1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TMĐT thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT

145 433 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề TMĐT Thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Thương mại điện tử
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này có lẽ sẽ cảm nhậnđược tầm quan trọng chiến lược trong việc đạt được, duy trì và tạo ra lợi nhuận thươngmại điện tử; và đưa ra các khái niệm chi phối của chiến lược là một hoạt đ

Trang 1

Chương 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở CÁC NƯỚC ĐANG

PHÁT TRIỂN TÓM TẮT

Chương này cam kết một siêu phân tích của tài liệu được xuất bản về thương mạiđiện tử trong nền kinh tế đang phát triển (DES) Mục đích là để đưa hàng hóa của cáctài liệu, xác định chủ đề nghiên cứu lâu dài, phân loại công việc hiện tại dựa trên cácchủ đề như vậy và xem xét các phương pháp tiếp cận lý thuyết và khái niệm được sửdụng Phân tích này bao gồm 245 bài báo xuất bản từ năm 1993 và 2006 ở 76 tạp chíkhác nhau về thương mại điện tử, hệ thống thông tin, công nghệ thông tin toàn cầu,phát triển và các nước đang phát triển Những phát hiện cho thấy khu vực nghiên cứungày càng tăng nhanh và tương đối tốt-lan qua việc đánh giá tiềm năng thương mạiđiện tử và ứng dụng của nó và các vấn đề thực hiện ở Des Chúng tôi làm cho mộttrường hợp nghiên cứu trong tương lai để tập trung phát triển một viễn cảnh phát triểnrộng rãi các lợi ích thương mại điện tử và sự hiểu biết một chiến lược như thế nào đểđạt được và duy trì những lợi ích này Chương này tổng hợp các nghiên cứu hiện tại vànhư là một bản đồ chỉ đường cung cấp hướng nghiên cứu trong tương lai cho các nhànghiên cứu và các học viên

GIỚI THIỆU

Thương mại điện tử (e-commerce) đã được thảo luận rộng rãi trong các tài liệuhọc tập và học viên Hiện còn nghiên cứu về thương mại điện tử phần lớn tập trungvào các nền kinh tế phát triển (Pani & Agrahari, 2004; Bajaj & Leonard, 2004) Tuynhiên, đã có một quan tâm phát triển học thuật trong thương mại điện tử trong việcphát triển nền kinh tế (DES) Những nghiên cứu về thương mại điện tử tại Des là mộtkết hợp của công việc thực nghiệm và không thực nghiệm Họ có sử dụng một sốkhuôn khổ lý thuyết từ các ngành khác nhau như hệ thống thông tin (IS), quản lý vàkhoa học xã hội Một loạt các phương pháp nghiên cứu cũng đã được sử dụng Nghiêncứu nhận ra sự đóng góp bao gồm nhận thức và khung đánh giá khái niệm và kiểm tracác tiềm năng tương đối của thương mại điện tử ở Des và các phương tiện để đạt đượcnhững tiềm năng đó

Trang 2

Do đó chương này đánh giá nghiên cứu trước đây về thương mại điện tử ở Des đểcung cấp một Phân tích biến đổi của các tài liệu được xuất bản và kiểm tra các khuônkhổ lý thuyết và nghiên cứu phương pháp tiếp cận khái niệm cơ bản thương mại điện

tử ở Des Mục tiêu là để xác định những khoảng trống kiến thức hiện tại liên quan đếnviệc ứng dụng các khung và sử dụng những khoảng trống đó để định nghĩ những việcphải làm cho các nghiên cứu trong tương lai Giá trị của tổng như vậy để thúc đẩy kinhdoanh điện tử và thực hành kiến thức đã được thành lập trong một nghiên cứu trước đó(Ngai & Wat, 2002) Tuy nhiên, nghiên cứu trước đó đã hạn chế liên quan đến nộidung, số lượng và ý nghĩa, thúc đẩy công việc hiện tại và đóng góp của chúng tôi có ýđịnh làm thông qua các chương này

Thứ nhất, về bối cảnh, nghiên cứu của Ngai và Wat (2002) tập trung vào

nghiên cứu thương mại điện tử trong nền kinh tế phát triển và đã không có sự quantâm cụ thể để thương mại điện tử ở Des Trong khi có các vấn đề chung và giống nhau,thương mại điện tử ở Des đã mang đặc điểm phong cách riêng của mình và những điều

tra thách thức đáng giá (Molla & Licker, 2005a) Thứ hai, trong thời kỳ truyền tin,

nghiên cứu trước đã phê bình những nghiên cứu thương mại điện tử giữa năm 1993 vànăm 1999 Giai đoạn đầu của thương mại điện tử phát triển như là một sự kiện phithường ngay cả trong các nước phát triển (Petrazzini & Kibati, năm 1999; Rodriguez

& Wilson, 2000) Dấu hiệu cho thấy sự phổ biến và sử dụng (thông tin và công nghệtruyền thông) CNTT-TT trong đó có Internet ở Des tăng lên đáng kể sau năm 2000(ITU, 2006) Hơn nữa, thương mại điện tử đã đạt được nhiều nhà nghiên cứu chú ý với

sự giới thiệu của các tạp chí mới như: Tạp chí Nghiên cứu Thương mại điện tử vàonăm 2000, Nghiên cứu Thương mại điện tử vào năm 2001, Tạp chí Thương mại điện

tử trong các tổ chức trong năm 2003, và hệ thống thông tin các tạp chí khác mà ưu tiên

cho DES Thứ ba, về nội dung, các nghiên cứu của Ngai và Wat (2002) tập trung vào

một phân tích định lượng về các vấn đề giải quyết bởi các nhà nghiên cứu thương mạiđiện tử mà không có sự giải thích thấu đáo về các khuôn khổ lý thuyết và phương pháptiếp cận khái niệm được sử dụng

Do đó một khoảng cách tri thức tồn tại trong tài liệu xem xét bởi các nhà nghiêncứu và học viên về nghiên cứu thương mại điện tử ở Des Nhiều công ty và Chính

Trang 3

phủ ở Des tìm cách áp dụng và lập ra sự đổi mới này, sự cần thiết phải xem xét nhưmột phát triển cho rằng nó có thể cung cấp một cái nhìn tổng quan ứơc lượng tronggiải quyết những vấn đề , các giải pháp lý thuyết và thực tế cho thấy, và phương pháp

sử dụng để đạt được những giải pháp Hơn nữa, bản chất động lực của các hiện tượngnhấn mạnh sự cần thiết cho các nhà nghiên cứu và các học viên để thường xuyên xemxét - và nếu cần thiết - xác định lại trọng tâm và cách tiếp cận để nghiên cứu, đặc biệt

là trong mối quan hệ với bối cảnh của DES

Chương này, trả lời, cam kết xem xét lại các tài liệu về thương mại điện tử ở Desxuất bản ở 76 tạp chí từ năm 1993 đến năm 2006 đánh giá được chia thành bốn phần.Phần đầu trình bày khái niệm của chúng ta về thương mại điện tử, giải thích cơ chếphân loại áp dụng cho nghiên cứu này Phần thứ hai tập trung vào các phương phápnày nghiên cứu, giải thích cách tổng quan tài liệu đã được thực hiện Phần thứ ba trìnhbày những phát hiện và đánh giá trong khuôn khổ lý thuyết và phương pháp tiếp cậnkhái niệm áp dụng trong nghiên cứu còn tồn tại Nó cũng xác định những khoảng trốngkiến thức cho một phần nghiên cứu tương lai Phần cuối tóm tắt những phát hiện trongchương này và thiết lập các biện minh, độc đáo và hướng nghiên cứu trong tương lai

I KHUNG PHÂN LOẠI

Bất kể "e" và "thương mại" được xây dựng vào nó, thuật ngữ "thương mại điệntử" đã được khái niệm trong rất nhiều cách khác nhau mà hiện nay rất khó để sử dụng

nó một cách trung lập (Ngai & Wat, 2002) Các nhà nghiên cứu, hướng dẫn của kháiniệm của họ về thương mại điện tử, đã được điều tra các vấn đề khác nhau Ví dụ, tạimột phiên họp đặc biệt của năm 1998 Hội nghị Thương mại điện tử Quốc tế tại Bled,Slovenia, một nhóm 56 doanh nghiệp và lãnh đạo chính phủ tạo ra 174 vấn đề nghiêncứu cho thương mại điện tử, từ kỹ thuật cao để định hướng theo chủ đề quản lý(Bauer & Glasson, 1999) Trong một cách làm tương tự, một cuộc khảo sát của cộngđồng thế giới IS vào đầu năm 2000 bởi Benbasat, Ives, Piccoli và Weber (2000) xácđịnh được 140 câu hỏi nghiên cứu, được nhóm lại thành chín lĩnh vực nghiên cứu đangphát triển thương mại điện tử mở rộng công nghệ, cá nhân, tổ chức , xã hội và kinh tế

Để hiểu được sự phát triển và hướng của thương mại điện tử nghiên cứu ở Des, nó làcần thiết để có một khung phân loại và phân tích mạnh mẽ giúp trong việc " nhận thức

và phân tích tiếp theo sau” (Zwass, 1998)

Trang 4

Trong chương này, chúng ta định nghĩa thương mại điện tử là việc chia sẻ thôngtin kinh doanh, duy trì các mối quan hệ kinh doanh, và tiến hành các giao dịch kinhdoanh bằng phương tiện của các mạng viễn thông (Zwass, 1996) Điều này bao gồmgiao dịch hỗ trợ thương mại điện tử bao gồm cả các tổ chức, cá nhân (Akel & Phillips,2001)

Chuyển từ định nghĩa này, chúng ta có thể đưa ra một tổng quan về các đề tàinghiên cứu trong các tài liệu về thương mại điện tử tại Des:

• Phần lớn tài liệu - đặc biệt là các tài liệu trước đó trong khoảng thời gian xemxét lại - được đặc trưng bởi dự đoán về tiềm năng của thương mại điện tử ở Des và mô

tả các khó khăn mà DES đã phải vượt qua để nhận ra tiềm năng của thương mại điện

tử Sau đó, một số công trình đã tập trung vào các vấn đề của nền kinh tế sẵn sàngđánh giá (Mann, 2000, UNCTAD, năm 2002; Pare, 2003) Do đó, chúng tôi cho rằnghoạt động trên tiềm năng và những hạn chế của thương mại điện tử đại diện cho mộttrong những chủ đề lâu dài của thương mại điện tử ở nghiên cứu Des

• Một chủ đề thứ hai là lâu dài của sự áp dụng và phổ biến thương mại điện tử.Trong chủ đề này, nghiên cứu đã tập trung vào một số vấn đề mở rộng trong năm lĩnh

vực của sự áp dụng ,tức là, công nghệ, quản lý, tổ chức, môi trường, và ngữ cảnh - và

tương tác của họ (Xu, Zhu & Gibbs, 2004; Molla & Licker, 2005b)

• Sự thành công của thương mại điện tử thông qua phụ thuộc vào một loạt cácvấn đề thực hiện như chiến lược, sẵn sàng tiêu dùng điện tử, và hỗ trợ từ các nhà pháttriển thương mại điện tử và chính sách công (Ngãi & Wat, 2002) Do đó, hỗ trợ vàthực hiện có thể được coi là một chủ đề lâu dài thứ ba của thương mại điện tử nghiêncứu ở Des

Trên cơ sở thảo luận ở trên và có sự tham khảo các công trình trước (Wigand, năm1997; Ngai & Wat, 2002), khung phân loại được hiển thị trong hình 1 là phát triển đểhướng dẫn việc phân tích trong chương này Trong các điều tra mỗi chủ đề trong Hình

1 và các vấn đề được xác định theo họ, các công trình trước đó cũng đã dựa vào một số

lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Đối với từng vấn đề, chúng tôi sẽ xác định vàthảo luận về các lý thuyết hay khái niệm phương pháp tiếp cận thống trị đã được sửdụng trong phân tích thương mại điện tử

Trang 5

Trước tiên, chúng tôi có thể chỉ dẫn giải thích mỗi một trong những chủ đềnghiên cứu và các vấn đề liên quan xác định

1.1 Lợi nhuận tiềm năng và sự hạn chế

a Cơ hội: tài liệu có lập luận cho những lợi ích tiềm năng của thương mại điện tử

ở Des, được xem là quan điểm lạc quan của thương mại điện tử (Moodley & Morris,2004) Lợi ích bao gồm giảm chi phí giao dịch và gia tăng cơ hội tham gia trongthương mại quốc tế và tiếp cận thị trường mới

b Đánh giá: tài liệu là đánh giá những hạn chế để thực hiện thương mại điện tử ở

Des Đây được xem là quan niệm bi quan, chống lại toàn bộ khái niệm về lợi nhuậntiềm năng của thương mại điện tử ở DEs, định hướng câu hỏi nhận thức và biểu thịtheo kinh nghiệm cho lời đề nghị của quan điểm lạc quan (Pare, 2003) Nó cũng baogồm các ấn phẩm mà cụ thể địa chỉ e-sẵn sàng của DES ở cấp quốc gia

c Phát triển: tài liệu , mà cụ thể bao gồm các tác động của thương mại điện tử để

phát triển kinh tế xã hội ở Des Điều này có thể được coi là hiệu quả cao hơn để đạtđược những lợi ích tiềm năng của thương mại điện tử

