Đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 29, “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới” Bộ Giáo dục và đào tạo, 2018 đã đề xuất năng lực cần hình thành và
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS LÊ CÔNG TRIÊM
2 TS LÊ THANH HUY
Phản biện 1: TS PHÙNG VIỆT HẢI
Phản biện 2: PGS.TS NGUYỄN VĂN BIÊN
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Khoa học giáo dục họp tại Trường Đại học Sư phạm vào ngày 9 tháng 5 năm 2020
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN Khoa Vật lý, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xu hướng chung của dạy học trên thế giới hiện nay là nhằm hình thành và phát triển năng lực cho người học chứ không đơn thuần là cung cấp kiến thức, kĩ năng và hình thành thái độ học tập Theo đó, Nghị quyết 29 của Ban chấp hành
TW lần thứ 8 (khóa XI) đã khẳng định: “phải chuyển đổi căn bản toàn bộ nền giáo dục từ chủ yếu truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học,…” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI, 2013) Đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 29, “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới” (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2018) đã đề xuất năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh, trong đó có năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ)
và sáng tạo [2]
Để chuẩn bị cho công cuộc đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực sau năm 2018, chúng ta đã và đang có những chuẩn bị kĩ lưỡng về thay đổi chương trình, sách giáo khoa, phương pháp và phương tiện dạy học, kiểm tra, đánh giá… Đã
có nhiều phương pháp dạy học tích cực áp dụng thành công trên thế giới; một trong số đó là phương pháp dạy học nhờ sự
hỗ trợ mạng xã hội – một hình thức dạy học mở, hiện đang rất phát triển ở các nước tiên tiến và ở Việt Nam cũng đang từng bước triển khai áp dụng
Chính vì những lý do trên mà tôi quyết định chọn nghiên
cứu đề tàì: Dạy học chương “Dòng điện trong các môi
trường” - Vật lý 11 theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh với sự hỗ trợ của facebook
Trang 42 Mục tiêu đề tài
Xây dựng được quy trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực GQVĐ của HS với sự hỗ trợ của mạng xã hội facebook và vận dụng được vào dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” Vật lý 11 THPT để phát triển năng lực GQVĐ của HS
3 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình dạy học định phát triển năng lực GQVĐ của HS với sự hỗ trợ của mạng xã hội facebook và vận dụng quy trình đó vào tổ chức dạy học chương
“Dòng điện trọng các môi trường” Vật lý 11 THPT thì sẽ phát triển được năng lực GQVĐ của HS
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội facebook
- Đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học khi sử dụng facebook vào trong dạy học
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm, kiểm chứng hiệu quả của việc tổ chức dạy theo hướng sử dụng mạng xã hội facebook vào trong dạy học để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
5 Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động dạy học Vật lý ở trường trung học phổ thông dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh với sự hỗ trợ của mạng xã hội facebook
6 Phạm vi nghiên cứu
Trang 5Trong thời gian và khả năng cho phép, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” Vật lý 11 THPT theo định hướng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của mạng xã hội facebook tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2 Phương pháp điều tra:
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận chung và kiến nghị; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học
