Với tất cả các lý do nêu trên, nhóm chúng tôi đã triển khai đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu các bà mẹ về trường mẫu giáo tại Thành phố Huế” nhằm mục đích tìm hiểu được các yếu tố tác động tí
Trang 1DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng Trang
Bảng 1: Đặc điểm mẫu 7
Bảng 2: Nhu cầu các bà mẹ đối với trường mầm non cho con em 18
Bảng 3: Độ tuổi cho con em đi học 20
Bảng 4: Hình thức chi trả học phí 22
Bảng 5: Hình thức thanh toán học phí tại trường 26
Bảng 6: Thời gian học 28
Bảng 7: Mức độ đánh giá của các bà mẹ về mong đợi đối với dịch vụ hỗ trợ tại trường mầm non 33
Bảng 8: Rút trích nhân tố nhóm động lực thúc đẩy 36
Bảng 9: Mức độ giải thích các nhóm nhân tố 37
Bảng 10: Kiểm định độ tin cậy thang đo 40
Bảng 11: Rút trích nhân tố chính các yếu tố cản trở 41
Bảng 12 : Tổng hợp các nhóm nhân tố cản trở 45
Bảng 13: Kiểm định độ tin cậy thang đo 46
Bảng 14:Phân tích hồi quy các nhân tố cản trở 47
Biểu đồ Trang Biểu đồ 1: Độ tuổi đối tượng nghiên cứu 7
Biểu đồ 2: Có con em ở độ tuổi đi học mầm non 8
Biểu đồ 3: Thu nhập của đối tượng điều tra 9
Biểu đồ 4: Tháp nhu cầu của Maslow 14
Biểu đồ 5: Có con thuộc độ tuổi học mầm non, có nhu cầu học trường mầm non 19
Biểu đồ 6: Không có con em ở độ tuổi đi học mẫu giáo, có nhu cầu tương lai 20
Trang 2Biểu đồ 8: Hình thức chi trả học phí 23
Biểu đồ 9: Các mức học phí chi trả theo tuần 24
Biểu đồ 10: Các mức học phí chi trả theo tháng 25
Biểu đồ 11: Hình thức thanh toán học phí 26
Biểu đồ 12: Thời gian học trong ngày 29
Biểu đồ 13: Thời gian học trong tuần 30
Biểu đồ 14: Thời gian nghỉ hè trong năm 31
Trang 3MỤC LỤC
Lời cám ơn
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
3.1 Thiết kế bảng hỏi 3
3.2 Chọn mẫu và điều tra 4
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu 4
3.2.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
3.2.2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 6
3.2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 9
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 10
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Lý thuyết liên quan đến nhu cầu 12
1.1.1.1 Khái niệm nhu cầu 12
1.1.1.2 Thuyết nhu cầu Maslow 13
1.1.2 Tiêu chuẩn của trường mầm non chất lượng cao 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
Trang 42.2 Đánh giá của các bà mẹ về chương trình học tại trường mầm non 20
2.2.1 Độ tuổi cho con em bắt đầu đi học 20
2.2.2 Hình thức chi trả học phí 22
2.2.2.1 Hình thức chi trả theo ngày 23
2.2.2.2 Hình thức chi trả theo tuần 24
2.2.2.3 Hình thức chi trả theo tháng 25
2.2.2.4 Hình thức thanh toán học phí tại trường 26
2.2.3 Thời gian học 28
2.2.3.1 Thời gian học trong ngày 29
2.2.3.2 Thời gian học trong tuần 30
2.2.3.3 Thời gian nghỉ hè trong năm 31
2.3 Đánh giá của các bà mẹ về mong đợi đối với dịch vụ hỗ trợ tại trường mầm non 32
CHƯƠNG III : CÁC YÊU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU CÁC BÀ MẸ 36
3.1 Phân tích nhóm động lực thúc đẩy chọn trường Mầm non 36
3.2 Nhóm các yếu tố cản trở chọn trường Mầm non 41
3.2.1 Phân tích các yếu tổ cản trở 41
3.2.2 Phân tích hồi quy các yếu tố cản trở 47
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
1 Kết luận 50
2 Kiến nghị 51
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề giáo dục mầm non hiện nay đang được Bộ Giáo dục - Đào tạo đặc biệtquan tâm Trên cả nước hiện nay, đặc biệt là các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh, HàNội, Đà Nẵng, Huế mạng lưới trường lớp mầm non được củng cố, mở rộng và phân
bố đến hầu hết các địa bàn dân cư quận - huyện, đáp ứng phần lớn nhu cầu về chămsóc, giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non Cơ sở vật chất trường lớp học mầm nonđược đầu tư cải thiện, nhiều phòng học được xây mới Công tác xây dựng trườngchuẩn quốc gia được quan tâm đầu tư Công tác xã hội hóa hoạt động mầm non đượcđẩy mạnh, nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước đã hỗ trợ xây dựng hoặc trựctiếp đầu tư phát triển trường mầm non Nhu cầu trường mầm non ngày càng tăng cao.Trong thực tế, ngành mầm non hiện nay đã thu hút 61% trẻ độ tuổi mẫu giáo vàotrường Trẻ được chăm sóc sức khoẻ trong trường mầm non chiếm tỷ lệ khá cao
Tuy nhiên nói riêng tại Huế, mạng lưới trường lớp ở Huế chưa đủ để huy độngtrẻ ra lớp đồng đều giữa các khu vực phường, xã Số lượng trường lớp công lập cảthành phố chỉ đáp ứng việc thu nhận 70% tổng số trẻ năm tuổi, 30% còn lại học ở cáctrường tư thục, các huyện ngoại thành còn nhiều điểm lẻ không đủ điều kiện tổ chứchọc 2 buổi/ngày Hiện vẫn còn nhiều khu vực ngoại thành chưa có trường mầm noncông lập Các khu chế xuất và khu công nghiệp chưa có trường mầm non phục vụ chotrẻ em là con của công nhân
Bên cạnh đó, các trường, lớp mầm non tư thục giáo viên còn thiếu nên phải sửdụng nhân viên bảo mẫu thay thế giáo viên ở một số lớp Đội ngũ cán bộ quản lý cáctrường, lớp mầm non tư thục, dân lập hầu hết chưa được đào tạo đạt chuẩn về quản lýgiáo dục Do đời sống khó khăn và áp lực công việc, nhiều giáo viên nghỉ việc, nênđội ngũ giáo viên mầm non khu vực này không ổn định và thường xuyên thiếu
Trang 6Thật sự vấn đề tìm được trường mẫu giáo có chất lượng cho con mình theo họcđang là mối quan tâm lớn đối với các bà mẹ Nhu cầu về trường non ngày càng cao, nhất