Trang 6

Hình 1 Khung Phân loại

1.2 Sự áp dụng và phổ biến

a Công nghệ: tài liệu là địa chỉ của áp dụng và phổ biến các yếu tố công nghệ

thương mại điên tử Chúng bao gồm khả năng tương thích với cơ sở hạ tầng hiện

có, phức tạp, dễ sử dụng, và tính hữu dụng của công nghệ thương mại điện tử

Chiến lượcThuộc về việc sắp xếp và công nghệThuộc về quốc gia và vùng quản lýThái độ người tiêu dùng

Thiết kế và sự phát triểnĐánh giá phục vụ

Chính sách cộng độngHợp phát, an ninh, trách nhiệm và thuếKiến thức và việc học tập

Cơ hội

Sự đánh giá hạn chế

Sự phát triển

Công nghệ họcViệc quản lýViệc tổ chứcVăn hoáMôi trườngViệc tác động qua lại

Tiềm năng và

Sự hạn chế Sự áp dụng và Sự phổ biến

Thương mại điện tử trong DEs

Hỗ trợ và thực hiện

Trang 7

b Việc quản lý: tài liệu là địa chỉ của áp dụng và phổ biến các yếu tố quản lý của

thương mại điện tử Chúng bao gồm các sáng chế của các nhà quản lý, tầm nhìn chiếnlược và ra quyết định, và top năng lực quản lý kiến thức và cam kết

c Việc tổ chức: tài liệu là địa chỉ của áp dụng và phổ biến các yếu tố quyết định

của thương mại điện tử nằm trong bối cảnh nội bộ của tổ chức Chúng bao gồm tổchức sáng chế, sẵn sàng, phân biệt chức năng, và rủi ro (Molla & Licker, 2005b)

d Văn hóa: tài liệu là địa chỉ của áp dụng và phổ biến các yếu tố văn hóa của

thương mại điện tử Chúng bao gồm ngôn ngữ, giá trị, và các thuộc tính từ kích thướcvăn hóa của Hofstede : khoảng cách quyền lực, cá nhân, tập thể, bối cảnh (cao vàthấp), không chắc chắn tránh, định hướng dài hạn và nam tính (Bin, Chen và Sun,2003)

e Môi trường: tài liệu là các địa chỉ của áp dụng và phổ biến các yếu tố môi

trường của thương mại điện tử Đây là bên ngoài đối với các tổ chức bao gồm cả sựsẵn sàng của các cơ sở thể chế và áp lực bên ngoài từ các đối thủ cạnh tranh, các đốitác kinh doanh và công nghiệp

f Việc tác động qua lại: tài liệu là địa chỉ thông qua các yếu tố liên quan đến

nhau của thương mại điện tử và khuếch tán nằm trong bối cảnh nội bộ và bên ngoàicủa tổ chức Những bao gồm một sự kết hợp của các yếu tố được liệt kê ở trên

1.3 Hỗ trợ và thực hiện

Thể loại này bao gồm các ấn phẩm đó bao gồm hỗ trợ và thực hiện những vấn đềảnh hưởng đến thể chế của thương mại điện tử sau khi thông qua Điều này được chiathành sáu tiểu mục các vấn đề thích hợp giải quyết bằng các ấn phẩm này:

a Chiến lược: tài liệu về các chiến lược làm việc của các tổ chức, ngành công nghiệp

và các quốc gia nhằm giải quyết những thách thức của thương mại điện tử và đạt đượcnhững lợi ích tiềm năng của thương mại điện tử Ở cấp độ tổ chức, các ấn phẩm nàythảo luận và đánh giá chiến lược vượt qua thương mại điện tử áp dụng để xác địnhnghĩa của thể chế hóa và thương mại điện tử nhúng vào các quá trình tổ chức để đạtđược các lợi nhuận Ở cấp quốc gia tiềm năng của nó, các ấn phẩm này thảo luận vàđánh giá chiến lược cho phép các nước đang phát triển để xây dựng một cơ sở hạ tầng

Trang 8

thương mại điện tử toàn diện để hỗ trợ chiến lược tổ chức và có khả năng tác động đếnphát triển đất nước.

b Hành vi người tiêu dùng: tài liệu về các vấn đề liên quan đến hành vi của người

tiêu dùng trong việc sử dụng thương mại điện tử.Chúng bao gồm mua sắm trực tuyếnhành vi và thái độ của khách hàng và người tiêu dùng

c Thiết kế và sự phát triển: tài liệu về kỹ thuật thiết kế và phát triển các vấn đề liên

quan đến việc thực hiện thương mại điện tử Chúng bao gồm các chức năng / tính năngcung cấp và các công cụ phát triển kỹ thuật và các thành phần được sử dụng trong việcphát triển Các trang web và cổng thương mại điện tử

d Dịch vụ đánh giá: văn học để đánh giá các dịch vụ cung cấp bởi tổ chức đánh giá

chất lượng thông qua thương mại điện tử.Chúng bao gồm dịch vụ của ngân hàngInternet và sự hài lòng của khách hàng các dịch vụ của các trang web

e Chính sách công cộng: tài liệu bao gồm thuế, pháp lý, và sự tin tưởng và an ninh

các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thương mại điện tử Tin tưởng, quyền sở hữu vàchính sách thương mại và các thoả thuận đã được phát triển để đáp ứng các tiêu chuẩnquốc tế, trong khi cộng hưởng với lợi ích trong nước và hỗ trợ thị trường xuất khẩu vàdịch vụ (Singh & Gilchrist, 2002, tr 35-39) Ngoài ra, trong nhiều DES, cụ thể chínhsách thương mại điện tử là cần thiết để tạo thuận lợi cho thương mại điện tử đặc biệt làliên quan đến tính hợp pháp của tài liệu điện tử, chữ ký điện tử và các giao dịch điệntử

f Kiến thức và học tập: tài liệu về các mối quan hệ giữa quản lý tri thức và thương

mại điện tử ở Des Điều này cũng bao gồm các tài liệu về thương mại điện tử, giáodục, giảng dạy, học tập và chương trình giảng dạy, mà ảnh hưởng đến thể chế củathương mại điện tử sau khi thông qua

II PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu này được dựa trên một cuộc khảo sát của tạp chí từ một sự đa dạngcủa các ngành có liên quan đến thương mại điện tử nghiên cứu ở Des Hội nghị cácgiấy tờ, thạc sĩ và luận văn tiến sĩ, sách giáo khoa, giấy tờ làm việc chưa được công

bố, và bình luận và đánh giá của cuốn sách đã được loại trừ Các số liệu là nguồn phụthuộc vào 2 phương pháp Đầu tiên, 8 tờ tạp chí thương mại điện tử và 6 tạp chí IS tập

Trang 9

trung vào các vấn đề công nghệ thông tin toàn cầu (CNTT) sự phát triển và DEs(Bharati & Tarasewich, năm 2002; Lowry, La Mã & Curtis, 2004) Đã được lựa chọn

và cá nhân tìm kiếm năm này qua năm khác (xem danh sách dưới đây) Thứ hai , bàiviết có liên quan cũng đã được trưng cầu bằng cách tìm kiếm chín cơ sở dữ liệu, cụ thể

là ABI-Thông báo (ProQuest), ACM Digital Library, EBSCO Premier Nguồn kinhdoanh, EmeraldFulltext, GoogleScholar, IEEE Khám phá, M-Lit Online Thư mục cơ

sở dữ liệu, Science Direct, và SwetsWise

Để quyết định xem có hay không có bao gồm một bài phân tích của chúng tôi,chúng tôi tìm kiếm các trích dẫn / tóm tắt với bốn từ khoá - [điện tử, thương mại,thương mại điện tử, hoặc thương mại điện tử và thương mại Internet], và các văn bảnđầy đủ với hai từ khoá - ( quốc gia phát triển, hoặc nước đang phát triển] Toàn văn bàiviết cũng được xem xét để loại bỏ những người đó không liên quan tới thương mạiđiện tử ở Des Từ tìm kiếm này, 245 bài viết về thương mại điện tử trong Des từ 76bài tạp chí là khác nhau và phân tích dựa trên khung phân loại được mô tả ở trên.Phụ lục Hai cho thấy sự phân bố các bài báo của tạp chí

ĐƯA RA KẾT LUẬN 2.1 Mô tả kết quả

Bảng 1 cho thấy số lượng và tỷ lệ phần trăm của tổng số bài báo được xuất bảnchỉ trong top tám tờ tạp chí thương mại điện tử /IS và trong sáu tạp chí IS với trọngtâm toàn cầu Mười bốn tạp chí được lựa chọn đóng góp gần 50% tổng số các bài báotrên tạp chí – 120 từ tổng số 245 xem xét Mặt khác, chúng ta cũng có thể thấy rằngphần lớn của thương mại điện tử ở DE nghiên cứu (tức là 75%) được xuất bản bênngoài thương mại điên tử /IS các tạp chí hàng đầu Điều này có thể phản ánh sự nonnớt của các nghiên cứu về thương mại điện tử ở Des – ví dụ, một thiếu chất lượng và

sự chặt chẽ, hoặc có thể là một mô hình của báo cáo bình thường và những hạn chếkích thước trong các tạp chí hàng đầu Ngược lại, sự hiện diện của hơn 60 bài viết vềchủ đề này trong vòng tám tạp chí hàng đầu có thể được dùng như là một dấu hiệu của

sự công nhận tầm quan trọng của nó Có lẽ phản ánh sự thừa nhận chung của các chủ

đề trong số các tạp chí hàng đầu,người ta có thể thấy rằng – trái với mong đợi ban đầucủa chúng ta – không có sai lệch rõ ràng đối với sáu “toàn cầu IS” bài tạp chí Trong

Trang 10

tất cả, sau đó, tác giả đang nghiên cứu phổ biến tương đối đồng đều giữa thương mạiđiện tử và tạp chí toàn cầu IS

Phân tích như vậy chỉ ra rằng trong năm đầu ưu tiên để xuất bản tạp chí thươngmại điện tử ở Des nghiên cứu được thị trường điện tử, EJISDC, Tạp chí Quản lý thôngtin toàn cầu, Tạp chí Công nghệ thông tin toàn cầu quản trị và Nghiên cứu Thương mạiđiện tử Cùng năm này chiếm 33% các tạp chí của xuất bản phẩm Một cách cũng cóthể mất điều này như một hướng dẫn để xuất bản trong tương lai liên quan đến mức độquan tâm và chấp nhận thương mại điện tử trong các bài nghiên cứu Des

Bảng 1: Lựa chọn các bài báo để xem xét

Top các tạp chí thương mại

điện tử

Số bài viết IS tạp chí tập trung vào các vấn

đề CNTT toàn cầu, DES và Sự

Tạp chí điện tử thông tin

Hệ thống trong nước đang pháttriển

Tạp chí Quản lý thông tin toàncầu

Tạp chí Quản lý Công nghệ

Công nghệ thông tin cho Pháttriển

Công nghệ thông tin & Conngười

Công nghệ thông tin & Hệthống thông tin phát triển quốctế

Tổng cộngCác tạp chí khác

Trang 11

Hình 2 cho thấy sự phân bố các bài báo của năm 1993-2006 Nó củng cố thêmkhẳng định trước đó của chúng tôi là sự khuếch tán và sử dụng ICT ở Des phần lớn làmột bài 2000 hiện tượng

Xu hướng chung là tăng trưởng mạnh mẽ từ cuối những năm 1990, đặc biệtmạnh trong thế kỷ 21, không nghi ngờ gì là nghiên cứu sau các khuếch tán của côngnghệ thực tế phát triển nền kinh tế Bản chất dường như không đồng đều của các công

bố mới nhất được giải thích bởi việc xuất bản một tập các vấn đề đặc biệt mà đã cómột sự bao gồm cụ thể của thương mại điện tử ở DE phẩm – chẳng hạn như chợ điện

tử (Volume 14, cấp 1), Thương mại điện tử Nghiên cứu (Tập 4 Số 3), Tạp chí Quản lýthông tin toàn cầu (Tập 12 Số 1), Tạp chí Thương mại điện tử trong các tổ chức (Tập 2Phát hành 2)

Như một hướng dẫn để công bố trong tương lai, điều này cho thấy rằng tác giả đặc biệt

có thể tìm ra những vấn đề đặc biệt tập trung vào thương mại điện tử ở Des, phát triển,hoặc toàn cầu hóa nhiều như họ tìm cách xuất bản trong các vấn đề thường xuyên