sinh với sự hỗ trợ facebook
- Chương 2: Xây dựng tiến trình dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” theo định hướng phát triển năng lực
giải quyết vấn đề của học sinh với sự hỗ trợ của facebook
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ
MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK
1.1 Năng lực
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra định nghĩa
về năng lực Mỗi định nghĩa nêu ra, năng lực được quy về một phạm trù khác nhau
Như vậy, theo chúng tôi được hiểu năng lực là khả năng của cá nhân thực hiện một công việc chuyên môn và được thể hiện trong hoạt động thực tiễn Trong đó, năng lực được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể
Trên cơ sở đó, các năng lực chuyên biệt môn Vật lí được hình thành dựa trên đặc thù bộ môn, phương pháp nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn Dưới đây, là hệ thống năng lực được phát triển theo chuẩn năng lực chuyên biệt môn Vật lí đối với HS 15 tuổi của Cộng hòa Liên bang Đức [2] Trong chương trình môn vật lý, mỗi thành tố của các năng lực chung cũng như năng lực đặc thù nói trên được đưa vào từng chủ đề, từng mạch nội dung dạy học, dưới dạng các yêu cầu cần đạt, với các mức độ khác nhau
Tương ứng với mỗi năng lực, có các năng lực thành phần
Trang 7tương ứng, với chuẩn kiến thức, kĩ năng thái độ làm nền tảng,
để phát triển năng lực đó
Theo tác giả Hoàng Hòa Bình có hai cách tiếp cận cấu trúc của năng lực [1]: Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành Năng lực là hợp thành giữa các nguồn lực: tri thức, kĩ năng và thái độ, với sự thể hiện của chúng trong hoạt động là năng lực hiểu, năng lực làm và năng lực ứng xử
Đó là mối quan hệ giữa nguồn lực (đầu vào) và kết quả (đầu ra) hay giữa cấu trúc bề mặt với cấu trúc bề sâu của năng lực
1.2 Năng lực giải quyết vấn đề
1.2.1 Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Theo Pisa 2003: “Năng lực GQVĐ là khả năng một cá nhân có thể sử dụng các quy trình nhận thức để đối mặt và giải quyết những vấn đề thật mang tính chất liên ngành trong khi giải pháp không phải luôn rõ ràng và những mảng kiến thức cần thiết để giải quyết vấn đề, không chỉ nằm riêng rẽ trong một lĩnh vực toán học, khoa học hay đọc hiểu” [4]
Như vậy, năng lực GQVĐ là khả năng của cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để phát hiện, hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề, mà ở đó HS chưa thể tìm ra ngay giải pháp để giải quyết vấn đề đó, bao gồm cả thái độ sẵn sàng tham gia vào các tình huống có vấn đề
1.2.2 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề
- Hợp phần: lĩnh vực chuyên môn tạo nên năng lực
- Thành tố: là các năng lực hoặc các kĩ năng bộ phận, tạo nên mỗi hợp phần
- Hành vi: là bộ phận được chia tách từ mỗi thành tố
Trang 8Từ đó, xác định các năng lực hợp phần của năng lực GQVĐ bao gồm:
- Tìm hiểu vấn đề: Phát hiện, nhận biết vấn đề; làm rõ bản chất của vấn đề; biểu đạt vấn đề; xác định mục tiêu vấn đề
1.3 Tổng quan về mạng xã hội hiện nay
1.3.1 Khái niệm
Mạng xã hội (Social network) là dịch vụ kết nối các các thành viên có cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt về không gian và thời gian [1]
Hiện nay có rất nhiều trang MXH như: Google, Skype, Twitter, Twoo, Zing me, Line, Facebook nhưng sự phát triển của chúng là khác nhau Trong đó, Facebook vượt lên trở thành mạng xã hội dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng của người dùng Hiện nay ở Việt Nam, số lượng người dùng Facebook tăng lên đáng kể, có đến 47% người lên Facebook hơn 3 giờ đồng hồ mỗi ngày và 17% sử dụng 6 tiếng mỗi ngày Các tính năng được sử dụng phổ biến của Facebook là bình luận, xem trạng thái và chia sẻ các trạng thái [3]
