Trong 9 môn học, môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng, nó cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cách thức sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp và tư duy: học sinh được hình th
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình
của cô Th.s Nguyễn Thị Thúy Nga, khóa luận của em đến nay đã được hoàn thành Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Nguyễn Thị Thúy Nga, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo cho em nhiều kinh nghiệm quý báu
trong thời gian em thực hiện khóa luận này Em xin chân thành cám ơn sự giúp
đỡ của các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, thầy cô giáo trong trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và Nguyễn Văn Trỗi đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong thời gian em làm khóa luận
Do chưa thực hiện nhiều công tác nghiên cứu khoa học, hơn nữa do thời gian và năng lực của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót trong khóa luận Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2020
Sinh viên
Đỗ Thị Kỳ Duyên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài nghiên cứu là của riêng em, không trùng với kết quả của các tác giả khác Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận có tính khách quan, trung thực và kết quả của em trong quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua dưới sự hướng dẫn của cô – Th.s Nguyễn Thị Thúy Nga Nếu sai, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2020
Sinh viên
Đỗ Thị Kỳ Duyên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
LỜI CAM ĐOAN 3
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Các công trình nghiên cứu về việc sử dụng từ và lỗi dùng từ trong văn bản 2
2.2 Các công trình nghiên cứu về dạy học TLV ở tiểu học 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 5
7.2 Phương pháp điều tra 5
7.3 Phương pháp thống kê miêu tả 5
8 Cấu trúc đề tài 5
Chương 1 6
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Đặc điểm tâm lý 6
1.1.1 Đặc điểm lứa tuổi 6
1.1.2 Đặc điểm hoạt động 6
1.2 Đặc điểm nhận thức 6
1.2.1 Nhận thức cảm tính 6
1.2.2 Nhận thức lý tính 6
1.3 Một số vấn đề chung về từ và từ tiếng Việt 7
1.3.1 Khái niệm về từ và từ tiếng Việt 7
1.3.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt 7
Trang 51.3.3 Các bình diện chủ yếu của từ: 7
1.4 Một số yêu cầu về dùng từ trong văn bản 8
1.4.1 Dùng từ phải đúng âm thanh, hình thức cấu tạo 8
1.4.2 Dùng từ phải đúng về nghĩa 8
1.4.3 Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp 9
1.4.4 Dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản 9
1.4.5 Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản 9
1.4.6 Dùng từ, cần tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bị sáo rỗng, công thức 9
1.5 Một số vấn đề chung về dạy học phân môn Tập làm văn 9
1.5.1 Mục tiêu môn Tiếng Việt theo chương trình 2006 9
1.5.2 Vị trí của phân môn Tập làm văn 9
1.5.3 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn 9
1.5.4 Phương pháp dạy học Tập làm văn 10
1.5.5 Quy trinh dạy Tập làm văn 10
1.5.6 Nội dung dạy học Tập làm văn ở lớp 4 11
Tiểu kết chương 1 12
Chương 2 13
KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ TRONG PHÂN MÔN 13
TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4 13
2.1 Một số vấn đề chung về năng lực 13
2.1.1 Khái niệm về năng lực 13
2.1.2 Các phẩm chất và năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 13
2.1.3.Yêu cầu cần đạt về năng lực viết của học sinh lớp 4 14
2.2 Khảo sát năng lực sử dụng từ của học sinh lớp 4 thông qua môn Tập làm văn 15
2.2.1 Mục đích khảo sát 15
2.2.2 Tổ chức khảo sát 15
2.3 Phân tích kết quả khảo sát 15
2.3.1 Kết quả khảo sát giáo viên 15
Trang 62.3.2 Kết quả khảo sát học sinh 18
2.4 Nhận xét về lỗi dùng từ thông qua khảo sát bài làm của HS 20
2.4.1 Lỗi dùng từ về ngữ nghĩa 20
2.4.2 Lỗi về ngữ pháp 20
2.4.3 Lỗi cấu tạo âm thanh và hình thức cấu tạo 21
2.4.4 Lỗi về phong cách 21
2.4.5 Lỗi về thừa từ, lặp từ, thiếu từ và dùng từ sáo rỗng 21