Bảng 2: Phân bổ các bài báo bằng các phương pháp nghiên cứu

Khảo sát

Nghiên cứu tình huống

Phân tích Nội dung

Phân tích dữ liệu lưu trữ

Trang 12

nghiên cứu thực chứng về truyền thống trong thương mại điện tử tại nghiên cứu Des –

là một xu hướng chiếm ưu thế hơn nghiên cứu IS

2.2 Phân tích phân loại

Hình 3 cho thấy sự phân bổ của các bài viết của các đề tài nghiên cứu Nó chứng minhrằng nghiên cứu đã còn tồn tại đặc biệt tương đối tốt, trải dài trên ba đề tài nghiên cứuxác định

Tóm tắt bởi đề tài Nghiên cứu Thương mại điện tử

Trong phần này, thông tin chi tiết sẽ được cung cấp trên một trong 3 đề tài nghiêncứu , bao gồm cả xác định của một số các bài báo quan trọng, "tiểu chủ đề" của họ và /khung lý thuyết về khái niệm mà họ sử dụng điều này sẽ cung cấp một sự hiểu biếtlớn hơn tập trung cho nghiên cứu thương mại điện tử ở Des, và cũng là một hướng dẫncho các khái niệm tiêu biểu

Chủ đề 1: Tiềm năng và hạn chế

Bảng 3 cho thấy các khuôn khổ lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu cácvấn đề liên quan đến đánh giá các cơ hội thương mại điện tử và đánh giá các lợi íchthương mại điện tử sau khi thực hiện Trọng tâm chính đã được lợi ích của thương mạiđiện tử để Des ở cấp công ty, đặc biệt trong việc làm giảm các chi phí giao dịch công

ty và cơ hội ngày càng tăng ở Des để tham gia vào thương mại quốc tế và các thịtrường tiếp cận mới Hiện đã có công việc tương đối nhỏ cho đến nay những lợi íchtiềm năng vẽ ra một mức độ cao hơn, để hiểu thương mại điện tử có thể tác động thếnào đến quá trình sự phát triển rộng lớn của kinh tế xã hội Các lý thuyết và khungkhái niệm đã củng cố công tác này là lý thuyết chi phí giao dịch và sự hiểu biết về kháiniệm tiếp thị (Pare năm 2003; Moodley & Morris, 2004) Các nghiên cứu(Wood, 2004; Madon, 2000) tập trung vào thương mại điện tử và phát triển xem xét lạicác lý thuyết phát triển, tư tưởng và cách tiếp cận để đề xuất một sự hiểu biết kháiniệm về cách thức phát triển có thể đạt được

Trang 13

Bảng 3: Chủ đề chi phối lý thuyết trong "tiềm năng và hạn chế"

X

XXX

X

XX

X X X X

XX

đề rộng lớn hơn ở một mức độ cụ thể quản lý, tổ chức và rộng hơn Hai khung việc chấp nhận mô hình công nghệ (TAM), và sự khuếch tán của đổi mới lý thuyết - đãđược đặc biệt sử dụng để cung cấp nền tảng để làm việc này Đến một mức độ nàothấp hơn, khuôn khổ văn hoá và lý thuyết về hành vi của kế hoạch / lý luận hành động

chính-đã được sử Ngoài ra còn có các khuôn khổ tổng quát hơn như "lớp" mô hình củacông nghệ-môi trường tổ chức

Chúng tôi có thể giải thích điều này để nói rằng, thương mại điện tử ở Des nghiên cứuxung quanh sự áp dụng và phổ biến nói chung được khái niệm khá tốt - làm việc trên

Trang 14

hai phụ khác-chủ đề thường xuyên hơn sẽ được thay một khái niệm- Nhưng khái niệmnày có xu hướng theo các khái niệm "tiến trình chinh phục” giống như IS và thươngmại điện tử nghiên cứu nói chung Có ít, nếu có,có dấu hiệu bối cảnh độc đáo vànhững vấn đề phải đối mặt với thương mại điện tử ở Des tạo ra những ý tưởng sángtạo khái niệm.

Bảng 4: Chủ đề chi phối lý thuyết trong “sự áp dụng và phổ biến”

X X X

X X

XX

X

X X X X X X X X X X X X

X X

X

X

X X X X

Trang 15

Van Slyke et al

X

XXX

X

X X

X X X

11(4%)

XXXX

10(4%)

10(4%)

XXX

X

27(11%)

XXX

X X X X X

X

XX

Key: TC: Technology; MG: Managerial; OG: Organizational; CL: Contextual; EV: Environmental; IN: Interactional: TAM: Technology Acceptance Model; DOI: Diffusion of Innovation Theory; TOE: Technology-Organizational-Environment Framework; HOF: Hofstede’s Cultural Framework; TPB: Theory of Planned Behavior; TRA: Theory of Reasoned Action

Trang 16

đề Một loạt toàn bộ các vấn đề đã được phủ kín, với một ý thức về số đông chỉ thực

sự được tạo ra xung quanh chiến lược thương mại điện tử Điều này có lẽ sẽ cảm nhậnđược tầm quan trọng chiến lược trong việc đạt được, duy trì và tạo ra lợi nhuận thươngmại điện tử; và đưa ra các khái niệm chi phối của chiến lược là một hoạt động trướchoc quản lý (tức là đầu) trong phổ biến thương mại điện tử

Các phạm vi bảo hiểm hạn chế của nghiên cứu tiểu mục giống như hành vi củangười tiêu dùng, đánh giá dịch vụ, và kiến thức và học tập có lẽ có thể là một sự phảnánh của sự trưởng thành của thương mại điện tử ở Des, định hướng chiếnlược của công ty in DEs (nhu cầu của họ) và / hoặc thiếu các kỹ năng để phát triển vàquản lý liên quan ứng dụng thương mại điện tử

Khung lý thuyết chi phối bởi đến nay là lý thuyết nguồn lực nền tảng (RBT) củacông ty Như với các chủ đề khác, khái niệm này lấy từ các lĩnh vực rộng lớn hơn ám

từ đó thương mại điện tử nghiên cứu rút ra; quản lý đặc biệt là chiến lược của hệ thốngthông tin.Nó không phản ánh lợi ích kỷ luật là bối cảnh nền kinh tế đang phát triển đặcbiệt có thể áp đặt

Trang 17

Tham khảo

OE

N/A

x

x

xx

x

X X X x

x x

X x x

x x x

(24%)

8 (3%)

8 (3%)

11 (4%)

11 (4%)

5 (5%)

Key: STR: Strategy; CB: Consumer Behavior; DD: Design and Development; SEV: Service Evaluation; PP: Public Policy; KL: Knowledge and Learning; RBT:

Resource-Based Theory; INT: Internationalization Theories; AES:

Trang 18

Adaptation-Evolution Strategies of Firms; PNC: Porter’s National Diamond of Competitive Advantage; PFC: Porter’s Five Forces Model; TAM: Technology Acceptance Model; TOE: Technology-Organizational-Environment

Framework; HOF: Hofstede’s Cultural Framework; N/A: None or Not Available

III THẢO LUẬN

Trong phần này, chúng tôi xem xét nghiên cứu để cập nhật về thương mại điện tửtrong việc phát triển nền kinh tế (DES) bản vẽ với một số nội dung nghiên cứu chính

và kết quả theo ba chủ đề xác định

3.1 Tiềm năng và hạn chế

Thương mại điện tử, như một CNTT-TT khác nhau, đã được coi là một trong nhữngcâu trả lời đóng góp vào nhiệm vụ rõ ràng của nền kinh tế đang phát triển và phát triển(UNCTAD, 2001, 2002) Nhà nghiên cứu và học viên đã thảo luận một số lợi ích tiềmnăng của thương mại điện tử ở Des Thường xuyên có xu hướng, giảm chi phí giaodịch có xu hướng được các lợi ích nhấn mạnh và cũng tạo cơ sở lợi ích tiềm năng khácnhau của thương mại điện tử Các cuộc tranh luận về thương mại điện tử tại Des cónên tìm cách giải thích, khám phá và đưa ra bằng chứng cho và / hoặc đối với tiềmnăng của thương mại điện tử trong việc làm giảm các chi phí liên quan với các giaodịch trên thị trường Kết quả là, lý thuyết chi phí giao dịch là lý thuyết phổ biến nhấtđược sử dụng trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đánh giá các cơ hộ và đánhgiá các lợi ích của thương mại điện tử sau khi thực hiện

Chi phí giao dịch, mô tả là "các chi phí điều hành một hệ thống"

(Williamson, 1985,trang 19), bao gồm hai loại chi phí: chi phí điều phối và chi phí động lực diễn viên (chi phí trình bày ) (Garicano & Kaplan, 2001; Milgrom & Roberts, 1992 là trích dẫn tại Pare, 2003) Phối hợp đòi hỏi chi phí tìm kiếm sản phẩm, dịch vụ, người bán, và người mua; đàm phán và bảo đảm việc tuân thủ hợp đồng và sau thỏa thuận hợp đồng, do đó tất cả thông tin và chi phí truyền thông liên quan trước, trong và sau khi giao dịch (Benjamin & Wigand, năm 1995; Wigand, Picot , &

Reichwald, 1997, trang 19) Chi phí điều phối có thể được phân loại là (et al Wigand.Năm 1997; Wigand, 1997): "(1) tìm kiếm sản phẩm, dịch vụ, người bán, và người

Trang 19

mua; (2) đàm phán và thực hiện hợp đồng; (3) đảm bảo điều khoản hợp đồng được đápứng, và (4) thích nghi với những thay đổi hợp đồng trong khi Nhiệm kỳ của hợp đồng

"(Pare, 2003, trang 124) Chi phí Nam diễn viên là những động lực phát sinh từ khôngđầy đủ hoặc không đối xứng thông tin và cam kết không hoàn hảo, làm ảnh hưởng đếnquyết định, giám sát thực hiện,thực thi các cơ chế phù hợp, và do đó dẫn đến việc mấthợp đồng và tranh chấp hợp đồng (Milgrom và Roberts, năm 1992; Pare,2003)

Những người đề xuất nhận thức được những lợi ích của thương mại điện tửphát triển quốc gia - những người có thể chỉ định là "thương mại điện tử lạc quan'(Moodley & Morris, 2004) - cho rằng các công ty tìm cách tham gia vào các giao dịchtiết kiệm chi phí điều phối (Williamson,1981 ; Malone, Yates, và Benjamin, 1987) Họthừa nhận rằng tất cả các công ty DE có Một sự lựa chọn tiềm năng của việc kinhdoanh điện tử bằng cách tích hợp ICT vào các quá trình kinh doanh Họ cho rằng việcchấp nhận và thực hiện thương mại điện tử có thể sắp xếp và tích hợp chặt chẽ quytrình giao dịch, và cho phép các công ty có tiềm năng giảm các chi phí liên quan thoảthuận trước và sau hợp đồng (Malone et al., 1987, trang 484) Thương mại điện tử làtranh luận để tạo ra một nền tảng cho hiệu quả hơn giữa các công ty giao dịch thươngmại, trong đó các ràng buộc của các trung gian giao dịch và khoảng cách giữa ngườimua và người bán là tương đối loại bỏ (Moodley, 2002a, trang 5) Các tập hợp củanhững người tham gia kinh doanh như người mua, nhà cung cấp,người bán, nhà sảnxuất và người tiêu dùng trong thương mại mở ra trên thị trường và / hoặc các lợi íchthương mại cung cấp trực tiếp sản phẩm, dịch vụ một đa dạng và giá lợi nhuận có thểhẹp hơn Điều này cũng góp phần làm giảm chi phí giao dịch trong việc tìmkiếm, trung gian và truyền thông (Bakos, năm 1991; UNCTAD,2001, tr 111-113).Trong giao diện của thương mại điện tử lạc quan (Goldstein & O 'Connor, năm 2000;Mann năm 2000; UNCTAD, năm 2001; 2002; Ngân hàng Thế giới, năm 2001; WTO,1998), các công ty ở Des được cơ hội Tham gia vào thương mại quốc tế và truy cậpmới và lớn hơn các thị trường toàn cầu Những lợi ích này bao gồm cải thiện tiếp cậnthông tin đầy đủ và kịp thời như nhu cầu tiềm năng, hải quan quy định và hạn chếnhập khẩu (WTO năm 1998; Moodley và Morris, 2004)

Trang 20

Mặt khác, một số còn tồn tại các nghiên cứu và nghiên cứu thực nghiệm ở cácnước đang phát triển, (Chircu & Kaufman, năm 1999; Kraut, Steinfield, Chan, Butler