là các trường mầm non có chất lượng Tuy nhiên, nhu cầu này có được đáp ứng một cáchthoả đáng khi mà số lượng trẻ vào độ tuổi đi học mẫu giáo ngày càng nhiều, trong khi sốlượng trường mầm non vẫn rất hạn chế Và các trường mầm non có chất lượng thật sự làhiếm hoi
Các bà mẹ thường xuyên bận rộn với công việc, không có thời gian chăm sóc chocon cả ngày, hay nhu cầu cho con tiếp xúc với môi trường mới bạn bè, thầy cô, chuẩn bịtrang bị đầy đủ các kỹ năng phải chăng chính là lý do thúc đẩy việc các bà mẹ đưa con đihọc mầm non Và thực sự những lý do khác nữa hay những yếu tố tác động đến việc các
bà mẹ không muốn con đến trường mầm non dù họ nhận thức được rằng trường mầm nonthực sự là cần thiết, chúng ta nên tìm hiểu kỹ hơn về những vấn đề liên quan
Với tất cả các lý do nêu trên, nhóm chúng tôi đã triển khai đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu các bà mẹ về trường mẫu giáo tại Thành phố Huế” nhằm mục đích tìm hiểu
được các yếu tố tác động tích cực hay các yếu tố cản trở nhu cầu của các bà mẹ về trườngmẫu giáo chất lượng cho con mình theo học và phác thảo mô hình một trường mẫu giáochất lượng có thể đáp ứng nhu cầu đó
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng ngành giáo dục mầm non tại Huế
- Khảo sát nhu cầu của các bà mẹ về trường mầm non tại Huế
Trang 7+ Xác định xem các bà mẹ có nhu cầu về trường mầm non hay không? Nếu có thìnhu cầu đó ở mức độ nào?
+ Xác định nhu cầu cụ thể về mức học phí, thời gian học
+ Đánh giá mức độ mong đợi của các bà mẹ đối với dịch vụ hỗ trợ tại trường mầmnon
+ Xác định các yếu tố thúc đẩy và yếu tố cản trở nhu cầu của các bà mẹ
+ Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố thúc đẩy và yếu tố cản trợ đến nhu cầucủa các bà mẹ
3 Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Thiết kế bảng hỏi:
Bảng hỏi được thiết kế nhằm nghiên cứu nhu cầu của các bà mẹ về trường mầmnon tại thành phố Huế Để đảm bảo thu được đầy đủ chi tiết các thông tin về nhu cầu cụthể của các bà mẹ cũng như các yếu tố tác động đến nhu cầu đó, bảng hỏi được thiết kếdành cho đối tượng là các bà mẹ đang sinh sống và làm việc trên địa bàn thành phố Huế
Bảng hỏi gồm hai mảng thông tin chính
Phần 1: Các thông tin chung
Phần 2: Ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra
Mảng thông tin chung cung cấp các thông tin chủ yếu như độ tuổi, thu nhập hiệntại, thông tin sơ bộ về nhu cầu trường mẫu giáo đối với những người đang có con ở độtuổi đi học mẫu giáo hay không có con ở độ tuổi đi học mẫu giáo nhưng vẫn có nhu cầu
đó trong tương lai Ngoài ra còn một số thông tin chung về học phí, hình thức thanh toánhọc phí, thời gian học trong ngày, trong tuần, thời gian nghỉ hè trong năm để bước đầu cómột cái nhìn tổng quan về nhu cầu hiện tại của các bà mẹ
Mảng thông tin về ý kiến đánh giá của đối tượng điều tra chính là các bà mẹ như:Mức độ mong đợi về dịch vụ hỗ trợ cho con em tại trường mầm non, động cơ thúc đẩyviệc cho con em đến trường mầm non hay các yếu tố cản trở việc chọn trường mầm noncho con em mình, đánh giá chung về tầm quan trọng của động lực thúc đẩy và mức độ
Trang 8ảnh hưởng của các yếu tố cản trở Đây chính là thông tin nhằm cung cấp cho nội dungquan trọng nhất của đề tài.
Nhu cầu của các bà mẹ được nghiên cứu ở các khía cạnh: Nội dung chương trìnhhọc mong đợi, thời gian học, các dịch vụ hỗ trợ, việc ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi cho con
em, mục đích cho con em đến trường
Bảng hỏi được tiến hành kiểm tra trước khi phát chính thức cho đối tượng điều tra.Bảng hỏi được kiểm tra thử bằng cách phát cho các bà mẹ, cụ thể là những người hàngxóm của các thành viên trong nhóm nghiên cứu nhằm thu thập thêm ý kiến phản hồi Các
ý kiến phản hồi được ghi nhận và bổ sung vào bảng hỏi (về nội dung hình thức bảng hỏi,
dễ hiểu khó hiểu ở điểm nào, cần bổ sung hay loại bỏ phần nào )
3.2 Chọn mẫu và điều tra
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu:
Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn nhằm hướng tới đạt được các mục tiêukhoa học của nghiên cứu Để thu được tối đa thông tin cần thiết cho việc xây dựng thiết kếmột trường mầm non phù hợp xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và gắn với nhu cầu của các
bà mẹ muốn cho con em đến học tại trường, toàn bộ các bà mẹ sinh sống và làm việc trênđịa bàn thành phố Huế được nhóm nghiên cứu hướng đến Cụ thể là các bà mẹ sinh sống
ở trên 27 phường trong thành phố
1 Phường An Cựu
2 Phường An Đông
3 Phường An Hòa
4 Phường An Tây
5 Phường Hương Sơ
6 Phường Kim Long
7 Phường Phú Bình
8 Phường Phú Cát
9 Phường Phú Hậu
Trang 925 Phường Hương Long
26 Phường Thủy Biều
27 Phường Thủy Xuân
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA
%BF#Th.C3.A0nh_ph.E1.BB.91_Hu.E1.BA.BF )
Tuy nhiên số lượng các phường và dân cư rất lớn, do điều kiện hạn chế về nguồnlực và thời gian, nhóm đã chọn ra một khu vực tiêu biểu để phát bảng hỏi điều tra Nghiêncứu chọn mẫu theo các bước như sau:
Bước 1: Lập danh sách tất cả các phường trên địa bàn thành phố Huế (27 phường
kể trên)
Bước 2: Chọn ngẫu nhiên 3 phường bằng phương pháp rút thăm ngẫu nhiên
Bước 3: Lập danh sách các trường mầm non có ở 3 phường
Trang 10Bước 4: Cũng bằng phương pháp rút thăm, trong mỗi phường chọn ngẫu nhiênmột trường mầm non để làm khu vực phát bảng hỏi điều tra.
