Bộ Khoa học và công nghệ Chương trình KC-08 "Bào vệ môi trường và phòng tránh thiên tai --- --- Đề tài KC.08.06 "Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam theo các vùng sinh
Trang 1Bộ Khoa học và công nghệ Chương trình KC-08
"Bào vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
- -
Đề tài KC.08.06
"Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam
theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp"
Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề
Các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên bảo vệ môi trường nông thôn theo các vùng sinh thái đặc trưng
Cơ quan thực hiện : Hội Khoa học đất Việt Nam
Chủ nhiệm : PGS.TS Lê Thái Bạt
Người tham gia : TS Nguyễn Văn Tân
TS Nguyễn Xuân Thành
Hà Nội, 8/2003
Trang 2Mục lục
Danh mục bảng :
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất theo các vùng
Bảng 2.2 Ước tính đất canh tác theo các vùng
Bảng 2.3 Ước tính diện tích đất các loại hình thoái hóa đất chính (nghìn ha)
Bẳng 2.4 Biến động sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề thoái hóa đất ở Việt Nam Bảng 2.5 Ước tính diện tích đất canh tác được tưới theo các vùng (1000 ha)
Bảng 2.6 Những vùng đất bị thoái hóa và hạn chế nghiêm trọng
Bảng 2.7 Mật độ dân số trên hecta đất nông nghiệp năm 1998
Bảng 2.8 Thực vật và lượng đất mất trên đất bazan ở huyện Krong Buk Đắc Lắc (độ
dốc 5 - 8o, mưa 1995 mm/năm)
Bảng 2.9 Một số tính chất vật lý, nước của đất bazan
Bảng 2.10 Tính chất hóa học đất đỏ bazan có mức độ thoái hóa khác nhau ở Đắc Lắc Bảng 2.11 Kết quả phân tích kim loại nặng đất Hóc Môn năm 1998 và 1999 (tầng đất
VJFA Hội hữu nghị Việt - Nhật
JVFA Hội hữu nghị Nhật - Việt
NORAD Cơ quan hợp tác phát triển của Na Uy
ĐTĐNT Đất trống đồi núi trọc
Trang 3Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề
Các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên bảo vệ môi trường nông thôn
theo các vùng sinh thái đặc trưng
Mở đầu
Việt Nam là một nước nông nghiệp, vùng nông thôn chiếm 95% diện tích tự nhiên của cả nước Khoảng 75% dân số của cả nước đang sống ở khu vực nông thôn Mấy chục năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước, bộ mặt nông thôn Việt Nam
đã có nhiều thay đổi, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên sức ép tăng dân số, sự phát triển mạnh mẽ về công nghiệp hóa, đô thị hóa, các cơ sở hạ tầng trong thời gian qua đã gây áp lực to lớn đến việc sử dụng tài nguyên
và môi trường sống ở vùng nông thôn rộng rãi này Nhiều vấn đề bức xúc về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường nông thôn đã và đang nảy sinh và diễn biến phức tạp, đe dọa sự phát triển bền vững Việc nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân hiện trạng, tác
động, hậu quả của việc sử dụng không hợp lý các nguồn tài nguyên và các vấn đề bức xúc về môi trường nông thôn theo các vùng sinh thái nhằm đưa ra các giải pháp khắc phục là sự cần thiết khách quan Báo cáo này phản ánh một số kết quả nghiên cứu bước
đầu đáp ứng các yêu cầu đặt ra trên đây
- Hiện trạng môi trường và sử dụng tài nguyên nông thôn một số vùng sinh thái
- Tác động và hậu quả của việc suy thoái môi trường và các nguồn tài nguyên nông thôn một số vùng
Trang 4- Các chính sách giải pháp bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên nông thôn một số vùng
1.3 Phương pháp nghiên cứu :
- Thừa kế các kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng tài nguyên và môi trường ở đối tượng nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích định tính định lượng kết hợp phân tích vĩ mô và
vi mô để rút ra các nhận xét đánh giá
- Tiến hành một số tuyến khảo sát theo các vùng sinh thái điển hình để kiểm tra, cập nhật và bổ sung các tư liệu đã có
- Sử dụng phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra nhanh nông thôn có
sự tham gia của cộng đồng (RRA)
- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh để rút ra nhận xét, kết luận
- áp dụng phương pháp soạn thảo báo cáo hiện trạng môi trường do UNFP đề ra
để viết báo cáo theo mô hình "áp lực - hiện trạng - tác động và đáp ứng"
1.4 Kết quả dự kiến :
Báo cáo chuyên đề "Các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường nông thôn theo các vùng sinh thái đặc trưng (núi cao, trung du, đồng bằng, ven đô và ven biển)
Nông thôn Việt Nam, tùy theo các đặc thù theo vùng kinh tế - sinh thái (núi cao trung du, đồng bằng, ven đô thị hay ven biển) mà đã và đang đối mặt với những thách thức to lớn về môi trường Một số vấn đề cấp bách về môi trường nông thôn hiện nay là:
- Sử dụng không hợp lý các nguồn tài nguyên (đất, nước, sinh vật, khoáng sản, nhân lực…)
- Nạn phá rừng tự nhiên, xuống cấp chất lượng rừng
- Suy giảm đa dạng sinh học trên cạn và dưới nước
- Thoái hóa đất
- Ô nhiễm môi trường nước
- Ô nhiễm bụi và khí trong môi trường không khí
- Bão, lụt, lũ quét, hạn hán
- Xử lý và thảo bỏ chất thải rắn (đặc biệt là chất thải nguy hại)
- Nước sạch và vệ sinh môi trường
Trang 5Chương 2
Kết quả nghiên cứu chuyên đề "Các giải pháp sử dụng đất hợp lý
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường nông thôn
theo các vùng sinh thái đặc trưng"
2.1 Nguyên nhân suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường nông thôn
Nguyên nhân cơ bản của những thách thức về môi trường trên đây xuất phát từ những tác động trực tiếp và gián tiếp, cụ thể là điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sự phá hoại của chiến tranh
Về tự nhiên :
