Các giải pháp phòng, chống lũ cho vùng đồng bằng và trung du 1.1.1.Đối với hệ thống đê và công trình cống dưới đê ..... Để chống các trận lũ lớn phải dùng các giải pháp cắt lũ bằng hồ ch
Trang 1
BO KHOA HOC VA CONG NGHE
CHƯƠNG TRÌNH KC.08
De tai KC.08-13 Nghiên cứu cơ sở khoa học cho cúc giỏi phúp tổng thể
dự bứo phòng tránh lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng
BAO CÁO CHUYÊN ĐỀ Số 4
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC GIẢI PHÁP TỔNG THỂ PHÒNG CHỐNG LŨ LỤT VÀ KẾ HOẠCH CỨU HỘ
Trang 2DANH SACH CAN BO THAM GIA THUC HIỆN ĐỀ TÀI
GS.TSKH Nguyén Van Diép
GS.TSKH Ngô Huy Cẩn
PGS.TS Hoàng Văn Lai
T8 Nguyễn Văn Quế
T8 Trần Thu Hà
Th8 Nguyễn Văn Hạnh
KS Nguyễn Văn Xuân
CN Nguyễn Tuấn Anh
CƠN Nguyễn Hồng Phong
KS Doan Xuan Thuy
CN Bui Viét Nga
CN Nguyén Thé Hing
CN Nguyễn Tiến Cường
CN Dương Thị Thanh Hương
Pham Van Tham
Nguyễn Xuân Trường
Chủ nhiệm đề tài KC.08-13 Phó chủ nhiệm đề tài KC.08-13
Viện Cơ học Học viện Phòng không Không quân
Viện Cơ học Viện Khoa học Thủy lợi
Viện Cơ học Viện Cơ học Viện Cơ học Viện Cơ học Viện Cơ học Viện Cơ học Viện Cơ học
Viện Cơ học
Viện Cơ học Viện Cơ học Viện Cơ học
Viện Quy hoạch Thủy lợi Viện Quy hoạch Thủy lợi Cục Quản lý Đề điều và PCLB Cục Quản lý Dé diéu va PCLB
Oita Cs hoe
Trang 3LO LUT TREN HE THONG SONG HONG - THAI BINH
CHUONG 1 - TONG QUAN CHUNG VE CAC BIEN PHAP CHONG LŨ TRÊN THẾ GIỚI
Vé tidu chudn chéng Vs oo ccccccsessscessesesescescscseesscevsesecscessusstsssressestansatenss 14
Vé bién phap chéng li 6 ving déi gd ving ntlis ceteris 15
Chống lũ của hề chứa: c2 1k HH 21111111220111122211111 21112111112 me 18
Vấn để phân, chứa Ìũ các th TS S2 1 HH HH HH HH HH HT Hàn 19
Về chống lũ lụt thành phố: ch c2 TH Ưng 20
Về các biện pháp chống lũ phi công trình: -c.ScnTn nh rreeeerres 21
Về công tác phòng chống lũ lụt: - Sc n nnc n1 1211 E11 kerre, 22
CHUONG 2 - TONG QUAN VE LU 6 DONG BANG SONG HONG
Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Hồng - Q02 C2 nen Harry 26
1.2 Hệ thống sông thuéc hu vue séng hong wo ccccceeesesseceseeesscseseseeeenes 26 1.2.1 Ving thugng du va trung du hệ thống sông Hồng o2 26
1.2.2, Ving Thugng du và trung du hệ thống sông Thái Bình 27
1.2.3 Hệ thống sông vùng đổng bằng - Q2 xe 27
Sự hình thành những trận lũ lớn ở đồng bằng Bắc Bộ 28
2.1 Sự hình thành lũ sông Hồng , 5Q QLnnnn HH 12 xe 28
9.9 Sự hình thành lũ sông Thái Bình 22c2222222 22222222222 nenssee 31
2.3 Sự hình thành lũ sông Tích và sông Bôi -Ă ST se, 31
Tình hình kinh tế xã hội và đánh giá tổn thất do lũ gây ra 32
3.1 Phát triển kinh tế xã hội vùng Đồng bằng và Trung đu sông
3.2 Kế hoạch phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng đến
0020102 3.2.1.Mục tiêu
3.2.2 Quy hoạch phát triển nông nghiệp Ặ 0c 0 ng 2H 34
“Uiện Go hoe
Trang 43.9.3 Quy hoạch phát triển công nghiệp L.L c nhe 34
3.2.4.Quy hoạch phát triển dịch vụ
3.2.5 Quy hoạch vốn đầu tư
3.3 Phân tích tổn thất ngập lụt do lũ gây nên ở đồng bằng Bắc
CHƯƠNG 3 - CƠ SỞ KHOA HỌC CHO CÁC GIẢI PHÁP TỔNG THỂ PHÒNG, CHỐNG LŨ
1 Các giải pháp phòng, chống lũ cho vùng đồng bằng và trung du
1.1.1.Đối với hệ thống đê và công trình cống dưới đê 4ð 1.1.2 Đối với lòng dẫn, bãi và bờ sông - nàn HH HH re 47
1.2 Giải pháp tăng cường khả năng thoát lũ của hệ thống lòng
II EE ‹4a 48
ốn a 50
1.3.1.Phân lũ sông Đáy 50
1.3.9.Giải pháp chậm lũ co
1.3.8 Đánh giá Mức thiệt hại khi phân, chậm lũ
1.4 Giải pháp hồ chứa ở thượng lưu 0c St 2t tt 2s re 55
1.4.1.Những kiến nghị về hề chứa trong báo cáo Quy hoạch 55
1.4.2 Hồ chứa Hoà Bình trên sông Đà và nhiệm vu chống lũ 56 1.4.3.Hồ chứa bậc thang sông Đà, bậc thang sông Lô và nhiệm vụ
00 01118 58
1.5 Hiệu quả cắt lũ của các biện pháp kiểm soát lũ hiện có 61 1.6 Trồng và bảo vệ rừng đâu nguồn . tt S2 68 1.7 Tổ chức quản lý và khai thác hiệu quả các giải pháp phòng
2.1.8 Đánh giá chung nguyên nhân gây dâng mức nước
2.2 Phương hướng ổn định và tăng khả năng thoát lũ sec 75
2.2.1.Khu dân cư hiện có trên bãi sông được giữ nguyên hiện trạng,
không cho phát triển thêm, với mong muốn ổn định kha năng D1 806 0n nh e 75
Olin Ga hoe
Trang 5ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
2.2.2 Coi tuyến đê là tuyến thoát !ũ, di dời toàn bộ dân cư ra khỏi bãi
SONG ooo cece ceceecceseeeeeeeseesenteeeuceeeerereetsseesessseeeeesensaneeetanenusssss se eeasaeseeesseessreeeeees 75
2.2.3.Thực hiện theo điều 18 pháp lệnh đê điều năm 2000 75
9.3.4 Bước thực hiện để ổn định hành lang thoát lũ sông Hồng 76
9.3 Tuyến thoát lũ sông hồng đoạn Sơn Tây - Hưng Yên T7 2.3.1.Hanh lang thoát lũ Sơn Tây - Hưng Yên
2 _ Hiện trạng về tổ chức cứu hộ trong trường hợp khẩn cấp lũ lụt gây
ra trên đồng bằng sông Hồng - Thái Bình hiện nay - - S575 96
3 Tính toán các thông số cần thiết cho việc lập kế hoạch cứu hộ
trong trường hợp khẩn cấp do lũ lụt gây ra trên đồng bằng sông
itn Co hoe
Trang 6PHẦN I
CO S6 KHOA HOC CUA CAC GIAI PHAP TONG THE
PHONG CHONG LO LUT
TREN HE THONG SONG HONG - THAI BINH
Trang 7
Dương và Ấn Độ Dương nên hàng năm thường xẩy ra mưa lũ lớn trên các
lưu vực sông, gây lũ lụt nghiêm trọng ở toàn vùng đồng bằng và trung du
Bắc Bộ Chỉ trong vòng 50 năm qua đã có tới 4 trận lũ lớn có mực nước
bằng và vượt mực nước thiết kế đê Hà Nội từ 0,7 đến 1,õ m Đó là các trận
lũ năm 1945, 1969, 1971 và 1996 Các trận lũ này đã gây vỡ đê nhiều nơi làm ngập hàng trăm ngàn ha đất tự nhiên và hàng triệu người bị ảnh hưởng, gây tổn thất hàng ngàn tỷ đồng
Do tác động biến đổi khí hậu toàn cầu, do nạn phá rừng và khai thác tài nguyên bừa bãi trên toàn lưu vực, nên xu thế lũ lụt ngày càng gia tăng, trong những năm gần đây lũ xảy ra với quy mô lớn hơn và thường xuyên
hơn so với những năm đầu thế kỷ
Các yếu tố bất lợi về thời tiết cũng gia tăng và có những đột biến, như trận lũ tháng 8/1996 do cơn bão số 4 gây nên là trận lụt lớn nhất trên sông
Đà trong khoảng thời gian 100 năm gần đây
Lũ lớn cũng xảy ra ở nhiều nước trên thế giới và khu vực, trận lụt thế
kỹ xây ra trong năm 1998 ở Trung Quốc là sự cảnh báo về tính khác thường của thời tiết gây lũ lớn trên nhiều lưu vực sông và nhiều đợt liên tiếp nhau
Trên lưu vực sông Hồng có thể xảy ra những trận lũ lớn hơn lũ tháng 8/1971 như lũ với chu kỳ tái diễn 200, 300, 500 hoặc 1000 năm Những khả
năng này cũng cần được xem xét tới trong chiến lược phòng chống lũ lâu bền ở đồng bằng Bắc Bộ
GO đồng bằng và trung du Bắc Bộ, hệ thống đê là công trình ngăn lũ bảo vệ tính mạng tài san cho khoảng 18 triệu dân Đây là giải pháp cơ bản lâu dài trong chiến lược phòng chống lũ Vì được xây dựng từ hàng nghìn năm trước đây bằng kỹ thuật thô sơ nên hệ thống đê ở đồng bằng và trung
du sông Hồng, sông Thái Bình còn tổn tại nhiều ẩn họa trong nền và thân
Trang 8nước lũ trên sông Hồng ngày càng dâng cao và vì thế cao trình đê cũng phải đâng theo Mực nước thiết kế đê tại Hà Nội từ 11,3 m vào đầu thé ky tăng lên 12,8 m vao thap ky 50 và 13,4 m (theo cao độ Quốc gia) vào thập ký 70
cho đến nay Đê càng cao thì sự cố càng nhiều và rủi ro vỡ đê càng lớn, mức
bảo đảm an toàn chống lũ càng giảm Vì vậy mực nước lũ thiết kế đê tại Hà Nội là 13,4 m có thể là giới hạn đối với toàn vùng đồng bằng sông Hồng
Để chống các trận lũ lớn phải dùng các giải pháp cắt lũ bằng hồ chứa,
chậm lũ vào các vùng trũng, phân lũ qua sông Đáy, nạo vét lòng sông và
làm thông thoáng bãi sông Tuy nhiên với các giải pháp hiện có cũng chỉ đảm bảo chống được lũ nhỏ hơn lũ tháng 8/1971, giữ được mực nước ở Hà
Nội dưới 13,0 m tương đối an toàn, các vùng còn lại của đồng bằng vẫn còn
chịu nhiều rủi ro vỡ đê và tràn đê do sự cố bất thường Điều đó nói lên rằng cần phải có sự đầu tư nhiều hơn nữa cả về nhân lực vật lực để hoàn thiện hơn các giải pháp phòng và chống lũ
Hiện nay để kiểm soát lũ lụt trên hệ thống sông Hồng - Thái Binh,
chúng ta có các biện pháp công trình chính sau:
1) Củng cố hệ thống đê
Hệ thống đê của sông Hồng - Thái Bình hàng năm phải được gia cố để
có thể bảo đảm không võ khi mực nước trong sông đạt mực nước thiết
kế (mực nước thiết kế tại trạm thủy văn Hà Nội hiện nay là 13,40m) Nhiều ý kiến cho rằng cao trình đê của hệ thống sông Hồng — Thai
Bình hiện nay đã là giới hạn cuối cùng Cao trình đê nâng cao hơn có
thể không phải là giải pháp tối ưu
2) Nạo vét, khơi thông lòng dẫn cải thiện khả năng thoát lũ của hệ
thống sông Hồng - Thái Bình