Với các bước như trên, nhóm đã thực hiện theo trình tự và kết quả chọn ra được 3trường làm khu vực để điều tra:
- Trường mầm non Hoa mai, phường Vĩnh Ninh
- Trường mầm non Phú Hiệp, phường Phú Hiệp
- Trường mầm non 1, phường Thuận Thành
Với 3 khu vực trường mầm non đã chọn, nhóm thực hành phát bảng hỏi điều tranhư sau :
Các thành viên trong nhóm đứng chờ trước cổng các trường mầm non vào trướcgiờ ra về, là giờ mà các bà mẹ đến đón con em mình Sau khi phát bảng hỏi cho người phụ
nữ đầu tiên, cứ 3 người phụ nữ tiếp theo lại phát một bảng hỏi Tổng số mẫu mà nhóm dựđịnh là 105 nên mỗi trường sẽ phát 35 bảng hỏi Việc phát bảng hỏi điều tra được thựchiện gói gọn trong một buổi tại mỗi trường khác nhau để tránh sự trùng lặp Và việc phátbảng hỏi cho mỗi đối tượng được thực hiện rất cẩn thận để có thể thu về đúng số lượng đãphát ra
3.2.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.2.2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng điều tra là các bà mẹ hiện nay cư trú trên địa bàn thành phố Huế, đãđang hoặc sẽ có con ở độ tuổi đi học mẫu giáo Sau khi tổng hợp lại từ phần thông tinchung của bảng hỏi, nhóm chúng tôi đã phân tích được đặc điểm của các đối tượng điềutra như sau:
Trang 11(Nguồn: Số liệu điều tra 04/2011)
Biểu đồ 1: Độ tuổi đối tượng nghiên cứu
Theo biểu đồ trên, tổng số mẫu là 105 (100%), trong đó số lượng đối tượng dưới
30 tuổi có 36/105 chiếm 34,3% và độ tuổi chiếm số lượng nhiều nhất là 30-40 tuổi có47/105 chiếm 44,8% và độ tuổi từ 40-50 tuổi hay trên 50 tuổi chỉ chiếm một phần nhỏ
Trang 12lớn tuổi, và đa số đối tượng điều tra thuộc đoạn dưới 40 tuổi Số ít còn lại có thể không cócon đang ở tuổi học mẫu giáo, có thể là cô,dì… của các bé đến đưa đón con em đi học về
Theo thống kê dưới đây sẽ cho ta thấy rõ:
Biểu đồ 2: Có con em ở độ tuổi đi học mầm non
Số lượng đối tượng điều tra có con đang ở độ tuổi học mầm non có 72/105 chiếm68,6% là một tỷ lệ cao, vượt hẳn số lượng đối tượng điều tra không có con ở độ tuổi đó,
có 33/105 ý kiến đồng ý chiếm 31,4% Đây cũng là một con số không nhỏ Tuy nhiên tacũng chưa thể khẳng định chắc chắn được rằng với những người không có con học mầmnon sẽ không có nhu cầu về trường mẫu giáo Bởi có thể không chỉ là cho con đi học, họvẫn có thể có nhu cầu cho cháu đi học trường mầm non mà họ cảm thấy là phù hợp
Do đó, nhóm chúng tôi đã tiến hành điều tra trên các đối tượng thuộc các lứa tuổinhư đã nêu chứ không chỉ điều tra những người trẻ tuổi, để đảm bảo độ tin cậy của thôngtin thu thập được
Thống kê theo thu nhập của các đối tượng điều tra
Trang 13Biểu đồ 3: Thu nhập của đối tượng điều tra
Những người có thu nhập từ 2 - 4triệu chiếm phần lớn, có 42/105 người chiếm40% và những người có thu nhập 4 - 5triệu cũng không ít, có 38/105 người chiếm 36,2%.Đây là những con số cho thấy mức sống của những bà mẹ ở thành phố Huế như thế nào,
là mức thu nhập khá Chứng tỏ yếu tố thu nhập cũng có ảnh hưởng phần nào đến nhu cầucho con em đi học mầm non của các bà mẹ Số người có thu nhập thấp chỉ chiếm phần rấtnhỏ 20/105 người chiếm 19% hay số người có thu nhập quá cao trên 5 triệu mỗi tháng có5/105 người chiếm 4,8% Ta có thể lý giải rằng: với thu nhập thấp, không có điều kiệncho con đi học mầm non nên đối tượng thuộc tầng lớp thu nhập này mà nhóm điều trađược tại trường mầm non là ít Hay những ngưòi có thu nhập cao, có nhiều điều kiện đểthuê bảo mẫu cho con học tại gia, và có thể theo dõi, chăm sóc con chu đáo và an tâmhơn
3.2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nhóm tiến hành khảo sát trên toàn địa bàn thành phố Huế và chọn
ra địa điểm cụ thể là 3 trường mầm non như đã nêu ở phương pháp chọn mẫu
Trang 14+ Trường mầm non 1: phường Thuận Thành
- Về thời gian: Tiến trình nghiên cứu thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2011-
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Với đề tài nghiên cứu này, nhóm áp dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả,phân tích nhân tố và phân tích hồi quy Đối với câu hỏi khảo sát cơ cấu mẫu như độ tuổi,thu nhập, Có con em thuộc độ tuổi học mầm non, có nhu cầu về trường mầm non không thì tiến hành thống kê mô tả thông qua bảng tần số, và các biểu đồ để thấy được số lượng
và sự khác biệt trong các đặc điểm của mẫu Phwong pháp thống kê mô tả cũng được ápdụng cho các thông tin khảo sát về độ tuổi bắt đầu cho con em đi học mầm non, các hìnhthức chi trả học phí, thời gian học và các đánh giá về mong đợi của đối tượng đối với dịch
vụ hỗ trợ tại trường mầm non Các kết quả của thống kê mô tả để xem thử những câu trảlời của các bà mẹ từ đó có thể đánh giá xu hướng chung của các bà mẹ đối với các khíacạnh nghiên cứu
Với mục đích là điều tra nhu cầu của các bà mẹ, nhóm nghiên cứu đã khảo sát cácmặt như Mức học phí, hình thức thanh toán, thời gian học, Từ kết quả phân tích thống
kê mô tả, các câu hỏi này sẽ đưa ra được mô hình trưòng mầm non phù hợp nhất cho con
em các bà mẹ
Nhằm phát hiện ra được các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của các bà mẹ,nhóm nghiên cứu tiến hành phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA bằng phầnmềm SPSS Phương pháp phân tích này là phù hợp với đề tài nghiên cứu về nhu cầucác bà mẹ đối với trường mầm non tại thành phố Huế Các biến quan sát có được từcuộc phòng vấn các chuyên gia, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan vànghiên cứu sơ bộ Bước đầu xây dựng bảng hỏi, các cuộc phỏng vấn chuyên gia vàtìm kiếm các dữ liệu thứ cấp đặc biệt là các đề tài nghiên cứu có liên quan đã cungcấp các cơ sở lý thuyết cần thiết Tuy nhiên các dữ liệu từ các tài liệu tham khảo cónhiều điểm không phù hợp khi áp dụng vào thực tế nghiên cứu mà nhóm đang tiếnhành Vì vậy thông qua nghiên cứu sơ bộ để điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát
Trang 15cho phù hợp Bằng cách tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA dựa trên dữ liệu
sơ cấp thu thập được, các nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu về trường mầm nonđược rút trích từ các biến quan sát Phân tích nhân tố này áp dụng cho việc khảo sátcác động lực thúc đẩy và các yếu tố cản trở nhu cầu các bà mẹ trong việc quyết địnhcho con đi học mầm non
Sau khi rút trích ra được các nhân tố ảnh hưởng, nhằm xem thử thang đo đã đủ
độ tin cậy hay chưa, nhóm nghiên cứu đã tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đobằng kiểm định Cronbach’s Alpha đối với từng biến quan sát trong từng nhân tố Cácnhân tố sau khi kiểm định bằng phần mềm SPSS có hệ số Alpha bé hơn 0.5 thì bị loại
bỏ Ngoài ra nếu trong các nhân tố, việc loại bỏ cũng được tiến hành nếu như loại bỏcác biến này làm tăng độ tin cậy thang đo của các nhân tố Các nhân tố mà được đánhgià là đủ các điều kiện trong phân tích nhân tố và kiểm định độ tin cậy của thang đothì có thể sử dụng để phân tích hồi quy
Áp dụng phương pháp phân tích hồi quy là cần thiết đối với đề tài nghiên cứunày bởi vì kết quả của phân tích nhân tố chỉ cho ta biết được các yếu tố ảnh hưởngnhưng lại không thể biết được mức độ ảnh hưởng của từng các yếu tố đến nhu cầu củacác bà mẹ về trường mầm non Để phân tích hồi quy cần phải đưa ra được mô hìnhphù hợp, và do đó phải tiến hành kiểm định sự phù hợp của mô hình Mô hình phùhợp sẽ được áp dụng để phân tích hồi quy Các biến độc lập đó là các yếu tố đã đượcrút trích từ phân tích nhân tố để xem thử các nhân tố đó ảnh hưởng đến nhu cầu củacác bà mẹ như thế nào Điều này sẽ đưa cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp phù hợp,
và nhận thấy cần thiết phải ưu tiên giải pháp nào
Trang 16.1.1 Lý thuyết liên quan đến nhu cầu
1.1.1.1 Khái niệm nhu cầu
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa họcnghiên cứu sinh học và xã hội Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu đượctìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham,Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S Herman Đó làhiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật Sự hiện diện của nhu cầu ởbất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, làđặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu Cácsách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường cónhững định nghĩa mang tính riêng biệt Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể địnhnghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cáthể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi
là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển vàtiến hóa
Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó Nhưng “cái gì đó” chỉ làhình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chấtcủa nhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu" Nhu yếu đang nói đến lại có thể đượcxem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn Như vậy khái niệmnhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của
Trang 17cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắcxích của hình thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và
đa dạng hóa Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất đượccấu thành bởi một nhu yếu và một hình thức biểu hiện
Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhucầu nhất định Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thểlàm thỏa mãn nhu cầu đó Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, mộtnhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn cókhác nhau
Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu Alfred Marshallviết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn” Về vấn đề cơ bản của khoahọc kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầukhông có giới hạn
1.1.1.2 Thuyết nhu cầu Maslow:
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm
chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs).
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn
có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhucầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này,
họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sốnghàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Nhữngnhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui
vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậccao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến
Trang 18Chi tiết nội dung tháp nhu cầu
(Nguồn: Wikipedia)
Biểu đồ 4 Tháp nhu cầu của Maslow
Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người đượcliệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đếncác nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãnngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đápứng đầy đủ.
5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow:
Trang 19 Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological)
-thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn
thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo
Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
(love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia
đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy
Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác
được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng
Tẩng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn
sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được
và được công nhận là thành đạt
Nhu cầu tổ chức được xác định bởi nhiệm vụ, mục tiêu và triết lý của một công
ty Nó chứa đựng toàn bộ tổ chức và có thể bao gồm cả những vấn đề như giảm doanh
số, khuyến khích hành động theo nội quy và tăng năng suất lao động Nếu nhu cầucủa nhân viên trái ngược với nhu cầu của tổ chức thì mối quan hệ đó sẽ không thỏađáng với cả hai bên
Nhu cầu theo vị trí xác định trên cơ sở thái độ cần thiết cho công việc và được
xác định thông qua việc phân tích công việc, khi các công việc hay trách nhiệm riêng
biệt được tách ra thành các bước khác nhau (Christine Jaszay, Paul Dunk – Thiết kế đào tạo cho ngành công nghiệp Du lịch – theo Thomson Delmar, 2003)
.1.2 Tiêu chuẩn của trường mầm non chất lượng cao:
Ngày 16/7/2008, Bộ GD&ĐT có Quyết định số 36/2008/QĐ-BGDĐT ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, thay thế cho Quyết định đã ban hành năm 2001 và 2005
Trang 20Theo đó, trường mầm non đạt chuẩn quốc gia phải đáp ứng đủ 5 tiêu chuẩn: Tổchức và quản lý; đội ngũ giáo viên và nhân viên; chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ;quy mô trường lớp, cơ sở vật chất và thiết bị; thực hiện xã hội hóa giáo dục Theo quyđịnh, trường mầm non đạt chuẩn quốc gia được chia làm 2 mức độ: cấp độ 1 và cấp
độ 2, tùy theo các tiêu chuẩn đạt được của trường
Trường đạt chuẩn cấp độ 1 phải bảo đảm 100% số giáo viên và nhân viên đạttrình độ chuẩn về đào tạo, trong đó có ít nhất 20% số giáo viên trên chuẩn về trình độđào tạo Có ít nhất 50% số giáo viên, nhân viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến và có
1 chiến sĩ thi đua từ cấp cơ sở trở lên, không có giáo viên bị xếp loại kém Hằng năm100% trẻ được bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần, không xảy ra dịch bệnh vàngộ độc thực phẩm trong nhà trường Ít nhất 80% trẻ khuyết tật học hòa nhập (nếu có)được đánh giá có tiến bộ; 80% số trẻ suy dinh dưỡng được phục hồi; trung bình 10 trẻ
có 1 bồn cầu vệ sinh
Trường đạt chuẩn cấp độ 2 quy định các tiêu chuẩn cao hơn mức độ 1 Cụ thể,phải có ít nhất 30% số giáo viên trên chuẩn về trình độ đào tạo, ít nhất 70% số giáoviên, nhân viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến, không có giáo viên bị xếp loại kém.Mỗi giáo viên đều có ít nhất một báo cáo cải tiến đổi mới phương pháp chăm sóc vàgiáo dục trẻ trong từng năm học Có ít nhất 95% trẻ tăng trưởng đạt kênh A
Hiện nay, hầu hết các trường mới chỉ được công nhận đạt chuẩn mức độ 1
.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Giáo dục mầm non gắn liền và chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triểnchung của xã hội không chỉ vì trẻ em là nguồn nhân lực tương lai của đất nước màcòn vì cha mẹ các em là nguồn lực trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu trẻ em được chăm sóc ở cáctrường mầm non là rất cao Mặc dù công tác chăm sóc trẻ em ở các trường mầm nonđược quan tâm rất nhiều nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn Hầu hết các trường không cócán bộ y tế nên việc quản lý và theo dõi sức khoẻ, xử trí bệnh thường gặp ở trẻ còn
Trang 21gặp nhiều khó khăn, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Việc nâng cao chấtlượng khẩu phần cho trẻ còn nhiều hạn chế Tiền ăn đóng góp của gia đình cho trẻcòn thấp, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Tỷ lệ trẻ mắc một số bệnhnhiễm trùng, viêm nhiễm đường hô hấp, bệnh tiêu hoá, bệnh về mắt, bệnh răngmiệng còn cao Đặc biệt trong thời gian gần đây báo chí đưa lên những thông tin vềcách chăm sóc trẻ em ở một số trường mầm non không được tốt làm cho một số bà
mẹ còn e ngại khi gửi con vào trường
Việc cho các cháu lứa tuổi mầm non tới trường là nhu cầu bức thiết của nhiềubậc cha mẹ đang tuổi lao động Họ phải đưa con tới lớp mầm non với mục đích gửitrẻ, trông trẻ để đi làm Những gia đình có thu nhập cao, thường thuê người giúp việcchăm sóc các cháu, họ không cho đến trường lớp mầm non vì sự chăm sóc nơi đókhông bằng ở nhà Vì vậy để phổ cập giáo dục mầm non bền vững, có chất lượngđúng được xem là vấn đề cấp bách đối với cơ quan chính quyền và gia đình
Hiện nay có rất nhiều cơ sở mầm non không phép, không đảm bảo chất lượng,không đạt chuẩn Nguyên nhân chính cũng là do cơ quan quản lý xử lý “nhẹ tay” làmcho các cơ sở không đạt chuẩn ngày càng tăng nên các bà mẹ không biết cho conmình học ở đâu để có môi trường học tốt để gia đình có thể yên tâm làm việc
Ngoài vấn đề về chất lượng thì ngành giáo dục mầm non cũng gặp rất nhiềukhó khăn trong việc tuyển dụng giáo viên,người vừa có tâm tuyết vừa yêu nghề
Tất cả những vấn đề trên điều là mối quan tâm của các bậc phụ huynh khi đưa con emmình tới trường
Trang 22Chương II:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Đánh giá sơ bộ nhu cầu các bà mẹ về trường mầm non
Bảng 2: Nhu cầu các bà mẹ đối với trường mầm non cho con em
Ý kiến đánh giá Số lượng Tỷ lệ (%)
Có nhu cầu cho con em trong
độ tuổi mầm non đi học
Không có con em trong độ tuổi
mầm non nhưng có nhu cầu
trong tương lai
(Nguồn: Số liệu điều tra 04/2011)
Theo kết quả điều tra với câu hỏi “Chị có con em nằm trong độ tuổi học mầm nonkhông” thì có 72/105 đối tượng điều tra có con đang ở độ tuổi học mầm non chiếm 68,6%
là một tỷ lệ cao, vượt hẳn số lượng đối tượng điều tra không có con ở độ tuổi đó, có33/105 ý kiến đồng ý chiếm 31,4% Và trong 72 đối tượng có con đang ở độ tuổi họcmầm non thì có tới 69/72 ý kiến (chiếm 95,8%) có nhu cầu cho con đi học trường mầmnon Chỉ có một bộ phận nhỏ không có nhu cầu chiếm 4,2% chứng tỏ nhu cầu của các bà
mẹ đối với trường mầm non cho con em mình là rất lớn Và trong thực tế hiện nay thì việccho con em đi học mầm non trước khi bước vào tiểu học chính thức là điều hết sức cầnthiết bởi trường mầm non đem lại rất nhiều lợi ích cho trẻ, các chương trình học, chế độ
ăn ngủ nghỉ khoa học, chế độ vui chơi hợp lý hay điều kiện để rèn luyện các kỹ năng chocon em Bộ phận nhỏ không có nhu cầu đối với trường mầm non đó có thể là những đốitượng có thu nhập thấp, không có điều kiện cho con em đi học mầm non hay có thể tự
Trang 23chăm con ở nhà, thuê bảo mẫu hoặc có người thân như ông bà chăm sóc Rất nhiều lý do
có thể xảy ra và điều đó có thể được làm rõ trong phần sau
Biểu đồ 5: Có con thuộc độ tuổi học mầm non, có nhu cầu học trường mầm non
Trong 33 đối tượng không có con em ở độ tuổi học mầm non, đa số ý kiến chorằng sẽ có nhu cầu cho con em đi học mầm non trong tương lai, có 27/33 ý kiến chiếm81,8% đồng ý như vậy Các đối tượng này có thể đã nhận thức rõ được sự cần thiết củagiáo dục mầm non cho trẻ, nhận thức được các lợi ích và trường mầm non mang lại chotrẻ Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có những ý kiến cho rằng sẽ không có nhu cầu này trongtương lai nếu họ có con thuộc độ tuổi đi học mầm non Bộ phận này chỉ có 6/33 ý kiếnchiếm 18,2% nhưng cũng đủ để cho ta hiểu rằng vẫn còn nhiều người chưa nhận rõ đượctầm quan trọng của giáo dục mầm non đối với con em của mình Và có thể do nhiều yếu
tố khách quan và chủ quan tác động đến làm cản trở nhu cầu của họ Ví dụ như tác độngtiêu cực từ báo chí, truyền thông về vấn đề bạo hành trẻ đã khiến rất nhiều phụ huynh lo
sợ, mất niềm tin đối với ngành giáo dục mầm non và không dám cho con đến trường
Trang 24Biểu đố 6: Không có con em ở độ tuổi đi học mẫu giáo, có nhu cầu tương lai
2.2 Đánh giá của các bà mẹ về chương trình học tại trường mầm non
2.2.1 Độ tuổi cho con em bắt đầu đi học
Bảng 3: Độ tuổi cho con em đi học
(Nguồn: Số liệu điều tra 04/2011)
Thông qua nghiên cứu sơ bộ bằng cách phỏng vấn các bà mẹ có con đang ở độtuổi học mầm non thì nhóm chúng tôi đã đưa ra một số phương án về độ tuổi bắt đầuhọc mầm non phù hợp nhất dành cho trẻ
Trang 25Biểu đồ 7: Độ tuổi bắt đầu cho con em đi học
Độ tuổi chủ yếu mà các bà mẹ đánh giá là nên cho con bắt đầu đi học mầm non
là dưới 3 tuổi, có 65/105 ý kiến đồng ý chiếm 61,9% Và cũng không ít ý kiến chorằng 3-4 tuổi bắt đầu đi học mầm non là hợp lý hơn, có 37/105 đồng ý chiếm 35,2%
Độ tuổi 4-5 tuổi chỉ có rất ít ý kiến không đáng kể chỉ 3/105 chiếm 2,9% Điều này rấtđúng với thực tế mà nhóm chúng tôi đã tìm hiểu được thông qua phỏng vấn sơ bộ.Phần lớn các bà mẹ cho con đi học từ giai đoạn hơn 2 tuổi đến 3 tuổi, là giai đoạn màtrẻ dễ tiếp thu nhất Ở giai đoạn này, trẻ thường bắt chước và hành động theo những gìmắt thấy tai nghe một cách hồn nhiên Nếu được giáo dục một cách có khoa học ngay
từ giai đoạn này sẽ rất tốt cho việc hình thành các kỹ năng cho trẻ Và tạo điều kiệncho trẻ tiếp xúc với môi trường bạn bè, trường lớp để có thể mạnh dạn hơn Thì thật
sự đây là độ tuổi thích hợp nhất cho trẻ đến trường Nhiều gia đình cho rằng khi trẻlớn hơn chút nữa, có thể nhận thức tốt hơn rồi mới cho trẻ đi mầm non Nhưng đôi khimột số trẻ bướng bỉnh, đã quen ở nhà với bố mẹ nên nhất định không chịu đến trường
có bạn bè, cô giáo là những người lạ lẫm Điều này sẽ tạo nên sự khó khăn trong việcthuyết phục trẻ đi học Do đó, rất nhiều gia đình cho con trẻ đi học dưới 3 tuổi, đây là
Trang 26Tỷ lệ
Sốlượng
Tỷ lệ(%)Chi trả học
(Nguồn: Số liệu điều tra 04/2011)
Qua tiến trình điều tra khảo sát sơ bộ ở một số trường mẫu giáo về các hình thứcthanh toán học phí thì nhóm chúng tôi biết được có các hình thức thanh toán học phínhư sau:
Trang 27Biều đồ 8: Hình thức chi trả học phí
Đa số ý kiến cho rằng chi trả học phí theo từng tháng là hợp lý nhất, có 77/105
ý kiến đồng ý, chiếm 73,3% Một phần cho rằng trả theo tuần thì thuận tiện hơn, có23/105 ý kiến đồng ý, chiếm 21,9% Số rất nhỏ 5/105 ý kiến (chiếm 4,8%) lại chọn
“Khác”, có thể là thanh toán theo quý hoặc trả trọn một năm học, tuy nhiên rất ít aithanh toán học phí như vậy bởi trả theo tuần hay theo tháng thì đối với những gia đìnhkhông có thu nhập cao sẽ cảm thấy thuận tiện hơn Vì thông thường các gia đìnhthường chi tiêu và tính toán theo từng tháng, và cho con đi học mầm non là khá tốnkém, nếu trả theo tháng hay theo tuần thì họ có thể sắp xếp chi tiêu hợp lý hơn Và đốivới đáp án thanh toán học phí theo ngày thì không có ai đồng ý với ý kiến đó, bởi nếuthanh toán theo ngày thì sẽ rất phiền toái cho Phòng giáo vụ khi ngày nào cũng phảithu tiền từ tất cả các phụ huỳnh như vậy
2.2.2.1 Hình thức chi trả theo ngày
Đối với hình thức này thì không có đối tượng điều tra nào chọn cả Nếu họcphí được trả theo ngày thì các giáo viên hay phòng Giáo vụ của trường sẽ phải làmviệc quanh năm suốt tháng với một nhiệm vụ thu tiền học phí như vậy, sẽ rất phức
Trang 28toán học phí theo các hình thức khác sẽ hợp lý hơn Nhóm chúng tôi đã điều tra sơ bộ
và biết được các mức học phí của các trường trong khoảng từ 10.000đ-40.000đ tuỳmỗi trường khác nhau
2.2.2.2 Hình thức chi trả theo tuần
Biểu đồ 9: Các mức học phí chi trả theo tuần
Theo thống kê ở biểu đồ Hình thức chi trả học phí nêu trên thì có 23/105 ý kiếncho rằng trả học phí theo tuần là hợp lý nhất, và 11/23 người đó chọn mức học phíphù hợp là 100.000-150.000đ/tuần Với mức thu nhập khá thì con số này để chi trảhọc phí cho con em học mầm non trong một tuần không phải là quá cao, nên đa số các
bà mẹ đã chọn mức học phí đó Và theo điều tra sơ bộ thì nhóm cũng thu thập đượcthông tin từ các trường mẫu giáo, đa số các trường đưa ra mức học phí như vậy Vớinhững trường cơ sở vật chất còn cũ kỹ hay chất lượng chưa cao thì mức học phí sẽthấp hơn Và theo kết quả thống kê trên thì có 34,8% đối tượng chọn dưới 100.000,thì điều này cũng rất phù hợp với những trường mẫu giáo thông thường, những trườngmẫu giáo chất lượng ở mức trung bình Và với mức học phí 150.000-200.000 và trên200.000/tuần là cao, và thật sự thì ở Huế hiện nay rất ít trường mẫu giáo có cơ sở vật
Trang 29chất hiện đại cao cấp, hay trình độ giáo dục chất lượng cao, nên mức học phí như vậykhông hợp lý lắm, do đó ít người chọn mức học phí đó.
2.2.2.3 Hình thức chi trả theo tháng
Biểu đồ 10: Các mức học phí chi trả theo tháng
Thông qua điều tra sơ bộ thì nhóm đã thu thập được thông tin từ các trườngmầm non cũng như từ các bà mẹ đang có con em học mầm non thì đa số các trườngđưa ra hình thức chi trả học phí theo từng tháng Và để hiểu rõ nhu cầu cụ thể của các
bà mẹ về việc thanh toán học phí cho con em thì nhóm đã điều tra thu được kết quảnhư biểu đồ trên Trong 105 đối tượng đựơc điều tra thì có 77 ý kiến có nhu cầu trảhọc phí theo từng tháng Và trong 77 đối tượng đó thì có 45,5% tức là 35/77 ý kiếncho rằng mức học phí thích hợp là 300.000-600.000đ/tháng Mức học phí này đốichiếu với mức học phí theo tuần được các bà mẹ chọn ở biểu đồ trên là hợp lý bởi mỗituần 100.000-150.000đ/tuần thì mỗi tháng khoảng 400.000-800.000 gần giống vớimức học phí theo tháng được lựa chọn nhiều nhất Và 31.2% ý kiến chọn mức học phíkhá cao 600.000-900.000/tháng chứng tỏ các đối tượng này thực sự muốn một trườngmầm non có chất lượng để cho con em theo học cho dù mức học phí cao họ vẫn sẵnsàng chi trả Rất ít ý kiến chọn mức học phí dưới 300.000đ/tháng và trên
Trang 30muốn tra mức học phí thấp để cho con vào một trường học không có chất lượng hoặctrả mức học phí quá cao thì sẽ nằm ngoài khả năng chi trả của họ Tính theo mức thunhập bình quân của các đối tượng khoảng 2-4 triệu mỗi tháng thì mức học phí phùhợp là 300.000-600.000đ/tháng, nằm trong khả năng chi trả của họ và vẫn có thể yêntâm cho con theo học tại một trường mầm non có chất lượng.