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mưa tập trung vào mùa hè với trên 20% lượng mưa dưới dạng mưa rào đa số diện tích là đất đồi núi đã đẩy mạnh quá trình rửa trôi, xói mòn, thoái hóa đất Hạn hán, lũ lụt, ngập úng xảy ra thường xuyên ở nhiều vùng
Về kinh tế - x∙ hội
Sức ép tăng dân số, nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, tình trạng đói nghèo, các chính sách và hệ thống quản lý môi trường chưa đạt yêu cầu, việc khai thác quản lý tài nguyên chưa hợp lý, chưa có hiệu lực làm chúng bị suy thoái nghiêm trọng
Sự phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa và các cơ sở hạ tầng trong những năm gần
đây một mặt đã góp phần tăng trưởng kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống cộng
đồng, mặt khác cũng đã và đang tác động mạnh mẽ đến môi trường đô thị cũng như nông thôn Việt Nam
Phương thức canh tác nương rẫy, độc canh, quảng canh, trồng cây ngắn ngày trên
đất dốc không có công trình phòng chống xói mòn làm đất bị suy thoái nghiêm trọng
Hệ thống nông nghiệp, nông lâm nghiệp tiến bộ chưa được phổ biến và áp dụng rộng rãi
Tình trạng chặt phá rừng, đốt rừng bừa bãi do khai thác không hợp lý
Việc khai hoang chuyển dân miền xuôi lên trung du và miền núi chưa được chuẩn
bị tốt về qui hoạch, kế hoạch và đầu tư
Việc sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng không hợp lý trong quá trình thâm canh trong nông nghiệp dẫn tới ô nhiễm đất và nước
Sự phát triển mạnh mẽ của đô thị hóa, công nghiệp hóa các cơ sở hạ tầng không đi
đôi với đầu tư kịp thời và đúng mức về bảo vệ môi trường đã đẩy mạnh tình trạng ô nhiễm do các nguồn nước và chất thải
Trang 6Sự tàn phá của chiến tranh trong đó có chất độc mầu da cam và bom đạn đã làm hủy diệt nhiều khu rừng, cày xới, phá hủy một diện tích đáng kể các vùng đồng bằng cũng như đồi núi phía Nam
2.2 Hiện trạng môi trường và sử dụng tài nguyên nông thôn
2.2.1 Môi trường và sử dụng tài nguyên nông thôn một số vùng sinh thái :
Kết quả nghiên cứu ở các điểm điển hình như Mai Châu (Hòa Bình), Krong Buk (Đắk Lắc), Lục Ngan (Bắc Giang), Điện Bàn (Quảng Nam), Đông Hưng (Thái Bình), Cai Lậy (Tiền Giang), Thanh Trì (Hà Nội), Nghi Lộc (Nghệ An), Ninh Hải (Ninh Thuận) cho thấy một số vấn đề cấp bách về môi trường và sử dụng tài nguyên nông thôn dưới đây :
Sử dụng không hợp lý các nguồn tài nguyên : đất, nước, rừng, sinh vật, khoáng sản, nhân lực
Ô nhiễm môi trường do chất thải đô thị, chất thải công nghiệp, chất thải tiểu thủ công nghiệp, phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, không có hoặc thiếu công trình vệ sinh (nhà tắm, hố xí), cấp nước sạch nông thôn, hoạt động giao thông, khai mỏ, lây lan dịch bệnh
Các loại suy thoái môi trường đất chủ yếu : rửa trôi, xói mòn, đất trượt, mặn hóa, phèn hóa, sạt lở bờ sông bờ biển, khô hạn và sa mạc hóa, ngập úng ngập lũ, phá rừng,
độc canh, quảng canh, du canh, du cư, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, tình trạng đói nghèo, áp lực tăng dân số
Những vấn đề nổi bật về sử dụng tài nguyên và môi trường nông thôn ở các vùng cụ thể là :
- ở Mai Châu (Hoà Bình) nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam, địa hình núi trung
bình, dốc, chia cắt, nơi có nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, tình trạng du canh, quảng canh, kinh tế tự cấp tự túc Nhiều hộ nghèo, nhiều đất bị thoái hóa và mất khả năng sản xuất Nhiều vấn đề về môi trường được đặt ra cần giải quyết : Ô nhiễm chất thải tiểu thủ công nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu, chăn nuôi, dịch bệnh; thiếu công trình vệ sinh : cấp nước sạch nông thôn
Rửa trôi, xói mòn, đất trượt, sạt lở đất vào mùa mưa; khô hạn vào mùa khô; độc canh, quảng canh, du canh, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, canh tác không bảo vệ đất trên
đất dốc, chặt phá, cháy rừng; áp lực dân số và tình trạng đói nghèo
Sử dụng tài nguyên đất, nước, sinh vật, các nguồn nhân lực chưa hợp lý
• Những vấn đề bức xúc :
- Suy thoái rừng : Huyện Mai Châu có hơn 95% đất dốc tuy nhiên độ che phủ thực vật mới đạt 38%
Trang 7- Vệ sinh môi trường nông thôn : Các nguồn chất thải như rác thải, nước thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi và tàn dư thuốc bảo vệ thực vật đã và đang gây ô nhiễm ở nông thôn huyện Mai Châu nói riêng và vùng núi nói chung
- Cung cấp nước sạch : Mai Châu là một trong những huyện miền núi, thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô Do thiếu nước sinh hoạt, nhiều nơi người dân phải đi lấy nước cách nơi ở 2 - 3 km, thậm chí phải mua nước để dùng
- Suy thoái tài nguyên đất : Do rừng bị chặt, phá; canh tác cây ngắn ngày phổ biến trên đất dốc theo phương thức quảng canh, độc canh, du canh (canh tác nương rẫy)
đất bị rửa trôi, xói mòn, thoái hóa mạnh 1/3 diện tích đất dốc đã bị thoái hóa Lượng đất bị rửa trôi xói mòn hàng năm trên đất dốc dao động từ 18 - 80 tấn/ha
- Suy thoái đa dạng sinh học : Kết quả điều tra nghiên cứu của các nhà sinh học nước
ta ở các tỉnh miền núi cho thấy ngoài việc phá rừng đầu nguồn thì tình trạng bắt và mua bán trái phép các động vật hoang dã có xu hướng gia tăng
- Gia tăng dân số : Sự gia tăng dân số tự nhiên và cơ học nhanh đã và đang gây sức ép
to lớn lên tài nguyên và môi trường các tỉnh Hòa Bình, Sơn La nói chung và huyện Mai Châu nói riêng
- ở Krong Buk (Đắc Lắc) thuộc Tây Nguyên Những vấn đề cấp bách về môi
trường và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở đây là :
• Gia tăng dân số :
ở Đắc Lắc nói chung và ở huyện Krong Búk nói riêng, tỉ lệ tăng dân số khu vực đô thị vẫn ở mức trung bình trong toàn quốc (1,70 - 1,77%) Tuy nhiên khu vực nông thôn