Tiểu kết chương 2 22
Chương 3 23
XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN 23
TẬP LÀM VĂN 23
3.1 Nguyên tắc xây dựng bài tập 23
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp 23
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 23
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nôi dung chương trình 23
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy sáng tạo của học sinh 23 3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 23
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 23
3.2 Mục đích xây dựng bài tập 23
3.3 Các dạng bài tập nhằm nâng cao năng lực sử dụng từ cho HS lớp 4 thông qua phân môn Tập làm văn 23
3.3.1 Các dạng bài tập nhằm nâng cao năng lực sử dụng từ về ngữ nghĩa 23 3.3.2 Các bài tập nhằm nâng cao năng lực dùng từ không đúng kết hợp 23
(quan hệ kết hợp) 23
3.3.3 Các bài tập nâng cao năng lực dùng từ đúng phong cách 24
3.3.4 Các bài tập nâng cao năng lực dùng từ cấu tạo âm thanh 24
Tiểu kết chương 3 24
PHẦN KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục và Đào tạo đóng có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân
tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
Trong công cuộc đổi mới của đất nước - cách mạng Công nghiệp 4.0, Đảng và nhà nước đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” [1] Chọn khoa học
và giáo dục là khâu đột phá cho sự phát triển Chọn giáo dục làm tiền đề, làm xương sống của phát triển bền vững Giáo dục đào tạo nguồn lực con người có tri thức, là động lực để thúc đẩy nền kinh tế- xã hội, bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia
Hệ thống giáo dục Việt Nam được chia thành 3 cấp học: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Trong đó, Tiểu học là giai đoạn thứ nhất của giáo dục bắt buộc Đây là bậc giáo dục từ trẻ lớp 1 (6 tuổi) đến hết lớp 5 và là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển về nhân cách và năng lực (trí tuệ và thể chất) Nội dung chính của giáo dục tiểu học là đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên và con người; có kỹ năng cơ bản về đọc, viết, nghe, nói và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật Thông qua việc dạy học các môn, học sinh được trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết, chuẩn bị cho việc tiếp tục học lên các cấp cao hơn hay cho công việc lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau này
Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành TW Đảng khoá XI đã chỉ rõ: “ Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục, lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Có thể thấy rằng, Đảng ta ngày càng chú ý hơn trong việc phát triển con người toàn diện Chú trọng đến cả việc hình thành năng lực lẫn phẩm chất con người Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng Từ đó, xây dựng lực lượng sản xuất đủ bản lĩnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đạ mới, đủ sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong 9 môn học, môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng, nó cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cách thức sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp và tư duy: học sinh được hình thành, rèn luyện các kĩ năng đọc ,viết, nói, nghe để sử dụng có hiệu quả tiếng Việt trong học tập và đời sống Để giúp các
Trang 8em rèn luyện các kĩ năng đó, các em cần nắm chắc và vững các kiến thức cơ bản
về các đơn vị của ngôn ngữ, sử dụng đơn vị ngôn ngữ để làm phương tiện nhận thức và giao tiếp của con người, đặc biệt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong hệ thống ngôn ngữ - đóng vị trí trung tâm cua ngôn ngữ đó là Từ Từ là ngôn ngữ
đã có sẵn, thuộc kho từ vựng của ngôn ngữ và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ của mỗi người Nó là tài sản chung của xã hội Khi giao tiếp mỗi người huy động vốn tài sản đó để tạo ra lời nói hoặc văn bản Mỗi người có thể có phong cách ngôn ngữ cá nhân, có thể có đóng góp và sáng tạo trong việc dùng từ Tuy thế trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản là một hoạt động xã hội, muốn biểu