& Hoag, năm 1999; Steinfield, Kraut & Plummer, năm 1995; Steinfield, Kraut &Chan, 2000; Pare, 2003) câu hỏi thực tế của lợi ích thu được từ thương mại điện tử.Mặc dù không hoàn toàn chống lại các khái niệm về những lợi ích tiềm năng củathương mại điện tử ở Des, thiết lập này của các quan điểm hay mệnh đề từ "thươngmại điện tử bi quan '(Moodley & Morris,2004) câu hỏi bằng chứng về khái niệm vàkinh nghiệm cho các mệnh đề của quan điểm lạc quan Họ lập luận rằng lợi ích đượcnhận thức xuất phát từ một quan điểm tính quyết định công nghệ của ICT (Chi &Nor, 2005) Quan điểm như vậy - cho rằng những người bi quan - xem xét thương mạiđiện tử như là một bộ "các đơn vị kỹ thuật 'hay thậm chí là' hiện vật hoặc các thiết bịđơn giản '(Sein and Harindranath, 2004) - các phương tiện để đạt được điều gì đó, vàkhông nhận ra sự phức tạp của các thuộc tính công nghệ của họ liên quan đến việc sửdụng của họ; đặc biệt của họ sử dụng ở các nước đang phát triển (Kling, năm 1999;Pare, 2000) Những người bi quan cũng cho rằng khái niệm kỹ thuật trung tâm củathương mại điện tử không đánh giá cao "tầm quan trọng của các thủ tục và quy trìnhcũng như các động thái liên quan đến giao dịch" (Pare, 2003, trang 125) Như vậyThương mại điện tử lạc quan được , thấy có một cái nhìn tương đối hẹp của chi phígiao dịch, không để nhận ra những gắn kết của thương mại điện tử trong "hệ thống cácđấu trường liên quan đến nhau (xã hội, kinh tế, văn hóa và công nghệ thi đấu)" có tácđộng trên mỗi khác (Heeks & Wilson, 2000, p.408) và, mà trong thực tế, nên có thểhạn chế được những lợi ích thu được từ thương mại điện tử trong một bối cảnh pháttriển

Trước tiên, hãy xem xét lý thuyết chi phí giao dịch Như đã giải thích trước

đó, nó bao gồm hai loại chi phí: chi phí động lực phối hợp và diễn viên Quan điểm lạcquan thường tập trung vào giảm chi phí điều phối và do đó không để lộ ra những tháchthức tiềm năng có thể phát sinh từ chi phí động lực diễn viên trong các ngữ cảnh củaDES Nói chung, đối mặt với những thách thức công nghệ DES, kinh tế, lập pháp vàvăn hóa hạn chế việc áp dụng thương mại điện tử và cung cấp các lợi ích thương mạiđiện tử (Mbarika & Okoli, năm 2003; Bajaj & Leonard, 2004) Ví dụ:

Trang 21

• Mbarika và Okoli (2003) trong việc đánh giá những thách thức thương mạiđiện tử ở tiểu vùng Sahara Châu Phi, lưu ý tình trạng kém phát triển của các hệ thốngthanh toán điện tử và người tiêu dùng thích hoạt động bằng tiền mặt hơn là việc kiểmtra và dùng thẻ tín dụng; một nền văn hóa thị trường của thương lượng và nhìn thấycác sản phẩm trước khi mua, và sự tồn tại của tham nhũng và gia đình trị các cấp của

xã hội mà ảnh hưởng cả ICT cơ sở hạ tầng và các chi phí và quy trình giao dịch

• Todaro và Smith (2003) thu hút sự chú ý đến sự vắng mặt hoặc điểm yếutương đối của hệ thống pháp luật mà thực thi hợp đồng và quy tắc có hoàn trả vốn vay

Hệ thống pháp luật kém làm tăng nguy cơ và làm giảm sự tự tin và cam kết trong giaodịch điện tử và các mối quan hệ kinh doanh

• Frempong và Stark (2005) xác định thiếu cơ sở hạ tầng viễn thông và các

dịch vụ cần thiết mà có thể tạo điều kiện truy cập Internet và khả năng chi trả vượt rangoài khu vực thành thị đến các vùng nông thôn trong việc phát triển nền kinh tế, do

đó hạn chế thương mại điện tử triển khai.

• Thể chế bắt ép làm cho quá trình phối hợp phức tạp và tốn kém, vì thế bấtđối xứng thông tin được tạo ra, các nhà cung cấp / người bán hàng đã tiếp cận thịtrường thu hẹp, và người mua có một sự lựa chọn hạn chế của các sản phẩm và dịch vụ(Le, 2002, p.114) Với thương mại điện tử nhúng vào trong bất kỳ bối cảnh thể chế,trong đó nó được thực hiện, hạn chế như vậy sẽ lần lượt tác động đến thành tích các lợiích thương mại điện tử

• Thương mại điện tử cơ bản về thông tin,nhưng các nền kinh tế đang pháttriển bị hạn chế thông tin Như vậy, Milgrom và Roberts (1992, trang 32) lưu ý rằngviệc thiếu thông tin đầy đủ và có liên quan và khả năng tiếp cận kịp thời và tác động tiêu cực vào sự cam kết tổng thể ra quyết định và trong việc đàm phán và thực hiện hợp đồng

Ngoài những khó khăn nội bộ, tham gia vào thương mại quốc tế mang về nhữngthách thức khác cho các công ty DE Chúng bao gồm các tính không co dãn của cungcầu trong thị trường hàng hóa thế giới, đáp ứng xuất khẩu đa dạng và tiêu chuẩn sảnphẩm của các điểm đến xuất khẩu, kinh doanh thực hiện những điều không lành mạnh

từ các trợ cấp của sản phẩm ở một số nền kinh tế phát triển, và tăng khả năng trong

Trang 22

khả năng tiếp cận với thị trường địa phương Des của các công ty trong nền kinh tế pháttriển đã mang về bằng thương mại điện tử (Todaro và Smith, 2003, p 575; Molla &Taylor, 2006) Tất cả những vấn đề này làm cho nó khó khăn hơn nhiều cho các công

ty DE để đạt được lợi ích từ thương mại điện tử, nói riêng bởi vì họ phải đối mặt với

những thách thức cũng nằm ngoài phạm vi cá nhân của họ hành động Không có sự

cạnh tranh chống lại tiềm năng của thương mại điện tử để giảm chi phí tìm kiếm ngườimua, người bán và nhà cung cấp.Tuy nhiên, để giảm các loại chi phí giao dịch, thươngmại điện tử phải được đi kèm với các dịch vụ để cải thiện thông tin thị trường diễn

ra, để đủ điều kiện và xác minh tham gia thị trường (người mua, người bán, các nhàcung cấp và người tiêu dùng), để đảm bảo tuân thủ hợp đồng,và hợp lý hóa các hoạtđộng offline như vận chuyển và giao hàng Các nghiên cứu còn sinh tồn đã nhấnmạnh rằng việc giảm chi phí giao dịch tương đối của vẫn không thể đạt được nếukhông có sự thành lập dịch vụ bao gồm cả "các cơ chế thanh toán quyết toán / bảohiểm, hệ thống hậu cần, kiểm tra, chứng nhận chất lượng và thủ tục hải quan " cùngvới thương mại điện tử (Pare, 2003, trang 125) Các thể chế của Des làm cho việc cungcấp các dịch vụ này cần thiết một thách thức lớn và do đó bóp nghẹt lợi ích thươngmại điện tử Họ ngăn chặn các công ty DE từ sự tham gia có hiệu quả với thương mạiđiện tử và / hoặc họ buộc các công ty thành - Thường là bất bình đẳng - quan hệ đối

tác với những người chơi thiết lập

Thứ hai, tập trung duy nhất vào phương pháp giao dịch làm cho các công ty

DE đánh mất những lợi ích chiến lược tiềm năng để đạt được thông qua truy cập đượccải thiện thông tin Các nghiên cứu còn tồn tại trong thương mại điện tử cho thấy chủyếu ứng dụng thương mại điện tử được sử dụng bởi các công ty ở Des là e-mail, đểduy trì liên lạc với người mua và để chấp nhận các đơn đặt hàng sản phẩm; và cáctrang Web, để có được thông tin chung về đầu vào và thị trường sản phẩm.Các ứngdụng này góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận bằng cách giao tiếp giảm- chi phí-điện thoại (ITC, 2001; McCormick & Kinyanjui, năm 2002; Moodley &Morris,2004) Một cuộc khảo sát của các nhà xuất khẩu hàng may mặc ởBangladesh, Philippines, và Sri Lanka do TradeCenter Quốc tế (ITC, 2001) cho thấyrằng e-mail đã được ứng dụng chỉ được sử dụng bởi các doanh nghiệp này DE và nhất

Trang 23

chưa bao giờ sử dụng Internet để tìm kiếm các nhà cung cấp mới Các doanh nghiệpnày có xu hướng nhận ra nhiều lợi ích hơn hoạt động - sức mạnh tổng hợp hoạtđộng, kịp thời, và giảm chi phí hoạt động - đó chuyển thành lợi ích thông tin - truyềnthông và cải thiện các mối quan hệ - và lợi ích tương đối chiến lược bao gồm cả lòngtrung thành và duy trì các đối tác thương mại và doanh thu được cải thiện Nhữngthông tin và chiến lược lợi ích tiềm năng có thể trở thành một động lực lớn cho cáccông ty Des thông qua thương mại điện tử khác ngoài chỉ tập trung duy nhất về giảmchi phí giao dịch và tiếp cận thị trường tăng lên Trong thực tế, những nghiên cứutương tự và khác xuất hiện mâu thuẫn với những mệnh đề chính đề xuất bởi thươngmại điện tử lạc quan và thay cho những hiểu biết về lợi ích tiềm năng khác mà cáccông ty DE và có thể làm được tìm kiếm từ thương mại điện tử.Trong khi có xu hướngkhông phù hợp giữa thương mại điện tử hùng biện và khả năng công nghệ thông tinthực tế của các công ty DE, việc sử dụng e-mail cho công ty liên lạc, xử lý thông tin và

để quản lý và hỗ trợ kinh doanh và các mối quan hệ song phương giữa kinh doanh hiệntại và các kênh đối tác , nhấn mạnh những lợi ích chiến lược tiềm năng có thể đượctích luỹ (Moodley & Morris, 2004, trang 171).Ngoài ra, điều này sử dụng đặc tính củathư điện tử để tăng cường mối quan hệ với các đối tác kinh doanh chứng minh giá trịcông ty DE có xu hướng đưa các mối quan hệ xã hội và hệ thống trong thương mại(Rauch, 2001) Nghiên cứu trước đây đã nhấn mạnh rằng mối quan hệ "vật chất" giữacác cá nhân có xu hướng ảnh hưởng đến chất lượng của Sở giao dịch điện tử và giaodịch - trong một số trường hợp các giao dịch điện tử đã được giới hạn chỉ tồn tại trướccác mối quan hệ kinh doanh "vật chất" (Kraut và cộng sự, 1999.).Bằng cách xem xétvai trò quan trọng của mối quan hệ xã hội trong giao lưu kinh tế thương mại, DE cáccông ty dường như là việc áp dụng các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin phùhợp như thư điện tử để tạo ra giá trị như vậy bằng cách thiết lập mối liên kết giữa các

cá nhân và tin cậy với các đối tác thương mại Việc này góp phần vào những lợi íchchiến lược của các công ty DE có thể đứng để có được từ thương mại điện tử Chi phí giao dịch lý thuyết có thể cung cấp sự hiểu biết về các lợi ích tiềmnăng của thương mại điện tử , kinh doanh điện tử ở Des Nó cũng cung cấp cái nhìnsâu sắc vào một số điều kiện tiên quyết như hỗ trợ các dịch vụ như hệ thống thanh

Trang 24

toán, hệ thống pháp lý và hậu cần cần thiết cho việc tạo ra những lợi ích này, nhưngnhững gì nó thực sự không làm là quy định các giải pháp cho các công ty DE để đốiphó với khó khăn về thể chế của họ hoặc thậm chí các chiến lược để điều hướng xungquanh họ và đạt được lợi ích thương mại điện tử Một khoảng cách tồn tại giữa mộtkiến thức hiểu biết về lợi ích của thương mại điện tử để DES và cần thiết chiến lược và

áp dụng giải pháp của các công ty DE để di chuyển quanh các khó khăn về thể chế vàthách thức trong bối cảnh kiến thức Kiến thức của họ đang được tìm kiếm không phải

là một bó khung khái niệm xác định những gì các công ty Des nên làm,nhưng nhiềuhơn một sự hiểu biết về lý thuyết và thực tế căn cứ theo định hướng của điện tử thươngmại ở Des và làm thế nào nó có thể đạt được