có tỉ lệ tăng dân số tự nhiên và cơ học rất cao (3,2% - 3,47%)
- Suy thoái tài nguyên đất :
Đất nông nghiệp ở Đắc Lắc và Krong Buk tăng nhanh trong thời kỳ 1990 - 1995 do tình trạng di dân tự do từ các tỉnh phía Bắc vào phá rừng trồng cà phê và các cây hoa màu, lương thực Sự phát triển nông nghiệp theo hướng thương mại hóa không đi đôi với bảo vệ đất đã làm cho đất suy thoái nghiêm trọng Bằng chứng cụ thể là phần lớn diện tích đất trồng cà phê trên đất dốc không có công trình bảo vệ đất làm cho tình trạng xói mòn ở đây phát triển, lượng đất mất trên đơn vị diện tích tăng đáng kể so với
đất còn rừng Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1999) ở Krông Buk, lượng đất mất trên đất đỏ bazan trồng cà phê ở độ dốc 7 - 8o lên đến 18 - 20 tấn/ha/năm
- Suy thoái tài nguyên rừng và đa dạng sinh học :
Việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp ở Krông Buk và Đắc Lắc, thường đi đôi với giảm diện tích đất rừng, giảm độ che phủ, tăng xói mòn và giảm đa dạng sinh học (do mất nơi cư trú và đẩy mạnh săn bắt các động vật quý hiếm)
Trang 8- Suy thoái tài nguyên nước :
Việc phát triển ồ ạt diện tích trồng cà phê ở Tây Nguyên nói chung và ở huyện Krông Buk nói riêng đòi hỏi sử dụng nguồn nước tưới nhiều hơn, dẫn đến tình trạng mất cân bằng nước, làm hạ thấp mực nước ngầm và mức độ khô hạn trong mùa khô trở nên trầm trọng hơn
Ô nhiễm do chất thải đô thị, tiểu thủ công nghiệp, phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật, các chất kích thích sinh trưởng; lây lan dịch bệnh; ô nhiễm do hoạt động giao thông, xây dựng, khai mỏ Phần lớn các hộ nông dân chưa được cấp nước sạch, thiếu nhà tắm, hố xí hợp vệ sinh
Môi trường đất bị suy thoái do rửa trôi, xói mòn; chặt phá, cháy rừng; độc canh, quảng canh; cơ cấu cây trồng nghèo nàn, du canh; áp lực dân số và tình trạng đói nghèo Khô hạn và hoang mạc hóa; lũ quét, lốc đầu mùa mưa
Sử dụng không hợp lý các nguồn tài nguyên (đất, nước, sinh vật, khoáng sản và nguồn nhân lực)
Sử dụng không hợp lý các nguồn tài nguyên : đất, nước, sinh vật, nguồn nhân lực
- ở Điện Bàn (Quảng Nam) :
Ô nhiễm do chất thải đô thị, công nghiệp, phân bón, chăn nuôi Nhiều hộ nông dân chưa được cấp nước sạch và thiếu công trình vệ sinh
Một số nguồn tài nguyên chưa được sử dụng hợp lý : sử dụng đất trong quá trình thâm canh; sử dụng các nguồn nhân lực nông thôn chưa triệt để; cơ cấu ngành nghề chưa đồng bộ; thời gian nông nhàn và số người thất nghiệp còn chiếm tỉ lệ đáng kể (5 - 10%)
- ở Thanh trì (Hà Nội) :
Tình trạng ô nhiễm do chất thải đô thị; chất thải công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Cụ thể là chất thải của các nhà máy và cơ sở sản xuất (nhuộm, sơn, cơ khí, gốm, mạ kền, phân lân, pin, kim hoàn, mỹ nghệ, giầy da, bột giặt, gương, thuộc da, rượu, nhựa, đóng tàu, chế biến gỗ, vật liệu xây dựng; cao su, xà phòng, thuốc lá, dệt, mây tre đan
Tình trạng ô nhiễm môi trường khá trầm trọng do sử dụng không hợp lý các loại phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật trong quá trình thâm canh Mặt khác hầu hết các địa
Trang 9phương trong huyện không có nơi thu gom rác thải làm cho tình trạng ô nhiễm phát triển trên diện rộng Hoạt động giao thông, bụi không khí và tiếng ồn tác động thường xuyên đến đời sống của dân cư ở đây
Đáng báo động là đến 54% dân số không có nhà tắm, hố xí hợp vệ sinh, 15% dân
số chưa được dùng nước sạch
áp lực tăng dân số, mật độ dân cư đông đúc, tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư cũng là những thách thức đáng kể do không có điều kiện đầu tư tập trung để cải thiện môi trường sống
Những bất cập trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực vốn dồi dào nhưng mất cân đối về trình độ, cơ cấu nghề nghiệp là những khó khăn không thể một sớm một chiều có thể khắc phục
- ở huyện Nghi Lộc (Nghệ An) :
Đây là huyện ven đô thị ở Bắc Trung Bộ Sức ép tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa, các cơ sở hạ tầng, xây dựng và dịch vụ tác động không nhỏ đến môi trường và sử dụng tài nguyên nông thôn ở đây Quá trình thâm canh, sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật ở mức độ nhất định đã ảnh hưởng đến chất lượng môi trường đất và nước
Việc xây dựng, phát triển các công trình vệ sinh, cấp nước sạch nông thôn còn có những tồn tại đáng kể Nước thải, rác thải chưa được xử lý đã trực tiếp ảnh hưởng xấu
đến môi trường sống trong vùng
- ở huyện Ninh Hải (Ninh Thuận) :
Những vấn đề cấp bách về sử dụng tài nguyên và môi trường ở đây là :
Ô nhiễm do hoạt động của các làng nghề chế biến hải sản, do sử dụng hóa chất bảo
vệ thực vật quá mức để bảo vệ cây trồng (thí dụ phun cho bông, nho, một số cây ăn quả )
Thoái hóa môi trường đất với nhiều loại hình :
- Rửa trôi, xói mòn vào mùa mưa, làm mất đất 38 - 92 tấn/ha/năm
- Hoang mạc hóa trong điều kiện khí hậu bán khô hạn dưới các dạng : hoang mạc đá, hoang mạc cát, hoang mạc đất cằn, hoang mạc muối tàn dư Nguyên nhân chính của tình trạng hoang mạc hóa ở đây liên quan đến cấu trúc địa hình địa mạo, khí hậu bán khô hạn (lượng bốc thoát hơi tiềm năng gấp 1,7 - 2,8 lần lượng mưa), dòng chảy
bề mặt, mẫu chất, đá mẹ, lớp phủ thổ nhưỡng và hoạt động sản xuất
- Tình trạng mặn hóa diễn ra mạnh ở Ninh Hải, Ninh Phước
- Vào mùa mưa sạt lở đất thường sảy ra ở ven sông, ven các công trình giao thông, khai thác vật liệu xây dựng
Trang 10- Trong vùng có hơn 30.000 ha canh tác nương rẫy, độc canh, quảng canh
- Tình trạng phá rừng, cháy rừng diễn ra hàng năm làm mất hàng ngàn ha rừng