lộ được chính xác ý tưởng của mình và muốn người khác lĩnh hội được chính xác ý tưởng đó thì mỗi người phải biết dùng từ đúng – dùng từ theo những yêu cầu chung Việc hiểu từ và sử dụng từ đúng sẽ mang lại hiệu quả cao trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản
Thực tiễn cho thấy, việc sử dụng từ trong phân môn Tập làm văn của học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 4, do trình độ ngôn ngữ còn hạn chế, vốn tiếng mẹ đẻ còn chưa phong phú, do đặc điểm lứa tuổi còn chi phối nhiều đến việc tiếp nhận từ của các em….Vì vậy,việc sử dụng từ của các em để giao tiếp
và tạo lập văn bản cũng có những hạn chế nhất định Cùng với đó, tình trạng
“viết mà như nói” diễn ra khá phổ biến ở nhiều học sinh hiện nay dẫn đến hiệu quả vấn đề cần được thể hiện trong bài viết của mình không cao.Bên cạnh đó, việc học sinh viết các bài văn theo “khuôn” Nghĩa là, các em sử dụng, sao chép
từ ngữ ở bài văn mẫu chứ không sử dụng ngôn ngữ của cá nhân diễn đạt ý Điều này cũng dẫn đến, khả năng sử dụng từ của HS
Chính vì vậy, để có biện pháp giúp học sinh nâng cao chúng ta không thể không nghiên việc sử dụng từ của học sinh trong quá trình tạo lập văn bản, để từ
đó mới có thể xác định những khó khăn mà các em gặp phải khi sử dụng từ Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “NÂNG CAO NĂNG LỰC
SỬ DỤNG TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP
Trang 9phân loại lỗi, phân tích từng loại lỗi, đưa ra giải pháp Xây dựng hệ thống bài tập sửa lỗi từ vựng và rèn luyện dùng từ vựng
Tác giả Cao Xuân Hạo, Lý Tùng Hiếu, Nguyễn Kiên Trường, Võ Xuân
Trang, Trần Thị Tuyết Mai “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục” [3] đã tìm hiểu
thực trạng và thống kê các loại lỗi ngữ pháp thường gặp, từ đó tác giả đã đưa ra
giải pháp quy nạp một số quy tắc khái quát, đưa ra một số bài tập bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng ngữ pháp cho học sinh
Cùng với các công trình, các bài nghiên cứu về từ Tiếng Việt ở tiểu học, các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm tới vấn đề dạy Tiếng Việt nói chung, dạy
sử dụng từ trong phân môn Tập làm văn cho học sinh tiểu học nói riêng Trong những năm gần đây, cũng có nhiều bài viết, công trình khoa học, luận văn thạc sỹ… nghiên cứu về vấn đề dạy học Tập làm văn cho học sinh tiểu học, dạy học
sử dụng từ trong môn Tiếng Việt như đề tài "Tìm hiểu lỗi sử dụng ngôn ngữ của học sinh tiểu học ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An" [5], "Thực trạng lỗi về lập luận trong bài tập làm văn của học sinh lớp 4, 5 và biện pháp khắc phục" [6]
Những luận văn này đã tìm hiểu những khó khăn trong việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học Tập làm văn nói riêng ở tiểu học, từ đó, tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng phân môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập làm văn cho học sinh tiểu học
Tóm lại, các công trình tiêu biểu trên đã nêu lên được tầm quan trọng của việc dạy học từ Tiếng Việt ở tiểu học cũng như việc rèn luyện kỹ năng sử dụng
từ cho học sinh tiểu học và việc dạy học Tập làm văn ở tiểu học Tuy nhiên, để nâng cao năng lực sử dụng từ của học sinh còn nhiều hạn chế, cần có các biện pháp để sửa lỗi dùng từ cho học sinh đạt hiệu quả
2.2 Các công trình nghiên cứu về dạy học TLV ở tiểu học
Từ những năm học 2002- 2003, chương trình SGK mới được đưa vào dạy học đại trà, đánh dấu sự cải cách của giáo dục nước nhà Theo đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học mới cho phù hợp với chương trình tiểu học hiện hành
Một trong những người có nhiều nghiên cứu về dạy học phân môn Tập làm văn ở tiểu học là tác giả Nguyễn Trí Các công trình nghiên cứu có liên
quan dạy học Tập làm văn của ông đã được công bố như: “Dạy và học Tiếng Việt ở trường Tiểu học theo chương trình mới”, “Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học”, “Luyện tập văn kể chuyện ở trường Tiểu học”, “Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học”,… Ông đã đi sâu vào phân