Theo kết quả của nhiều đề tài nghiên cứu thì khả năng thoát lũ của hệ
thống sông Hồng _— Thái Bình suy giảm khá nghiêm trọng
Ở cấp lưu lượng lớn (khoảng từ 26.000m3/gy — 38.000m”/gy), với cùng một cấp lưu lượng mực nước ở trạm thủy văn Hà Nội đã tăng lên khoảng 60cm trong vòng 26 năm từ năm 1971 đến năm 1996
Ö cấp lưu lượng nhỏ hơn mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội tăng lên khoảng 10 — 50cm Từ đây các nhà khoa học đã có lý khi kết luận rằng bãi sông bị lấn chiếm làm hành lang thoát lũ co hẹp lại đáng kể
8) Cắt lũ bằng các hồ trên thượng nguồn
iin Co hoe
Trang 9Hòa Bình trên sông Đà
Nhiều ý kiến cho rằng với khả năng cắt lũ của hồ Thác Bà và hề Hòa
Bình, chúng ta chỉ có thể kiểm soát các trận lũ có qui mô như trận lũ
đã xảy ra tháng 8 năm 1971 Nếu gặp các trận lũ có đỉnh lũ lớn hơn hoặc có đỉnh lũ bằng đỉnh lũ của trận lũ tháng 8 năm 1971 nhưng với
dạng lũ khác thì ta phải thực hiện cả biện pháp phân lũ vào khu phân
lũ sông Đáy, chậm lũ vào khu chậm lũ này (không để mực nước tại
trạm thủy văn Hà Nội vượt mực nước thiết kế 13,4m)
Sử dụng khu phân lũ sông Đáy
Từ khi xây dựng đập Đáy rất ít khi phải phân lũ vào khu phân lũ sông
Day Lưu lượng phân lũ trong trận lũ tháng 8 năm 1971 chỉ đạt
2435m3/gy Sau đó công trình phân lũ sông Đáy được cải tạo sửa chữa
với mong muốn đưa lưu lượng phân lũ lên 5000m83/gy
Với các cơn lũ có tần suất xuất hiện 200, 300 năm biện pháp phân lũ
vào khu phân lũ sông Đáy chỉ có thể hạ mực nước tại trạm thủy văn
Hà Nội trên dưới 30cm nhưng sẽ gây thiệt hại lớn cho vùng phân lũ sông Đáy do vậy cần phải rất thận trọng khi phát lệnh vận hành biện
pháp này
Sử dụng các khu chậm lũ
Trong mấy năm gần đây do thời tiết thay đổi thất thường ở Trung Quốc năm 1998 đã xảy ra các trận lũ rất lớn (ũ lịch sử) do vậy Chính phủ đã quyết định sử dụng lại các khu chậm lũ Tam Thanh, Lập
Thạch, Lương Phú
Biện pháp vận hành các khu chậm lũ cũng chỉ có khả năng hạ mực
nước tại trạm thủy văn Hà Nội trên dưới 20cm nhưng sẽ gây thiệt hại
lớn cho vùng chứa lũ, do vậy khi phát lệnh vận hành biện pháp này
cũng phải rất thận trọng
Sử dụng các đường tràn cứu hộ
Trong trường hợp xảy ra các cơn lũ rất lớn, đã vận hành tất cả các biện
pháp kiểm soát lũ kể trên nhưng mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội
vẫn tiếp tục lên có khả năng vượt mực nước thiết kế, khi đó phải cho lũ
Oitn Co hoe
Trang 10tràn qua một số đoạn đê đã chuẩn bị sẵn (các đoạn đê này phải đủ độ bền vững để khi nước tràn qua không gây ra võ đê)
7) _ Trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn
Trong báo cáo này dựa trên kết quả của nhóm đề tài KC.08-13 và của
các đồng nghiệp Viện Qui hoạch Thủy lợi, Viện Khoa họcThủy lợi sẽ đưa ra phân tích cơ sở khoa học của các giải pháp công trình phòng
chống lũ trên hệ thống sông Hồng - Thái Bình
“Điện Go hoe
10
Trang 11ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
PHƯƠNG 1 -TỔN§ QUAN CHUNG
VE CAC BIEN PHAP CHONG LU TREN THE GIGI
Theo sử sách ghi chép lại các vùng đất ven sông là nơi tập trung dân
cư đầu tiên của xã hội loài người Ví dụ như : vùng ven sông Nin ở Ai Cập, sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, sông Hằng ở Ấn Độ và vùng ven sông Hồng ở Việt Nam v.v Dòng sông và vùng bãi bồi ven sông đã dem lại nhiều điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con ngươi Sông cung cấp nước ăn và sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là đường thuỷ thuận tiện cho giao lưu
giữa vùng này với vùng khác Vùng bãi ven sông trong châu thổ hình thành
từ bồi tích của các sông là những vùng đất màu mỡ nhất Bãi sông bằng phẳng, dễ canh tác, hàng năm vào mùa lũ luôn được cung cấp thêm nguồn phù sa tươi tốt Những yếu tế thuận lợi trên đã dần dần lôi kéo ngày càng nhiều dan cư đến sinh sống trên vùng bãi ven sông Tuy vậy các vùng bãi ven sông đều là vùng trũng, thấp vì vậy những người đến cư trú trên vùng bãi ven sông đã phải đối phó với lũ tràn hàng năm
Ban đầu để tránh lũ, dân chọn các bãi cao hoặc làm nhà sàn để ở và
sản xuất nông nghiệp Thường chỉ trồng một vụ trong mùa khô Mùa lũ khi
nước ngập bãi, đàn gia súc chăn nuôi được chuyển đến những vùng cao và
dân chuyển sang nghề đánh cá
Ít lâu sau tuyến đê bao được xây dựng nhằm ngăn lũ để gieo trồng thêm vụ hoa mầu thứ hai và kéo đài thời gian chăn thả gia súc Mới đầu dé bao chỉ ngăn được lũ nhỏ, sau được nâng cao dân để chống với lũ lớn Nhiều
năm liền bãi không bị ngập, dân bắt đầu trồng cây lâu năm và xây nhà ở vững chãi, ổn định trên đất bãi ven sông Quá trình này có thể kéo dài
trong nhiều thế kỷ
Hoạt động kinh tế trong vùng bao đê phát triển đến mức, nếu xẩy ra ngập lũ, thiệt hại về người và của rất lớn, dẫn đến việc tìm tôi, tìm hiểu về
lũ và quá trình lũ Giờ đây đã phát triển lên thành ngành nghiên cứu khoa
học về sự xuất hiện lũ và các biện pháp kiểm soát lũ Đầu tiên phải hiểu biết tính chất của lũ, các phương pháp tính lan truyền sóng lũ, các phương pháp thu thập số liệu thực đo địa hình, thuỷ văn của dòng sông Hai là phương pháp tính sác xuất xuất hiện các trận lũ có độ lớn khác nhau Khi nghiên cứu tính ngẫu nhiên của thiên nhiên, thường cần đến các số liệu về các trận lũ đã xuất hiện Với đa số sông, số liệu về các trận lũ lịch sử,
Trang 12
thường không đủ độ tin cậy, và chỉ có trong một thời đoạn không đủ dài Ngay cả khi có số liệu đủ tin cậy, trong thời đoạn đủ dài, cũng phải thận trọng khi xác định tân suất xuất hiện lặp của lũ, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện của lũ, hiện nay đã biến đổi khác trước như: sự biến động của chế độ khí tượng, sự khai thác sử dụng mặt đất lưu vực của con người,
sự hình thành các khu dân cư trên bãi sông, sự biến đổi của lòng sông và bãi sông Ba là, đánh giá các hậu quả kinh tế xã hội khi xuất hiện các trận
lũ có độ lớn khác nhau
Có thể phân các biện pháp kiểm soát lũ thành 3 loại sau:
— Lên đê ngăn lũ, bảo vệ các vùng bị ngập
—_ Trữ lũ, chậm lũ ở thượng lưu hoặc phân lũ sang lưu vực khác
~_ Tăng khả năng thoát lũ của lòng dẫn
Lên đê là biện pháp được dùng sớm nhất, hàng ngàn năm trước đây,
để bảo vệ người và của trong vùng ngập lũ Cho đến nay, xây dựng tuyến đê ngăn lũ vẫn là biện pháp thích hợp nhất để kiểm soát lũ Vị trí tuyến đê phải được lựa chọn rất thận trọng, dựa vào đặc tính của dòng sông và cấu
trúc vùng đất ven sông
Trữ lũ, chậm lũ trên bãi sông khi bãi sông rộng, khả năng trữ nước lớn, chiều cao lớn nhất của nước lũ, có thể giảm dân khi lan truyền xuống
hạ du Ngoài tác dụng chậm lũ, bãi cũng có thể cho thoát qua một lượng lũ
nhất định Khi tính khả năng chậm lũ và thoát lũ của bãi, thường giả định mực nước ở lòng con và trên bãi bằng nhau Khi đó khả năng trữ nước tỷ lệ
với chiều rộng bãi và tốc độ nâng cao mực nước lũ đ»/d¿ Thường gọi kiểu
trữ lũ này là trữ đều (uni/orm storage)
Trữ lũ trong hề, phương pháp trực tiếp để kiểm soát lũ là trữ nước mưa ở thượng lưu Có 2 cách trữ: Trữ vào hồ, không điều tiết được lưu lượng xả xuống hạ du (sẽ gọi là hé chậm lũ) và trữ trong hề điều tiết được
lưu lượng xả (sẽ gọi là hồ điều tiết)
Phân lũ, có thể giảm lưu lượng đỉnh lũ ở hạ đu bằng cách chuyển một phần hay toàn bộ nước lũ ra khỏi sông: Chuyển vào vùng thấp ven sông, ở
đó nước sẽ thấm và bốc hơi dần dần, chuyển vào các hồ chứa, sang lưu vực
sông khác hoặc chuyển ra biển theo một kênh dẫn lũ nhân tạo Biện pháp
phân lũ đã được sử dụng từ rất lâu, như kênh dẫn Joseph ở Ai cập phân lũ sông Nile vào hề tiền sử Moeris Phân lũ là biện pháp trực tiếp để hạ thấp
tUIện Co hoe
Trang 13ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
mức nước đỉnh lũ Công trình thường dùng là hạ thấp đê, để nước tràn qua
đê vào vùng dự định phân lũ, hoặc phân lũ qua đập tràn có cửa van khống chế lưu lượng Bên cạnh những công trình phân lũ có hiệu quả, cũng có chỗ phân lũ không đạt kết quả mong muốn, như ở châu thổ sông Pô nước Ý
Tăng khả năng thoát lũ của long dan, có thể tăng kha năng thoát
lũ bằng: () giảm nhám ở lòng và bãi sông, (ii) mở rộng diện tích mặt cắt thoát nước của lòng dẫn, đii) cắt cong rút ngắn chiều đài lòng sông, tăng
độ đốc đáy sông Cả ba phương pháp đều có thể hạ thấp mức nước lũ ở
đoạn sông chịu tác động của biện pháp công trình Tuy nhiên sự hạ thấp
mức nước cục bộ trên một đoạn sông, có thể dẫn đến giảm khả năng trữ và
chậm lũ của bãi, do đó có thể làm mực nước lũ hạ du đoạn sông có tác