- Một bộ phận dân cư có thu nhập thấp, tình trạng đói nghèo làm họ không có điều kiện đầu tư thâm canh, phục hồi độ phì nhiêu đất
- áp lực tăng dân số làm cho diện tích đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm và nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực về môi trường sống
- Một số nơi do chăn thả quá mức (trâu, bò, lợn, gà, vịt, chó, dê, cừu ) làm đất trở nên rắn, chặt, mất cấu trúc, mất khả năng sản xuất
Việc sử dụng chưa hợp lý tài nguyên rừng làm mất dần sự đa dạng sinh học, hình thành thảm cây bụi và trảng cỏ thứ sinh Kết quả nghiên cứu từ 1986 - 1996 ở Ninh Thuận cho thấy đến 85% diện tích rừng bị suy thoái, diện tích phục hồi chỉ chiếm 4%
- ở huyện Đông Hưng (Thái Bình) :
Đây là một huyện ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, nơi đất chật người đông Sức ép tăng dân số làm cho diện tích đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm, nảy sinh nguồn nhân lực dồi dào cần có việc làm Bên cạnh nghề nông, nhiều ngành nghề phụ khác cũng được phát triển Sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đi đôi với những thay đổi đáng kể về môi trường sống Chất thải, nước thải sinh hoạt, sản xuất đưa vào môi trường không qua xử lý làm ô nhiễm do nhiều tác nhân khác nhau : kim loại nặng, bụi, vi khuẩn, ô xy hòa tan, ô xy sinh học Môi trường
đất và nước bị ô nhiễm do quá trình thâm canh, sử dụng nhiều phân khoáng hóa chất bảo vệ thực vật và chất kích thích sinh trưởng
- ở huyện Cai Lậy (Tiền Giang) :
Đây là một huyện đồng bằng thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Những vấn đề nổi bật về môi trường ở đây là :
- Tình trạng ngập úng, ngập lũ thường xuyên gây thiệt hại về người và của cho nhân dân trong vùng; đồng thời làm ô nhiễm môi trường sống do lây lan dịch bệnh và phèn, mặn
- Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, sử dụng các loại phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật thâm canh nông nghiệp cũng gây ô nhiễm môi trường đất và nước
2.2.2 Hệ thống các vấn đề bức xúc về sử dụng tài nguyên và môi trường nông thôn
Việt Nam
2.2.2.1 Sử dụng tài nguyên đất và các vấn đề bức xúc về môi trường
Với diện tích tự nhiên khoảng 33 triệu ha và dân số khoảng 80 triệu người, nước ta
đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức về môi trường đất diện tích đất canh tác
Trang 11trên đầu người rất thấp (0,12 ha) Những "đất có vấn đề" về độ phì nhiêu và sức sản xuất kém chiếm hơn 50% diện tích tự nhiên của cả nước
• Diễn biến sử dụng đất như sau :
- Diện tích đất khai thác vào mục đích lâm nghiệp, nông nghiệp, chuyên dùng và đất
ở hàng năm đều tăng so với các năm trước
- Hệ số sử dụng đất trồng cây hàng năm tăng từ 1,46 (1995) lên 1,65 (2002) Trong cơ cấu đất chuyên lúa, diện tích đất lúa 2 - 3 vụ tăng do đẩy mạnh thủy lợi, tiến bộ
kỹ thuật về thâm canh, tăng vụ và đa dạng hóa giống lúa
- Đất màu và cây họ đậu ngắn ngày cũng tăng từ 15% (1995) đến 17% (2002)
- Sản xuất nông nghiệp biến đổi theo hướng bền vững, cụ thể là diện tích các cây trồng lâu năm có hiệu quả kinh tế cao (cà phê, cao su, chè, cây ăn quả) tăng, cây hàng năm trồng thuần trên đất dốc giảm
Tuy nhiên trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, tỉ lệ diện tích cây hàng năm còn chiếm gần 70%; hiện còn gần 1 triệu ha đất ruộng 1 vụ, 642.710 ha đất nương rẫy Diện tích ĐTĐNT còn hơn 7 triệu ha
• Thoái hóa đất :
- Qui mô thoái hóa đất : Thoái hóa đất là xu thế phổ biến ở nước ta từ đồng bằng đến trung du, miền núi Các loại đất bị thoái hóa ở mức độ khác nhau đã chiếm hơn 50% diện tích tự nhiên của cả nước
- Các loại hình thoái hóa đất chủ yếu ở nước ta là : xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua dần, thoái hóa hữu cơ, chặt phá rừng, khô hạn và sa mạc hóa, ngập úng, ngập lũ, lũ quét, đát trượt, sạt lở đất, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, dân số tăng nhanh, mặn hóa phèn hóa, đất mất khả năng sản xuất Trong đó các loại thoái hóa nghiêm trọng nhất là :
Trang 12Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất theo các vùng (1000 ha)
Tổng Loại đất
Tổng diện tích
Miền núi
và Trung du
Đồng bằng Bắc Bộ
Khu bốn cũ
D hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam
Bộ
Đ bằng sông Cửu Long Tổng diện tích : 32.929 10.314 1.262 5.151 4.425 5.447 2.334 3.973
1 Đất nông nghiệp 9.406 1.448 737 736 827 1.287 1.408 2.961
2 Đất lâm nghiệp 12.050 4.015 90 2.300 1.747 3.016 512 360
3 Đất chuyên dùng 1.618 310 205 244 252 147 218 237
5 Đất chưa sử dụng 9.404 4.452 148 1.816 1.555 960 157 314
Nguồn: Bộ Tài nguyên Môi trường, 2002
Bảng 2.2 Ước tính đất canh tác theo các vùng
Qui mô đất canh tác trên đầu người (m2) Diện tích các loại
canh tác (1000 ha) < 1000 1001 - 1500 1501 - 2000 > 2000
Đồng bằng Bắc Bộ, Khu bốn cũ, Duyên hải Miền Trung
Đông Nam
Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Tây Nguyên
Bảng 2.3 Ước tính diện tích đất các loại hình thoái hóa đất chính (nghìn ha)
Loại thoái hóa đất và các vấn đề về môi trường đất Diện tích
(1000 ha)
Tỉ lệ % so với tổng DT tự nhiên
Trang 13Bảng 2.4 Biến động sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề thoái hóa đất ở Việt Nam
Loại hình
canh tác
Thay đổi chính Thoái hóa đất Các loại thoái hóa khác
Đất được tưới - Tăng diện tích
- Suy thoái chất dinh dưỡng
- Đất chặt, thoái hóa vật lý do sử dụng đất không hợp lý
- Xói mòn, rửa trôi đất
- Suy giảm độ phì
- Mất thảm thực vật tự nhiên, giảm diện tích cây lâu năm
- Thoái hóa vật lý và hóa học đất
- Mất đa dạng sinh học
- Thoái hóa đất lưu vực
Nông nghiệp
