác thủ công có cơ giới bổ trợ

2 Mỏ than Đồi Hoa: Mỏ nằm về phía đông bắc huyện Lạc Thuỷ, thuộc xã Lạc

Long Kết quả thăm dò chỉ ra cấp trữ lượng C1+ C2 = 529.855 tấn, trong đó cấp C1 là 423.631 tấn và C2 là 106.224 tấn Mỏ đã được khai thác từ lâu với phương thức tổ chức xí nghiệp thu mua khai thác tận thu, công nghệ thủ công Hiện trạng, giếng khai thác xong không được san lấp đất và than thải tự do trôi chảy xuống hố nước tưới lúa của khu vực

3 Mỏ vàng Bai Đào: Mỏ thuộc xã Cao Răm, huyện Lương Sơn, gồm 8 thân

quặng gốc Mỏ đã được tìm kiếm có trữ lượng là C2+P1 = 3.943 kgAu, thuộc cấp qui mô nhỏ.Trong một số năm cuối thập kỷ 90, mỏ đã bị khai thác tự do, trái phép đào bới lung tung dưới dạng hầm hố và hầm lò thủ công Họ chủ động lấy quặng giàu bỏ quặng nghèo gây tình trạng lãng phí, nát mỏ Quặng được nghiền qua máy nghiền sàng tuyển trọng lực Cùng với đất đá, quặng thải, cát thải, nước thải sau sử dụng tự do đưa ra môi trường

4 Điểm mỏ vàng gốc Bãi Khoai: Điểm mỏ vàng chưa được nghiên cứu, đánh

giá xác định trên bản đồ, nằm ở xóm Bãi Khoai, xã Mỹ Hoà (Ba Hàng Đồi) Hiện nay dân khai thác vàng tự do từ Thái Nguyên, Bắc Cạn, kéo đến tụ tập khai thác thủ công trái phép Công nghệ chế biến phổ thông: nghiền bằng máy

đập búa tuyển trọng lực lấy quặng sunfua và vàng; cát, quặng thải và nước sau tuyển thải tự do, gây ô nhiễm môi trường

5 Mỏ vàng sa khoáng chợ Bến: Mỏ vàng được phát hiện và khai thác từ lâu,

thuộc địa phận xã Long Sơn - huyện Lương Sơn Mỏ đá được thăm dò có trữ lượng ở khu vực Thung Quang C1: 31.501kg, C2: 67.429kg và khu vực Suối cái C2 : 16.708kg, C1+C2 = 115.638kg Mỏ đã được tiến hành khai thác nhiều năm

ở cả phương diện có tổ chức và tự do, đều có phương thức khai thác là sử dụng moong lộ thiên xúc, đãi, tuyển Nước thải vào suối, cát, sỏi thải ra xung quanh

6 Mỏ vàng sa khoáng Bản Bo: Mỏ vàng Bản Bo nằm ở xã Chiềng Châu, Mai

Châu Mỏ vàng đã được tiến hành tìm kiếm có trữ lượng khoảng 71kg, thuộc cấp mỏ nhỏ Mỏ đã được tiến hành khai thác thủ công

7 Mỏ antimon Nà Bạc: Điểm mỏ antimon Nà Bạc nằm trong điểm quặng Kim

Bôi từ xã Tân Mỹ đến xã Ngọc Lâm, Lạc Sơn Từ năm 1984 đến 1994 đã bị khai thác mạnh mẽ không những ở phần quặng aluvi - deluvi mà cả ở quặng gốc đã

bị khai thác cạn kiệt bằng phương pháp thủ công: hầm, hố, lò, hào, đường , sử dụng người là chính Theo như quan sát của chúng tôi mỏ đã cạn kiệt, đất đá thải, nước thải tự do vào môi trường

8 Mỏ antimon An Bình: Khu vực phân bố antimon nằm ở nam xã An Bình,

huyện Lạc Thuỷ Trong nhiều năm từ 1992 đến 1994 mỏ đã bị dân khu vực kéo

đến tập trung khai thác tự do khá mạnh, dân chỉ chọn những vỉa quặng giàu ( > 15%Sb), bỏ quặng nghèo, khai thác không có tổ chức, đào bới lung tung, rác thải

tự do, đã có tác động tiêu cực đến môi trường khu vực

Ngày đăng: 10/12/2013, 23:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. 2: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (giá cố định năm 1994) - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 1. 2: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (giá cố định năm 1994) (Trang 14)
Bảng 1.3: Giá trị sản xuất và sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp Hoà Bình - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 1.3 Giá trị sản xuất và sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp Hoà Bình (Trang 16)
Bảng 2.1:  Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2000 Tỉnh Hoà Bình - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2000 Tỉnh Hoà Bình (Trang 22)
Bảng 2.2:   Hiện trạng cấp n−ớc sinh hoạt nông thôn Tỉnh Hoà Bình - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 2.2 Hiện trạng cấp n−ớc sinh hoạt nông thôn Tỉnh Hoà Bình (Trang 25)
Bảng 2.3:     Bảng tổng hợp khoáng sản tỉnh Hoà Bình - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp khoáng sản tỉnh Hoà Bình (Trang 30)
Bảng 2.4 - Kết quả khảo sát chất l−ợng đất khu vực nông thôn tỉnh Hòa Bình - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát chất l−ợng đất khu vực nông thôn tỉnh Hòa Bình (Trang 34)
Bảng 2.5:    Kết quả phân tích chất l−ợng n−ớc hồ chứa Hoà Bình - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 2.5 Kết quả phân tích chất l−ợng n−ớc hồ chứa Hoà Bình (Trang 35)
Bảng 2.7 - Kết quả khảo sát chất l−ợng không khi khu vực nông thôn Hòa Bình - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát chất l−ợng không khi khu vực nông thôn Hòa Bình (Trang 39)
Bảng 2.7: Kết quả phân tích chất l−ợng n−ớc thải của một số nhà máy và bệnh viện - ĐTN hiện trạng môi trường nông thôn hòa bình
Bảng 2.7 Kết quả phân tích chất l−ợng n−ớc thải của một số nhà máy và bệnh viện (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm