Ở khóa luận này, chúng tôi đã chọn hướng khám phá các biểu thức chiếu vật BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ dưới ánh sáng của lý thuyết kí h
Trang 1TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên đề tài: Các biểu thức chiếu vật có chứa các từ “trái tim”,“bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ
2 Người thực hiện: Đậu Thị Hương
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Sáng
3 Mở đầu
3 1 Lý do chọn đề tài
Trong diễn ngôn văn học, quá trình tìm hiểu hệ thống các phương tiện ngôn ngữ chiếu vật và “vật được quy chiếu” của chúng sẽ là những thao tác đầu tiên để người đọc có thể thâm nhập vào tầng ý nghĩa sâu xa của tác phẩm Ở khóa luận này, chúng tôi đã chọn hướng khám phá các biểu thức chiếu vật (BTCV) có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ dưới ánh sáng của lý thuyết kí hiệu học: đặt chúng trong các BTCV được sử dụng trong diễn ngôn để từ đó khám phá các tầng biểu đạt của chúng Có khá nhiều công trình
nghiên cứu về hai nữ thi sĩ này nhưng hướng nghiên cứu Các biểu thức chiếu vật
có chứa các từ “trái tim”,“bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ được xem là hướng tiếp cận có tính khoa học và thực tiễn cao
3.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3.2.1 Lịch sử nghiên cứu về sự chiếu vật (reference)
Gồm có ba giai đoạn nghiên cứu chiếu vật trên thế giới: giai đoạn thứ nhất (từ 1882 – khoảng 1950) – chiếu vật ngữ nghĩa (semantic reference); giai đoạn thứ hai (từ khoảng 1950 – cuối thế kỷ XX) – chiếu vật của người nói (speaker’s reference); giai đoạn thứ ba (khoảng từ cuối thế kỷ XX – nay) – chiếu vật được nghiên cứu trong phối cảnh liên ngành (interdisciplinary perspectives)
3.2.2 Nghiên cứu về chiếu vật và về vật chiếu vật trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ ở Việt Nam
Tiếp cận với kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài, đồng thời vận dụng vào thực tiễn sử dụng tiếng Việt, các tác giả trong nước cũng đã có những công trình về ngữ dụng học, trong đó có lý thuyết chiếu vật Chúng tôi nhận thấy số những công trình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng các lý thuyết của ngôn
Trang 2ngữ học để nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không thật sự nhiều mà chủ yếu là những bài nghiên cứu riêng lẻ được tập hợp hoặc làm thành một phần của các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thơ Xuân Quỳnh và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nói chung
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “các BTCV có từ “trái tim”, “bàn tay”
trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ “Trái tim sinh nở”, “Bài thơ không năm tháng”, “Đề tặng một giấc mơ” của Lâm Thị Mỹ Dạ”
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận của chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu
đối tượng kể trên ở các phương diện: cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh, sự vật được quy chiếu trong ngữ cảnh sử dụng và so sánh chúng với các BTCV có từ “trái tim”, “bàn tay” tương ứng trong thơ Xuân Quỳnh và tuyển tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp: phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp miêu tả ngôn ngữ
3.5 Bố cục của khóa luận
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan; Chương 2; Các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị
Mỹ Dạ nhìn từ bình diện cái biểu đạt ; Chương 3: Các biểu thức chiếu vật có từ
“trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ từ bình diện cái được biểu đạt
4 Các chương chính của khóa luận