đô thị và ven
đô thị
Đô thị hóa nhanh chóng yêu cầu thị trường lương thực, thực phẩm đa dạng Nảy sinh
Trang 14Bảng 2.5 Ước tính diện tích đất canh tác được tưới theo các vùng (1000 ha)
Vụ Đông Xuân Vụ Hè Thu Vụ Mùa Vùng
Diện tích Tỉ lệ (%) Diện tích Tỉ lệ (%) Diện tích Tỉ lệ (%)
+ Trung du miền núi; Khu Bốn cũ, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung
+ Cơ cấu cây trồng nghèo nàn
Ô nhiễm Các đô thị lớn, các khu công nghiệp (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, quanh
các nhà máy hóa chất, xi măng, mía đường, giấy, pin, bao bì, quanh các khu
Mật độ dân số người/ha đất NN
Trang 15• Xói mòn :
Theo Trần Văn ý, Nguyễn Quang Mỹ, Nguyễn Văn Nhưng, 1999, trên diện tích
rộng lớn gần 23 triệu ha đất dốc, xói mòn tiềm năng đạt 50 - 5400 tấn/ha/năm Mất đất,
do xói mòn tiềm năng trên đất dốc của Việt Nam ước tính gần 10 tỉ tấn/năm
Trên thực tế mất đất do xói mòn trên đất dốc ở Việt Nam ước tính từ 1 đến 3 tỉ
tấn/năm Vì trong số 23 triệu ha đất dốc, có khoảng hơn 11 triệu ha đất dưới tán rừng
hoặc cây công nghiệp lâu năm, lượng đất mất ở đây giảm rất nhiều so với ĐTĐNT
Bảng 2.8 Thực vật và lượng đất mất trên đất bazan ở huyện Krong Buk Đắc Lắc(độ dốc 5 - 8 o , mưa 1905 mm/năm)
• Thoái hóa một số tính chất vật lý, nước :
Bảng 2.9 Một số tính chất vật lý, nước của đất bazan
Chỉ tiêu Đất thoái hóa Đất đang sản xuất
Số liệu bảng trên cho thấy : Đất thoái hóa bị rắn, chặt hơn do tỉ trọng và dung trọng
tăng Các chỉ tiêu vật lý - nước như độ xốp, độ ẩm cây héo, độ ẩm tối đa, nước hữu
Trang 16hiệu, đoàn lạp đất (> 0,25mm) đều giảm trên đất bị thoái hóa so với đất đang sản xuất tốt
• Thoái hóa hóa học đất :
Bảng 2.10 Tính chất hóa học đất đỏ bazan có mức độ
thoái hóa khác nhau ở Đắc Lắc
Tổng số (%)
Dễ tiêu (mg/100g
đất)
Tình trạng đất Số
mẫu
pH KCl
Mùn (%)
được sản xuất
18 3,8 2,60 0,10 0,17 0,19 3,24 15,02 4,9 19,5
Đang sản xuất tốt 15 4,3 4,90 0,17 0,16 0,20 10,00 15,62 5,2 22,5 Mới khai hoang 14 4,6 5,75 0,24 0,18 0,26 12,14 20,00 9,0 23,8
Nguồn : Lê Hồng Lịch và Lương Đức Loan, 1997
Số liệu bảng trên chỉ rõ, đất bị thoái hóa có phản ứng rất chua Hàm lượng mùn, các chất tổng số, dễ tiêu, tổng số cation kiềm trao đổi và dung tích hấp thu đều suy giảm mạnh so với đất đang sản xuất tốt và đất mới khai hoang
Thoái hóa đất làm cho cân bằng dinh dưỡng trong hệ thống đât - cây - môi trường
bị phá vỡ; tăng nhiều độc tố như Fe, Mn, H2S, SO4 , lân bị cố định Hàm lượng các nguyên tố trung lượng và vi lượng trong đất thoái hóa rất thấp (dưới 2 mg/kg đất) Bằng chứng có thể thấy thiếu B và Mo cho cây họ đậu, thiếu Mg ở ngô, dứa, hồ tiêu và thiếu
Zn, B, S đối với cây cà phê năng suất cao
• Khô hạn và sa mạc hóa
Hiện tượng khô hạn và sa mạc hóa thể hiện rất rõ trên ĐTĐNT và địa hình dốc, chia cắt, nơi có lượng mưa thấp : 700 - 800 mm, 1500 mm/năm, lượng bốc hơi tiềm năngđạt 1000 - 1800 mm/năm (Ninh Thuận, Bình Thuận, Cheo Reo, Sông Mã, Yên Châu )
Diện tích bị hạn hàng năm ở Hà Tĩnh là 10.000 - 12.000 ha, Quảng Trị từ 12.000 - 16.000 ha, Thừa Thiên Huế khoảng 16.000 ha (vụ Hè Thu), Quảng Ngãi khoảng 10.000
ha, ở Bình Định có năm lên tới 22.000 ha, Phú Yên hơn 6000 ha, Ninh Thuận - Bình Thuận khoảng 13.000 ha Trung bình trong 10 năm qua diện tích bị hạn ở miền Trung lên đến gần 140.000 ha và mất trắng gần 50.000 ha
Hạn hán đã gây thiệt hại nhiều mặt cho các tỉnh miền Trung : mất hàng ngàn tỉ
đồng do thất thu và chi phí cho chống hạn Hạn kéo dài đẩy mạnh tình trạng cháy rừng Khô hạn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên sinh vật làm cạn kiệt nước các sông, suối, đất trở nên chai cứng, nứt nẻ, ức chế phát triển của vi sinh vật đất, trầm
Trang 17trọng hơn là đẩy mạnh tình trạng trượt và xói lở đất Hạn hán cũng ảnh hưởng lớn đến thu thập và đời sống của người dân, nhất là đối với các hộ nghèo
Tại Tây Nguyên, các tháng 11 - 12/2001 và đầu năm 2002 mưa ít, mực nước các sông suối, hồ chứa đều ở mức thấp hơn hàng ngàn ha đất trồng trọt có nguy cơ mất trắng Nhiều huyện của tỉnh Lâm Đồng và Đắc Lắc ở trong tình trạng thiếu nước nghiêm trọng Vụ Đông xuân huyện Krông Pắk có hơn 1000 ha lúa bị hạn Pleiku 270
ha lúa bị hạn Vùng Cát Tiên Lâm Đồng hạn hán đã làm thiệt hại 34 tỉ đồng trong vụ
Đông xuân, đồng thời nguy cơ lũ lụt trở nên nghiêm trọng hơn
• Đất trượt, xạt lở bờ sông, bờ biển
Trong những năm gần đây tình trạng đất trượt ngày càng phổ biến ở trung du, miền núi, nhất là vào mùa mưa đã làm tắc nghẽn giao thông, cản trở các hoạt động kinh tế trong vùng
Xạt lở bờ sông bờ biển là một trong những thiên tai thường xuyên gây thiệt hại nghiêm trọng về diện tích đất sản xuất, về người và của và đặc biệt gây nỗi lo lắng thường trực cho nhân dân các vùng đồng bằng, ven biển Việt Nam
Phèn hóa : Vùng đất phèn thường nằm ở địa hình thấp trũng và sâu trong đất liền hơn vùng đất mặn hoặc nằm xen kẽ với các loại đất mặn hoặc đất không mặn, có nhiều nguyên nhân phèn hóa :
- Nước phèn không thoát được ra sông, ra biển xâm nhập vào các vùng khác nhau làm phèn hóa nhiều vùng đất mới (các vùng thấp của Long An, Cửu Long, Bến Tre, Sóc Trăng )
- Vào mùa khô do không đủ nước ngọt ém phèn nên diện tích đất phèn tăng và mức
độ phèn ở tầng đất mặt cũng tăng
- Việc thay thế cây trồng nước bằng cây trồng cạn ở vùng đất phèn cũng tạo điều kiện
đẩy mạnh quá trình ô-xy hóa, xì phèn, tăng mức độ phèn ảnh hưởng đến sản xuất
Trang 18Các loại hình ô nhiễm chủ yếu là : ô nhiễm đất do sử dụng phân hóa học, phân tươi,
do HCBVTV, do chất thải đô thị, khu công nghiệp và do chất độc hóa học do Mỹ rải trong chiến tranh
