1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kỹ thuật mở đầu bài giảng để tạo hứng thú học tập phần hóa học vô cơ lớp 11

20 151 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 342,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy để nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và dạy học bộ môn hóa nói riêng, ngoài việc khắc khâu kiến thức của mỗi bài giảng bằng các phương pháp, hình thức tổ chức và kĩ thuật dạy h

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Điều 28 luật giáo dục năm 2005 đã nêu rõ“ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, lòng say

mê học tập và ý chí vươn lên”[3,tr.5] Như vậy để nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và dạy học bộ môn hóa nói riêng, ngoài việc khắc khâu kiến thức của mỗi bài giảng bằng các phương pháp, hình thức tổ chức và kĩ thuật dạy học, vận dụng kiến thức liên môn, liên hệ thực tiễn….thì điều quan trọng hơn đó là khơi dậy niềm đam mê, hứng thú học tập cho học sinh ngay từ giây đầu tiên của bài giảng

Bất kỳ một hoạt động nào đều có sự mở đầu Trong mỗi tiết học, mở đầu bài giảng là một khâu quan trọng góp phần quyết định đến hiệu quả của mỗi giờ học Đây chính là thời điểm "dạo đầu" để giáo viên tìm mọi cách tạo động cơ và hứng thú học tập cho học sinh Thực tế cho thấy nhiều giáo viên còn xem nhẹ vai trò của mở đầu bài giảng, chưa chú ý nhiều đến việc phải bắt đầu tiết học như thế nào để học sinh cảm thấy hứng thú và tham gia vào bài học một cách tích cực nhất Các phương pháp sư phạm chưa thực sự phù hợp với từng môn học và chưa tác động hiệu quả tới từng đối tượng học sinh, tạo ra cảm giác nhàm chán và thái độ học tập thụ động Qua nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy thực trạng học tập các môn học nói chung và học tập môn Hóa học nói riêng (nhất là phần hóc học vô cơ ) của học sinh THPT chưa thực sự hiệu quả Phần lớn học sinh chưa có khả năng tự học, còn lười học, mang tính chất học vẹt, học đối phó, học thuộc nhưng chưa hiểu sâu Vấn đề đặt ra là cần phải có những đổi mới nhất định trong phương pháp dạy học và tạo hứng thú học tập cho học sinh trong trong từng tiết học

Một tiết học hiệu quả sẽ không thể có một mở đầu kém hấp dẫn Mở đầu một tiết học là khoảng thời gian ngắn, nhưng quyết định đến hiệu quả của cả giờ học Những giáo viên làm việc hiệu quả là người biết đầu tư thời gian cho việc

tổ chức và sắp xếp lớp học nhằm tạo hiệu quả cho việc học của học sinh Thực

tế cho thấy, nếu giáo viên không làm cách nào đó để cuốn hút học sinh vào công việc học tập, để học sinh chủ động và tích cực trong việc tiếp nhận kiến thức ngay từ đầu thì coi như giờ học đó đã thất bại

Nhận thức được tầm quan trọng của mở đầu bài giảng và mối quan hệ trực tiếp của mở đầu bài giảng với hứng thú học tập của học sinh nói chung và trong

môn hóa học nói riêng, tôi đã chọn đề tài "Một số kỹ thuật mở đầu bài giảng

để tạo hứng thú học tập phần hóa học vô cơ lớp 11".

Có nhiều cách mở đầu bài giảng tùy theo mục tiêu, nội dung của bài học, năng lực và thiên hướng của học sinh và năng lực của bản thân giáo viên Trong phạm vi đề tài này, bước đầu đưa ra một số kỹ thuật mở đầu bài giảng hiệu quả tạo hứng thú học tập cho học sinh trong một số tiết học cụ thể về phần hóa học

vô cơ lớp 11 Đây là một vấn đề có giá trị thực tiễn đối với dạy học môn Hóa học THPT nói chung và trường THPT Tĩnh Gia 4 nói riêng

1.2 Mục đích của đề tài

Trang 2

- Nghiên cứu: Hứng thú học tập, mở đầu bài giảng và mối quan hệ giữa

mở đầu bài giảng và hứng thú học tập của học sinh THPT

- Bước đầu đưa ra một số kỹ thuật mở đầu bài giảng phần hóa học vô cơ nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trường THPT tĩnh Gia 4, đồng thời góp phần năng cao chất lượng dạy và học môn Hóa trong trường THPT

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm là học sinh lớp 11 (gồm các lớp 11A1, 11A2, 11A4, 11A5,) trường THPT Tĩnh Gia 4 năm học 2020– 2021

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Nghiên cứu trên cơ sở các tài liệu: Luật giáo dục về đổi mới chương trình, phương pháp dạy học tích cực bộ môn hóa học, bài giảng hóa học

- Nghiên cứu thực trạng dạy học ở trường THPT Tĩnh Gia 4 năm học 2020- 2021

- Đề xuất một số kỹ thuật mở đầu bài giảng môn Hóa học phần hóa học

vô cơ lớp 11

- Triển khai một số kỹ thuật mở đầu bài giảng đã đề xuất tại 4 lớp 11 ở trường THPT Tĩnh Gia 4

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận

Trong phần này tôi tập trung làm sáng tỏ các vấn đề sau: Hứng thú học tập của học sinh THPT; lý thuyết chung về các kỹ thuật mở đầu bài giảng; mối quan hệ giữa mở đầu bài giảng và hứng thú học tập môn Hóa học THPT.