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Để triển khai đề tài, khóa luận đã dựa trên hai lý thuyết ngôn ngữ học được coi là quan trọng nhất đối với đề tài là: Lý thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Các khái niệm cơ bản của lý thuyết chiếu vật và khung lý thuyết để giải quyết tất cả nhiệm vụ của đề tài, chỉ ra cách tiếp cận của một số tác giả về các khái niệm: sự chiếu vật, CV, HQC, BTCV
Trang 3Lý thuyết hoạt động giao tiếp cung cấp cho chúng tôi những khái niệm nền tảng để có cái nhìn bao quát nhất về việc sử dụng ngôn ngữ và các nhân tố liên quan để giao tiếp diễn ra hiệu quả nhất Chúng tôi đã lấy việc xác định các nhân tố của hoạt động giao tiếp cụ thể giữa hai nhà thơ: Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ và người tiếp nhận làm một trong các căn cứ quan trọng để tiến hành nhận diện các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ
CHƯƠNG 2: CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ XUÂN QUỲNH VÀ LÂM THỊ MỸ DẠ TRÊN BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT
Trên bình diện này, chúng tôi đã miêu tả đặc điểm cụ thể của các BTCV được khảo sát về các kiểu cấu tạo và quan hệ kết hợp của chúng Sau đó, chúng tôi tiến hành so sánh để tìm ra nét tương đồng và khác nhau giữa hai ngữ liệu khảo sát Kết quả đạt được là:
Về cấu tạo, ở hai ngữ liệu khảo sát đều có 2 kiểu cấu tạo là danh từ và ngữ danh từ Trong đó, kiểu cấu tạo ngữ danh từ chiếm số lượng và tỷ lệ lớn hơn kiểu cấu tạo danh từ Xét về kiểu cấu tạo danh từ, ở cả hai ngữ liệu thì tỷ lệ từ ghép chiếm phần vượt trội hơn hẳn Về vấn đề khác nhau, ở ngữ liệu được khảo sát của nhà thơ Xuân Quỳnh thì kiểu cấu tạo từ đơn chiếm 12,68% (trên 71 BTCV – tức 36,62%) còn từ ghép chiếm 23,94% (trên 71 BTCV – tức 36,62%) Về ngữ liệu của Lâm Thị Mỹ Dạ thì kiểu cấu tạo từ đơn chiếm 10,13% (trên 79 BTCV – tức 40,51%), từ ghép chiếm 30,38% (trên 79 BTCV – tức 40,51%)
Về quan hệ kết hợp, cả hai ngữ liệu đều được xét ở hai cấp độ: cụm từ và câu Điểm tương đồng ở cả hai ngữ liệu này chính là tỷ lệ vượt trội của cấp độ câu
so với cấp độ cụm từ Ở cấp độ cụm từ thì cả hai ngữ liệu đều chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối về cụm từ tự do Còn ở cấp độ câu thì cả hai đều có chung đặc điểm là thành phần chủ ngữ chiếm vị trí cao nhất Xét điểm khác nhau, trong ngữ liệu của nhà thơ Xuân Quỳnh: cụm từ cố định chiếm tỷ lệ 1,5% (trong 71 BTCV – tức 49,3%), cụm từ tự do chiếm 47,8% (trong 71 BTCV – tức 49,3%); trong ngữ liệu khảo sát của nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ thì cụm từ tự do chiếm 39,24% (trong 79 BTCV – tức 39,24%) và không có trường hợp nào là cụm từ cố định Về cấp độ
Trang 4câu, ở ngữ liệu của nhà thơ Xuân Quỳnh thì thành phần chủ ngữ chiếm 30,99% (trong 71 BTCV – tức 50,7%), vị ngữ chiếm 19,71% (trên 71 BTCV – tức 50,7%), còn về ngữ liệu của Lâm Thị Mỹ Dạ thì thành phần chủ ngữ chiếm 43,59% (trên 79 BTCV – tức 60,76%), vị ngữ chiếm 17,17% (trên 79 BTCV - tức 60,76%)
CHƯƠNG 3: CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ XUÂN QUỲNH VÀ LÂM THỊ MỸ DẠ TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT
Chúng tôi tiến hành phân loại và miêu tả các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ theo các HQC khác nhau Theo đó, có 4 HQC do các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” được quy chiếu đến trong hai ngữ liệu khảo sát, cụ thể:
Ở ngữ liệu khảo sát là tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh, qua
quá trình khảo sát có 2 HQC xuất hiện: HQC con người tâm lí - tình cảm (45,1%)
và HQC con người sinh học (54,9%) Ở 2 HQC này, các yếu tố ngôn ngữ được sử
dụng trong các BTCV đã thực hiện đúng chức năng “định danh” các bộ phận cơ thể con người (trái tim, bàn tay, ngón tay,…) và thực hiện hóa được các nghĩa biểu vật của các từ này trong hệ thống ngôn ngữ
Đến với ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, sự phong phú về HQC dường như
được nhân đôi Có tới 4 HQC được hướng đến trong ngữ liệu này: HQC con người tâm lí - tình cảm (50,63%); HQC con người sinh học (43,04); HQC thời gian (2,53%), HQC thiên nhiên (3,8%) Sự vượt trội của tỉ lệ HQC con người sinh học
và HQC con người tâm lí - tình cảm cho thấy vai trò cũng như khả năng quy chiếu của nó Còn đối với 2 HQC thiên nhiên và thời gian, tuy tỉ lệ thấp nhưng góp phần
vào sự phong phú, làm nên hiệu quả thẩm mỹ, sức biểu đạt, tính đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật và sự vượt trội của các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong ngữ liệu này
Từ quá trình phân loại và miêu tả trên, chúng tôi tiến hành đi vào so sánh các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ trên phương diện cái được biểu
Trang 5đạt Việc làm này khiến cho việc phân tích, miêu tả các BTCV có ý nghĩa thiết thực hơn với việc tìm hiểu và giảng dạy các tác phẩm
5 Kết luận
1 Khóa luận đã tìm hiểu đề tài “Các biểu thức chiếu vật có chứa các từ “trái tim”,“bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ” dựa trên việc vận dụng
những khái niệm cơ bản của lý thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Đặc biệt, đối với việc triển khai đề tài khóa luận thì vai trò của các khái niệm: biểu thức chiếu vật, chiếu vật và hệ quy chiếu là vô cùng quan trọng Từ đó, chúng tôi nhìn nhận mỗi BTCV tồn tại trong hoạt động giao tiếp với tư cách là một loại tín hiệu ngôn ngữ, vì vậy, chúng mang tính hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Với quan điểm này, chúng tôi đã miêu tả đối tượng nghiên cứu của khóa luận trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt và bình diện cái được biểu đạt Hai bình diện này của BTCV không hề tách rời nhau mà ngược lại chúng luôn bổ trợ, phối hợp lẫn nhau để cùng thực hiện chức năng quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể
2 Trên bình diện cái biểu đạt, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, phân tích và miêu tả cụ thể các BTCV trong các ngữ liệu được khảo sát trên hai đặc điểm: kiểu cấu tạo và quan hệ kết hợp Từ đó, chúng tôi rút ra được những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngữ liệu được khảo sát Thứ nhất, về đặc điểm cấu tạo, các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong hai ngữ liệu khảo sát đều có cấu tạo là danh từ và ngữ danh từ Trong đó, kiểu cấu tạo ngữ danh từ chiếm số lượng
và tỷ lệ lớn hơn kiểu cấu tạo danh từ Thứ hai, về quan hệ kết hợp, cả hai ngữ liệu đều xét trên hai cấp độ: cụm từ và câu Đặc biệt, cả hai ngữ liệu đều có sự vượt trội
về cấp độ câu so với cấp độ cụm từ Xét ở cấp độ câu, cả hai đều có chung đặc điểm là thành phần chủ ngữ chiếm tỷ lệ cao nhất
3 Trên bình diện cái được biểu đạt, chúng tôi đã vận dụng khái niệm HQC như là một công cụ quan trọng và dựa vào đó để tiến hành phân loại và miêu tả các
CV cụ thể của các BTCV được khảo sát Với định hướng trên, qua quá trình khảo sát và phân tích trên hai ngữ liệu, chúng tôi đã phân lập được 4 HQC khác nhau Thứ nhất, ở ngữ liệu khảo sát là tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh,
có 2 HQC xuất hiện: HQC con người tâm lí – tình cảm và HQC con người sinh học Thứ hai, ở ngữ liệu khảo sát là ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, có 4 HQC
Trang 6được hướng đến là: HQC con người tâm lí – tình cảm; HQC con người sinh học; HQC thiên nhiên và HQC thời gian Từ đó, chúng tôi tiến hành đi vào so sánh các
BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong hai ngữ liệu trên phương diện cái được biểu đạt Dựa trên nền tảng này đã thôi thúc chúng tôi tìm ra các giá trị nghệ thuật của các BTCV với việc xây dựng hình tượng và biểu tượng nghệ thuật trong các ngữ liệu được khảo sát