1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIẢI đề THI PHÁP LUẬT về y tế và AN TOÀN THỰC PHẨM

15 64 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, người nước ngoài muốn thành lập bệnh viện tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện: - Hình thức tổ chức Điều 41 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009; - Điều kiện hoạt động của cơ sở kh

Trang 1

LỚP HS - HC 36A

1 Người nước ngoài có thể thành lập bệnh viện ở Việt Nam.

Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, Dịch vụ bênh viện (CPC 9311) thì người nước ngoài có thể thành lập bệnh viện tại Việt Nam Theo đó, người nước ngoài muốn thành lập bệnh viện tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện:

- Hình thức tổ chức (Điều 41 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009);

- Điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Điều 42 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009);

- Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Điều 43 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009)

- Và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật

Cơ sở pháp lý: Điều 41, 42, 43 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

2 Bác sỹ A là công chức, hiện đang làm việc tại một bệnh viện của Nhà nước Bác

sĩ A có thể góp vốn với một bác sĩ người nước ngoài để thành lập một cơ sở khám, chữa bệnh chuyên khoa phụ sản không? Tại sao?

Bác sỹ A không thể góp vốn với một bác sỹ người nước ngoài để thành lập một cơ sở khám, chữa bệnh chuyên khoa phụ sản

Vì việc góp vốn với người nước ngoài để thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp Theo khoản 13 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009, công chức y tế không được tham gia thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động theo Luật doanh nghiệp

Cơ sở pháp lý: khoản 13 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

3 Người nước ngoài không được phép cho, nhận tinh trùng, cho, nhận noãn.

- Đối với vấn đề cho tinh trùng, cho noãn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, không có quy định cấm người nước ngoài cho tinh trùng, cho noãn tại Việt Nam Người hiến tinh trùng, noãn chỉ cần đảm bảo điều kiện quy định tại Điều luật này

- Đối với vấn đề nhận tinh trùng, nhận noãn: Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, không có quy định cấm người nước ngoài nhận tinh trùng Nhưng người nhận noãn phải là người vợ mang quốc tịch Việt Nam hoặc có gốc Việt Như vậy, trong trường hợp này người nước ngoài không được phép nhận noãn tại Việt Nam

Tóm lại, người nước ngoài có thể được phép cho tinh trùng, nhận tinh trùng, cho noãn nhưng không được nhận noãn

Trang 2

Người gốc Việt là Người sinh ra ở nước ngoài, mang quốc tịch của nước ngoài, nhưng

có bố đẻ hoặc mẹ đẻ, hoặc cả bố mẹ đẻ, hoặc ông bà, tổ tiên đều là người Việt Nam ()

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 4; khoản 1, 2 Điều 5 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP

4 Người nước ngoài khám chữa bệnh ở Việt Nam đều phải biết Tiếng Việt.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009, người nước ngoài trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh ở Việt Nam có thể không biết Tiếng Việt thành thạo nhưng phải đăng ký ngôn ngữ sử dụng và có người phiên dịch

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 23 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

5 Người hành nghề khám, chữa bệnh không được phép bán thuốc cho người bệnh.

Về nguyên tắc, người hành nghề không được phép bán thuốc cho người bệnh Tuy nhiên, pháp luật cho phép bác sĩ đông y, y sĩ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền bán thuốc cho người bệnh

Cơ sở pháp lý: khoản 5 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

6 Tất cả các cơ sở khám chữa bệnh có nghĩa vụ tiếp nhận bệnh nhân cấp cứu trong mọi trường hợp.

- Pháp luật nghiêm cấm hành vi từ chối cấp cứu cho bệnh nhân (khoản 1 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009)

- Trong trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh thì vẫn phải thực hiện cấp cứu cho người bệnh (khoản 1 Điều 32 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009)

- Bên cạnh đó, kịp thời cấp cứu cho người bệnh là nghĩa vụ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

7 Pháp luật hiện hành có cấm nạo phá thai và siêu âm để chẩn đoán giới tính thai nhi không? Vì sao?

- Về vấn đề nạo phá thai, khoản 1 Điều 44 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 cho

phép phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng Dù được ban hành đã

lâu, nhiều điều khoản trong đó có thể đã không còn phù hợp với thay đổi của thực tiễn, tuy nhiên, Luật này vẫn đang còn hiệu lực pháp lý Chính vì vậy, đây vẫn là cơ sở để thừa nhận quyền nạo, phá thai của phụ nữ1

1 Những trường hợp pháp luật nghiêm cấm không được phép phá thai:

+ Loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính (khoản 2 Điều 7 Pháp lệnh dân số năm 2003 được hướng dẫn bởi

khoản 3 Điều 10 Nghị định 104/2003/NĐ-CP).