động công trình bị nâng cao ít nhiều
Lựa chọn biện pháp kiểm soát lũ, có thể đựa vào các nhận xét sau
để cân nhắc, lựa chọn biện pháp kiểm soát lũ thích hợp :
1 Giải pháp tốt nhất là dùng hệ thống đê trực tiếp bảo vệ vùng ngập lũ
Đôi khi phối hợp lên đê với các biện pháp khác như hề điều tiết, cắt cong
nắn thẳng lòng sông
2 Tăng khả năng trữ lũ, chậm lũ của bãi bằng cách lăn đê vào trong
thường không dễ thực hiện vì mâu thuẫn với các lợi ích hiện hữu Chậm
lũ kiểu sông Pô chỉ hiệu quả với các trận lũ nhỏ, không hiệu quả với các trận lũ lớn, do đó ít khi sử dụng
3 Giải pháp trữ lũ tạm thời vào vùng hề chậm lũ, thoạt nhìn có vẻ hấp dẫn, tuy nhiên có nhiều điều kiện rằng buộc khi thực hiện biện pháp
này, nên trong thực tế không phải lúc nào cũng áp dụng được
4 Phân lũ sang sông khác hoặc vào hổ, ra biển là biện pháp tốt để giảm mức nước lũ ở sông chính nếu có biện pháp giải quyết hiện tượng bồi lắng thường xuất hiện khi phân lũ
5 Các biện pháp tăng khả năng thoát lũ thường dễ thực hiện có kết quả, song phải chú ý đến những khó khăn mới có thể xẩy ra ở đoạn sông hạ
du
Để kết luận, có thể nói không bao giờ có thể kiểm soát lũ hoàn toàn
chắc chắn, lâu dài bằng một số biện pháp nào đó Nếu kiểm soát lũ được coi như bài toán thuần tuý kinh tế thì ít khi có thể lý giải được, nhưng nếu tính đến triển vọng phát triển lâu đài của vùng đất được bảo vệ, thì so
itn Ca hoe 13
Trang 14sánh giá thành và lợi ích có thể chấp nhận được Trong đa số trường hợp, không phải lợi ích kinh tế mà chính là các lợi ích xã hội đã bù đắp được
các chi phí rất lớn để kiểm soát lũ
(Phông theo tài liệu tổng hợp của GS Vũ Tết Uyên)
Ở Trung Quốc có quan niệm về các biện pháp chống lũ là những công
cụ thu hẹp phạm vi nước lũ chảy tràn, giảm bớt tổn thất về tai hoạ lũ lụt,
bao gồm các biện pháp bằng công trình và các biện pháp không có công trình Quy hoạch tổng thể các biện pháp chống lũ của dòng sông hay một
khu vực là phải theo nguyên tắc tổng hợp trị thuỷ cân đối giữa trữ với tháo, chiếu cố thượng hạ du, có biện pháp thích hợp cho từng nơi từng chỗ Theo quy hoạch toàn điện trị thuỷ sông, chọn ra tiêu chuẩn chống lõ của các
đoạn sông hay các vùng khác nhau, kết hợp biện pháp công trình và không
có công trình (phi công trình) đảm bảo an toàn giải quyết lũ theo tiêu
chuẩn đã định, có những biện pháp cấp thiết gặp trường hợp vượt tiêu chuẩn quy định
1 VỀ TIÊU CHUẨN CHONG LU:
Tiêu chuẩn chống lũ phản ánh yêu cầu và mục đích chống lũ đối với mỗi đoạn sông, mỗi khu vực ở một thời kỳ Lấy lũ thiết kế ở mỗi mặt cắt
sông nào đó để biểu thị Lũ thiết kế có thể dùng lũ điển hình trong lũ thực
đo, hay lũ điều tra lịch sử, hay qua việc phân tích tần suất chọn ra lũ của mỗi một thời kỳ xuất hiện lại (như là 10 năm 1 lần, 100 năm 1 lần) đối với đối tượng chống lũ đặc biệt quan trọng cũng có thể dùng lũ có khả năng lớn nhất qua phân tích (PMF)
Xác định tiêu chuẩn chống lũ, nói chung căn cứ vào đối tượng bảo vệ chống lũ chịu ảnh hưởng về tổn thất kinh tế và xã hội khi bị tai hoạ lũ lụt, chia thành nhiều cấp bậc, thông qua việc phân tích hiệu ích kinh tế và
đánh giá ảnh hưởng xã hội để chọn Vì vậy xác định tiêu chuẩn chống lũ,
không những chỉ theo phương pháp tính toán phân tích thông thường mà
còn cần xem xét với trường hợp lũ vượt tiêu chuẩn, lũ lịch sử đã từng xây ra
xem xét cẩn thần để có đối sách cần thiết Ví đụ như đê hạ du sông Hoàng nếu vỡ đê có thể làm đổi dòng, giao thông Nam Bắc gián đoạn vì vậy tiêu chuẩn chống lũ cao hơn những sông khác, đối với lũ lịch sử hoặc lũ lớn nhất
có thể xảy ra cần có đối sách khẩn cấp Lại ví dụ an toàn thoát lũ đoạn sông Kinh Giang, Trường Giang, ảnh hưởng trực tiếp đến đồng bằng Hán Giang vùng Động Đình Hề, Thành phố Vũ Hán, nếu lại gặp lũ lớn lịch sử có kha
Trang 15ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
năng vỡ đê bờ Bắc, bờ Nam, có thể gây ra hàng chục vạn thậm trí đến trên
triệu người thương vong, tổn thất kinh tế nghiêm trọng nên phải xem xét
thận trọng
Mức độ tin cậy và chính xác của kết quả tính toán lũ có ảnh hưởng rất
lớn đến tiêu chuẩn chống lũ Trước năm 1949, các điểm trạm quan sát khí
tượng thuỷ văn thưa, ít trừ tài liệu quan trắc ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Hán Khâu, Quảng Châu, Nghi Xương có trên ð0 tài liệu, tài liệu lại thiếu chỉnh
lý phân tích có hệ thống Do tài liệu không đủ nên kết quả tính toán thiên thấp Công trình thuỷ lợi sông Hoài dùng tiêu chuẩn chống lũ năm 1921 và
1981 nhưng lưu lượng đỉnh, lượng lũ phân tích so với năm 60 và 70 kết quả tính toán nhỏ hơn nhiều, một số trạm tính theo tần suất nhưng số liệu thuỷ
văn quá ngắn nên kết quả tính toán cũng thiên nhỏ, sau này phải cải tạo
gia cố, gây nên lãng phí Sau năm 60 và 70 xảy ra mấy trận lũ rất lớn ở toàn quốc, tính tin cậy và chính xác được nâng lên trong tính toán kết quả
lũ
Tiêu chuẩn chống lũ khác nhau rất lồn căn cứ vào các đối tượng bảo vệ khác nhau Đối tượng chống lũ đại thể chia làm 3 loại : Thành phố (gồm thành phố, trị trấn, có xí nghiệp công nghiệp, quặng), nông thôn (các thị trấn dưới huyện, thành), các công trình xây dựng (các công trình thuỷ lợi, giao thông, các công trình dân dụng ) Các đối tượng cần bảo vệ căn cứ vào tính chất quan trọng trong nền kinh tế, căn cứ vào ảnh hưởng xã hội và tổn thất kinh tế sau khi bị ngập, căn cứ vào hiệu quả của công trình hư hỏng, mức độ đã khó trong việc khôi phục, phân tích tổng hợp các nhân tố như tính toán hiệu ích, chỉ phí công trình lại phân tích theo cấp công trình, quy định tiêu chuẩn chống lũ khác nhau Đối với tiêu chuẩn an toàn chống lũ của các công trình xây dựng có liên quan đến các ngành đều có quy định chi tiết, cũng cần được quy định tiêu chuẩn thống nhất chống lũ của Nhà nước
2 VE BIEN PHAP CHONG LU 6 VUNG ĐỒI GÒ , VÙNG NÚI:
Biện pháp chống lũ ở vùng đổi gò, vùng núi là phải kiên trì tiến hành công tác bảo vệ đất chống sói mòn Đề phòng các tai hoạ ở miền núi và sau
khi bị tai hoạ như sạt mái, trôi đá cát, sập đá việc khôi phục rất khó
khăn, vì vậy phải đặc biệt chú ý đến việc giám sát và dự phòng Đối với dải đất hoặc đoạn sông có cấu tạo địa chất, làm rõ phân bố cụ thể mái sạt và đá
văng, lập mạng lưới quan trắc tiến hành quan trắc định kỳ, dự báo kịp thời
để rút chạy kịp thời tránh nhiều người thương vong Khi tiến hành làm
Trang 16công trình lâu đài, phải cố gắng tránh những dải đất có thể sinh ra trượt
mái hoặc đá văng, hoặc là phải có biện pháp công trình đặc biệt ngăn ngừa
sập mái, đá văng
Vùng lòng chảo, sông ngồi rộng ở vùng đổi núi là đối tượng trọng điểm bảo vệ, chống lũ Từng đoạn sông và thành phố trọng điểm xây kè bảo vệ, nhưng cần có luận chứng kinh tế, kỹ thuật, phân tích toàn diện hiệu ích, tác dụng phụ có khả năng dẫn đến Nói tóm lại ở các dòng sông miển đổi núi, đỉnh lũ cao, thời gian ngắn, sức công phá lớn, thường thường có mang nhiều cát, cuội, phải trên cơ sở công tác chống xói mòn bảo vệ đất kết hợp
khai thác tổng hợp, lợi dụng tài nguyên nước với việc làm hề chứa giảm
đỉnh lũ Trong trường hợp chưa khống chế được lũ, phải duy trì lòng sông
để thoát lũ, đối với lũ tương đối lớn, bãi sông, thểm sông mới thoát lũ, cũng
cần sử dụng khai thác hạn chế, tránh có thể gây ra tổn thất khi thoát lũ Đối với những thôn xóm khi lũ lớn có thể bị ngập hoặc một phần dùng để
thoát lũ, phải có quy hoạch hợp lý sử dụng đất, bố trí một số trường học,
cung thể thao, chỗ để xe, công viên có những lắp đặt đễ tháo gỡ mang di,
không cần trở cho việc thoát lũ, tầng dưới của nhà cửa cho phép tạm thời
ngập hoặc nước chảy qua Không nên cho làm nhà máy quan trọng ở bãi
sông, thểm sông thoát lũ hoặc trong thời gian thoát lũ bị ngập ảnh hưởng đến sản xuất sinh hoạt của khu vực rộng lớn như trạm biến thế, trạm hơi đốt, nhà máy nước
3 VỀ VẤN ĐỀ ĐÊ DIEU
Nâng cao năng lực tháo của dòng sông là biện pháp cơ bản của việc
chống lụt ở vùng đồng bằng, đắp đê là một thành phần quan trọng của biện
pháp này Có 3 loại đê: Đê sông, đê khoanh vùng và đê biển, ngoài ra có đê
bao tạm thời ở các bãi sông, hồ
Tác dụng chính của đê là: ® Thu hẹp dòng chảy, tăng khả năng thoát
lũ tháo cát của sông, ® Hạn chế lũ chảy tràn, bảo vệ an toàn tài sản, tính mệnh của nhân dân và sản xuất công, nông nghiệp, Ð Ngăn ngừa sóng gió tập kích vào đất liền, ® Vây lại để khai hoang vùng trũng của ao hề và bãi
biển