tích nội dung và phương pháp dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học theo quan điểm giao tiếp
Cuốn “Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học” [7] của Nguyễn Trí đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ học, ngữ dụng học và
Trang 10sự ứng dụng vào trong dạy học Tập làm văn nhưng chỉ đi sâu vào tìm hiểu các dạng lời nói và sự ứng dụng vào Tập làm văn chứ chưa nói rõ về lỗi dùng từ của học sinh trong phân môn Tập làm văn
Lê Phương Nga - Nguyễn Trí đồng tác giả “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” [8] không phải là chuyên luận đi sâu vào một đề tài nhất định
Các tác giả đưa ra các PPDH, hình thức dạy học TLV, tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chưa đưa ra giải pháp để nâng cao việc sử dụng từ và chữa lỗi
sử dụng từ cho HS lớp 4 trong phân môn Tập làm văn
Do đó, đề tài nghiên cứu về “Nâng cao năng lực sử dụng từ thông qua phân môn TLV của HS lớp 4” nghiên cứu thêm để đưa ra các đề xuất để nâng cao năng lực sử dụng từ của học sinh lớp 4 dựa trên nền tảng các đề tài đã nghiên cứu trước đây
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này được tiến hành nghiên cứu với mục đích tìm hiểu năng lực sử dụng từ của HS trên cơ sở đó đề xuất một số biên pháp nâng cao năng lực sử dụng từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn Tập làm văn Qua đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình tạo lập văn bản cho HS
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nâng cao năng lực sử dụng từ cho HS lớp 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các bài viết văn kể chuyện, miêu tả của 60 HS học sinh lớp 4 thuộc 2 trường TH Nguyễn Văn Trỗi và TH Huỳnh Ngọc Huệ thuộc địa bàn TP Đà Nẵng
5 Giả thuyết khoa học
Nếu tìm hiểu được năng lực sử dụng từ của học sinh lớp 4 và xây dựng một số bài tập bỏ trợ phù hợp sẽ nâng cao năng lực sử dụng từ của học sinh trong quá trình nói và viết ở phân môn Tập làm văn; đồng thời là nguồn tài liệu cho giáo viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tham khảo trong công tác giảng dạy và giáo dục đạt hiệu quả
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các mục tiêu sau:
6.1 Tìm hiểu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
6.2 Tìm hiểu năng lực sử dụng từ của học sinh lớp 4 thông qua môn Tập làm văn
6.3 Xây dựng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao năng lực sử dụng từ cho học sinh lớp 4
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến khóa luận, nhằm lĩnh hội các tri thức và thông tin cần thiết cho đề tài
7.2 Phương pháp điều tra
Điều tra số liệu và thông tin từ giáo viên giảng dạy và bài làm của học sinh lớp 4 trong phân môn Tập làm văn
7.3 Phương pháp thống kê miêu tả
Thu thập các bài văn viết, phiếu bài tập của học sinh trên cơ sở đó thống
kê việc sử dụng từ của HS
8 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2 :Khảo sát năng lực sử dụng từ của học sinh lớp 4 trong phân môn Tập làm văn
Chương 3: Xây dựng một số bài tập bổ trợ giúp nâng cao năng lực sử dụng từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn Tập làm văn
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm tâm lý
1.1.1 Đặc điểm lứa tuổi
Việc rèn các kỹ năng, kỹ xảo đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ Khả năng kìm chế của các em còn yếu, rất hưng phấn do đó ở độ tuổi này các em rất hiếu động được cắp sách đến trường, được tiếp xúc với nhiều thầy cô và bạn bè mới Hoạt động học tập là hoạt động hoàn toàn mới, hoạt động chủ đạo, giúp trẻ hình thành năng lực nhờ đó mà sự phát triển tâm lý nhân cách
Ngoài hoạt động học tập ở lứa tuổi này còn có hoạt động khác như vui chơi, lao động Các hoạt động này có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm
lý của học sinh Tiểu học
1.1.2 Đặc điểm hoạt động
Nhu cầu nhận thức khám phá thế giới luôn đòi hỏi học sinh phải tìm tòi, sáng tạo Mức độ, tính chất và phạm vi hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những
hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này
bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
1.2.2.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
1.2.2.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
1.2.2.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Trang 131.2.2.6 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
1.2.2.7 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
1.2.2.8 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học
1.3 Một số vấn đề chung về từ và từ tiếng Việt
1.3.1 Khái niệm về từ và từ tiếng Việt
Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Đây là đặc trưng có tính chất bao trùm, đặc trưng nổi bật nhất của ngôn ngữ Chính vì vậy, mà hiện nay có hơn 300 định nghĩa về từ nhưng không có định nghĩa nào là chính xác hoàn toàn chỉ ở mức tương đối đảm bảo một số khía cạnh của Từ
Có nhiều định nghĩa về từ của các tác giả, hầu hết các định nghĩa đều phản ánh một vài khía cạnh của từ nhưng chưa có định nghĩa nào đảm bảo được tất cả khía cạnh của từ Các định nghĩa đều có những điểm chung nhưng vẫn có những điểm riêng Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn định nghĩa
về từ của Đỗ Hữu Châu để phục vụ cho nghiên cứu khóa luận này Có thể thấy
từ tiếng Việt theo Đỗ Hữu Châu có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ tiếng Việt
- Gồm một hoặc một số âm tiết
- Có hình thức ngữ âm cố định, bất biến và có ý nghĩa
- Có đặc điểm về cấu tạo và ngữ pháp
- Có chức năng tạo câu
1.3.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt
1.3.2.1.Đặc điểm ngữ âm của từ
Hình thức ngữ âm của tiếng Việt cố định phải bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ chức năng trong câu Nói cách khác, hình thức của từ không thay đổi khi từ trong từ điển và khi ở trong câu nói
Nhằm vào hình thức ngữ âm của từ, ta không biết giá trị ngữ pháp của chúng Gía trị ngữ pháp của từ được hiện thực hóa, được bộc lộ trong mối quan
hệ của nó với các từ khác đứng trước hoặc đứng sau
Trong tiếng Việt, có một số từ mà giữa hình thức ngữ âm của nó và sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị có một mối quan hệ nhất định Điều này được biểu hiện qua các từ tượng thanh Bên cạnh đó, từ tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu, cấu tạo ngữ âm của các âm, các vần là hết sức phong phú, vì vậy, hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt có khả năng gợi tả, giá trị biểu hiện rất cao
1.3.2.2 Đặc điểm ngữ pháp của từ
1.3.3 Các bình diện chủ yếu của từ:
1.3.3.1 Bình diện hình thức ngữ âm và cấu tạo
Trang 14Về hình thức: từ được tạo nên bởi các âm thanh kết hợp với nhau theo quy tắc ngữ âm Mỗi từ đơn được cấu tạo gồm một âm tiết
1.3.3.2 Bình diện nghĩa
Nghĩa của từ là những nội dung nhận thức, tư tưởng tình cảm mà con người muốn biểu hiện Từ nào cũng có nghĩa ứng với các đối tượng của hiện thực mà con người nhận thức và dùng từ để gọi tên Nghĩa của từ bao gồm:
+ Nghĩa biểu vật
+ Nghĩa biểu niệm
+ Nghĩa biểu thái
+ Nghĩa của từ còn bao gồm loại nghĩa ngữ pháp nghĩa của quan hệ từ 1.3.3.3 Bình diện ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt chỉ biểu lộ trong cụm từ và câu, khi
từ kết hợp với từ đi trước và sau nó
1.3.3.4 Bình diện phong cách
Có những từ khi sử dụng mang sắc thái riêng như phong cách địa phương, phong cách nghề nghiệp sử dụng tuỳ theo môi trường giao tiếp
1.4 Một số yêu cầu về dùng từ trong văn bản
1.4.1 Dùng từ phải đúng âm thanh, hình thức cấu tạo
Từ là một đơn vị có nhiều bình diện, trong đó không thể thiếu mặt âm thanh và hình thức cấu tạo Khi viết văn bản cần ghi lại đúng âm thanh và hình thức cấu tạo của từ được sử dụng nếu không sẽ không biểu hiện được chính xác
và không làm cho người đọc văn bản lĩnh hội được chính xác nội dung, ý nghĩa
Và như thế, sự giao tiếp sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn
1.4.2 Dùng từ phải đúng về nghĩa
Nội dung ý nghĩa là một bình diện của từ Nó là cái được biểu đạt của mỗi
từ Do đó, muốn đạt được hiệu quả giao tiếp, khi nói cũng như khi viết, phải dùng từ đúng với ý nghĩa của từ Cần chú ý đến những phương diện cụ thể như sau:
+ Từ được dùng phải biểu hiện được chính xác nội dung cần thể hiện, nghĩa là ý nghĩa của từ phải phù hợp với nội dung định thể hiện
+ Nghĩa của từ bao gồm các thành phần nghĩa sự vật, cả thành phần nghĩa biểu thái (biểu hiện thái độ, tình cảm, cảm xúc con người)
+ Khi dùng từ cần phải đạt được yêu cầu: Vừa đúng về nghĩa sự vật, vừa đúng về nghĩa biểu thái, biểu cảm
+ Nghĩa của từ bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa
Tóm lại, yêu cầu dùng từ đúng nghĩa cần được hiểu với một phạm vi rộng
và linh hoạt Cần đảm bảo tính chính xác giữa nghĩa vốn có của từ với nội dung định biểu hiện, đảm bảo đúng cả nghĩa sự vật lẫn nghĩa biểu thái của từ
Trang 151.4.3 Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp
Khi dùng từ trong văn bản cần thiết lập cho đúng các quan hệ kết hợp của các từ, vì các quan hệ này do bản chất ngữ nghĩa- ngữ pháp của các từ quy định Nếu không sẽ mắc lỗi khi dùng từ
1.4.4 Dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản
Mỗi phong cách ngôn ngữ của văn bản(mỗi loại hình văn bản) được sử dụng trong phạm vi nhất định của cuộc sống xã hội và nhằm thực hiện một chức năng nhất định, hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định
1.4.5 Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản
Một văn bản được tổ chức tốt là một hệ thống chặt chẽ, trong đó mọi yếu
tố ngôn ngữ cần được huy động một cách nhất quán để đảm bảo cho văn bản thành một chỉnh thể, thực hiện được một mục tiêu giao tiếp thống nhất
1.4.6 Dùng từ, cần tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bị sáo rỗng, công thức
a Văn bản trong giao tiếp cần cô đọng, vừa đủ về dung lượng
b Viết văn bản, cũng cần tránh bệnh dùng từ sáo rỗng, công thức
1.5 Một số vấn đề chung về dạy học phân môn Tập làm văn
1.5.1 Mục tiêu môn Tiếng Việt theo chương trình 2006
Mục tiêu quan trọng nhất của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt(đọc, viết , nghe, nói)
1.5.2 Vị trí của phân môn Tập làm văn
Những lời được chúng ta nói ra hoặc viết ra khi giao tiếp với nhau gọi là ngôn bản Hoạt động lời nói gồm 2 bình diện: sản sinh và tiếp nhận ngôn bản (còn gọi là lời nói) Như vậy, phân môn Tập làm văn đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy HS sử dụng được Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập
1.5.3 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn
Sản phẩm của Tập làm văn là các ngôn bản ở dạng nói và viết theo các dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định, nói cách khác, mục đích của Tập làm văn là tạo lập được ngôn bản
Nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở HS, năng lực tạo lập ngôn bản được phân tích thành các kĩ năng
bộ phận
Để giao tiếp phải có thái độ đúng đắn với đối tượng giao tiếp Phân môn Tập làm văn khi dạy các nghi thức cũng đồng thời dạy cách cư xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng Để viết văn cần có hiểu biết và tình cảm với đối tượng được viết, vì vậy phân môn Tập làm văn đã tạo cho HS
sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và vạn
Trang 16vật xung quanh: từ một cơn mưa, một buổi sáng đẹp trời, một em bé bị ngã, một người phụ nữ đang gặp khó khăn đến một chú gà trống, đồ vật đã từng gắn bó…Từ đây, tâm hồn và nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển
1.5.4 Phương pháp dạy học Tập làm văn
Đối với loại bài hình thành kiến thức mới, để phát huy tính tích cực của
HS trong học tập làm văn, cần lựa chọn kết hợp các phương pháp chủ yếu: PP thực hành giao tiếp, PP nêu và giải quyết vấn đề, PP hoạt động nhóm
1.5.5 Quy trinh dạy Tập làm văn
1.5.5.1 Tổ chức dạy bài lý thuyết TLV
Cấu tạo bài lý thuyết TLV gồm 3 phần: Nhận xét, ghi nhớ và luyện tập Phần nhận xét đưa ra ngữ liệu và một số bài tập, câu hỏi Ngữ liệu trong giờ lý thuyết TLV là những bài, đoạn, những ngôn bản thuộc thể loại văn bản học sinh cần học cách tạo lập Các câu hỏi và bài tập trong phần này nhằm gợi ý cho học sinh khảo sát ngữ liệu để rút ra kiến thức cần ghi nhớ Giáo viên cần dẫn dắt, gợi