Thứ ba, chúng tôi xây dựng trên các lưu ý trước đó nghiên cứu về thươngmại điện tử ở Des có cho đến nay cho biết rất ít về những lợi ích thương mại điện tử cóthể góp phần phát triển kinh tế xã hội rộng lớn hơn (Heeks, 2000; Akel &Phillips, 2001; Wood, 2004) Sự liên kết giữa thương mại điện tử và phát triển đãđược tập trung hơn vào những lợi ích các công ty nước phát triển có thể rút ra từ pháttriển thương mại điện tử Tuy nhiên, số lượng ngày càng tăng của các công ty nướcđang phát triển thực hiện các giải pháp thương mại điện tử giữa các ràng buộc quốc gia(Montealegre, năm 2002; Wresch, năm 2003; Garica-Murillo,2004) nhấn mạnh sự cầnthiết phải nghiên cứu để thiết lập những đóng góp vĩ mô của các sáng kiến như vậytrong nước đang phát triển - ở cấp độ cộng đồng ngành và quốc gia, Điều này trở nêntất cả các quan trọng hơn cho rộng hơn "CNTT-TT cho phát triển" (ICT4D) chuyểnđộng và đầu tư, mà cụ thể nhu cầu tìm hiểu vai trò của công nghệ mới trong phát triểnquốc tế

Tóm lại, hai lỗ hổng kiến thức cụ thể nổi lên từ phân tích của tài liệu hiện hành.Thứ nhất, cần phát triển một viễn cảnh rộng lớn hơn về lợi ích tiềm năng của thươngmại điện tử Điều này đòi hỏi phải di chuyển vượt ra ngoài quan điểm chi phí giao dịch

để xác định chiến lược và thông tin lợi ích khác của thương mại điện tử mà các công tytrong DES có thể đạt được, và di chuyển vượt quá mức độ tác động thứ hai công ty đểđặt hàng

Trang 25

Khoảng trống thứ hai tập trung vào sự cần thiết phải phát triển một sự hiểu biết về lýthuyết và thực tế căn cứ theo định hướng bằng cách nào các công ty ở DEs có thể giảiquyết hoặc di chuyển quanh các khó khăn về thể chế và thách thức trong bối cảnh của

họ để đạt được các lợi ích thương mại điện tử xác định

3.2 Sự áp dụng và phổ biến

Nghiên cứu tập trung vào chủ đề này nghiên cứu đã tìm hiểu sự phổ biến của thươngmại điện tử như là một sự đổi mới bằng cách xác định các yếu tố phân biệt áp dụngthương mại điện tử từ không áp dụng hoặc tại công ty khu vực, cấp / ngành côngnghiệp cấp, hoặc cấp quốc gia Phổ biến là "quá trình xã hội mà phương pháp thôngqua các kênh nhất định theo thời gian giữa các thành viên của một hệ thống xã hội"(Rogers, 1995) Nghiên cứu cho đến nay về chủ đề này chủ yếu được trong các hìnhthức nghiên cứu trường hợp về sự phổ biến của thương mại điện tử ở các nước cụ thể(Chen & Ning, năm 2002; Travica, 2002) hoặc đã thực hiện một trọng tâm đặc biệt vềthương mại điện tử áp dụng tại công ty , khu vực hoặc cấp ngành công nghiệp (Kamel

& Hassan, năm 2003; Gunasekaran & Ngãi, năm 2005; Molla và Licker 2005b) Trong thời hạn tất cả các nghiên cứu này,một số khuôn khổ lý thuyết và khái niệm đãđược sử dụng để kiểm tra việc phổ biến của thương mại điện tử vào ngữ cảnh DE Bagiả thuyết chính – sự áp dụng của phương pháp, lý thuyết về hành vi của kế hoạch, và

lý thuyết về hành động hợp lý - có xu hướng củng cố công tác này, bao gồm cả việc sửdụng mô hình chấp nhận công nghệ (Ure, năm 2002; Al Sukkar & Hasan, 2005).Những khuôn khổ cộng với những người ở mức độ quản lý rộng hơn, tổ chức và môitrường sẽ được xem xét để xác địn phương tiện mà các công ty ở Des có thể vượt quakhó khăn và hưởng lợi từ thương mại điện tử

3.2.1 Thông qua khung công nghệ

Sự áp dụng khung công nghệ là những địa chỉ các yếu tố liên quan đến việc ápdụng và phổ biến công nghệ của thương mại điện tử ở các cấp độ cá nhân.Chúng baogồm việc áp dụng và phô biến mô hình công nghệ (TAM) và các lý thuyết sáng tạo(DOI) TAM đã được sử dụng bởi cả hai viện nghiên cứu và học viên như là mộtphương tiện dự đoán mức độ thành công của một hệ thống, có hoặc không có hệ thốngđược sử dụng (Morris & Dillion,1997) Lý thuyết này đã được xây dựng bởi Davis

Trang 26

(1985) từ các học thuyết về lý luận hành động (TRA) (Ajzen & Fishbein, 1980), là một

"súc tích, mô hình đáng tin cậy và hợp lệ để dự đoán sự chấp nhận người sử dụng"(Kamel & Hassan,2003, trang 5) Theo Tâm, mức độ chấp nhận của công nghệ nào là

cơ bản bị ảnh hưởng bởi những nhận thức của người sử dụng dễ sử dụng và hữu ích.Dựa trên bằng chứng thực nghiệm, TAM lập luận rằng tăng sự dễ dàng cảm nhận sửdụng (PEOU) của một công nghệ hữu dụng của nó sẽ làm tăng nhận thức (PU) vàchuyển thành một ý định hành vi tăng (BI),từ đó dẫn đến sự chấp nhận công nghệ cao(Kamel và Hassan, 2003) Vì vậy, PU là tương đối không đủ cho con nuôi hoặc sửdụng - việc xin nhận con nuôi hoặc người sử dụng cũng phải có một thái độ tích cựcđối với nó (Cloete, Courtney & Fintz, năm 2002; Thương, Chen & Shen, 2004)

Tuy nhiên, nghiên cứu khác (Davis, Bagozzi & Warshaw, năm 1989;Châu, 1996) cũng khẳng định rằng "Ảnh hưởng của PEOU trên PU giảm theo thờigian, người tiêu dùng trở nên thông thạo với hệ thống mục tiêu " (Kamel &Hassan, 2003, trang 5) Các nhà nghiên cứu Do đó lập luận rằng khái niệm này có liênquan trong việc giải thích một số vấn đề về thái độ của người dùng và ý định hướng tới

sử dụng công nghệ đặc biệt là ở các ban đầu giai đoạn triển khai các công nghệ, mà là

xu hướng được im lặng về các ngữ cảnh ảnh hưởng như văn hóa

Trong một nghiên cứu về sự phổ biến của ngân hàng điện tử ở Ai Cập, Kamel vàHassan (2003) sử dụng mô hình công nghệ chấp nhận để nghiên cứu mức độ chấpnhận của khách hàng của công nghệ thương mại điện tử Các tác giả giới thiệu mộtbên ngoài thuộc tính, tin tưởng, mà đối với ngân hàng điện tử và các kênh phân phối

và văn hóa bối cảnh Ai Cập, đã có một ảnh hưởng tiềm năng về khách hàng chấp nhận.Nghiên cứu cho thấy trong khi nó là cần thiết để cung cấp cho khách hàng một đề xuấtgiá trị thuyết phục để có được của họ mục tiêu mục tiêu, các ngân hàng cũng đã cungcấp "Dễ sử dụng công cụ công nghệ đáng tin cậy và kênh giao hàng"và thích ứng vớicông nghệ này để địa phương giá trị và văn hóa của xã hội (Kamel Và Hassan, 2003, tr18) Điều này hỗ trợ các điểm chỉ cần thực hiện là TAM cung cấp một sự hiểu biết

về tầm quan trọng của PEOU và PU là cơ bản yếu tố quyết định thông qua côngnghệ,nhưng nó dường như không đủ giải thích tất cả theo các ngữ cảnh đa dạng ảnh

Trang 27

hưởng có thể xuất phát từ vấn đề như tin tưởng, các giá trị và sự áp dụng văn hóatrong hoàn cảnh khác nhau.

Trong một nghiên cứu khác, Kamel và Hussein (2004) được sử dụng phổ biếncủa sự đổi mới (DOI) lý thuyết bên cạnh TAM để đánh giá sự ra đời của Internet như

là một nền tảng cho thương mại và kinh doanh phát triển tại khách sạn King ở AiCập Theo DOI (Rogers, 1983), các ảnh hưởng chính trên hành vi người dùng chấpnhận là tương đối thuận lợi, phức tạp, tính tương thích, khả năng thử nghiệm và khảnăng quan sát (Anh, Duẩn, Fu và Li, 2006).Nghiên cứu cho thấy sự thiếu cơ sở hạtầng đầy đủ trong ngành ngân hàng để xử lý thanh toán trực tuyến hạn chế đặt phòngtrực tuyến để đặt phòng e-mail Như ưu đãi, như giảm giá 10% cho mỗi phòng, Đượckết hợp để thúc đẩy e-mail đặt phòng, chiếm tỷ lệ tăng đáng mặc dù nguy cơ liên quanđến đặt phòng chưa được thực hiện Mặt khác, việc giới thiệu các đặt phòng trựctuyến khuấy động một số đối kháng trong số các nhân viên; Ví dụ, sự mất mát của một

số hoa hồng trênmột phần của quản lý bán hàng đã đủ để tạo ra phe đối lập để đặtphòng trực tuyến Cũng có một sự thiếu năng lực nguồn nhân lực cần thiết bằng tiếngAnh, trong sự hiểu biết về đặt phòng hệ thống, và trong phái máy tính cơ bản.Đầu quản lý đã phải nghỉ mát để thực hiện hệ thống đặt phòng trực tuyến cùng vớihướng dẫn sử dụng hệ thống đặt phòng, các trợ lý dùng về đặt phòng trực tuyến, và trảtiền hoa hồngvới người quản lý bán hàng, ngay cả đối với trực tuyến đặt phòng, chosáu tháng đầu tiên (Kamel & Hussein, 2004) Mặc dù những vấn đề này phải đối phóvới sự kém hiểu biết về lợi ích của tích hợp Internet với kinh doanh của khách sạn quytrình, nó mang đến cho ánh sáng phản đối thông qua đó có thể xảy ra nhận thức khitiêu cực hoặc được giải quyết mối quan tâm của tổ chức các thành viên và quản lýhàng đầu

Việc áp dụng các DOI cho thấy một đơn tập trung vào PEOU và PU là không đủtrong việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ sự phức tạp và tính tương thích củathương mại điện tử với công việc ưa thích thực hành và các công nghệ hiện có trong

DE thiết lập Những công nghệ thông qua các khuôn khổ cung cấp một sự hiểu biếtcông nghệ theo định hướng các thuộc tính như PEOU, PU, và khả năng tươngthích thương mại điện tử là động lực chính để nuôi con nuôi.Nhưng họ có xu hướng

Trang 28

đặc biệt tập trung vào đổi mới và không giải quyết các khác quản lý hành vi, tổ chứcmột denvironmental ảnh hưởng tạo thuận lợi hoặc cản trở việc nhận con nuôi Có Do

đó, cần phải xem xét các thuộc tính như đề xuất ở đây cùng với những ảnh hưởngkhác có thể tạo điều kiện cho nhận con nuôi ban đầu của thương mại điện tử trong cácnước đang phát triển

3.2.2 Thông qua khung Quản lý và tổ chức

Những địa chỉ các khuôn khổ quản lý và việc áp dụng các yếu tố quyết định củathương mại điện tử nằm trong bối cảnh nội bộ của tổ chức The King Hotel trường hợpnổi bật một ví dụ về việc áp dụng thương mại điện tử là một phần hỗ trợ của các kiến thức và kỹ năng quản lý hàng đầu,sáng chế của họ, và giá trị cảm nhận chiến lược của

họ về thương mại điện tử Những thuộc tính này củng cố lời giải thích thông qua đổimới như lập luận bởi khuôn khổ quản lý và tổ chức Grandon và Mykytyn (2004) sửdụng Lý thuyết của Azjen của kế hoạch hành vi (TPB) để phát triển một công cụ dựatrên lý thuyết để đo ý định thông qua thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp nhỏ(trong Chile) Các lý thuyết, đó cũng là thành lập và đã được chứng minh trong vănhọc IS giải thích và dự đoán hành vi quản lý 'ý định (Mykytyn & Harrison, 1993) làmột mở rộng của lý thuyết Lý do hành động mà đưa ra giả thuyết hành vi "đó bị ảnhhưởng bởi ý định của một cá nhân để thực hiện các hành vi trong câu hỏi "(Grandon &Mykytyn, 2004, p 45) Như vậy, hành vi của việc áp dụng thương mại điện tử (baogồm cả thể chế có thể), chịu ảnh hưởng của các ý định sử dụng thương mại điện tử Trước đây, Azjen (1991) trong việc giải thích TPB thừa nhận rằng, "ý định đượccho là nắm bắt được các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi" (trang 181) Các yếu

tố xác định ý định của cá nhân là thái độ đối với các hành vi (A), các chỉ tiêu chủ quan(SN) và hành vi nhận thức Kiểm soát (PBC) Thái độ đối với hành vi liên quan đếnmức độ "mà một người có thuận lợi hoặc không thuận lợi đánh giá hành vi trong câuhỏi” (Grandon và Mykytyn, 2004, trang 45) :