Vấn đề tổn tại phổ biến của đê là : ® Phần lớn các đê trọng điểm đã
hình thành từ lâu, chất lượng đê không đồng đều, ẩn hoạ nhiều, tuy có xử
lý nhưng khó triệt để được ® Nền móng tương đối phức tạp, nhiều đê dưới
nền móng là một lớp cát cuội, tuy được gia cố, tăng lớp phủ chân đê, có nơi
“Điện Ga hoe 16
Trang 17ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
làm thoát nước ở chân đê, nhưng vì tuyến đê dài, khối lượng công trình lớn,
khó mà xử lý hết được, lúc nước lớn có mạch nước sủi, đối cát @ Nhiều đê
có từ ngày xưa như đê Hoàng Hà, đê Kinh Giang vỡ nhiều lần, làm thành
hố xói đầm sau chân đê, tạo thành móc xích yếu nhất của đê ® Sông có
nhiều cát hoặc sông có nhiều biên độ lũ thay đổi lớn, tình hình nước thay
đổi dữ đội không ngừng gây ra các sự cố mới và cũ năm nào cũng phải tu sửa gia cố gấp ® Do sự tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế, thành
phố, nông thôn tăng lên và phát triển mở rộng không ngừng, xâm phạm
vành đai cây bảo vệ trong ngoài đê hoặc bãi sông gây nên nhiều mắt xích yếu, làm khó khăn cho việc đắp cao, củng cố đê @ Đê bị thiên nhiên phá hoại như mưa, gió, hang hốc, động vật, duy tu bảo hộ rất là gian khổ @
Một phần đê sông ở thượng hạ lưu, đê bở phải, bờ trái, về bố trí và tiêu chuẩn đê chứa mang tính chất hệ thống, tính hoàn chỉnh
Về quy hoạch và thiết kế đê, lý luận và thực tiễn tuy có được nâng cao những về tổng thể mà xem xét thì vẫn ở giai đoạn bán lý luận, bán kinh nghiệm Thiết kế đê theo lý luận và phương pháp tính toán đập nhưng xử
lý và thăm đò nền đê thì khó mà thực hiện được theo yêu cầu của đập đất, phần lớn theo kinh nghiệm Các cấp đê còn thiếu tiêu chuẩn và quy phạm thiết kế thống nhất, không ít đê, đỉnh đê hẹp, mái đê dốc Nhiều đê quan trọng (cao trên 10m) quy định trên mức nước thiết kế phải có chiều cao gia tăng, không có tiêu chuẩn kiểm nghiệm an toàn, rõ ràng, vì thế trong thiết
kế quy hoạch quản lý vận hành tồn tại một số hiện tượng hỗn loạn
Công trình đê kết hợp chặt chẽ với việc chỉnh trị sông: ® Để mở rộng khả năng của sông, ngoài việc nâng cao đê, còn phải nạo vét sông, cắt thẳng đẩy lùi đê vào @ Để củng cố đê điều, còn phải có công trình hướng dòng, công trình bảo vệ bờ Đê là bộ phận trong công trình chỉnh trị sông, chỉ có thể kết hợp chặt chẽ với các biện pháp chỉnh trị mới có thể ổn định và phát huy đầy đủ tác dụng
Theo sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số, đê càng làm càng dài thêm, càng làm càng cao Rất nhiều sông loại vừa và nhỏ trước kia không
có đê, cũng do việc khai thác đất đai và dòng sông bị bổi lắng mà làm dé,
chiều cao của đê cần dựa vào mức độ tin cậy an toàn, khả năng gánh chịu
về kinh tế, điều kiện khó khăn, cứu hộ chống lũ và ảnh hưởng các mặt đối
với việc phát triển của một địa phương, nghiên cứu xác định cẩn thận Dé quá cao sẽ mang lại gánh nặng cho vùng được bảo vệ, sửa chữa, giữ gìn đê
điều rất khó khăn
Oien Co hae 17
Trang 18Trồng cây hai bên bờ đề có ý nghĩa an toàn và kinh tế lớn Các dải cây
ven đê không những có tác dụng hộ đê, cung cấp nguyên liệu cứu hộ đê và
tăng thu nhập cho đơn vị quản lý Thống kê năm 1988, toàn Trung Quốc đã thực hiện trồng cây hơn 88.000km, tiềm lực rất lớn, căn cứ vào sự phân tích trên, khu vực đồng bằng dựa vào việc tôn cao đê, chỉnh trị sông tăng khả năng thoát lũ có thể giải quyết được lũ bình thường Đối với lũ lớn ít gặp cần phải làm hồ chứa và các công trình phân, chặn lũ, không chế điều tiết
lũ nơi có thể thoát lũ an toàn
4 CHỐNG LŨ CỦA HỒ CHỮA:
Chống lũ bằng hề chứa ở Trung Quốc có nhiều điểm đặc biệt:
Do bị hạn chế về tổn thất ngập lụt và bố trí dân cư, nói chung dung tích hồ chứa không được quá lớn, mà dung tích phòng lũ chiếm tỷ trọng rất lớn của dung tích hề chứa Nổi lên mâu thuẫn chống lũ với điều tiết làm lợi, đều khó phát huy đây đủ tác dụng chống lũ và làm lợi của hồ chữa
Để lợi dụng được nhiều khả năng tháo lũ, tháo cát của sông phía hạ lưu và yêu cầu khống chế lũ từng bậc, để vận hành điều tiết lũ càng linh hoạt, lưu lượng lũ tháo rất lớn, cố gắng hạ thấp cao trình ống
đặt ở đáy đập
Vì hàng năm lũ thay đổi rất lớn, cần có công trình tháo lũ với lưu
lượng rất lớn và các biện pháp tháo lũ bất kỳ Ví dụ hồ chứa loại lớn
ở hệ thống sông Hải Hà, lưu lượng tháo lũ theo tiêu chuẩn thẩm tra, kiểm nghiệm hầu như bằng lưu lượng đến hồ chứa Vì thế tỷ trọng vốn đầu tư làm công trình chống lũ chiếm rất lớn so với tổng vốn đầu tư
Các dòng sông phía Bắc có nhiều bùn cát, nhiều hồ chứa bị bồi lắng
rất nghiêm trọng, cần phải cải tạo mở rộng, một mặt khác các hồ chứa đài hẹp ở các hẻm núi, thiết kế theo phương thức “Tích trong, tháo đục” tác dụng điều tiết nước, điều tiết cát rõ rệt có thể dam bảo dung tích hiệu ích duy trì ở một mức nhất định, kéo dài sử dụng hề
Hồ chứa chống lũ cũng còn tổn tại nhiều van dé:
“Uiện Óơ lạc
Trang 19ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
— Một số hề chứa bị lợi dụng tổng hợp tưới làm chính, có lúc đối với chống lũ xem xét không được đầy đủ, mâu thuẫn giữa làm lợi với chống lũ để tồn tại kéo đài
—_ Phát huy tác dụng chống lũ tổng hợp của nhiều hồ chứa tương đối kém, đa số chưa có kết hợp chống lũ lập chế độ điều tiết tối ưu
—_ Điều tiết lũ bất thường ở hồ chứa thường thường có lợi đứng về toàn
cục xem xét, nhưng có mâu thuẫn lớn với sự bố trí ổn định sản
xuất, sinh hoạt và phát triển sản xuất các dân xung quanh hồ
~_ Về hậu quả nghiêm trọng của sự cố hề chứa, nói chung tiêu chuẩn
an toàn hồ chứa tương đối cao, giải quyết theo các biện pháp công trình vận hành bình thường, đầu tư rất lớn, sử dụng các biện pháp tạm thời lại không đủ đảm bảo an toàn
5 VAN DE PHAN, CHUA LU
Các dòng sông hiện nay dựa vào sông, đê và hồ chứa đã làm, vẫn chỉ có
thé đạt được tiêu chuẩn chống lũ có hạn độ Khi dòng sông gặp lũ vượt quá
tiêu chuẩn, cần phải sử dụng phân, chứa lũ
Khu phân chứa lũ trong quy hoạch phần lớn là những chỗ nước lũ
thường ngập tràn về và trữ, chứa lũ tự nhiên, người thưa thớt, đất rộng
Qua mấy chục năm xây dựng, khả năng dẫn lũ của dòng sông nâng lên, cơ
hội sử dụng phân lũ giảm đi nhiều, kinh tế ở vùng phân chứa lũ phát triển rất nhanh, dân số tăng nhanh, có nơi thậm chí đã xây dựng nhà máy mở rộng, thành phố và thị trấn
Tổn thất và khó khăn sử dụng khu phân chứa lũ càng ngày càng lớn
Bảo đảm an toàn cho đân chúng và giải quyết tốt các mâu thuẫn phân lũ như thế nào là vấn đề lớn đảm bảo an toàn phân lũ
Đường lối cơ bản giải quyết vấn đề khu vực phân tích lũ là tăng cường quản lý và làm các công việc bảo đảm an toàn Các biện pháp chính là:
— Thông qua pháp luật, xác định rõ tác dụng và phạm vi phân chứa
lũ Mỗi một hệ thống sông phải có quy hoạch và bố trí khu phân chứa lũ, mỗi một khu phân chứa lũ phải có phương án vận hành và
các bước cụ thể phân, chứa lũ
— Thực hiện chế độ quản lý đặc biệt và các biện pháp tổ chức tương ứng Ví dụ thực hiện nghiêm khắc chính sách dân số, hạn chế tăng
Oitu Co hoe
Trang 20dân số, cổ vũ dân di đi nơi khác, sử dụng hợp lý đất đai, điều chỉnh
cơ cấu nông nghiệp để sản xuất công nông nghiệp, cố gắng thích ứng các yêu cầu của khu phân chứa lũ, cố gắng giảm nhẹ thiệt hại
do phân, chặn lũ; Theo kế hoạch sơ tán tạm thời ở khu phân chứa
lũ, lập tổ chức quản lý hành chính cơ sở Tất cả những cái đó đều phải thông qua pháp luật định ra hoặc văn kiện mang tính chỉ đạo
để xác định và có chế độ trách nhiệm rõ ràng
~ Hoàn thiện các bố trí thiết kế an toàn của khu phân chứa lũ Có thể chia ra thành 2 loại: Một loại là các bố trí tránh lũ tại chỗ như an toàn khu (vây các thôn xóm), đất thổ mô, lắp các giá cao, nhà cao
Nhưng biện pháp này phải tuỳ nơi, tuỳ chỗ cho thích hợp, ở những nơi trình độ sản xuất tương đối cao, phải kết hợp việc cải tạo và xây
dựng nhà cao tầng thích hợp với vùng phân lũ, khi xây dựng những
nhà công cộng như trường học, cơ quan, bệnh viện đều phải xét đến
yêu cầu phân lũ Một loại khác là các biện pháp rút xa tạm thời
như đường xá, cầu xe, thuyền nơi bố trí tạm thời những cái đó đều
phải chuẩn bị và bế trí trước, hết sức sử dụng những dụng cụ sinh hoạt sản xuất thường ngày và những bố trí đã có ở khu phân chứa
lũ, ở vùng xung quanh Kinh nghiệm cho biết, những bố trí an toàn
ở khu phân chứa lũ tương đối đầy đủ, khi phân lũ có thể giảm bớt
sự thiệt hại, khôi phục sau khi thiệt hại thì tương đối dễ đàng
~ Thanh lập hệ thống thông tin hữu hiệu, dự báo và báo khẩn cấp