Mức độ ô nhiễm ở một số nơi khá nghiêm trọng Tuy nhiên qui mô vùng bị ô nhiễm không lớn, tập trung ven các đô thị, khu công nghiệp, khai khoáng hoặc những nơi sử dụng phân bón, HCBVTV không hợp lý, không có sự quản lý chặt chẽ
Năm 2000, lượng phân hữu cơ gia súc trong cả nước khoảng 65 - 70 triệu tấn; lượng phân bắc hàng năm cũng lên tới 36 triệu tấn Ngoài tác dụng tiêu cực làm phân bón, cải tạo đất, lượng phân này cũng gây ô nhiễm đến môi trường đất, nước, không khí
và ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Kết quả phân tích đất vùng trồng rau của 2 hợp tác xã Tây Trực và Mai Dịch - Từ Liêm- Hà Nội cho thấy : ở các điểm bón phân bắc tươi hoặc phân bắc ủ chỉ số vi sinh vật gây vệnh như Coliform và E Coli rất cao ở tầng đất sâu 0 - 30cm chỉ số Coli là 3.400 - 55.900 tế bào/ 1 gam đất Feacalcoli từ 200 - 420 tế bào/1 gam đất Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành (2002) cho thấy ở xã Tây Trực 87% diện tích đất trồng rau và 82% sản phẩm rau chứa ký sinh trùng vượt mức cho phép Việc bón phân
đạm không hợp lý cũng làm tăng hàm lượng đạm nằm trong đất và trong rau Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các chất kích thích sinh trưởng đã để lại dư lượng đáng
kể của chúng trong đất và trong nông sản (rau)
Ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt và khu công nghiệp
Đất bị ảnh hưởng do nước thải sông Kim Ngưu đã bị ô nhiễm nitrat theo chiều sâu Nơi bị ảnh hưởng của nước thải Nhà máy Phân lân Văn Điển có dấu hiệu tích lũy lân dễn tiêu đến mức ô nhiễm Mặt khác nguồn nước thải của sông Kim Ngưu đã bị ô nhiễm nặng về các chỉ tiêu BOD, COD Các kim loại nặn như Cd, Cu, Pb, Zn đều có hàm lượng vượt ngưỡng cho phép Kết quả nghiên cứu của Phạm Quang Hà năm 2001 cho thấy hàm lượng cadmium vùng ven đô thị, nơi chịu ảnh hưởng của rác thải, nước thải sinh hoạt và công nghiệp hay ở các làng nghề truyền thống như lò đúc nhôm, đồng
đã vượt ngưỡng cho phép
Kết quả phân tích các mẫu đất ở Nghĩa Hưng - Nam Định chỉ rõ quá trình rửa mặn không chỉ đẩy Na khỏi dung dịch đất mà còn loại bỏ một lượng ion khác, đặc biệt là kali
Trang 19Đô thị hóa và công nghiệp hóa ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng nước của một số sông Nam Việt Nam Thí dụ: nước các sông Sài Gòn, Lòng Tàu và sông Đồng Nai bị ô nhiễm nặng bởi các chất thải sinh hoạt và công nghiệp Đa số các điểm nghiên cứu đều
có giá trị do dao động từ 3 - 6 mg/lit
Nước thải công nghiệp của nhà máy bột ngọt Ve Dan là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm làm giảm chất lượng nước sông Thị Vại
Công nghiệp sản xuất phân bón đã thải vào môi trường một lượng bụi và khí độc như SO2, SO3, H2SO4, F, Co, H2S, NH3… Các chất này phát tán vào môi trường xung quanh ở thể khí, lỏng làm phá dưỡng nguồn nước, giảm thiểu ô xy trong nước, gây chua
đất, độc hại cho người, cây trồng và sinh vật Hai nhà máy supe lân và lân nung chảy và nhà máy phân đạm đã đưa vào môi trường một lượng chất thải lớn như : SO2 4.539 tấn, Clo 492,5 tấn khí + 9.260 tấn chất lỏng; khí, H2SO4 600 tấn Hàng năm ngành công nghiệp xi măng thải ra 32.000 tấn khí CO2, 11.600 tấn khí NO2, 4.488 tấnCO2, 4,980 tấn CO gây ô nhiễm cho các vùng lân cận
Bảng 2.11 Kết quả phân tích kim loại nặng đất Hóc Môn năm 1998 & 1999
1999 35.50 57.25 11.21 0.55 2.00 0.529 0.185 11.50HM.10 1998 55.00 88.50 42.50 0.75 5.75 0.168 - 10.25
1999 47.25 74.25 22.52 0.65 1.75 0.502 0.093 11.25HM.11 1998 39.00 62.25 37.50 0.50 3.00 0.212 - 21.00
1999 35.75 54.13 20.58 0.53 1.75 0.034 0.058 10.00HM.12 1998 96.50 157.50 91.13 0.88 7.00 4.238 0.034 50.90
Trang 20Bảng 2.13 Biến động một số tính chất đất ở Đoan Hùng - Phú Thọ
2.2.2.2 Sử dụng tài nguyên nước và các vấn đề bức xúc về môi trường
Nước mặt
Việt Nam có tiềm năng thuận lợi về nước dựa trên hệ thống sông ngòi chằng chịt,
địa hình và lượng mưa dồi dào và bình quân lượng nước theo đầu người khá lớn so với các nước trong khu vực Tuy nhiên Việt Nam nằm hầu hết ở vùng cuối hạ lưu sông Mê Kông, sông Mã, sông Cả, sông Hồng Lượng nước tạo ra trong lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng 325 tỉ m3/năm Do đó khả năng có nước là rất khó, đặc biệt là trong mùa khô, khi các nước ở thượng nguồn sử dụng nhiều, ngoài sự kiểm soát của Việt Nam Mâu thuẫn thường thấy là mùa khô thiếu nước, mùa mưa lại quá thừa nước và gây lũ lụt Nước ngầm
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Qui hoạch thủy lợi và một số tổ chức quốc tế
WB, ADB, UNDP (1996), tiềm năng nước ngầm ở Việt Nam khoảng 48 tỉ m3/năm Trữ lượng khai thác khoảng 6 - 7 tỉ m3/năm
Tuy nguồn nước mặt và nước ngầm khá phong phú, song đáng quan tâm là tình hình sử dụng, khai thác nước nông thôn và chất lượng nước
ở nước ta, dân số nông thôn chiếm 76% dân số cả nước Tiêu chuẩn cấp nước sạch nông thôn là 50 lít/người/ngày, nhưng việc cấp nước chỉ đạt 10 - 20 lít/người/ngày Đến năm 2000 đã có 25 triệu dân nông thôn (42%) được cấp nước sạch, trong đó nước ngầm chiếm hơn 70% Vùng núi phía Bắc có tỉ lệ dân nông thôn được cấp nước sạch thấp (36%), vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long đạt 46%
Nhìn chung chất lượng nước các sông miền Bắc và miền Trung Việt Nam còn tương đối tốt Tuy nhiên ở những nơi sông tiếp nhận nước thải đô thị, khu công nghiệp, hoạt động làng nghề, sản xuất và chế biến thủy sản nước đã bị ô nhiễm đáng kể theo
Trang 21các chỉ tiêu BOD, COD, NH4, Một số sông ở Nam Bộ như sông Sài Gòn, Vàm Cỏ
Đông, Thị Vải, Đồng Nai bị ô nhiễm theo các chỉ tiêu BOD, COD, NH4 Mặt khác