• Thái độ liên quan đến nhận thức của cá nhân của hành vi, giá trị chiếnlược thương mại điện tử và thông qua Cloete et al (2002) của bản nghiên cứu vềthương mại điện tử thông qua giữa các doanh nghiệp nhỏ ở phương Tây Tỉnh Nam Phinhấn mạnh điều này động cơ thúc đẩy nhân tố, trong lập luận rằng con nuôi thương

Trang 29

mại điện tử là "phụ thuộc nặng nề vào chấp nhận thương mại điện tử của doanhnghiệp chủ sở hữu "(trang 4) Sự chấp nhận này cũng được phụ thuộc vào trình độ củachủ sở hữu của máy tính đọc, viết và mức độ hiểu biết về ứng dụng công nghệ trongquá trình kinh doanh

• Chỉ tiêu chủ quan liên quan đến "các cảm nhận áp lực xã hội để thực hiệnhoặc không thực hiện các hành vi "(Grandon & Mykytyn, năm 2004,p 45) Trongthương mại điện tử một trong những có thể xem xét này như áp lực từ đối thủ cạnhtranh (trực tiếp hoặc gián tiếp), xã hội sẽ biểu trong công ty chẳng hạn như bán hànghoặc phòng ban CNTT và đầu trang quản lý, và sẽ biểu xã hội bên ngoài các công tygiống như đồng nghiệp trong ngành, hoặc chính phủ và hùng biện và thương mại điện

tử cuộc tranh luận từ các học giả, các học viên và các phương tiện truyền thông

• PBC liên quan đến nhận thức của cá nhân về thực tế là có tồn tại "những trởngại cá nhân và tình huống để thực hiện hành vi" (Grandon & Mykytyn, 2004,p.45) Tổ chức các thuộc tính mà có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng thương mại điện

tử có thể bao gồm sáng chế, xu hướng chấp nhận rủi ro, chính thức hóa, phân biệtchức năng và chuyên môn (Damanpour, 1991) Rotchanakitumnuai và Speece (2003)của bản nghiên cứu về các rào cản đối với ngân hàng thông qua Internet giữa cáckhách hàng doanh nghiệp tại Thái Lan đã xác định rằng rào cản giữa các tổ chứckhông chấp nhận bao gồm việc thiếu các nguồn lực công nghệ và tài chính, thái độ tiêucực của quản lý (thiếu sự hỗ trợ của họ và ít nhận rủi ro xu hướng), và sự thiếu nhậnthức của người quản lý kiến thức Nhận thức của người quản lý về sự sẵn sàng tổ chứcnội bộ của họ áp dụng thương mại điện tử phản ánh PBC của họ

Việc áp dụng các TPB cung cấp một cơ sở lý luận cho việc xem xét các thuộc tínhquản lý và tổ chức trong thương mại điện tử thông qua Các nghiên cứu khác nhưCloete et al.(2002) và Khalfan và Alshawaf (2004) kết luận chia sẻ tương tự mặc dùcác TPB đã không được sử dụng trong nghiên cứu.Cloete et al

nghiên cứu s (2002) "về thương mại điện tử áp dụng trong các doanh nghiệp nhỏ tạicác tỉnh Miền Tây của Nam Phi lưu ý rằng hầu hết các doanh nghiệp nhỏ là rất thậntrọng và do dự trong việc áp dụng thương mại điện tử kể từ khi họ nhận thức được lợiích không liên quan hoặc không thích hợp để tổ chức của họ và, hơn nữa, vì áp lực

Trang 30

(chủ quan chỉ tiêu) để hiển thị hoàn vốn đầu tư (Iacovou, Benbasat, và Dexter, năm1995; Akkeren & Cavaye, 1999) Nghiên cứu xác định đặc điểm tổ chức là các hànhcông việc ưa thích tổ chức và trình độ công nghệ hiện có, và áp lực từ đối thủ cạnhtranh kinh doanh; và đặc điểm theo ngữ cảnh như liên quan đến sự sẵn sàng của các cơ

sở thể chế, và sự sẵn sàng của công nghệ, quy phạm pháp luật, kinh tế,chính trị, và cơ

sở văn hóa xã hội để hỗ trợ thương mại điện tử Trong thực tế, ý định của nhà quản lý

áp dụng thương mại điện tử do đó sẽ mạnh mẽ hơn nếu có một thái độ thuận lợi hơn(cảm nhận giá trị chiến lược) và chỉ tiêu chủ quan (bên ngoài áp lực) đối với các hành

vi, và một nhận thức lớn hơn kiểm soát hành vi (tổ chức sẵn sàng) (Azjen, 1991).Những gì cần thiết là xác định các biện pháp làm tăng sự sẵn sàng nội bộ của tổ chức

và trang bị cho họ với cái nhìn chiến lược để giải quyết những ảnh hưởng trong môitrường

Tuy nhiên, mặc dù TPB quản lý để xem xét những quan điểm khác cơ bản củathương mại điện tử thông qua, nó không cung cấp các phương tiện chiến lược để cóhiệu quả thể chế thương mại điện tử và khai thác lợi ích của nó Do đó chúng tôi tiếptục tìm kiếm các kiến thức đó

3.2.3 Thông qua khung môi trường và văn hóa

Những khung địa chỉ áp dụng và phổ biến các yếu tố môi trường và văn hóa củathương mại điện tử Một số môi trường hoặc bên ngoài (cho tổ chức) ảnh hưởng đãđược đề cập trong các cuộc thảo luận ở trên bao gồm cả sự sẵn sàng của các tổ chức,sẵn sàng của các cơ sở thể chế, áp lực từ đối thủ cạnh tranh và sẽ biểu xã hội như

"thương mại điện tử lạc quan và bi quan 'ngành, nghiệp, công nghiệp và / hoặc chínhphủ các chính sách, và chính sách thương mại liên quan và các quy định có liên quanđến thương mại quốc tế Singh và Gilchrist (2002) đề xuất một khuôn khổ ba lớp củanhững thách thức thương mại điện tử trong cả nước phát triển và đang phát triển nhưbao gồm sự sẵn có của cơ sở hạ tầng, sẵn có của các dịch vụ thương mại (tương tự nhưdịch vụ hỗ trợ hậu cần và thảo luận theo lý thuyết chi phí giao dịch), và tintưởng Chính phủ của DES phải làm việc trong quan hệ đối tác với các công ty trongnước để giải quyết trong những thách thức này Trong điều kiện của cơ sở hạ tầng, nhucầu cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản và truy cập Internet gia tăng và khả năng chi

Trang 31

trả Với dịch vụ thương mại, phát triển và mở rộng các dịch vụ hậu cần và cơ sở hạtầng là cần thiết, thủ tục xuất khẩu phải được sắp xếp hợp lý và nguồn nhân lực cầnthiết đã được phát triển.

Với niềm tin, quyền sở hữu và chính sách thương mại và các thoả thuận đã được pháttriển để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, trong khi kết hợp lợi ích trong nước và hỗ trợthị trường xuất khẩu và dịch vụ (Singh & Gilchrist, 2002, trang 35-39)

Mbarika và Okoli (2003) quyết các vấn đề tương tự trong một khuôn khổ mà họphát triển để đánh giá thương mại điện tử ở tiểu vùng Sahara Africa.Họ lập luận rằngChâu Phi hạ Sahara là một trong ít nhất là nghiên cứu Các bộ phận của thế giới đối vớicác công nghệ thông tin và IS-liên quan nghiên cứu.Các khuôn khổ khái niệm pháttriển từ các tác phẩm của Zwass (1996), Wolcott,báo chí, McHenry, Goodman andFoster (2001) và Travica (2002) đánh giá thương mại phổ biến trong ba khu vực chính:tinh tế của viễn thông Internet, sử dụng / môi trường Internet, và các cơ sở hạ tầngthương mại truyền thống Một đóng góp lớn được thực hiện bởi khuôn khổ so vớicác khuôn khổ thảo luận trước đây là xem xét các vấn đề văn hóa và chính trị có ảnhhưởng đến thương mại điện tử thông qua ở tiểu vùng Sahara châu Phi, bao gồm cả tìnhtrạng kém phát triển của điện tử hệ thống thanh toán, và sự tồn tại của tham nhũng vàgia đình trị Những vấn đề này, như trước đây giải thích: hiện nay đa dạng những tháchthức trong thương mại điện tử áp dụng với các nước ở Châu Phi hạ Sahara Họ cũng -không giống như nhiều công việc phân tích - mang lại chúng tôi gần gũi hơn với mộtxem xét cụ thể của 'DE' nghiên cứu thành phần của thương mại điện tử-in-DES

Dựa trên các chủ đề liên quan trong những thách thức trong tiểu vùng Saharachâu Phi,Bajaj và Leonard (2004) các vấn đề đánh giá và giải pháp có thể của chính

sách, văn hóa và công nghệ (CPT) trong việc thúc đẩy thương mại điện tử sẵn sàng:

• Với văn hóa, những thách thức ở Des như đã đề cập trước đó là sự tintưởng giữa các bên trong một giao dịch và sự tin tưởng của các bên trong tổ chức củanền kinh tế có thể cai trị một giao dịch, tham nhũng (bao gồm cả gia đình trị) trong cácgiao dịch vi mô (hối lộ) và bên trong tổ chức (lại quả và thưởng phạt bất hợp pháp), và

ưu đãi cho các mô hình truyền thông về mặt đối mặt tương tác (trong đó tạo điều kiện

Trang 32

cho sự tương tác xã hội nhiều hơn) so với những hạn chế xã hội tương tác được cungcấp bởi thương mại điện tử

• Chính sách những thách thức liên quan đến cả hai nói chung thương mại vàchính sách thương mại và các chính sách cụ thể để thương mại điện tử Trong thời hạnnhiều Des cụ thể chính sách thương mại điện tử là cần thiết đặc biệt là liên quan đếntính hợp pháp của điện tử tài liệu, chữ ký điện tử và giao dịch điện tử

• Công nghệ xem xét mức độ thách thức cơ sở hạ tầng công nghệ và conngười nguồn lực của các kỹ năng cần thiết và chuyên môn

Bajaj và Leonard (2004) lập luận rằng điều quan trọng để nhận ra mối tươngquan giữa các kích thước của những thách thức thương mại điện tử để xác định các

giải pháp thực tế cho họ Ví dụ, chính sách có thể ảnh hưởng văn hóa như là luật bảo

vệ người tiêu dùng được thông qua và thực hiện đúng cưỡng chế để tăng sự tin tưởng

và giảm mối quan tâm về bảo mật của các giao dịch trực tuyến.Chính sách và côngnghệ có thể ảnh hưởng đến văn hóa khi luật pháp được thiết lập cho tất cả thương mạiđiện tử thương nhân sử dụng các công nghệ an toàn như Secure Socket Layer (SSL)hoặc ký quỹ thanh toán như PayPal cho các giao dịch Việc thi hành quy định này vớinhững hình phạt nghiêm trọng có thể giúp giảm tham nhũng và gia tăng mức độ tincậy Tìm hiểu về các mối quan hệ có xu hướng tobe quan trọng trong việc xây dựngcác giải pháp cho thương mại điện tử những thách thức (Bajaj & Leonard, 2004) Với một sự nhấn mạnh thêm về văn hóa, trước Studiesusing Hofstede quốc giavăn hóa Kích thước (Hofstede, 1985, 1991) lập luận rằng nền văn hóa với khoảng cáchquyền lực lớn hơn - nhiều hơn hệ thống phân cấp giữa các thành viên - sẽ phải đối mặtkhó khăn hơn khi giao dịch trên Internet (Văn Slyke; Belanger, & Sridhar , 2005; Bajaj

& Leonard, 2004) Chúng bao gồm các quốc gia Ả rập, Mexico, và Tây Phi Đối vớiviệc thực hiện có hiệu quả của một sáng kiến thương mại điện tử, cao cấp các thànhviên của hệ thống phân cấp phải hiểu hoặc được cam kết sáng kiến này Trước CNTT-kinh doanh kiến thức và sự hiểu biết về quản lý đầu hoặc lãnh đạo của một tổ chức do

đó sẽ là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với việc thông qua và quá trình alization

tổ chức

Trang 33

Ngoài ra, các nước có trình độ của cá nhân thấp hoặc với văn hóa giao tiếp giữa các

cá nhân giàu như Ấn Độ và Tây Phi xem xét đối mặt tobe tương tác phần thiết yếu củatruyền thông Trong bối cảnh như vậy, cá nhân hoặc các mối quan hệ xã hội có nhiềukhả năng ảnh hưởng đến giao dịch điện tử.Ví dụ ở Ấn Độ, một số thương nhân kết hợpchức năng xem xét lại sản phẩm trên trang web của họ mà ý kiến của khách hàng đãđược xuất bản Điều này cung cấp người mua tiềm năng bảo đảm rằng họ không phảimột mình và rằng họ thuộc về một gia đình của người mua (Van Slyke et

al, 2005.) Do đó, tạo thành cầu nối giữa các mối quan hệ ảo và vật lý, hoặc phát triểncác ứng dụng thương mại điện tử xung quanh các mối quan hệ xã hội sẽ trở thành mộtxem xét cần thiết