+ Phá thai trên 22 tuần tuổi (mục 7 về Phá thai an toàn tại Quyết định số 4620/QĐ-BYT ngày 25/11/2009 của

Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”).

Hiện Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có quy định về Tội phá thai trái phép tại Điều 316.

Trang 3

- Về vấn đề siêu âm để chẩn đoán giới tính thai nhi, khoản 2 Điều 7 Pháp lệnh dân số

2003 (được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2008/UBTVQH12) nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 10 Nghị định số 104/2003/NĐ-CP, chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi bằng biện pháp siêu âm là hành vi vi phạm pháp luật

Như vậy, pháp luật hiện hành cho phép nạo phá thai hợp pháp và nghiêm chẩn đoán

để lựa chọn giới tính thai nhi bằng biện pháp siêu âm

8 Chỉ có Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,

Bộ trưởng Bộ Công thương có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

Căn cứ Điều 35 Luật an toàn thực phẩm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương quy định cụ thể thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

LỚP DS39

1 Người nước ngoài không thể đăng ký hành nghề khám, chữa bệnh tại một cơ

sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam.

Người nước ngoài có thể đăng ký hành nghề khám, chữa bệnh tại một cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam theo quy định tại Điều 19 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

Trong trường hợp người nước ngoài có chứng chỉ hành nghề được Việt Nam thừa nhận thì vẫn có thể đăng ký hành nghề khám, chữa bệnh tại một cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam

Cơ sở pháp lý: Điều 19, 22 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

2 Bệnh viện không được phép giải phẫu tử thi nếu người nhà người chết không đồng ý.

Theo điểm a khoản 2 Điều 21 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006, trong trường hợp người nhà của người chết không đồng ý, bệnh viện vẫn

có thể được phép giải phẫu tử thi nếu người này có thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết

Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 2 Điều 21 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006

3 Đứa con được sinh ra bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản là con của ai?

Việc đứa con được sinh ra bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản là con của ai được xác định như sau:

Trang 4

- Đối với cặp vợ chồng vô sinh: Nếu đứa con được sinh ra trong các trường hợp quy định khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì được xác định là con chung của vợ chồng

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 93, khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

- Đối với phụ nữ độc thân: Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra

Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

- Đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đứa con sinh ra là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời đểm con được sinh ra Việc mang thai

hộ vì mục đích nhân đạo không làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng người được nhờ mang thai hộ với đứa trẻ được sinh ra

Cơ sở pháp lý: Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

4 Thuốc chưa được cấp số đăng ký lưu hành ở Việt Nam thì không được sử dụng

để điều trị.

Thuốc chưa được cấp số đăng ký lưu hành ở Việt Nam có thể được sử dụng để điều trị nếu thuộc các trường hợp sau:

- Thuốc pha chế theo đơn tại nhà thuốc quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Luật dược; thuốc sản xuất, pha chế tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 85 Luật dược;

- Thuốc được nhập khẩu quy định tại khoản 2 Điều 60 Luật dược;

- Thuốc cổ truyền theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 70 Luật dược

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 54 Luật dược

5 Bác sỹ A là công chức, hiện đang làm việc tại một bệnh viện của Nhà nước Bác

sĩ A có thể góp vốn với một bác sĩ người nước ngoài để thành lập một cơ sở khám,

chữa bệnh chuyên khoa phụ sản không? Tại sao? (Như trên)

6 Pháp luật hiện hành có cấm nạo phá thai và siêu âm để chẩn đoán giới tính thai

nhi không? Vì sao? (Như trên)