đa số các sông ở đây bị chua do tiếp nhận nước phèn từ các kênh rạch chảy qua vùng
đất phèn Vào mùa khô, ranh giới mặn lấn sâu vào đất liền 10 - 15km Nước ngầm ở nhiều nơi được quan trắc như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Việt Trì đã có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng như Hg, Fe, Mn, Pb, As, Cr, Cd ở một số vùng nông nghiệp thâm canh, đông dân cư đã phát hiện ô nhiễm nước ngầm do NO3-, PO43-
Do sự gia tăng dân số, các hoạt động phát triển lưu vực và sự thay đổi khí hậu đã làm nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc về môi trường ven biển và ven bờ Đáng quan tâm là tình trạng ô nhiễm Coliform, các chất lơ lửng, dầu, PO43-, NH4+, NO2-, NO3-, Xialua và một số kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật trong nước và trầm tích ven biển, ven
bờ
2.2.2.3 Khai thác rừng và vấn đề môi trường :
Trong nhiều năm qua do nhu cầu về đời sống của đồng bào các dân tộc, do nhận thức sai về đảm bảo an ninh lương thực bằng canh tác lúa nương, khoai, sắn và các cây ngắn ngày trên đất dốc và do khai thác gỗ quá mức nên rừng tự nhiên và độ che phủ bị giảm Năm 1960 đọ che phủ rừng khoảng 65%, nhưng đến năm 1999 chỉ còn 31% Huyện Mai Châu, Hòa bình một huyện vùng cao cũng chỉ có độ che phủ 38% ở Đắc Lắc diện tích rừng giảm từ 1.226.000 ha (1995) xuống 1.223.000 ha (1999) Bên cạnh việc khai thác rừng để sản xuất nông nghiệp, cung cấp gỗ củi cho nhu cầu tại chỗ, xuất khẩu và thương mại, rừng còn bị suy thoái do nạn cháy rừng Diện tích rừng bị cháy ở
Đắc Lắc năm 2002 là 2.909 ha
2.2.2.4 Suy giảm đa dạng sinh học :
Kết quả nghiên cứu của các nhà sinh học Việt Nam cho thấy số lượng các loài
động, thực vật quý hiếm giảm đáng kể từ năm 1970 đến 1989 Số lượng các loài bị đe dọa được ghi trong sách đỏ Việt Nam ngày càng tăng Nguyên nhân của tình trạng suy giảm trên đây là do sự suy giảm và mất nơi cư trú, khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường và ô nhiễm sinh học
2.2.2.5 Môi trường chăn nuôi, trồng trọt :
Theo báo cáo của phòng thanh tra Cục bảo vệ thực vật, hiện nay trong cả nước có 17.697 cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Qua thanh tra đã phát hiện 3.285 vụ vi phạm; không đủ điều kiện kinh doanh; kinh doanh thuốc cấm sử dụng, thuốc giả, thuốc ngoài danh mục… Trong số 368 hộ sản xuất rau ở ngoại thành Hà Nội, có 37,2% hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cấm, 29,1% hộ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục, 21,7% hộ không đảm bảo thời gian cách ly
Tính đến ngày 26/4/2002, Hà Nội có 8 vụ ngộ độc với 55 người, tron đó ngộ độc do
ăn rau nhiễm thúoc bảo vệ thực vật lên tới 7 vụ với 46 người
Trang 22Theo đánh giá của Vụ y tế dự phòng - Bộ Y tế, hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do chất thải chăn nuôi đã đến mức báo động, gây ra nhiều bệnh như : bệnh phụ khoa, đau mắt, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn…
2.2.2.6 Môi trường công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản và hoạt động
làng nghề
Hiện nay cả nước có 1.400 làng nghề truyền thống, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng có 500 làng Ngoài ra còn có hàng ngàn cơ sở sản xuất kinh doanh đủ các loại ngành nghề đã và đang thải vào môi trường nhiều chất độc hại Khoảng 90% các cơ sở công nghiệp, chế biến không có các thiết bị xử lý chất thải Kết quả điều tra 151 hộ sản xuất bún ở Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội cho thấy trong đó có 141 hộ sử dụng chất thải để chăn nuôi lợn Hầu hết các cơ sở, hộ sản xuất kinh doanh trong các làng nghề đều sử dụng ao, hồ, kênh, mương, sông ngòi làm nơi xả phế thải, ao, vườn, đầm, hồ, ruộng làm nơi đổ các chất thải rắn Hiện có 70% trong số 300 nhà máy chế biến xuất khẩu không
có công trình xử lý nước thải Chất thải lỏng từ nước làm vệ sinh nhà xưởng, nước từ khâu xử lý nguyên liệu thường chảy thẳng ra cống, đồng ruộng của địa phương
• Ô nhiễm do chất thải, nước thải :
Nước thải từ các cơ sở, hộ sản xuất kinh doanh giầy, mạ kim loại tái chế phế thải,
đồ gốm… không được xử lý để chạy tự do ra sông ngòi, ao, hồ, đầm làm ô nhiễm nước mặn và nước ngầm Nước thải bị nhiễm bẩm chứa nhiều hóa chất độc hại và vi khuẩn
Ví dụ hàng ngày làng làm giấy Dương ổ thải ra khoảng 2000 m3 nước có bột giấy, dầu, hóa chất vào các kênh mương tưới, ao, hồ của làng ra sông Cầu Làng Đa Hội (chạm khắc gỗ) mỗi ngày thải ra khoảng 400 m3 nước biển, 2,5 - 3,2 tấn gỉ sắt Làng nghề chế biến nông sản Tam Đa ở Yên Phong, Bắc Ninh mỗi năm thải ra từ 2.224 nghìn m3 nước nhiễm bẩn Làng chế biến rượu Vân, Vân Hà (Bắc Giang) mỗi ngày thải ra sông Cầu hàng tấn bã rượu, phân lợn Nước giếng đào và giếng khoan gần cơ sở chế biến rượu nói trên bị nhiễm coliform nặng, cao hơn chỉ tiêu cho phép từ 20 đến 100 lần
Tỉnh Thái Bình hiện có gần 100 làng nghề, xã nghề góp phần phát triển kinh tế của tỉnh tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động và cải thiện đời sống của cư dân ở
đây Mặt khác các làng nghề cũng đã và đang đem lại hậu quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Làng nghề chạm bạc Đồng Xuân hàng năm sử dụng một khối lượng kim loại màu lớn cùng một số hóa chất độc hại như axit sunfuric (H2SO4), axit nitơric (HNO3), Cianua (CN), thủy ngân (Hg) Một phần các hóa chất độc hại được thải vào môi trường không khí, nước thải, gây ô nhiễm môi trường sống trong khu dân cư Lượng
NO2 tỏa ra từ phản ứng là 2,50 mg/m3, vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam cho phép khoảng