Trong thực tế, những thách thức văn hóa và môi trường mang lại cho tập trungcác vấn đề bên ngoài mà tổ chức đã đối mặt với trong việc áp dụng và có thể thể chếhóa trong thương mại điện tử Nhưng những gì xảy ra nếu tất cả các hạn chế củanhững thách thức này được loại bỏ hoặc giảm và tổ chức vẫn còn thiếu các kiến thức

kỹ thuật, chuyên môn, sáng chế và hiểu biết chiến lược để áp dụng thương mại điệntử? Các quan điểm trên - công nghệ, quản lý, tổ chức và môi trường, mặc dù đã thảoluận một cách riêng biệt, có tương quan với nhau trong việc thúc đẩy hoặc ức chế việc

áp dụng thương mại điện tử trong các tổ chức ở Des

Bất kỳ mô hình có khả năng giải quyết tất cả những quan điểm tương quan vớinhau hay những thách thức phải được toàn diện, sẵn sàng giải quyết vấn đề nội bộ của

tổ chức và sẵn sàng bên ngoài của bối cảnh Tuy nhiên, mục tiêu là không chỉ xác địnhhoặc có được một khuôn khổ bao quát toàn bộ,mà còn để xác định một khuôn khổ màcung cấp một cái nhìn chiến lược trong việc giúp các công ty DE để giải quyết nhữngthách thức hoặc di chuyển quanh các khó khăn để đạt được lợi ích thương mại điện tử

3.2.4 Khung tác động qua lại

Khung tác động qua lại là khung lý thuyết và mô hình khái niệm đó xem xét tất cả cácmệnh lệnh khác nhau và bắt buộc trong xác định quan điểm thông qua các thuộc tínhcủa thương mại điện tử Họ đưa vào tập trung các mối quan hệ giữa tất cả các quanđiểm vào khung năng động,một (Molla & Licker, 2005b), và do đó tìm cách giải thíchmối tương quan giữa ảnh hưởng đến nội bộ trong các tổ chức và ảnh hưởng bên ngoài

Trang 34

trong bối cảnh và sự khác biệt trong hoạt động của các công ty hoạt động trong tìnhhuống giống hệt nhau theo ngữ cảnh (Jarvernpaa & Leidner năm 1998;Montealegre, 1999).

Một tốt được thành lập trong khuôn khổ này Quan điểm là công nghệ-Tổ

chức-Môi trường khung (TOE), được phát triển bởi Tornatzky và Fleischer (1990) như

là một khuôn khổ toàn diện để xác định các yếu tố của sự đổi mới con nuôi Khungnày thừa nhận rằng ba ngữ cảnh; công nghệ, tổ chức và bối cảnh môi trường xác địnhphân biệt đối xử các yếu tố của việc áp dụng của một công nghệ đổi mới

Bối cảnh công nghệ dùng để chỉ các công nghệ trong và ngoài nước có liênquan đến một tổ chức trong việc thúc đẩy quá trình kinh doanh và tạo ra giá trị Điềunày bao gồm những người đang trong nội bộ sẵn có cho công ty của một hình thức sởhữu, và những người được bên ngoài có sẵn trong thị trường bởi một hình thức mualại, mua hoặc thuê

Tổ chức bối cảnh liên quan với các thuộc tính tương tự như mô tả dưới tổchức bắt buộc bao gồm cả chính thức và phức tạp của cơ cấu quản lý, tính sẵn có của nguồn nhân lực cần thiết, và chùng các có sẵn cho các công ty nội bộ tài nguyên.Trongmột tương tựliên quan đến việc bắt buộc về môi trường, bối cảnh môi trường đề cậpđến bên ngoài bối cảnh mà trong đó công ty hoạt động Những ảnh hưởng từ bối cảnhnày bao gồm các áp lực từ đối thủ cạnh tranh và sẽ biểu xã hội, khả năng tiếp cận vàsẵn sàng các nguồn lực được cung cấp bởi các cơ sở thể chế bao gồm cả chính sáchquản lý, kinh tế, công nghệ cơ sở hạ tầng Các mối quan hệgiữa các ngữ cảnh xác địnhcác yếu tố mà phân biệt đối xử chấp nhận từ không chấp nhận (Tornatzky & Fleischer,

1990, tr 152-154)

Xem xét các nghiên cứu về khung TOE bởi Zhu, Kraemer và Xu (2003) chothấy khung được thực nghiệm cũng được thành lập nghiên cứu đổi mới hệ thống thôngtin Trong thời hạn thương mại điện tử, nó đã được sử dụng như là một lýthuyết khuôn khổ cho các nghiên cứu thực nghiệm về áp dụng EDI (Iacovou etal năm1995; Chwelos, Benbasat, & Dexter, năm 2001; Kuan & Châu, 2001) và e-kinhdoanh (Xu và cộng sự, 2004.) Nó như vậy có một chứng minh "rắn Cơ sở lý luận và

hỗ trợ thực nghiệm phù hợp " (Xu và cộng sự, 2004., Trang14) Trong các nghiên cứu

Trang 35

về phát triển các nền kinh tế, khung, hoặc tập trung vào điều tra các yếu tố của sự đổimới trong nhận con nuôi các công ty khác nhau trong một bối cảnh đặc biệt hoặc khácnhau các công ty trong các ngữ cảnh khác nhau.Kuan và Châu (2001) thông qua cáckhuôn khổ TOE trong việc điều tra yếu tố ảnh hưởng việc áp dụng EDI giữa nhỏ kinhdoanh tại Hồng Kông Đối với các yếu tố công nghệ, họ coi là cảm nhận trực tiếp vàgián tiếp lợi ích của EDI; các yếu tố tổ chức tập trung về cảm nhận chi phí tài chính vànhận thức kỹ thuật thẩm quyền, điều này phản ánh sự sẵn sàng của tổ chức; và yếu tốmôi trường được coi là ngành công nghiệp và áp lực chính phủ nhận thức Các nghiêncứu chỉ ra rằng việc áp dụng EDI được ảnh hưởng bởi ba yếu tố với tổ chức sẵn sàng

và áp lực (môi trường) bên ngoài là quan trọng nhất (Kuan & Châu, năm2001; Grandon & Pearson, 2004)

Xu etal (2004) xuyên quốc gia nghiên cứu về kinh doanh điện tử thông qua

các công ty ở Hoa Kỳ và Trung Quốc mang lại kết quả tương đương với của Kuan vàChâu (2001)

Trong nghiên cứu này, công nghệ bối cảnh tập trung vào công nghệ thẩmquyền bao gồm cả việc sử dụng công nghệ e-kinh doanh và sẵn có của các chuyên giaCNTT, các tổ chức xem xét bối cảnh quy mô doanh nghiệp (một kết hợp của tàinguyên lợi thế và quán tính cấu trúc), phạm vi toàn cầu, và doanh nghiệp hội nhập vàmôi trường bối cảnh tập trung vào cường độ cạnh tranh và quản lý môi trường.Nghiêncứu cho thấy là "các công ty chuyển vào các giai đoạn sâu sắc hơn về kinh doanh điện

tử chuyển đổi, các yếu tố quyết định chuyển đổi quan trọng từ công nghệ cơ sở hạ tầng

để tổ chức khả năng "(Xuetal., 2004, p.21) Tổ chức khả năng trở thành quan trọnghơn là tổ chức chuyển từ áp dụng thể chế hóa tổ chức hay hội nhập sâu sắc hơn vềthương mại điện tử

Điều này củng cố thêm những phát hiện từ nghiên cứu King Hotel và thảo luậntrước đây liên quan trong chương này Phụ thuộc vào môi trường kinh tế một số cơ cấubiến như quy mô doanh nghiệp có thể cũng ảnh hưởng đến sự sẵn sàng của tổ chức và

sự phức tạp của con nuôi mà có thể cũng ảnh hưởng đến lợi ích tiềm năng của doanhnghiệp điện tử Ví dụ, trong nghiên cứu đã nhận ra rằng lớn các công ty ở Des có xuhướng có một lợi thế tiềm năng áp dụng và thể chế hóa thương mại điện tử trên các

Trang 36

công ty nhỏ trong bối cảnh tương tự.Điều này là bởi vì, không giống như các công tynhỏ của DES,ảnh hưởng tiêu cực của quán tính cơ cấu sở hữu bởi các công ty lớntrong DES có xu hướng được vô hiệu hóa bởi liên quan của họ nguồn lợi thế Vìvậy, tùy thuộc vào sự sẵn có của nguồn lực cần thiết (bao gồm cả nguồn nhân lực) chothương mại điện tử,quy mô lớn của các công ty tương đối không cản trở thương mạiđiện tử con nuôi Mặc dù các công ty nhỏ có thể được tương đối nhiều khả năng thamgia vào các nỗ lực ban đầu để áp dụng thương mại điện tử (Wresch, 2003), các thể chếhóa của sự đổi mới trong các doanh nghiệp này phụ thuộc vào họ tài nguyên thông tin.Những phát hiện này liên quan đến những người Riquelme (2002), người có kinhnghiệm nghiên cứu so sánh doanh nghiệp sử dụng Internet trong số nhỏ, các doanhnghiệp vừa và lớn ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, mặc dù TOE có vẻ toàn diện mang lại với nhau hầu hết các quanđiểm của thương mại điện tử áp dụng trong khuôn khổ một năng động; các thuộc tínhquản lý được đề cập trong tổ chức yếu tố đó làm cho nó một ít xem xét vì nó cạnhtranh với các thuộc tính chính của tổ chức có ảnh hưởng đến thương mại điện tử.Cácnghiên cứu khác có nên xây dựng dựa trên cơ bản khái niệm về khuôn khổ TOE vàthêm vào quản lý thuộc tính để nghiên cứu áp dụng thương mại điện tử (Grandon &Pearson, 2004) và trong một số trường hợp,cả địa chỉ điện tử sẵn sàng và áp dụngthương mại điện tử (Molla & Licker, 2005b)

Grandon và Pearson (2004) nghiên cứu và các yếu tố xếp hạng mà phân biệt vàchấp nhận không chấp nhận thương mại điện tử trong và nhỏ kích thước trung bình cácdoanh nghiệp trong ngành công nghiệp khác nhau theo đuổi các sáng kiến thương mạiđiện tử tại Chile Trong số tám yếu tố (bao gồm cả TOE) nghiên cứu, các yếu tố quantrọng phân biệt đối xử đã được xếp hạng tổ chức sẵn sàng, quản lý năng suất, áp lựcbên ngoài, viện trợ quyết định, tính tương thích và nhận thức hữu ích Để biện pháp tổchức sẵn sàng họ đã sử dụng sẵn có của tài chính công nghệ, tài nguyên, như được sửdụng trước đây bởi Iacovou et al (1995) để nghiên cứu việc áp dụng EDI Các biếnđược sử dụng để nghiên cứu quản lý năng suất bao gồm truy cập thông tin được cảithiện, cải thiện thời gian quản lý và giao tiếp được cải thiện Để đo áp lực bên ngoài,

họ coi trực tiếp hoặc gián tiếp áp lực từ đối thủ cạnh tranh, xã hội sẽ biểu bao gồm cả

Trang 37

chính phủ và công nghiệp Các Nghiên cứu cho thấy những người quản lý Chile nhiềukhả năng áp dụng thương mại điện tử :

• Sở hữu các nguồn lực cần thiết về tài chính và công nghệ,

• Nhận thức thương mại điện tử là nâng cao năng suất quản lý và hỗ trợ chiến

lược ra quyết định,

• Đã bị áp lực bởi sự cạnh tranh bên ngoài,sẽ biểu xã hội và công nghiệp nhưngkhông đáng kể của chính phủ, và

• Nhận thức thương mại điện tử như tương thích với ưa thích làm việc thực tiễn

và công nghệ hiện có cơ sở hạ tầng

Nhận thức hữu dụng là yếu tố phân biệt đối xử ít nhất là đáng kể với hiện hai chỉtrong sáu nhận thức, biến tăng cường thương mại điện tử hiệu quả công việc và côngviệc được thực hiện dễ dàng hơn - là biến đáng kể Nghiên cứu kết luận rằng sẵn cócủa nguồn lực tài chính và công nghệ vẫn còn một thách thức lớn cho doanh nghiệpnhỏ ở Des và quản lý giáo dục là quan trọng kể từ thay đổi niềm tin của họ là một điềukiện tiên quyết để thay đổi hành vi của họ đối với thương mại điện tử