2.2.2.4 Hình thức thanh toán học phí tại trường
Bảng 5 : Hình thức thanh toán học phí tại trường
Hình thức thanh toán học phí tại
Nạp trực tiếp cho giáo viên chủ nhiệm 47 44.8
(Nguồn: Số liệu điều tra 04/2011)
Biểu đồ 11: Hình thức thanh toán học phí
Trang 31Đối với hình thức thanh toán học phí của con em mình trực tiếp cho giáo viênđược 47/105 đối tượng đồng ý chiếm 44,8% Đây là phương thức thanh toán được các
bà mẹ trông đợi nhất Bởi vì các bà mẹ muốn sự thuận tiện và nhanh chóng mỗi khinộp học phi cho con em mình Không những thế, các bà mẹ muốn nộp trực tiếp chogiáo viên để tạo sự cảm tình cho cô giáo mỗi khi mình nộp học sớm Cô cảm tình thìcon em mình sẽ được cô để tâm hơn, chăm sóc kĩ hơn Còn đối với phương thứcthanh toán: nạp trực tiếp cho phòng giáo vụ thì được 39/105 đối tượng khảo sát đồng
ý chiếm 37.1% Điều này cũng đúng vì đây là hình thức thanh toán học phí phổ biến ởcác trường công lập trên cả nước nên người dân đã quá quen với phương thức thanhtoán này Đối với hình thức chuyển khoản thì có 18/105 đối tượng điều tra đồng ýthanh toán bằng phương thức này, chiếm 17.1% tổng số ý kiến Đây là phương thứcthanh toán rất hiện đại đòi hỏi phải có sự hiểu biết về tin học nên một số rất ít ngườiđồng ý phương thức này Và những người muốn sử dụng phương thức thanh toán này
để nộp học phí hầu hết là người trẻ tuổi và họ quen với việc sử dụng hình thức chuyểnkhoản trong công việc hằng ngày
Trang 32(Nguồn: Số liệu điều tra 04/2011)
2.2.3.1 Thời gian học trong ngày
Trang 33Biểu đồ 12: Thời gian học trong ngày
Số lượng các bà mẹ có nhu cầu cho con học nội trú là 82/105 chiếm 78.1%.Đây là tỉ lệ khá cao Điều này cũng đúng vì công việc ngày nay đòi hỏi lượng thờigian dành cho công việc khá nhiều nên thời gian dành cho gia đình con cái bị thu hẹplại Chính vì vậy, các bà mẹ không thể có thời gian đón con, cho con ăn và làm vệsinh cho con mỗi bưổi trưa Và còn một lí do mà các bà mẹ không cho con về buổitrưa là sợ con em mình về nhà rồi thì lại không chịu buổi chiều đi học tiếp.Còn đốivới hình thức học bán trú thì có 23/105 người đồng ý chiếm 21.9% tổng số ý kiến điềutra về thời gian học trong ngày cho con em Các bà mẹ này muốn được chăm sóc contốt hơn, nhiều hơn Vì họ nghĩ buổi trưa là buổi quan trọng và họ sợ cô giáo không thể
có chăm lo tốt được Và thường những người này họ rất hạnh phúc khi dành càngnhiều thời gian cho con cái và việc chăm sóc gia đình nên đối với họ việc gửi con đihọc là để con trẻ tập thích nghi với bạn bè để quen với môi trường học tập sau này
Trang 342.2.3.2 Thời gian học trong tuần
Biểu đồ 13: Thời gian học trong tuần
Việc cho trẻ đến trường mầm non từ thứ 2 đến thứ 7 được nhiều người đồng ýnhất, có 62/105 đối tượng điều tra đồng ý chiếm 59% Do cuộc sống ngày càng pháttriển nên hầu hết các cơ quan ngày nay đều làm việc luôn thứ bảy Chính vì thế màcác bà mẹ cũng muốn gửi con luôn ngày thứ bảy vì không có ai trông con giùm Ngàychủ nhật thì họ muốn được chăm con nên không có nhu cầu cho đi mẫu giáo.Còn sốbuổi học từ thứ 2 đến thứ 6 được 27/105 người đồng ý chiếm 25.7% Các bà mẹ muốncon học số buổi học trong tuần như vậy hầu hết là do làm việc ở các cơ quan nhà nướcnên chỉ làm việc từ thứ 2 đến thứ 6.Các bà mẹ chọn cho con mình đi học cả tuần có16/105 đối tượng chiếm 15.2%.Họ có nhu cầu này do tính chất công việc mà họ đanglàm, không được nghỉ 1 ngày nào cả nên họ mong muốn con em được đi học ca tuần
để họ có thể an tâm làm việc
Trang 352.2.3.3 Thời gian nghỉ hè trong năm
Biểu đồ 14: Thời gian nghỉ hè trong năm
Số lượng các bà mẹ có mong muốn không cho trẻ nghỉ hè là 41/105 đối tượngđiều tra, chiếm 39% Do tính chất công việc của họ cũng không được nghỉ hè mà trẻnghỉ hè thì không có ai chăm nom các bé.Cũng có thể do sợ trẻ ở nhà sẽ mất đi sựđiều độ về thời gian ăn, ngủ, chơi…Vì trẻ con rất dễ bị thay đổi Các bà mẹ mongmuốn con mình được nghỉ hè 1 tháng là 43/105 chiếm 41%.Họ suy nghĩ là mộttháng nghỉ hè để cho trẻ được thay đổi môi trường cho trẻ không cảm thấy nhàm chánvới việc đến trường Và nhiều người nghỉ hè là thời gian cho trẻ được đi các nơi đểthăm ông bà, họ hàng…Cho trẻ tiếp xúc với nhiều môi trường sẽ làm cho trẻ sau này
dễ thích nghi với cuộc sông hơn
Còn một số ít có mong muốn cho trẻ được nghỉ hè hai tháng: có 20/105 người đồng ývới ý kiến này, chiếm 19% tổng số ý kiến Hầu hết những người này là giáo viên Họcũng được nghỉ hè nên thời gian nghỉ hè này họ cũng muốn tự mình chăm sóc con cái
Và việc này vừa giúp họ tiết kiệm được một khoản chi phí vừa giúp họ được gần gũi
và hiểu con cái hơn
Trang 362.3 Đánh giá của các bà mẹ về mong đợi đối với dịch vụ hỗ trợ tại trường mầm non
Nhu cầu của các bà mẹ ở các mức độ khác nhau, và đối với mỗi đối tượng thìđiều họ mong đợi về các dịch vụ tại trường mầm non cho con em mình theo học cũng
sẽ khác nhau Qua phỏng vấn điều tra sơ bộ các bà mẹ, nhóm nghiên cứu đã thu thậpđược 8 các ý kiến về sự mong đợi của các bà mẹ đối với các dịch vụ cụ thể tại trườngmầm non Và thông qua kết quả điều tra chính thức 105 đối tượng nhóm đã thu đượckết quả đánh giá của đối tượng như sau:
Trang 37Bảng 7 : Mức độ đánh giá của các bà mẹ về mong đợi đối với dịch vụ hỗ
trợ tại trường mầm non
STT Mong đợi về dịch
vụ hỗ trợ tại trường
Đơnvị
Mức độ đánh giá
Tổng
Giá trịtrungbình
(Nguồn: Số liệu điều tra 04/2011)
Qua kết quả thống kê mô tả từ bảng số liệu của quá trình điều tra, nhóm đã