Phải xác định rõ nội dung cụ thể dự báo và báo khẩn cấp, phương pháp truyền thanh và những việc cần báo khẩn cấp cho đân
~ Thực hành tiền chống lụt và chế độ bảo hiểm lũ lụt, sửa đổi dẫn
dần thiệt hại lũ lụt đơn thuần dựa cứu tế của Nhà nước
6 VE CHONG LO LUT THÀNH PHO:
Thanh phố dân cư đông, của cải tập trung là trung tâm văn hoá kinh
tế chính trị Theo tiến trình công nghiệp hoá, phát triển kinh tế xã hội, xu thế đô thị hoá tiếp tục tăng, số lượng và quy mô thành phố ngày càng lớn Thành phố và thị trấn phần lớn tập trung ở ven bờ sông, hồ, biển Không ít
thành phố dựa vào núi, bên bờ sông đều bị nước lũ uy hiếp ở các dạng khác
nhau Rất nhiều công trình chống lũ của thành phế không được hoàn thiện,
còn tổn tại nhiều ẩn hoạ và khâu yếu như đường, cống qua đê và nhiều công trình ngầm bỏ đi còn chưa dọn sạch, xử lý tốt Các biện pháp chống lũ
Trang 21ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
phi công trình thông thường chưa được coi trọng như quản lý sông trong
thành phố không tốt, xây dựng đối với các công trình công cộng, dân dụng thiếu các pháp quy chống lũ cần thiết, hệ thống dự báo, báo khẩn cấp
không hoàn thiện
Từ năm 80 trở lại đây, thành phố là đối tượng chính chống lũ của nhà
nước, đã thi hành những biện pháp chính dưới đây:
— Kết hợp chặt chẽ việc bố trí chống lũ thành phố với chống lũ sông
- Bế trí thống nhất các biện phá khẩn cấp phân, chứa lũ vượt tiêu chuẩn, bảo đảm an toàn cho thành phế trọng điểm
—_ Đối với thành phố không phải trong vùng xác định bảo vệ và vùng phân chứa lũ, đùng các biện pháp cục bộ như đê bao thành phố để
giờ có khuynh hướng phát triển hiện đại hoá thành phố, đưa công
trình chống lũ thành phố kết hợp chặt chẽ với đường giao thông thành phố, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống thông tin, các công
trình thể dục, công viên xanh để mỗi công trình phát huy được
nhiều công dụng
7 VỀ CÁC BIỆN PHAP CHONG LU PHI CONG TRÌNH:
Tuy theo tinh hinh phát triển kinh tế, các nước bỏ tiền vào làm công trình chống lũ lụt càng ngày càng nhiều, mà giảm bớt thiệt hại lũ lụt ngược
lại không rõ ràng, mà lại có một sế nơi tổn thất ngày một tăng, đặc biệt là
đối với lũ lớn ít gặp càng cảm thấy không có tài nào chống đỡ Vì thế các
biện pháp tổng hợp xã hội phi công trình càng ngày càng được chú ý
Biện pháp chống lũ lụt phi công trình tức là thông qua pháp lệnh,
chính sách, quản lý hành chính, công cụ kinh tế và các công cụ kỹ thuật khác ngoài công trình trực tiếp sử dụng chứa, tháo lũ ra Biện pháp chống
lũ phi công trình không có thể giảm nhỏ lượng lũ đến hay tăng thêm lượng
lũ tháo đi mà lợi dụng càng nhiều điều kiện tự nhiên và xã hội loại trừ
Olin Co hoe
Trang 22thích đáng đặc trưng nước lũ, giảm bót sự phá hoại và sự gây ra bởi nước
lũ, nội dung cơ bản là : ® Quản lý các thiết bị công trình chống lũ Ngoài việc quản lý công trình cần phải quản lý tốt sông ngòi, hồ ao thiên nhiên, khống chế nghiêm ngặt sử dụng các bãi sông, hồ duy trì năng lực tháo lũ
của sông, hồ; ® Tiến hành quản lý đặc biệt đối với vùng phân chứa lũ hoặc
vùng lũ tràn; ® Tiến hành chỉ đạo các công việc sản xuất sinh hoạt ở
những vùng nước lũ thường xuyên tràn ngập như gia cố công trình, các dạng công trình thích ứng với vùng bị ngập, cần phải ra xa các vùng không
an toàn; ® Thành lập hệ thống dự báo, báo khẩn cấp, kế hoạch và chính ra
đi khẩn cấp của dân chúng; ® Đặt ra các phương án về biện pháp khẩn cấp
với lũ vượt tiêu chuẩn; ® Thực hiện bảo hiểm chống lũ; @ Thành lập tổ
chức cứu hoa, tiền cứu hoạ, duy trì trật tự xã hội Biện pháp chống lũ phi
công trình kết hợp chặt chẽ với biện pháp công trình, có thể thu hẹp phạm
vi nước lũ tràn, giảm bớt giao động lớn về thiệt hại và người chết
8 VỀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LŨ LỤT:
Mùa lũ ở Trung Quốc kéo dài, tuyến đê chống lũ dài, biện pháp phi công trình không được hoàn thiện, công tác phòng chống lũ đối với việc bảo đảm an toàn chống lũ rất là quan trọng Phương châm của công tác chống
lụt là: Lấy đự phòng làm chính, phòng hơn là cứu chữa, có chuẩn bị không
có thiết hại
Khuynh hướng phát triển chống lũ lụt ở thế giới hiện nay
Ở các nước phát triển, các dân cư được lợi bảo hộ lũ lụt, ngoài phần
tham gia nghĩa vụ lao động, làm một phần đê sông có liên quan trực tiếp
đến an toàn bản thân ra, rất ít gánh vác trực tiếp kinh phí xây dựng công trình chống lũ quy mô lớn Có một số nước do người hưởng lợi gánh vác trực tiếp hoặc gián tiếp một phần kinh phí vận hành và duy tu công trình chống
lũ như nước Côlômbia thông qua hình thức thu thuế, trực tiếp đổ cho người
được hưởng lợi, ở Nhật Bản quy định một phần kinh phí có thể chia theo tỷ
lệ được hưởng lớn, nhỏ, giữa những người được hưởng
Nhưng tình hình chấp hành đều rất khác nhau Một số nước như công trình chỉnh trị sông với công trình đê điều ở Mỹ, quy định người hưởng lợi phải hoàn trả chính phủ một phần hoặc toàn bộ để làm tiển đầu tư ban đầu
cho xây dựng công trình, nhưng không tính lãi và thông qua các tổ chức xã hội, đảm nhận kinh phí duy tu với quan lý Các nước như Pháp, Thuy 5ï
căn cứ vào các đối tượng khác nhau được bảo hộ lũ lụt, nhà nước chia một
“Diện Óơ học nN te
Trang 23Âu Các biện pháp công trình chống lũ như đê sông, kè bảo vệ bờ, công trình dẫn đòng, công trình điều tiết chứa lũ đều có một quy mô nhất định
và đạt được tiêu chuẩn chống lũ nhất định, các sông lớn đều đã hình thành
hệ thống chống lũ tương đối hoàn chỉnh, nói chung lũ lớn cơ bản được khống chế (khu vực không phải thành phế đạt tiêu chuẩn chống lũ 10 — 20 năm 1 lần, thành phố lớn tiêu chuẩn 50 — 100 năm gặp một lần) chỉ dựa vào làm nhiều công trình để năng lực khả năng chống lũ, khó lòng làm được việc đó, vì vậy đựa vào công trình đã xây dựng luôn luôn được củng cố
(như dé tràn nước, kè đê quy mô lớn, công trình bảo hệ bờ ở Nhất Bản) đồng thời với việc ngắn ngừa công trình bị phá hoạt vì vượt tiêu chuẩn chống lũ, tích cực hoàn thiện và nâng cao các phương sách phi công trình,
hạn chế phạm vi bị hại, giảm bớt tốn thất bị thiệt hại, để tài lực vật lực
hướng vào việc chống lũ cho thành phố Các nước phát triển coi trọng pháp chế chống 1ũ để giải quyết vấn để quản lý và vấn để đóng góp chống lũ Một
loại khác là các nước đang phát triển, trừ các đoạn sông trọng điểm và các
khu công nghiệp, khoáng sẵn, thành phố ra đã có làm các công trình chống
lũ, đại bộ phận sông ngòi chưa có hệ thống chống lũ hoàn chỉnh Ví dụ Ấn
Độ công trình chống lũ tập trung ở đòng chính và đòng nhánh, sông Hằng
thuộc bang Assam và sông Pyna kha Phần lớn dòng nhánh, dòng chính các
đồng bằng, sông Hằng công trình chống 1ũ đều không hoàn chỉnh; lại đến các sông ở đồng bằng rộng lớn ở Bangadesh, hệ thống sông đều là sông
thiên nhiên, dựa vào khả năng tháo lũ của bản thân sông và tác dụng điều
tiết, chứa của các vùng thấp của mạng lưới sông đê điều tiết nước lũ vì thế tai hại lũ lụt tương đối xảy ra luôn Sản xuất nông nghiệp ở đây không ổn định, trình độ sản xuất thấp, tai hại lũ lụt làm hạn chế phát triển kinh tế
xã hội Ngoài ra bất kể là nước phát triển hay đang phát triển, đều thường thường xảy ra lũ núi, chảy trôi cát đá, trượt mái, sập đá, nước phát triển coi
trọng việc bảo vệ đất chống xói mòn, tầng phủ thực vật tương đối tốt, như
bắc Mỹ, các nước Âu Châu hết sức bảo vệ môi trường thiên nhiên, biến
những đất bỏ hoang không sản xuất thành vườn rừng, tai hại lũ lụt ở vùng
núi tương đối nhẹ Nhưng tai hoa sập mái, đòng đá cát khi mưa lớn thì khó
tránh Các nước đang phát triển, rừng bị giảm nhiều, cây cối mặt đất bị
“Diện Óơ học 23
Trang 24phá nghiêm trọng lại thêm việc khai hoang, làm đường, khai mô làm cho
xói mòn đất tăng thêm khi hại lũ núi vẫn không ngừng gia tăng
Bài học chủ yếu về nghiên cứu khoa học chống lũ lụt ở Trung Quốc:
Dân số ngày nay tăng nhanh, còn nguồn không gian sinh tổn có hạn, con người không ngừng chế ngự nước lũ, cố gắng để tháo và chặn, tích lũ theo kế hoạch, mong muốn nước lũ theo sự điều khiển của con người để tiện
cho việc mở rộng không gian sinh tổn và phát triển của con người Nhưng
khả năng chế ngự của con người đối với thiên nhiên cuối cùng cũng có hạn, tai hoạ lũ lụt trong thời gian tương đối dài bấy lâu nay vẫn là một nhân tế quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội Vì thế, cần đưa vấn