Molla và Licker (2005b) phát triển nhận thức E-Readiness Model (perm) như

là một "kiểm toán đa quan điểm của tổ chức quản lý nội bộ, và các vấn đề theo ngữcảnh bên ngoài" cung cấp dự đoán có ý nghĩa của thương mại điện tử chấp nhận(p 879) Mô hình này bao gồm hai cấu trúc - được nhận thức tổ chức E-Readiness(Công Suất) và được nhận thức bên ngoài Ereadiness (peer) Công Suất công nghệ baogồm các thuộc tính bắt buộc (của tổ chức nhận thức, hiểu và chiếu thương mại điện tử

và lợi ích tiềm năng của nó); thuộc tính bắt buộc quản lý (quản lý cam kết); và chính tổchức bắt buộc các thuộc tính (tổ chức các nguồn lực, quy trình và cơ sở hạ tầng kinhdoanh) Peer đề cập đến yếu tố môi trường bắt buộc: của tổ chức giám định và đánhgiá các yếu tố môi trường bên ngoài của nó (Molla và Licker,2005b, trang 879) Cáctác giả cho rằng các cấu trúc sẽ được sử dụng trong việc dự đoán và giải thích các yếu

tố phân biệt đối xử của thương mại điện tử thông qua

Khi áp dụng mô hình này như là một công cụ trong một cuộc khảo sát của cácdoanh nghiệp Nam Phi, Molla và Licker (2005b) quy định các biến trong đo các cấutrúc như sau Họ coi Công Suất là mức độ mà các nhà quản lý tin rằng tổ chức của họ

Trang 38

đã có những nhận thức, nguồn lực,cam kết, và quản trị thông qua thương mại điện tử.Peer đã được định nghĩa là mức độ mà các nhà quản lý tin rằng các lực lượng thịtrường, chính phủ và hỗ trợ các ngành công nghiệp đã sẵn sàng hỗ trợ thương mại điện

tử áp dụng trong tổ chức.thông qua thương mại điện tử được tính theo mức độ áp dụngđược xem xét trong mối quan hệ với hai giai đoạn: áp dụng ban đầu - tổ chức đã đạtđược một trạng thái thương mại điện tử tương tác, và thê chế hóa tổ chức - tổ chức cóđạt được (mức độ sử dụng) là một tương tác, transactive hoặc tích hợp thương mạiđiện tử trạng thái

Các Nghiên cứu kết luận rằng, đối với việc thông qua ban đầu giai đoạnthương mại điện tử, tổ chức các thuộc tính đặc biệt là con người, kinh doanh và cácnguồn lực công nghệ và nhận thức là những yếu tố ảnh hưởng nhiều hơn, và "là tổchức thông qua thương mại điện tử thực hành, những lợi thế từ nguồn tài nguyên trởthành yếu tố ít quan trọng "và môi trường, cùng với cam kết từ các nhà quản lý và môhình quản trị là các tổ chức ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện thể chế hóa (Molla

& Licker, 2005b, trang 887) Tổ chức được có thể di chuyển vào việc áp dụng và thểchế hóa tổ chức và khai thác thương mại điện tử để đạt được lợi ích là những người từchối chấp nhận những hạn chế ngữ cảnh (bên ngoài) môi trường của họ hoặc chờ cho

nó để trở thành e-ready Tuy nhiên,các doanh nghiệp này với "khả năng năngđộng, các nhà lãnh đạo cam kết và các nguồn lực kinh doanh "quản lý để có chiếnlược phát triển và triển khai các mô hình thương mại điện tử mà làm việc trong nhữnghạn chế của môi trường (Molla & Licker, 2005b, trang 888) Điều này có thể làmột đặc biệt quan trọng cách tiếp cận thương mại điện tử ở Des nghiên cứu, vì nó cungcấp một cái nhìn sâu sắc hơn phương trình đơn giản thực hiện DE với cao hơn mức độhạn chế hơn so với hàng trong phát triển môi trường nước

Sự kết hợp của các cấu trúc trong đánh giá mức độ thương mại điện tử thôngqua làm cho một mô hình Perm trong một mô hình interactionism rất ít mà quản lý đểxem xét lại tất cả các thuộc tính của thương mại điện tử thông qua bao gồm cả nội bộ

tổ chức và quản lý sẵn sàng Các kết luận của Molla và Licker (2005b) cũng tương tựnhư của Kuanand Châu (2001),Grandon và Pearson (2004) và Xu et al (2004)

Trang 39

Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực tổ chức trong giai đoạn đầu củaviệc áp dụng thương mại điện tử, và bản chất của sự cam kết của các nhà quản lý và họhiểu biết chiến lược trong việc phát triển và triển khai khả năng năng động để thểchế thương mại điện tử và khai thác của nó giữa các lợi ích hạn chế của bối cảnh môitrường của họ Như các mô hình và ứng dụng của họ trong thương mại điện tử ở Desnghiên cứu tiếp tục để thực hiện một trường hợp cho nguồn lực sẵn có tổ chức, quản

lý cam kết và sự hiểu biết chiến lược, và năng động khả năng, câu hỏi chính là làm thếnào để tạo ra trong các tổ chức và sử dụng chúng để đạt được lợi ích thương mại điện tử

Có một mô hình hoặc khuôn khổ cung cấp tổ chức với sự thấu hiểu chiếnlược của phát triển, triển khai và quản lý các tổ chức nguồn lực và khả năng, và chophép họ di chuyển xung quanh các khó khăn của hoàn cảnh của họ và đạt được lợi íchthương mại điện tử? Ở trên khung có xu hướng thiếu định hướng như vậy.Họ có hiệuquả trong việc giúp đỡ các tổ chức để xác định các phân biệt (thuộc tính) của việc ápdụng thương mại điện tử giữa người chấp nhận và không chấp nhận, nhưng họ khôngđưa ra bất cứ cái nhìn chiến lược hoặc hướng dẫn về cách phát triển, quản lý và triểnkhai các thuộc tính này để nhận ra những lợi ích thương mại điện tử

3.3 Hỗ trợ và thực hiện

Sau khi đạt được sự hiểu biết về những thách thức đa dạng theo ngữ cảnh mà các công

ty ở Des phải đối mặt trong nỗ lực của họ để thông qua thương mại điện tử và có được

lợi ích của nó, mục tiêu là đến bây giờ chuyển sang chiến lược, và để xem lại các

khuôn khổ lý thuyết trong đó cung cấp hướng dẫn chiến lược cho các công ty khai thác

DE những lợi ích của thương mại điện tử giữa các ảnh hưởng đa dạng theo ngữ cảnhcủa họ

Khi so sánh với tài liệu về lợi ích tiềm năng, hạn chế và áp dụng/ phổ biếncủa thương mại điện tử ở các nước đang phát triển, đã có được hướng dẫn tương đối ítcung cấp chiến lược Trong số nguyên chất, các nghiên cứu và giải quyết vấn đề tàiliệu chiến lược ở các hình thức công ty cấp về 14 phần trăm (34 bài) của các bài viếtxem xét lại Đây là một số lượng hạn chế nhưng vẫn đủ để được xem xét một loại quantrọng Tuy nhiên, rà soát các tài liệu chi tiết hơn - cả nhiều khái niệm (Wresch, 2003)

và nhiều kinh nghiệm (Gunasekaran & Ngãi, 2005) - chúng tôi tìm thấy nhiều

Trang 40

hơn định hướng để điều tra các yếu tố phân biệt đối xử giữa người áp dụng ban đầu vàkhông áp dụng Do đó các nghiên cứu cung cấp một số yếu tố quan trọng thành côngchung, nhưng nó không cung cấp cho hướng dẫn rõ ràng chiến lược làm thế nào đểphát triển và triển khai các yếu tố này.

Để đạt được thành công thương mại điện tử Chen, Lin, Li và Chen (2004) sửdụng của Porter mô hình năm lực lượng cạnh tranh trong một nghiên cứu trườnghợp một công ty Trung Quốc, Haier Mặc dù nghiên cứu này cung cấp một số cái nhìnsâu sắc về cách thức kinh doanh điện tử góp phần để lợi thế cạnh tranh có vẻ như lànhiều hơn của một phân tích về kinh doanh của công ty và thị trường mô hình quản lýchuỗi Trong một nghiên cứu liên quan trên cùng một công ty, Li và Chang (2004)phát triển một cách toàn diện, năng động và biện chứng về Khung khái niệm chochiến lược kinh doanh điện tử Các nghiên cứu tập trung vào việc áp dụng và sử dụngmạng ứng dụng các giải pháp như quan hệ khách hàng quản lý, quản lý chuỗi cungứng, và quy hoạch tài nguyên doanh nghiệp Mặc dù điều này làm khuôn khổ pháttriển hơn nữa hướng tới Điện tử, kinh doanh, phân tích tình huống tạo ra một số bàihọc quan trọng đối với các mô hình chung của thương mại điện tử ở Des

Nghiên cứu cho thấy các công ty DE thích nghi mô hình kinh doanh từ pháttriển các quốc gia có những mô hình thích ứng với điều kiện địa phương của họ Chiếnlược liên minh với các đối tác nước ngoài được coi là một mệnh lệnh cần thiết để thựchiện hiệu quả các chiến lược kinh doanh điện tử và nó cũng cần thiết cho họ xây dựngtrong nhà hệ thống thông tin khả năng trước khi bắt đầu chương trình kinh doanh điện

tử (Li & Chang, 2004) Nghiên cứu những bài học góp của Li và Chang (2004) đến sựsẵn sàng tổ chức khái niệm (Trong nhà IS khả năng) và cái nhìn chiến lược các nhàquản lý (thích ứng của các mô hình kinh doanh và chiến lược liên minh), cả hai đều đãđược xác định từ việc xem xét thông qua và trước đó phổ biến văn học

Khung tài liệu cơ bản

Khi kết luận từ các cuộc thảo luận trước đó, con đường phía trước cho mộtđóng góp đáng kể cho thương mại điện tử nghiên cứu ở Des là để xác định cách tổchức có thể khai thác các nguồn lực để đạt được những lợi ích tương đối của thươngmại điện tử

Ngày đăng: 10/12/2013, 22:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Khung Phân loại - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Hình 1. Khung Phân loại (Trang 6)
Bảng 1: Lựa chọn các bài báo để xem xét - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 1 Lựa chọn các bài báo để xem xét (Trang 10)
Bảng 2: Phân bổ các bài báo bằng các phương pháp  nghiên cứu - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 2 Phân bổ các bài báo bằng các phương pháp nghiên cứu (Trang 11)
Bảng 3: Chủ đề chi phối lý thuyết trong "tiềm năng và hạn chế" - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 3 Chủ đề chi phối lý thuyết trong "tiềm năng và hạn chế" (Trang 13)
Bảng 1. Kết quả phân tích nhân tố cho các mẫu Nga - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 1. Kết quả phân tích nhân tố cho các mẫu Nga (Trang 58)
Hình 1. Một khung sử dụng cho thương mại điện tử phân tích vấn đề liên quan và - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Hình 1. Một khung sử dụng cho thương mại điện tử phân tích vấn đề liên quan và (Trang 72)
Hình 1. Mô hình nghiên cứu - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Hình 1. Mô hình nghiên cứu (Trang 101)
Bảng 3: Các nhân tố tổ chức (%) - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 3 Các nhân tố tổ chức (%) (Trang 106)
Bảng 11. Thái độ đối với thương mại điện tử (theo%) - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 11. Thái độ đối với thương mại điện tử (theo%) (Trang 111)
Bảng 2 cho thấy các rào cản nội bộ ảnh hưởng đến sự phát triển và mở rộng thương mại điện tử - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 2 cho thấy các rào cản nội bộ ảnh hưởng đến sự phát triển và mở rộng thương mại điện tử (Trang 129)
Bảng 4. Nội hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ để sử dụng hoặc gia hạn sử dụng của TMĐT - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 4. Nội hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ để sử dụng hoặc gia hạn sử dụng của TMĐT (Trang 130)
Bảng 3. Các rào cản bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển và mở rộng của TMĐT - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 3. Các rào cản bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển và mở rộng của TMĐT (Trang 130)
Bảng 7. Chi Square kiểm tra cho các rào cản nội bộ - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 7. Chi Square kiểm tra cho các rào cản nội bộ (Trang 133)
Bảng 7 cho thấy rằng sự thiếu nhận thức về công nghệ phù hợp, thiếu kỹ năng và chuyên môn của các nhân viên và thiếu nguồn lực tài chính là những rào cản chính của doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 7 cho thấy rằng sự thiếu nhận thức về công nghệ phù hợp, thiếu kỹ năng và chuyên môn của các nhân viên và thiếu nguồn lực tài chính là những rào cản chính của doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt (Trang 134)
Bảng 12. bảng Dự phòng cho các rào cản bên ngoài - TMĐT   thị trường mới nổi và ứng dụng của TMĐT ở nước đg PT
Bảng 12. bảng Dự phòng cho các rào cản bên ngoài (Trang 138)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w