7 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

- Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chỉ quản lý an toàn thực phẩm trong phạm

vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình: lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, muối

Cơ sở pháp lý: khoản 1, 2, 3 Điều 61, Điều 63 Luật an toàn thực phẩm

Trang 5

LỚP HC – HS42B

1 Thầy thuốc chỉ được phẫu thuật khi có sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân người bệnh.

- Thứ nhất, Luật khám bệnh, chữa bênh 2009 không sử dụng thuật ngữ “thầy thuốc”

mà sử dụng thuật ngữ “người hành nghề”, “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”

- Thứ hai, trường hợp không thể hỏi ý kiến của người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh và nếu không thực hiện phẫu thuật sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng của

người bệnh thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quyết định tiến

hành phẫu thuật cho người bệnh

Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 61, khoản 6, 7 Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

2 Bác sĩ A là công chức, hiện đang làm việc tại một bệnh viện của Nhà nước Bác

sĩ A muốn thành lập một cơ sở khám, chữa bệnh chuyên khoa phụ sản Bác sĩ A

có thể thành lập và đăng ký là người lãnh đạo một bệnh viện chuyên khoa phụ sản hay không? Tại sao?

- Về việc bác sĩ A có được thành lập bệnh viện chuyên khoa phụ sản hay không?

Căn cứ theo khoản 13 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009, công chức y tế bị cấm thành lập bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã

Như vậy, bác sỹ A không được thành lập bệnh viện chuyên khoa phụ sản

Cơ sở pháp lý: khoản 13 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

- Về việc bác sĩ A có thể đăng kí là người lãnh đạo bệnh viện chuyên khoa phụ sản hay không?

+ Cũng theo quy định tại khoản 13 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009, công chức y tế không được tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã

+ Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 12 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP cũng quy định người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước không được đăng ký làm người đứng đầu của bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã

Từ những phân tích nêu trên, bác sĩ A không thể đăng kí là người lãnh đạo bệnh viện chuyên khoa phụ sản

Cơ sở pháp lý: khoản 13 Điều 6 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009, khoản 5 Điều 12 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP

3 Bệnh viện không được phép giải phẩu tử thi nếu người nhà của người chết

không đồng ý (Như trên)

Trang 6

4 Trong mọi trường hợp người bệnh được quyền từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ

sở khám chữa bệnh.

Người bệnh được quyền từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám chữa bệnh nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về hành vi của mình

Tuy nhiên, khi rơi vào các trường hợp sau, người bệnh bắt buộc phải chữa bệnh:

- Mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm;

- Bệnh tâm thần ở trạng thái kích động, trầm cảm có ý tưởng, hành vi tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác theo quy định của pháp luật

Do đó, không phải lúc nào người bệnh cũng được quyền từ chối chữa bệnh và ra khỏi

cơ sở khám chữa bệnh

Cơ sở pháp lý: Điều 12, khoản 1 Điều 66 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009

5 Thực phẩm nhập khẩu từ nước có ký kết điều ước quốc tế với Việt Nam không cần phải kiểm tra về an toàn thực phẩm.

- Thực phẩm nhập khẩu từ nước có ký kết điều ước quốc tế với Việt Nam về thừa nhận lẫn nhau đối với hoạt động chứng nhận an toàn thực phẩm được áp dụng chế độ kiểm tra giảm, trong trường hợp có cảnh báo hoặc phát hiện có dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam về an toàn thực phẩm thì vẫn phải tiến hành kiểm tra

- Chỉ có các thực phẩm nhập khẩu theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP được miễn kiểm tra về an toàn thực phẩm Tuy nhiên, trong trường hợp có cảnh báo về an toàn thực phẩm thì vẫn phải tiến hành kiểm tra

Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 39 Luật an toàn thực phẩm, Điều 13 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP

Trang 7

-DS41

1. Người nước ngoài không được phép cho, nhận tinh trùng, cho, nhận noãn.

Câu nhận định sai

Theo quy định tại Điều 6 Luật số 75/2006 quy định Nam từ đủ mười lăm tuổi trở lên thì có quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn theo quy định của pháp luật Luật không cấm người nước ngoài cho, nhận tinh trùng, noãn nên chủ thể này

có đầy đủ quyền cho, nhận tinh trùng miễn là đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật

Mặc khác, theo quy định tại Điều 4 Nghị định 10/2015 quy định về việc cho tinh trùng, noãn và Điều 5 quy định về việc nhận tinh trùng, noãn thì:

- Việc cho tinh trùng, noãn (Điều 4), nhận tinh trùng (khoản 1 Điều 5) thì không quy định chủ thể cụ thể, nên áp dụng khoản 3 Điều 1 Nghị định 10/2015 thì chủ thể thực hiện những quyền này là cá nhân Việt Nam, cá nhân là người nước ngoài

- Việc nhận noãn (khoản 2 Điều 5) phải là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam Do đó, người nước ngoài nhưng có gốc là Việt Nam thì nếu đáp ứng đủ điều kiện thì vẫn được nhận noãn

Người gốc Việt là Người sinh ra ở nước ngoài, mang quốc tịch của nước ngoài, nhưng có bố đẻ hoặc mẹ đẻ, hoặc cả bố mẹ đẻ, hoặc ông bà, tổ tiên đều là người Việt Nam.

Như vậy, từ những cơ sở pháp lý nêu trên, người nước ngoài vẫn được phép cho, nhận tinh trùng, cho nhận noãn, miễn đáp ứng đủ điểu kiện theo quy định của pháp luật

CSPL:

2. Người hành nghề khám, chữa bệnh không được phép bán thuốc cho người bệnh.

Câu nhận định sai

Một số trường hợp cụ thể luật quy định thì người hành nghề khám, chữa bệnh vẫn được phép bán thuốc cho người bênh Cụ thể, theo quy định tại khoản 5 Điều 6 Luật KBCB thì trừ bác sỹ đông y, y sỹ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền thì người hành nghề bị cấm bán thuốc cho người bệnh Do đó, bác sỹ đông y, y sỹ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền là những người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (khoản 6, 8, 9 Điều 2) thì được bán thuốc cho người bệnh

CSPL:

3. Tất cả các cơ sở khám chữa bệnh có nghĩa vụ tiếp nhận bệnh nhân cấp cứu trong mọi trường hợp.

Câu nhận định đúng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật KBCB thì việc từ chối hoặc cố ý chậm

Trang 8

cấp cứu người bệnh là hành vi bị cấm Mặc khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 32, quy định việc người hành nghề được quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh trong những trường hợp luật định nhưng trong trường hợp này, người hành nghề vẫn phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc người bệnh Và một trong những nghĩa vụ của người hành nghề quy định tại khoản

1 Điều 36 là sơ cứu, cấp cứu cho người bệnh

Như vậy, tất cả các cơ sở khám chữa bệnh có nghĩa vụ tiếp nhận bệnh nhân cấp cứu trong mọi trường hợp

CSPL:

4. Chỉ có Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trường Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cơ

sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

Nhận định sai

Theo quy định tại Điều 35 VBHN Luật ATTP thì Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trường Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương quy định cụ thể thẩm quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện

an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công, quản lý

Như vậy, ngoài Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trường Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công thương có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cơ

sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công, quản lý, thì còn có những cơ quan khác được Bộ trưởng các bộ này quy định việc cấp chứng nhận nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm

CSPL:

TM36A

1. Việc cho nhận tinh trùng, noãn, phôi phải đảm nguyên tắc bí mật.

Nhận định sai

Chỉ có việc cho nhận tinh trùng, phôi mới đảm bảo nguyên tắc bí mật theo quy định tại khoản 4 Điều 3 NĐ 10/2015

Việc cho nhận noãn thì luật không quy định

2. Pháp luật Việt Nam cấm mang thai hộ.

Nhận định sai

Nghị định 10/2015 có quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Đủ điều kiện thì được mang thai hộ theo Chương V nghị định 10

3. Người nước ngoài không được phép thành lập bệnh viện ở Việt Nam

Nhận định sai

Theo quy định tại Điều 19 Luật KBCB thì người nước ngoài vẫn được cấp chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật

Trang 9

Theo đó, người nước ngoài vẫn được phép thành lập cơ sở khám chữa bệnh nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, trong đó, cơ sở khám chữa bệnh phải có giấy phép hoạt động, nếu giấy phép hoạt động đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 43 thì được phép thành lập cơ sở khám chữa bệnh, người nước ngoài đáp ứng các quy định này vẫn được thành lập

cơ sở khám chữa bênh

Theo điểm b khoản 1 Điều 46 Luật KBCB thì hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động có liệt kê Bản sao giấy chứng nhận đầu tư đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vấn đầu tư nước ngoài

Bệnh việc là một trong những hình thức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (điểm a khoản 1 Điều 41)

4. Bác sĩ A là công chức, hiện đang làm việc tại một bệnh viện của NN Bác sĩ A muốn thành lập một cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa phụ sản Bác sĩ A có thể thành lập và đăng ký là người lãnh đạo một bệnh viện chuyên khoa phụ sản không? Tại sao?

Căn cứ theo khoản 5 Điều 12 NĐ 109/2016/NĐ-CP thì người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước không được đăng ký làm người đứng đầu của bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước Theo khoản 13 Điều 6 Luật KBCB cũng quy định việc cán bộ, công chức, viên chức y tế không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước Vậy hiện bác sĩ A là công chức và hiện đang làm việc tại một bệnh viện của Nhà nước nên không thể đăng ký là người lãnh đạo hay thành lập một bệnh viện chuyên khoa phụ sản Vì trong mục 1 phần 2 Quy chế bệnh viện ban hành kèm theo QĐ 1895/1997/QĐ-BYT quy định, người thành lập bệnh viện tư là giám đốc bệnh viện phải chịu trách nhiệm quản lý, điều hành về mọi hoạt động của bệnh viện đó

Như vậy, nếu là bác sĩ hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thì cũng không được thành lập bệnh viện Tư nhân vì sẽ phải tham gia quản lý, điều hành tại bệnh viện tư nhân

đó là vi phạm vào khoản 13 Điều 6 Luật KBCB, khoản 5 Điều 12 NĐ 109/2016/NĐ-CP

CSPL:

5. Thuốc chưa được cấp số đăng ký lưu hành ở Việt Nam thì không được

Trang 10

sử dụng để điều trị.

Nhận định sai

Trong những trường hợp quy định tại khoản a, b, c khoản 1 Điều 54 Luật Dược thì thuốc chưa được đăng ký lưu hành tại Việt Nam vẫn được sử dụng pla pla

6. Cơ sở y tế không được lấy bộ phận cơ thể và lấy xác của người chết nếu thân nhân họ không đồng ý.

Nhận định sai

Cơ sở y tế được quyền lấy bộ phận cơ thể và lấy xác của người chết nếu như họ có thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người, thẻ đăng ký hiến xác

mà không cần có sự đồng ý của thân nhân họ

CSPL: điểm a khoản 2 Điều 21, điểm a khoản 2 Điều 22 Luật Hiến

7. Trong mọi trường hợp, người bệnh được quyền từu chối chữa bệnh và

ra khỏi cơ sở khám, chữa bệnh.

Sai Khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 66 Luật KBCB

8. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

Nhận định sai

Các cơ sở khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật ATTP thì sẽ được Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm Tuy nhiên có những đối tượng không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ

sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm do Chính phủ quy định cụ thể Do đó, không phải cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm

CSPL: khoản 3 Điều 34 Luật ATTP

TM39

1 Người nước ngoài có thể được phép thành lập bệnh viện ở Việt Nam.

Nhận định đúng

Theo quy định tại Điều 19 Luật KBCB thì người nước ngoài vẫn được cấp chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật

Theo đó, người nước ngoài vẫn được phép thành lập cơ sở khám chữa bệnh nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, trong đó, cơ sở khám chữa bệnh phải có giấy phép hoạt động, nếu giấy phép hoạt động đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 43 thì được phép thành lập cơ sở khám chữa bệnh, người nước ngoài đáp ứng các quy định này vẫn được thành lập

Ngày đăng: 24/05/2021, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w