đề chống lũ là một công trình hệ thống lớn nhiều mục tiêu tiến hành nghiên cứu với xã hội, kinh tế và nhiều cấp của mối liên quan mật thiết biến hoá phát triển môi trường thiên nhiên Phải theo nguyên tắc cơ bản
của phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp nghiên cứu phân tích
của công trình hệ thống đương thời, xem xét đầy đủ tình hình biến hoá phát sinh nước lũ và con đường lũ đi, các biện pháp chống lũ có khả năng
sinh ra tác dụng chính phụ, nâng cao mức độ quy hoạch chống lũ Để con người thích ứng với lũ lụt và khả năng thuần phục nước lũ không ngừng
nâng cao, để khống chế tác hại lũ lụt không ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường kinh tế xã hội của con người và trong phạm vi khả năng có thể chịu được tai hoạ lũ lụt bất thường Vì thế phải tích cực triển khai công tác
nghiên cứu khoa học chống lũ Cần triển khai nghiên cứu những vấn để lớn dưới đây:
— Dân số tăng, đất xen hai bờ sông và xung quanh hồ ao cần khai thác sử dụng thêm, trên sông làm cầu đường bến cảng và ven hai
bờ sông có hiện tượng tương đối phổ biến là chiếm dụng không thích hợp bãi sông, hồ như mở rộng thành phố, thị trấn làm nhà máy
Thu hẹp mặt cắt ngang sông, thay đổi hướng dòng chảy, khó lòng
tránh khỏi tăng thêm những chướng ngại đối với việc thoát lũ
— Thông thường làm đê sông và nhiều vùng đất trũng hồ ao tự nhiên
và sông ngòi bị con người khống chế, nước lũ chảy tràn và cơ hội chặn, chứa lũ một cách tự nhiên giảm, các sông có mực nước lớn thoát lũ thường xây ra nhiều hơn, thời gian lũ kéo đài gây khó khăn thêm đối với sự uy hiếp hai bờ đê và việc chống lũ Tùy theo kinh tế phát triển, hệ số sử dụng đất đai càng cao, tốc độ đô thị hoá càng nhanh, khí hậu biến đối tăng thêm, hoạt động kinh tế xã hội
“Điệu Co hoe
Trang 25ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
của con người đã làm ảnh hưởng tăng thêm đối với nước lũ, việc sản sinh bùn cát, việc hợp lưu Vì thế cần kiên trì không ngừng tiến hành nghiên cứu hoạt động của con người ảnh hưởng đến việc chống lũ, nắm đúng tình hình diễn biến lũ và tình hình chống lũ để kịp thời có đối sách cần thiết
—_ Dự báo lũ chính sách, dự báo ngắn hạn, dài hạn, đối với điểu hành
chống lũ đặc biệt là quyết sách sử dụng các khu phân, chứa lũ có
quan hệ rất mật thiết Dự báo mưa ngắn ngày, dài ngay là vấn để nghiên cứu mang tính chiến lược của việc chống lũ
— Nử dụng kỹ thuật hiện đại như máy tính điện tử, phương tiện thông
tin hiện đại, kỹ thuật cảm biến từ xa, kỹ thuật trắc nhiệm tự động hoá, phương pháp phân tích hệ thống , nắm tình hình công nghệ,
chọn các phương án chống lũ, đặt ra các phương án điều hành chống lũ tối ưu, điều tra tình hình thiệt hại đều có giá trị sử
dụng quan trọng, có thể nâng cao công hiệu của các biện pháp
chống lũ và tình hình hoạt động của công tác điều hành chống lũ; là những công cụ quan trọng giảm nhẹ tai hoạ lũ lụt Phải nghiên cứu tiếp tục nâng cao tính thích dụng, tính hệ thống và tính tin cậy -_ Do mức độ phát triển kinh tế xã hội nâng cao và da dang hoá nền
kinh tế, việc nâng cao mặt khoa học kỹ thuật và tài liệu xã hội tạo
diéu kiện thuận lợi cho công việc chống lũ, mặt khác ảnh hưởng về mặt tổn thất kinh tế và xã hội của tai hại chống lũ lại ngày càng
mở rộng Vì vậy cần phải tăng cường nghiên cứu kinh tế chống lũ, phân tích nguy cơ và nghiên cứu ảnh hưởng đối với xã hội, sinh thái
và môi trường
(Phong theo Quy hoạch phòng chống lũ ở Trung Quốc của Từ Cam Thanh)
“Giện Eo hoe
Trang 261
1.1
HƯƠNG 2 - TONG QUAN Vé LU 0 DONG BANG SONG HONG
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG HỒNG
Vị trí địa lý
Lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình nằm ở vĩ độ 20° - 25° 30' Bắc,
kinh độ 100 - 107 10' Đông thuộc vùng nhiệt đới gió mùa Diện tích vào
khoảng 169.020 km2, trong đó phần diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam là 86.720 km? chiếm 51%, phần điện tích thuộc lãnh thổ Trung Quốc và Lào 82.300 km? chiếm 49% điện tích lưu vực (xem bản đồ số 1 về lưu vực sông
Hồng) Tổng diện tích lưu vực sông Hồng - Thái Bình có thể chia thành 4 khu chính bao gồm:
1.2
Thượng và trung du sông Hồng tính đến Sơn Tây : 148.700 km? Thượng và trung du sông Thái Bình tính đến Phả Lại : 12.680 km? Lưu vực sông Tích, Bôi và Hoàng Long :— 2.800 km? Vùng hạ du sông Hồng - sông Thái Bình : 9,840 km?
Hệ thống sông thuộc lưu vực sông hồng
1.9.1 Vùng thượng du uà trung du hệ thống sông Hông
Có diện tích 143.700 km? trong đó phần diện tích thuộc lãnh thổ
Trung Quốc và Lào 82.300 km? chiếm 57%, phần diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam 61.400 km? chiếm 48% Bao gồm 3 lưu vực tập trung
nước là sông Đà, sông Thao và sông Lô
Sông Đà: Bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn thuộc tỉnh Vân Nam Trung
Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Chiều dài sông 1.010 km,
phần chảy qua địa phận Việt Nam 570 km Diện tích lưu vực sông Đà
(tính đến Trung Hà) là 52.900 km? trong đó diện tích thuộc lãnh thé Trung Quốc 20.520 km2 Lào 1.080 km? chiếm 49%, diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam 26.800 km? chiếm 51%
Sông Thao: Là dòng chính của sông Hồng, bắt nguồn từ dãy núi Ngụy
Sơn tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam song song với sông Đà Chiều dài sông 843 km phần chảy qua địa
phận Việt Nam 332 km Diện tích lưu vực sông Thao (tính đến Trung
Hà) 51.800 km? trong đó diện tích thuộc lãnh thổ Trung Quốc 39.800
tUiện (ở học
26
Trang 27ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
km? chiếm 77%, diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam 12.000 km” chiếm
23%
Sông Lô: Bắt nguồn từ cao nguyên Vân Quý - Trung Quốc, chảy theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông có các phụ lưu lớn nằm trong lãnh
thổ Việt Nam gồm sông Gâm, sông Chảy và sông Phó Đáy Chiều dài
sông 470 km và phần chảy qua địa phận Việt Nam 275 km Diện tích
lưu vực sông Lô (tính đến Việt Trì) 39.000 km? trong đó diện tích thuộc lãnh thổ Trung Quốc 16.400 km? chiếm 42%, diện tích thuộc lãnh thổ
Việt Nam 22.600 km? chiếm 58%
1.2.2 Vung Thuong du va trung du hệ thống sông Thói Bình
Toàn bộ diện tích lưu vực đều nằm trong phần lãnh thổ Việt Nam,
điện tích tính đến Phả Lại 12.680 km? Bao gồm 3 lưu vực tập trung nước là sông Cầu điện tích lưu vực 6.030 km? chiếm 48%, sông Thương 3.580 km? chiếm 28% và sông Lục Nam 3.070 km? chiếm 24%
1.2.3 Hệ thống sông uùng đông bằng
a
b
Khu hữu ngạn sông Hồng
Khu hữu ngạn sông Hồng điện tích 4.166 kmÊ với các chi lưu lớn là :
- Bông Đáy dài 240 km có cửa vào tại Hát Môn trên sông Hồng, trước
kia sông Đáy trực tiếp chuyển nước sông Hồng ra biển qua cửa Như
Tân Từ năm 1937 đã xây dựng đập Day, chỉ mở để phân nước lũ
sông Hồng vào sông Đáy bảo vệ cho Thủ đô Hà Nội và vùng hạ du trong trường hợp những năm có lũ lớn như trận lũ thang 8/1945 va tháng 8/1971
- Bông Đào Nam Định dài 31,5 km chuyển nước từ sông Hồng sang sông Đáy tại Nam Định và nhập lưu tại Độc Bộ rồi đổ ra biển ở cửa Như Tân
— Nông Ninh Cơ đài 51,8 km nối với sông Hồng tại cửa Mom Rô và
chuyển nước lũ sông Hồng ra biển qua cửa Lại Giang
Trang 28- Sông Đuống đài 68 km có cửa vào nằm ở phía hạ lưu cầu Thăng Long trên sông Hồng nhập lưu với sông Thái Bình tại Phả Lai
Sông Đuống là phân lưu lớn nhất chuyển nước sông Hồng sang
sông Thái Bình cả về mùa lũ cũng như mùa kiệt
- Sông Luộc dài 72 km chuyển nước của sông Hồng sang sông Thái Bình qua cửa Triều Dương, một phần đổ ra cửa sông Thái Bình và phần chủ yếu chuyển qua sông Văn Úc rồi đổ ra biển
- Bông Trà lý dài 64 km có cửa vào ở hạ lưu ngã 3 sông Luộc, chuyển
nước sông Hồng và trực tiếp đổ ra biển qua cửa Trà Lý
C Khu hạ lưu sông Thái Bình uà các phân lưu
Đây là khu có rất nhiều phân lưu, do địa hình bằng phẳng nên độ dốc sông nhỏ, lòng sông chảy quanh co và có nhiều đoạn cong gấp Hạ du sông
Thái Bình được kể từ sau ngã 3 Phả Lại, dòng chảy đuợc phân theo 2 hướng
thoát lũ chính sau :
- Hướng sông Kinh Thay dé ra biển qua các cửa sông Đá Bạch và
sông Cấm Bao gồm các nhánh Kinh Thày, Kinh Môn, Đá Bạch và
sông Cấm
—- Hướng dòng chính sông Thái Bình qua Cát Khê đổ ra biển tại các
cửa sông Văn Úc, Lạch Tray và Thái Bình Bao gồm các nhánh Lai
Vu, Gùa, Mía, Mới, Văn Úc và sông Lach Tray
Theo kết quả tính toán trận lũ tháng 8/1971 thì lũ của thượng lưu sông Hồng, sông Thái Bình đổ về vùng Đồng bằng sông Hồng rồi theo các