1.3.2 Đặc trưng
Đặc điểm nổi bật của MXH là tính kết nối và chia sẻ rất mạnh MXH đã phá vỡ tính ngăn cách về địa lý, ngôn ngữ, giới tính và mọi quốc gia trên thế giới [1] Những gì bạn nghĩ, bạn làm, những sự kiện xảy ra ở mọi nơi trên khắp thế giới bạn có thể truy cập được trong tích tắc
1.3.3 Cấu trúc chung của một mạng xã hội
MXH là một mạng được tạo ra để tự thân nó lan rộng trong cộng đồng thông qua các tương tác của các thành viên
Trang 9trong chính cộng đồng đó Mọi thành viên trong xã hội cùng kết nối và mỗi thành viên là một mắt xích để tạo nên một mạng lưới rộng lớn truyền tải thông tin trong đó Mỗi MXH giống như một xã hội ảo, mỗi tài khoản là một ngôi nhà trong xã hội
đó, MXH hoạt động như một dây chuyền, A chia sẻ cho B, B chia sẻ cho C, C chia sẻ tiếp D và cứ thế chuỗi chia sẻ này kéo dài mãi mãi, và mức độ lan truyền rất nhanh, từ đó nhiều người biết đến và ứng dụng các tiện ích mà mạng xã hội đem lại [1]
1.3.4 Giới thiệu về mạng xã hội Facebook
Facebook là một website MXH truy cập miễn phí do công ty Facebook Inc điều hành và sở hữu tư nhân Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác
Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng [1]
Hiện nay, có khoảng 500 nghìn ứng dụng đang hoạt động trên Facebook Nghiên cứu của website Compete.com xếp hạng Facebook là trang MXH được nhiều người sử dụng nhất thế giới tính theo số lượng người dùng thực tế Tăng trưởng người dùng của Facebook tại Việt Nam cũng thuộc top dẫn đầu thế giới [2]
1.3.5 Các tính năng và ứng dụng của mạng xã hội Facebook
Trang đăng nhập: Trang đăng nhập của Facebook có phần đăng nhập giành cho những người đã đăng ký tài khoản
Trang 10và phần mẫu đăng ký dành cho người đăng ký tài khoản mới Các ngôn ngữ được liệt kê ở phần cuối trang
Dành cho học sinh có thể tự tạo cho mình facebook cá
nhân để tham gia vô nhóm học tập của lớp
1.4 Phát triển năng lực GQVĐ của học sinh với sự hỗ trợ mạng xã hội facebook
1.4.1 Các tính năng của mạng xã hội có thể sử dụng trong dạy học vật lý để phát triển năng lực GQVĐ của học sinh
Với những tính năng đa dạng mà các nhà cung cấp dịch
vụ tạo ra trên Facebook, GV có thể khai thác nó để tổ chức các hoạt động dạy học tất cả các môn nói chung, cũng như môn Vật lí nói riêng
- Wall (tường): một không gian trên trang hồ sơ của mỗi
thành viên đăng tải những status chủ đề về vật lý hoặc hình ảnh thí nghiệm, file tài liệu vật lý, cho phép bạn bè họ đăng các tin nhắn trao đổi thảo luận các kiến thức vật lý, cho thành viên mà
họ có kết nối xem những thông tin mà người dùng đăng tải
- Pokes (chọc): cho phép bạn thông báo cho bạn bè là họ
đã bị chọc để nhắc nhở các bạn vào nhóm để trao đổi vấn đề liên quan đến các sự kiện vật lý
- Hình ảnh/video: nơi đây học sinh có thể upload hình ảnh và các video clip liên quan đến nội dung bài học vật lý mà
GV đã giao về nhà tìm hiểu
- Status (trạng thái): cho phép bạn thông báo cho bạn bè
họ đang ở đâu và làm gì, trong status thì còn có thể chèn các hình ảnh, đường link hoặc các video để chia sẻ và cùng bàn luận về các vấn đề liên quan đến vật lý
Trang 111.4.2 Bộ tiêu chí đánh giá năng lực giải quyết vấn đề
Từ những năng lực hợp phần, các năng lực thành tố đã được trình bày ở trên Để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực GQVĐ, cần dựa trên cơ sở các chỉ số hành vi được mô tả bằng các tiêu chí chất lượng tương ứng
1.5 Quy trình tổ chức dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh với việc ứng dụng mạng xã hội facebook