mở để học sinh trả lời các câu hỏi này Trả lời đúng, học sinh sẽ phát hiện ra những tri thức cần phải học, những quy tắc cần ghi nhớ Phân ghi nhớ là kết luận rút ra một cách tự nhiên từ phần tìm hiểu Đây chính là những kiến thức cần học Học sinh cần ghi nhớ những nội dung này Giáo viên phải có những biện pháp dạy học để học sinh cần phải học thuộc lòng mà ghi nhớ trên cơ sở những hiểu biết chắc chắn Ngay cả dạy phần này, giáo viên cũng không nên đi sâu vào giảng giải lý thuyết
Phần luyện tập vẫn là trọng tâm của giờ dạy lý thuyết Phần này giúp học sinh ứng dụng những tri thức lý thuyết vào những bài tập cụ thể Các bài tập này
có hai nhiệm vụ ứng với hai dạng bài tập:
- Bài tập nhận diện, phân tích giúp học sinh nhận ra kiểu đoạn, kiểu bài cần cần nói, viết Những ngữ liệu này có thể được cho sẵn trong các ngữ liệu khác
- Bài tập vận dụng tạo điều kiện cho học sinh tạo lập được ngôn bản, để những kiến thức TLV đi vào trong hoạt động nói năng Đây là những bài tập TLV đích thực
1.5.5.2 Quy trình dạy học kiểu bài thực hành Tập làm văn
Dạy kiểu trả bài TLV ở lớp 4, 5
Giờ trả bài có mục đích giúp học sinh rèn luyện kĩ năng kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết Đây là một kĩ năng quan trọng trong hoạt động giao tiếp Kĩ năng kiểm tra là kĩ năng đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt Để có kĩ năng này, học sinh cần phải taạp nhận xét văn bản nói hay viết của bạn, tự sửa chữa bài viết nháp (nếu có) hay bài viết chính thức ở lớp, rút kinh nghiệm và tự chữa (hoặc viết lại) bài văn (đoạn văn) đã được giáo viên chấm,
Trang 17luyện tập, hình thành kĩ năng và thói quen tự điều chỉnh, tự học tập để luôn luôn tiến bộ
1.5.6 Nội dung dạy học Tập làm văn ở lớp 4
Chương trình Tập làm văn lớp 4 có các nội dung nói, viết theo các kiểu bài sau:
- Nói, viết phục vụ cuộc sống hằng ngày như trao đổi ý kiến, giới thiệu địa phương, tóm tắt tin tức, điền vào mẫu in sẵn, viết thư
- Viết bài văn kể chuyện (19 tiết)
- Viết bài văn miêu tả (30 tiết), trong đó miêu tả đồ vật (10 tiết), miêu tả cây cối (10 tiết), miêu tả sự vật (10 tiết)
- Ở lớp 4, nội dung Tập làm văn có thêm những kiến thức lí thuyết Đó là những kiến thức sơ giản về văn bản (kết cấu 3 phần: mở đầu, phần chính, kết thúc), đặc điểm, phương pháp làm bài theo thể loại Những đặc điểm chính của hai loại văn bản kể chuyện và miêu tả và một số loại văn bản thông thường được cung cấp cho HS như sau:
- Văn kể chuyện:
+ Thế nào là văn kể chuyện?
+ Nhân vật trong kể chuyện Kể lại hành động của nhân vật Tả ngoại hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật
+ Cốt truyện
+ Đoạn văn trong bài văn kể chuyện Mở bài, kết bài trong văn kể chuyện
- Văn miêu tả:
+ Thế nào là văn miêu tả?
+ Quan sát để miêu tả cho sinh động
+ Trình tự miêu tả ( đồ vật, cây cối, con vật)
- Các loại văn bản khác:
+ Viết thư ( mục đích của viết thư, cấu tạo một lá thư)
+ Trao đổi ý kiến với người thân, giới thiệu hoạt động của địa phương, điền vào giấy tờ in sẵn (giấy tờ tạm trú, tạm vắng, thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, giấy đặt mua báo): Thông qua các bài luyện tập, trang bị cho HS một số hiểu biết về các loại văn bản này
Chương trình Tập làm văn lớp 4 nhằm trang bị cho HS những kĩ năng sản sinh ngôn bản cụ thể như sau:
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp:
+ Nhận diện đặc điểm văn bản
+ Phân tích đề bài, xác định yêu cầu
- Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho
+ Tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
Trang 18+ Quan sát đối tượng, tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu
tả
- Kĩ năng thực hiện hóa hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
Tiểu kết chương 1
Ở chương này, chúng tôi đã nêu lên được vấn đề tổng quan làm cơ sở lí luận chung cho đề tài Đó là những đặc điểm tâm lý, quá trình nhận thức của HS tiểu học; những vấn đề chung về từ và từ tiếng Việt; những vấn đề chung về phân môn TLV cũng như nội dung, chương trình TLV lớp 4