phân lưu đổ ra biển qua 9 cửa sông : Cửa Đáy tiêu thoát khoảng 19,1%; cửa
Ninh Cơ 5,7%; cửa Ba Lạt 21,2%; cửa Trà Lý 8,9%; cửa Thái Bình 6,1%;
cửa Văn úc 19,2%; cửa Lạch Tray 4,7%; cửa Nam Triệu 10,3% và cửa Đá
Trang 29ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
Tùy thuộc vào những trận lũ nhỏ hay lũ lớn trên lưu vực sông Hồng,
theo thống kê thì lũ trên sông Đà chiếm tỉ lệ 37 - 69%, sông Lô chiếm 17 - 41,B% và sông Thao 13 - 30% Bảng 1 thống kê tỷ lệ thành phần lũ 8 ngày của một số trận lũ lớn xảy ra trên lưu vực sông Hỗng (Chú ý: Giá trị mực
nước tại Hà Nội đã chuyển uề cao độ Quốc gia; Dấu (*) là giá trị lũ
hoàn nguyên bhi bhông uõ đề, không hồ chứa)
Bảng 1 Thành phần lượng lũ 8 ngày lớn nhất của nhánh sông
Đà, Thao, Lô so với sông Hồng tại Sơn Tây của một số trận lũ lớn
SÔNG HỒNG SÔNG ĐÀ - SÔNG LÔ SÔNG THAO
NĂM TÊN TÂY) EPA BINH) Won QUANG) Woes | BAI) Hy
gi | * Leth | Lath | * Lm) |
8/1945 18,80 | 100 | 10,14 | 540) 465 | 2470 | 422 | 2250 13.90”
711964 11,72 | 100 | 8,06 ; 688] 2,04 17,40 | 1,90 | 16,30 11,38 8/1968 1296 | 100 | 504 | 388] 326 | 2540 | 3,61 2790 12,03 8/1969 16,50 | 100 892 | 544] 4,90 29,70 ) 2,67 16,20 13,46*
71970 12,82 | 100 707 |552| 2,82 2200 | 2,81 21,50 11,85 8/1971 19,60 | 100 7,35 | 37,5 | 6,68 39,10 | 9,46 | 22/90 14,627 8/1978 9,25 100 437 14701 204 2200 | 2,50 | 2690 10,92 7/1980 9,01 100 | 2,97 | 33,0} 2,34 | 26/00 | 1,89 | 21,00 11,61 8/1983 9,23 100 4,98 | 540 | 2,68 29,00 1,54 16,70 11,87 9/1985 9,32 100 | 4,14 | 444] 387 | 41,50 | 2,29 | 24,60 11,76
711986 13,14 | 100 | 6/70 | 51,0} 4,73 | 36,00 | 2,29 | 17,40 12,15 8/1995 13,00 ; 100 | 7,15 | 550) 368 | 2830 | 295 | 22,70 13.15" 8/1996 1540 | 100 | 9.41 |611| 3,49 | 22,60 | 241 15,60 13,26"
Lũ lớn thường xuất hiện vào trung tuần tháng 8, những trận lũ có mực
nước vượt hoặc bằng mực nước thiết kế đê 13,4 m tại Hà Nội thường là do
lũ lớn của 2 hoặc 3 sông tạo nên như sau :
— Li thang 8/1971 có mức nước ở Hà Nội 14,62 m có lưu lượng hoàn nguyên lớn nhất tại Sơn Tây 37.800 m”/s là do lũ lớn nhất trên sông
“Diện Ce hoe 29
Trang 30Lô gặp lũ lớn thứ hai trên sông Thao và lũ lớn thứ tư trên sông Đà
tạo nên
— La thang 8/1945 có mức nước ở Hà Nội 13,90 m có lưu lượng hoàn nguyên lớn nhất tại Sơn Tây 34.250 mŸ⁄s là do lũ lớn thứ hai trên sông Đà gặp lũ lớn thứ ba trên sông Thao và lũ lớn thứ bảy trên
sông Lô tạo nên
— Lũ tháng 8/1969 có mức nước ở Hà Nội 13,46 m lưu lượng hoàn nguyên lớn nhất tại Sơn Tây 28.900 m3⁄s là do lũ lớn thứ năm trên
sông Đà gặp lũ lớn thứ sáu trên sông Lô và lũ trung bình trên sông
"Thao tạo nên
- Lũ tháng 8/1996 có mức nước ở Hà Nội 13,26 m lưu lượng hoàn nguyên lớn nhất tại Sơn Tây 27.200 mỶ⁄s là do lũ lớn nhất trên sông
Đà gặp lũ lớn thứ mười trên sông Lô và sông Thao tạo nên
Lũ trên lưu vực sông Hồng ngày càng gia tăng, chỉ trong vòng 30 năm từ 1969 - 1999 đã xuất hiện 3 trong 4 trận lũ lớn của thế kỷ 20 Riêng trên sông Đà trận lũ tháng 8/1996 là trận lũ lớn nhất trong thế kỷ với lưu
lượng Q„„„ tại Hoà Bình 22.600 mổ⁄s (trong khi đó trận lũ 8/1971 có Q„¿„=
16.200 m3/s, lũ 8/1945 có Q„„„= 21.000 m3/s và lũ 8/1969 C6 Qnay = 15.800
m3⁄s)
Tính toán với liệt tài liệu 97 năm từ 1902 - 1998 tại Sơn Tây, lưu lượng
lũ lớn nhất cùng với các chu kỳ tái diễn như sau (tài liệu phân tích đã đưa
về trạng thái tự nhiên khi không võ đê và có hồ chứa trữ nước) :
Trận lũ tháng 8/1971 có lưu lượng hoàn nguyên lớn nhất tại Sơn Tây
37.800 m/s nay tính toán lại có tần suất 0,8% và chu kỳ tái diễn 125 năm
(theo tính toán trước kia với liệt tài liệu khoảng 70 năm từ 1902 - 1972 thì
trận lũ tháng 8/1971 có tân suất 0,4% và chu kỳ tái diễn 250 năm)
itn Co hoe 30
Trang 31ĐỂ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
2.2 Sự hình thành lũ sông Thái Binh
Lũ thượng lưu sông Thái Bình để về Phả Lại được hình thành từ 3 sông Câu, Thương và Lục Nam Theo thống kê 22 trận lũ lớn trên mức báo động 3 đã xảy ra tại Phả Lại từ năm 1960 - 1990 thì sông Lục Nam chiếm
ty lệ 48,5%; sông Cầu 34,3% và sông Thương 22,2%
Lũõ từ sông Hồng phân qua sông Đuống nhập vào sông Thái Bình
chiếm 70% lượng lũ ở Phả Lại Đỉnh lũ lớn nhất trong năm của Hà Nội và
Phả Lại cũng thường gặp nhau, trong khoảng thời gian từ năm 1905 - 1990 thấy rằng:
—_ Có 11 năm đỉnh lũ 2 trạm xuất hiện cùng một ngày
— Có 27 năm đỉnh lũ 2 trạm xuất hiện lệch nhau khoảng 1 - 2 ngày (trong khi đó 21 năm đỉnh lũ Hà Nội xuất hiện trước đỉnh lũ Phả
Lại)
— Có 27 năm đỉnh lũ 2 trạm xuất hiện lệch nhau từ 3 ngày trở lên
Lũ lớn trên sông Thái Bình là các trận lũ tháng 8/1937 với tổng lưu
lượng của 3 nhánh sông Cầu, Thương, Lục Nam là 7.130 m3⁄s; trận lũ
tháng 7/1986 với tổng lưu lượng 7.992 m3⁄s và lũ tháng 8/1968 tổng lưu
lượng 6.800 mỶ/s Do tác động điều tiết lớn của các khu chứa dọc sông Cau, song Luc Nam nên giá trị lưu lượng gia nhập tại Phả Lại chỉ còn khoảng 50
- 60% lượng lũ
2.3 Sự hình thành lũ sông Tích và sông Bôi
Lũ sông Tích và sông Bôi từ phía Tây để vào phần hạ lưu châu thổ với
lưu lượng từ 1.500 - 2.000 m3/⁄s, nhưng với tác dụng điều tiết của hồ chứa
nhỏ và đặc biệt là các vùng thấp trũng phía tả dọc sông Đáy, sông Hoàng Long nên chỉ còn lưu lượng khoảng 400 - 500 m3/s đổ vào hạ lưu sông Đáy Trong những năm gần đây do hàng loạt các tram bom tiéu ung doc sông Đáy được cải tạo và nâng cấp, do đấp đê bao đọc sông Hoàng Long, do đồng chảy phân lưu sông Hồng qua sông Đào Nam Định ngày càng gia tăng
đã làm cho mực nước tại Ba Thá, Phủ Lý và Gián Khẩu cao hơn cả những
năm có phân lũ Như năm 1978 mực nước tại Phủ Lý là 4,25 m; năm 1985 1a 4,52 m va ndm 1994 là 4,29 m cao hơn cả năm phân lũ sông Đáy tháng
8/1971 có mực nước tại Phú Lý là 3,92 m (theo cao độ thuỷ lợi là 4,12 m)
Tuy nhiên lũ sông Đáy, sông Tích và sông Bôi thường xảy ra vào giữa
tháng 9 nên ít khi trùng với lũ lớn trên sông Hồng Nhưng nếu gặp năm có
Oita Ge hoe 31
Trang 32phân lũ sông Hồng thì cũng có thể làm cho các vùng trũng đọc sông Đáy, khu chậm lũ thuộc 2 huyện Chương Mỹ - Mỹ Đức sẽ bị ngập sâu từ 2 - 6m
và thời gian ngập lũ kéo dài khoảng 30 - 40 ngày
3 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT DO LŨ GÂY RA
3.1 Phát triển kinh tế xã hội vùng Đồng bằng và Trung du sông Hồng
Đồng bằng và trung du sông Hồng - Thái Bình bao gồm trọn vẹn 11 tỉnh và các thành phố thị xã Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Hải Dương, Việt
Trì, Hưng Yên, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Hà Tây, Hà Nam và một phần lãnh thổ của các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng
Ninh
Nếu tính theo hệ thống đê bảo vệ thì có thể thêm một số vùng của tỉnh
Hoà Bình từ hạ lưu đập Đáy đến cửa sông Tỉnh Phú Thọ từ thị xã Phú Thọ
trên sông Thao và từ Đoan Hùng trên sông Lô trở xuống Tỉnh Thái Nguyên từ thị xã Thái Nguyên, tỉnh Bắc Giang từ thị xã Bắc Giang tới Phả Lai, tinh Quang Ninh gồm 4 huyện phía Nam
Như vậy tổng diện tích tự nhiên được hệ thống đê sông Hồng - Thái Bình bảo vệ là 14.425 km?, dân số 18,56 triệu người trong 4,66 triệu hộ dân
cư và mật độ dân số 1.225 ng/km? Trong đó đất nông nghiệp là 8.912 km? bằng 61% diện tích tự nhiên Xin xem bảng 2 về Dân sinh Kinh tế năm
2000 của 38 vùng ảnh hưởng lũ được hệ thống đê bao bảo vệ
“Uiện Co hoe
Trang 33ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
Bang 2 Dan sinh kinh tế 38 vùng được đê bao bảo vệ
thuộc đồng bằng Bắc Bộ năm 2000
Dan số Diện tích (ha) Tài sản cố định (tỷ đồng) Giá trị tổng sản phẩm (tỷ đồng)
tiện Oo hoe 3
Trang 34Dân số năm 2000 là 18,56 triệu và năm 2010 là 21,6 triệu người
Tốc độ tăng trưởng bằng 1,3 - 1,5 lân tốc độ tăng trưởng trung bình
cả nước
GDP bình quân đầu người 703 USD
Mức tăng trưởng: 2000 - 2005: 10% GDP năm 2005 là 9,0 tỷ USD
2005 - 2010: 11% GDP năm 2010 là 15,2 tỷ USD
Cơ cấu : Công nghiệp 33% tổng GDP trong vùng
Nông nghiệp 10% tổng GDP trong vùng Dịch vụ 50% tổng GDP trong vùng Quy hoạch phát triển nông nghiệp
Tổng diện tích đất nông nghiệp tại các vùng ảnh hưởng lũ có đê bảo
vệ là 879.285 ha gồm : Cây hàng năm 780.316 ha, trong đó cây lúa, cây lương thực 720.628 ha
San lượng lương thực phải đạt được 8,59 triệu tấn trong đó :
Đưa ra các vùng khác : 524.000 tan
Su dung trong ving: 6.650.000 tan
Quy hoạch phát triển công nghiệp
Tốc độ phát triển đạt tỷ lệ 14,5% ; 15,5% và 16% cho kế hoạch theo