6 lần Các chỉ tiêu BOD, COD vượt chỉ tiêu cho phép từ 2 đến 5 lần, Ag vượt chỉ tiêu cho phép 7 - 10 lần
Trang 23Làng nghề dệt nhuộm Các làng nghề dệt nhuộm hiện nay chủ yếu gây ô nhiễm qua nước thải, bụi bông, than từ các nồi hơi Nước thải từ các làng nghề dệt, nhuộm ở Thái Bình đều có các chỉ tiêu BOD, COD vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 5 lần
Các làng đa nghề Nước thải từ các làng nghề đa ngành như làm bún, bánh, xây dựng, mây, tre đan, chế biến hải sản, thực phẩm đều chứa nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép (về độ đục, chất lơ lửng, ôxy tự do, ôxy sinh hóa, ôxy hóa học, H2S, NH3, Coliform,
Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có 52 làng nghề, trong đó có 16 làng nghề hợp vệ sinh Đáng chú ý là hàng trăm lò gạch ở đây không những hủy hoại một diện tích đất canh tác đáng kể mà còn gây ô nhiễm do bụi, khí thải lò gạch ảnh hưởng đến sức khỏe
và đời sống của một bộ phận dân cư xung quanh các cơ sở này
Phong trào nuôi tôm phần lớn là tự phát trên các vùng ven biển nói chung và ở Ninh Thuận nói riêng đã mang lại thu nhập đáng kể cho cộng đồng dân cư ở đây, đồng thời
đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Cảnh quan cồn, bãi cát trên mức thủy triều đã ổn
định và có chức năng phòng hộ bờ biển dã bị xâm hại, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt
động của gió Hiện tượng cát đọng, cát lấp trở nên phổ biến Để nuôi tôm nhà sản xuất cần lượng nước ngọt rất lớn để hòa với nước biển làm giảm độ mặn của nước biển từ 35%o xuống 25%o thích hợp cho tôm Sự nhiễm mặn nước ngầm đã ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống cộng đồng Nước thải hồ tôm được xả thẳng ra bờ biển không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường cho vùng xung quanh Chính sự ô nhiễm và thay đổi môi trường theo hướng tiêu cực ở đây đã tác động ngược lại làm cho việc nuôi tôm trên cát phát triển không bền vững
2.3 Tác động :
2.3.1 Tác động của thoái hóa đất :
Hậu quả nghiêm trọng nhất của thoái hóa đất ở nước ta là làm mất khả năng sản xuất của đất, cạn kiệt tài nguyên động thực vật và giảm đất nông nghiệp trên đầu người
đến mức báo động Trên 50% diện tích đất đồng bằng, trên 60% diện tích đất đồi núi đã
đang và sẽ còn phải đối mặt với các thách thức lâu dài về môi trường
Những tác động tiêu cực chủ yếu ở vùng đồi, núi đến môi trường đất là xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua dần, thoái hóa hữu cơ, khô hạn và sa mạc hóa, đất trượt, lũ quét, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, đất mất khả năng sản xuất
Những thách thức chủ yếu về môi trường đất vùng đồng bằng là : ngập úng, ngập
lũ, phèn hóa, mặn hóa, ô nhiễm, xói lở bờ sông, bờ biển Do sự phát triển mạnh mẽ của
đô thị hóa công nghiệp hóa, các cơ sở hạ tầng và sức ép tăng dân số nên diện tích đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm
2.3.2 Tác động của suy thoái môi trường nước :
Trang 24Tình trạng thiếu nước vào mùa khô, ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, nước và trầm tích ven biển, ven bờ, trên 50% dân số nông thôn chưa được cấp nước sạch đã tác động to lớn đến sản xuất và đời sống của cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam
2.3.3 Tác động của lĩnh vực lâm nghiệp và chế biến lâm sản :
Nhà nước chủ trương khống chế khai thác gỗ rừng tự nhiên hàng năm 300.000 m3(1998 - 2010) đã không đáp ứng nhu cầu thị trường về tiêu dùng gỗ và sản phẩm từ gỗ làm cho gỗ đắt giá thêm và kích thích khai thác trái phép
Việc khuyến khích phát triển thủy sản ở vùng rừng ngập mặn, tự do hóa thương mại đã ngầm thúc đẩy khai thác quá mức lâm sản dẫn tới cạn kiệt tài nguyên rừng Chu kỳ sinh trưởng các cây rừng dài, chậm thu hồi vốn, nhiều rủi ro, người đầu tư không muốn tự bỏ vốn để kinh doanh lâm nghiệp
Các hộ sản xuất lâm nghiệp, đa số đều nghèo, trình độ dân trí thấp, thiếu vốn, kiếm việc làm, sống dựa vào rừng là chính nên dẫn đến hiện tượng phá hoại môi trường sinh thái, cháy rừng, diệt môi sinh
Tư tưởng tự túc lương thực trên địa bàn miền núi với nhiều khó khăn sẽ đi vào vòng luẩn quẩn : thiếu lương thực dẫn đến phá rừng làm nương rẫy, môi trường bị hủy hoại, làm tăng tình trạng thiên tai và sản xuất lương thực ngày càng trở nên khó khăn và người dân lại phá rừng nhiều hơn để sản xuất lương thực
Suy thoái tài nguyên rừng dẫn tới suy giảm đa dạng sinh học, xói mòn xạt lở đất, khô hạn, lũ lụt, tăng cường sự tàn phá của gió bão, làm trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm môi trường
2.3.4 Tác động suy thoái đa dạng sinh học :
Hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên bị tác động trong quá trình phát triển kinh tế ở trung du miền núi rừng bị giảm do chuyển sang trồng cây nông nghiệp ở đồng bằng
đất nông nghiệp bị chuyển sang sử dụng cho xây dựng đô thị, khu công nghiệp Dưới mức số lượng nhiều loài sinh vật bị suy giảm do bị ô nhiễm hoặc bị đánh bắt quá mức
Số lượng cá thể bị suy giảm, gia tăng các loài ghi trong sách đỏ
2.3.5 Tác động của nuôi trồng, khai thác chế biến thủy sản :
Nuôi trồng thủy sản vừa chịu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường vừa gây ô nhiễm môi trường nước biển Việc khai thác sử dụng rừng ngập mặn không hợp lý dẫn đến suy giảm nghiêm trọng, nguồn lợ thủy sản ven bờ và phá vỡ cân bằng sinh thái ở vùng nước mặt, nước lợi do khai thác, đánh bắt quá mức dẫn đến cạn kiệt nguồn tôm bố, mẹ
tự nhiên Các trại sản xuất giống thủy sản, nhất là trại tự nhiên đều thải trực tiếp xuống biển gây ô nhiễm môi trường