Căn cứ vào các tính năng của facebook và đặc điểm về dạy học phát triển năng lực GQVĐ của HS, chúng tôi đề xuất quy trình tổ chức dạy học theo hướng bồi dưỡng NL giải quyết vấn đề cho HS với sự hỗ trợ của facebook
1.5 Thực trạng về việc sử dụng mạng xã hội và việc giải quyết vấn đề của học sinh ở trường THPT
1.5.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng NL GQVĐ của HS (đầu vào)
Tìm hiểu tình hình dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” cũng như tình hình sử dụng mạng xã hội facebook trong dạy học kiến thức của chương
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên và đề xuất biện pháp khắc phục
1.5.2 Đối tượng điều tra
8 GV Vật lí và 70 HS khối 11 của trường THPT SỐ 2
TƯ NGHĨA, Quảng Ngãi
1.5.3 Kết quả điều tra
a Về phía GV
b Về phía học sinh
1.5.4 Nhận xét về kết quả điều tra
Trang 12Dựa trên kết quả đã thu thập được thông qua các phiếu khảo sát, cùng với việc tham quan và trao đổi trực tiếp với GV,
HS, cán bộ quản lí phòng thực hành TN, chúng tôi đưa ra một
số nhận định ban đầu như sau:
a Về phía GV
Đa số GV đều nhận định rằng việc bồi dưỡng, phát triển
NL GQVĐ của HS là rất cần thiết Tuy nhiên, thỉnh thoảng hoặc chỉ khi có người dự giờ thì GV mới chú ý đến việc phát triển NL GQVĐ cho HS Đa số tiết học GV chỉ truyền đạt kiến thức và yêu cầu HS học thuộc Một số GV cũng đã chủ động tổ chức DH nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS nhưng chỉ tập trung vào một vài hành vi cụ thể chứ chưa rèn luyện được tất
cả các thành tố của NL GQVĐ Nhìn chung, có thể thấy HS không được tạo nhiều cơ hội để rèn luyện và phát triển NL GQVĐ của bản thân
b Về phía HS
Đa số HS cũng đều cho rằng việc bồi dưỡng, phát triển
NL GQVĐ cho các em là rất cần thiết Nhưng thỉnh thoảng hoặc chỉ khi có người dự giờ thì các em mới được GV chú ý rèn luyện, đa số các tiết học GV chỉ thông báo kiến thức và yêu
cầu các em học thuộc
Từ những số liệu thu được, kết hợp với điều tra GV và
HS, chúng tôi rút ra được một số nhận xét sau:
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này đã tập trung nghiên cứu và hệ thống hoá cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng NL GQVĐ cho HS với sự hỗ trợ của MXH
Trang 13Đã làm rõ được: Năng lực GQVĐ là khả năng một cá nhân có thể sử dụng các quy trình nhận thức để đối mặt và giải quyết những vấn đề thật mang tính chất liên ngành trong khi giải pháp không phải luôn rõ ràng và những mảng kiến thức cần thiết để giải quyết vấn đề, không chỉ nằm riêng rẽ trong một lĩnh vực toán học, khoa học hay đọc hiểu
Xác định được hệ thống khái niệm GQVĐ, các bước và rèn luyện các KN thành phần như đọc, ghi, nhớ, phân tích, tổng hợp, so sánh, giải bài tập, thực hành, thí nghiệm
Giới thiệu tổng quan về MXH và MXH Facebook Giới thiệu cách sử dụng MXH Facebook và đề xuất các biện pháp
sử dụng MXH Facebook trong việc bồi dưỡng NL GQVĐ cho
HS
Đánh giá được thực trạng việc sử dụng MXH trong việc bồi dưỡng NL GQVĐ cho HS trong QTDH ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Bên cạnh đó, chúng tôi xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực GQVĐ có 4 thành tố: (1) phân tích tình huống, phát hiện vấn đề và phát biểu vấn đề cần giải quyết bằng nhóm facebook, (2) đề xuất và lựa chọn phương pháp GQVĐ bằng các hình thức trao đổi với bạn bè thông qua facebook như nhắn tin, hoặc trao đổi với nhau qua facebook, (3) lập kế hoạch và thực hiện giải pháp, (4) đánh giá hoàn thiện quá trình GQVĐ
và đưa ra khả năng áp dụng kết quả thu được trong việc GQVĐ tương tự Mỗi thành tố còn có các chỉ số hành vi, mỗi chỉ số hành vi có 4 mức biểu hiện hành vi
Ngoài ra chúng tôi đã đề xuất các bước tổ chức dạy học
sử dụng mạng xã hội facebook để phát triển năng lực GQVĐ