các giai đoạn 1996 - 2000, 2001 - 2005, 2006 - 2010 và ngành công
nghiệp phải chiếm ít nhất là 32% tổng GDP
Có 3 cụm công nghiệp : Cụm quanh Hà Nội gồm 8 khu với tổng diện
tích 1.400 - 2.150 ha, cụm Hải Phòng gồm 6 khu có tổng diện tích
1.450 - 1.500 ha, cụm phía Nam gồm hai khu với tổng diện tích 300 -
Trang 35ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
+ Hành lang phía Tây Nam dọc đường 21 và đường 1
+ Hành lang dọc đường 10 và ven biển
- Cơ cấu GDP trong công nghiệp đồng bằng và trung du sông Hồng -
Thái Bình tăng từ 886 triệu USD lên 1.522 triệu USD vào năm 2000
; 3.128 triệu USD năm 2005 và 6.570 triệu USD năm 2010
3.2.4 Quy hoach phát triển dịch uụ
a Giao thong uận tải
Năm 2010 phải đạt 294 triệu tấn hàng hoá với mức tăng trưởng 12%
và 600 triệu lượt người với mức tăng trưởng 15% Chủ yếu là đường bộ
chiếm 192 triệu tấn và 509 triệu lượt hành khách, sau đến đường biển và
đường sông Về vận chuyển hàng hoá là 45,6 triệu tấn và 42,7 triệu tấn; về mặt vận chuyển hành khách thì sau đường bộ là đường sắt 34,6 triệu lượt người và đường sông 30 triệu lượt người Để đáp ứng yêu cầu vận tải trên
cần ưu tiên phát triển đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và hàng không :
- _ Nâng cấp các quốc lộ 1, ð, 21A, 18B và các đoạn quốc lộ 9,3,6 nối Hà
Nội với các đô thị vệ tình Xuân Mai, Hoà Lạc, Sơn Tây, Vĩnh Yên
- Đường thuỷ: Cảng Hải Phòng 7 - 8 triệu tấn/năm, Diêm Điền, Hai Thịnh 0,õ - 1 triệu tấn/năm Nâng cấp hệ thống cảng sông, cải tạo
hệ thống luỗng lạch các tuyến sông Hồng và sông Thái Bình
- Đường sắt: Đến 2010 củng cố các đoạn từ Hà Nội toả ra các vùng xung quanh và đường liên vận Quốc tế
- Hàng không: Hiện đại hoá cảng quốc tế Nội Bài, nâng cấp sân bay Gia Lâm, Cát Bi, mở sân bay mới ở Hạ Long và Sơn Tây
b Quy hoạch phát triển đô thị
- _ Đô thị cấp I: Hà Nội, Hải Phòng
- - Đô thị cấp II: Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình, Thái Binh, Hung
Yên, Phủ Lý, Chí Linh, Bắc Ninh, Việt Trì, Tam Điệp
- Đô thị vệ tỉnh Hà Nội : Miếu Môn - Hoà Lạc, Xuân Mai, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Sóc Sơn Ngoài ra còn hàng trăm trung tâm dịch vụ và các khu dân cư có quy mô từ 5.000 - 10.000 dân
3.2.5 Quy hoạch uốn đầu tu
Tổng nhu cầu 45.112 triệu USD trong đó :
“Uiện €ơ lọc
35
Trang 36Cho công nghiệp = 18.537 triệu USD
Cho nông nghiệp = 11.995 triệu USD
Cho dịch vụ = 14.580 triệu USD
Như vậy đầu tư bình quân năm là 3.007 triệu USD gồm 1.236 triệu
USD cho công nghiệp, khoảng 799 triệu ỦSD cho nông nghiệp và nông
thôn, khoảng 972 triệu USD cho địch vụ
3.3 Phân tích tổn thất ngập lụt đo lũ gây nên ở đồng bằng Bắc Bộ
Bảng 2 xác định các chỉ tiêu kinh tế xã hội 38 vùng có đê bảo vệ (thống
kê năm 2000) Tổng giá trị tài sản cố định 608.732 tỷ đồng, giá trị GDP là 60.842 tỷ đồng, trong đó nông nghiệp chiếm 38 %, công nghiệp 28 % và dịch
vụ 33%
Trong trường hợp xảy ra võ đê hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình sẽ
gây ngập lũ 38 vùng, tuỳ theo cấp độ lũ, độ sâu ngập trong khoảng 2 - 4m
và thời gian ngập kéo dài từ 20 - 30 ngày Trên cơ sở phân tích và đánh giá
của Đoàn công tác lưu động ESCAP về cải thiện hệ thống sưu tập thiệt hại
do bão và lũ xuất bản tháng 7/1983 Có thể phân tích và đánh giá mức độ
thiệt hại khi vỡ đê theo 3 trường hợp sau :
- Trường hợp 1 đQũ trung bình gây ngập sâu 1- 2 m): Thiệt hại về tài sản cố định chiếm 20 % và thiệt hại gián tiếp do ngưng trệ sản xuất
Trang 37ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
GIAI ĐOẠN NĂM 2005 NĂM 2010 NĂM 2015 | NĂM 2020 THIỆT HẠI TSCĐ (TỶ ĐỒNG) 170.756 262.729 423.127 697.080
THIET HAI GDP (TY DONG) 41.009 72.271 133.155 245.329
TONG CONG (TỶ ĐỒNG) 211.765 335.000 556.282 942.409
Bảng 3 Mức thiệt hại khi võ đê vùng đồng bằng sông Hồng (trường hợp 1)
Bảng 4 Mức thiệt hại khi vỡ đê vùng đồng bằng sông Hồng (trường hợp 2)
Bang 5 Mức thiệt hại khi vỡ đê vùng đồng bằng sông Hồng (trường hợp 3)
37
Trang 38HƯƠNG 3 - CO SO KHOA HOC CHO CAC GIAI PHAP TONG THỂ
PHONG, CHONG LO
Hệ thống công trình phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng hiện
nay bao gồm:
1 Các hồ chứa phía thượng du sông Hồng: Hiện tại có 2 hổ chứa là
Hoà Bình trên sông Đà và Thác Bà trên sông Chảy Trong tương lai còn
có thêm hồ Sơn La trên sông Đà, hồ Đại Thị trên sông Gâm và Bắc Mục trên sông Lô
2 Hệ thống công trình phân lũ sông Đáy: Bao gồm các hạng mục chính như sau:
- Cửa nhận nước: Tràn Hát Môn và cống Vân Cốc
- _ Lòng hồ Vân Cốc (Đoạn giữa đê sông Hồng và Đập Day)
- _ Công trình phân lũ Đập Đáy
- Các vùng phân chậm lũ của hai huyện Chương Mỹ - Mỹ Đức (Bao
gồm 57 xã)
-_ Hệ thống đê điều và lòng bãi sông Đáy để thoát lõ
3 Các vùng phân chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng-Thái Bình:
Khu Tam Nông, Vùng Thanh Thuỷ, Vùng Bất Bạt, Vùng Lâm Thao,
Khu Quảng Oai, Vùng bối Vĩnh Tường, Vùng Ba Tổng, Vùng Chí Linh
4 Hệ thống đê điều: Bao gồm 45 tuyến đê sông do Trung ương và Địa
phương quản lý
Các công trình nói trên có sự liên quan và hoạt động tuần tự phụ thuộc
theo tình huống lũ xảy ra Chúng đều có chung nhiệm vụ chống lũ cho đồng bằng sông Hồng, tuy nhiên tầm quan trọng số một được đặt lên cho các hồ chứa lớn ở thượng lưu Khả năng chống lũ có hiệu quả của hệ thống công trình này còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố sau: () sự điều hành hoạt động của chúng, Gï) các yếu tố tác động từ phía thượng lưu như rừng và thảm phủ có thường xuyên được duy tri hay khong, (iii) khả năng thoát lũ của lòng dẫn có bị cần trở và suy giảm không
Sáu giải pháp phòng, chống lũ đã và đang được vận dụng một cách
đúng đắn trong công tác phòng chống lũ cho đồng bằng sông Hồng là:
itu Cơ hoe
Trang 39ĐỀ TÀI NHÀ NƯỚC KC.08-13
-_ Tăng cường củng cế hệ thống đê
-_ Khai thông dòng chảy để thoát lũ
-_ Xây dựng các hể chứa cắt lũ ở thượng nguên các sông lớn
-_ Phân, chậm lũ
-_ Trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn
Tăng cường công tác quản lý đê và hộ đê phòng lụt
Do tình hình lũ lụt ngày càng gia tăng, khả năng phòng chống lũ ngày
càng suy giảm ảnh hưởng đến an toàn chống lũ vùng đồng bằng và trung
du sông Hồng - Thái Bình Vùng đồng bằng sông Hồng là trung tâm Văn
hoá, Kinh tế, Chính trị của cả nước; nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất
đã, đang và sẽ còn tiếp tục mọc lên Bởi vậy, về lâu đài yêu cầu tiêu chuẩn chống lũ cho hạ du đồi hỏi an toàn hơn và cao hơn Tiêu chuẩn chống lũ cho
vùng hạ du sông Hồng theo các giai đoạn đã được đặt ra và được Bộ Nông nghiệp và PTNT ký ban hành có nội dung chính như sau:
a Giai đoạn trước mắt:
« Tiêu chuẩn chống lũ
Nội thành Hà Nội và các vùng khác chống với lũ tháng 8 năm 1971 có lưu lượng lớn nhất tại Sơn Tây 37.800 m3/s (tần suất P = 0,8%, lũ chu kỳ
tái diễn 125 năm)
+ Mức nước lũ thiết kế đê sông
- Đối với đê Hà Nội (cấp đặc biệt) lấy mức nước lũ thiết kế 13,6 m tại
Hà Nội (theo cao độ Quốc gia là 13,4 m)
- _ Đối với đê cấp L, II, II lấy mực nước lũ thiết kế tương ứng với 13,3
m ỡ Hà Nội (theo cao độ Quốc gia là 13,1 m)
- Đối với hệ thống đê sông Thái Bình lấy mức nước lũ thiết kế 7,4 m tại vị trí Phả Lại (theo cao độ Quốc gia là 7,2 m)
« Cần củng cố hệ thống đê chống lũ cả chiều cao và mặt cắt hình học cũng như chất lượng nền, thân đê với mực nước thiết kế đê
+ Cần xác định các chỉ giới, hình thành các hành lang thoát lũ, cải tao
và quản lý lòng dẫn hành lang thoát lũ, đảm bảo khoảng cách hợp lý của tuyến đê vùng cửa sông, đảm bảo khả năng thoát lũ của các
phân lưu
tUiện Co hoe 39
Trang 40» Nếu gặp lũ như trận lũ tháng 8 năm 1971, hồ Hoà Bình + Thác Bà tham gia cắt lũ sẽ duy trì được mực nước Hà Nội ở mức 13,0 m mà không phải phân chậm lũ
«Ổ Nếu xảy ra lũ lớn hơn lũ tháng 8 năm 1971 thì khi chưa có thêm công
trình hồ chứa ở thượng lưu buộc phải sử dụng công trình phân chậm
«Ö Mức nước lũ thiết kế đê sông
- _ Đối với đê Hà Nội (cấp đặc biệt) lấy mức nước lũ thiết kế 13,6 m tại
Hà Nội (theo cao độ Quốc gia là 13,4 m)
- _ Đối với đê cấp I, II, II lấy mực nước lũ thiết kế tương ứng với 13,3
m ở Hà Nội (theo cao độ Quốc gia là 13,1 m)
- _ Đối với hệ thống đê sông Thai Bình lấy mức nước lũ thiết kế 7,4 m tại vị trí Phả Lại (theo cao độ Quốc gia là 7,2 m)
c Giai đoạn sau khi có hồ Sơn La trên sông Đà
+ Tiéu chuẩn chống lũ (trường hop dung tích chống lũ sông Đà đành 7