2.1.1 Hứng thú học tập

2.1.1.a Khái niệm hứng thú[2, tr 204]

Theo tâm lí học:

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có

ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động

Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng của hiệu quả hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc Vì thế cùng với nhu cầu, hứng thú là một trong hệ thống động lực của nhân cách

2.1.1.b.Hứng thú học tập của học sinh THPT[2, tr 212]

Theo tâm lí học lứa tuổi thì đối tượng học sinh THPT đã hình thành những đặc điểm khác hẳn với lứa tuổi THCS Hoạt động học tập của học sinh THPT đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều Thái độ học tập của các em với từng môn học có sự lựa chọn hơn Càng ngày, các em càng xác định cho mình hứng thú ổn định đối với một môn học, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định Hứng thú này phần lớn là do động cơ thực tiễn, sau đó là động cơ nhận thức, tiếp đến là ý nghĩa xã hội của môn học và những động cơ cụ thể khác

Trang 3

Những lí do trên trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ học tập của các em với các môn học Phần lớn học sinh tích cực học những môn để thi vào các trường

ĐH và CĐ, trong khi đó sao nhãng các môn học khác Với những môn học mà bản thân cho rằng không cần thiết, các em thường ít chú ý đến bài giảng và ít tham gia xây dựng bài Bởi vậy giáo viên có vai trò quan trọng trong việc tạo ra động cơ học tập cho học sinh Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần tạo hứng thú học tập cho học sinh trong từng tiết học cụ thể, làm động cơ hình thành hứng thú lâu dài với môn học, cần làm cho học sinh hiểu được ý nghĩa của từng môn học đối với thực tiễn và đối với chính bản thân các em

2.1.2 Một số kỹ thuật mở đầu bài giảng thông thường

Mở đầu bài giảng là công đoạn khởi đầu cho mỗi tiết học phải đảm bảo được hai yêu cầu:

- Định hướng học tập cho học sinh

- Thu hút sự chú ý của học sinh vào bài học, qua đó quản lý và kiểm soát lớp học thông qua các hình thức triển khai dạy học

Chúng ta biết một người giáo viên giỏi là lôi cuốn được học sinh vào bài giảng của mình, tạo hứng thú và khiến học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức Một người giáo viên giỏi là những người tạo ra môi trường lớp học thân thiện với người học sôi động, kích thích khả năng tư duy và tạo ra được những thách thức cho người học Họ làm được điều đó bởi vì họ khởi đầu với đầy đủ các bước trong quy trình quản lý lớp học

Vai trò của giáo viên là mở ra cánh cửa học tập cho học sinh Trong từng tiết học cụ thể, giáo viên lại tìm cách sao cho cánh cửa được mở ra trong sự mong chờ và đầy hứng thú học tập của học sinh Vẫn là cánh cửa cũ kĩ, nhưng mỗi ngày chúng ta "sơn" cho nó mỗi màu khác nhau, nó sẽ trở nên mới lạ và hấp dẫn Công việc "sơn" lại cánh cửa học tập chính là thiết kế phần mở đầu cho mỗi bài giảng Với phần mở đầu bài hấp dẫn, hiệu quả thì giáo viên không chỉ định hướng học tập cho học sinh mà còn kích thích tư duy học sinh, hình thành động

cơ chủ động tìm tòi và lĩnh hội kiến thức, giáo viên không chỉ thu hút được sự chú ý của học sinh mà còn tạo hứng thú học tập cho học sinh

2.1.2.a Mở đầu bài trực tiếp[7, tr 25]

Đây là cách mở đầu bài giảng đi thẳng vào vấn đề cần trình bày, gọi nôm

na là đi đường thẳng Đây là cách phổ biến nhất với các giáo viên vì nó có ưu điểm là nhanh chóng và trực tiếp truyền tải thông tin đến học sinh mà không tốn nhiều thời gian và công sức Người dạy không cần phải đầu tư, nghiên cứu nhiều vẫn có thể giới thiệu ngay bài học và những nội dung chính của tiết học Cách thức triển khai hình thức này cũng rất đơn giản: giáo viên trực tiếp đi thẳng vào vấn đề cần nói đến, giới thiệu chủ đề chính của bài học và tiến hành triển khai tiết học Khi giáo viên triển khai hình thức này, học sinh không phải tư duy nhiều, mà trực tiếp tiếp cận ngay với nội dung bài học, xác định được ngay định hướng học tập mà không bị lạc đường

2.1.2.b Mở đầu bài gián tiếp[7, tr 26]

* Mở đầu bài giảng bằng các trò chơi

Trang 4

Các trò chơi được xây dựng có thể dựa trên cơ sở nội dung của bài học, cũng có thể chỉ mang tính chất thu hút sự chú ý của học sinh Vì là phần mở đầu bài giảng nên thời gian cũng được giới hạn, thường từ 3 - 7 phút Do đó, các trò chơi tổ chức cho học sinh cũng phải hết sức đơn giản, nhanh gọn nhưng vẫn phải hiệu quả Có thể chia trò chơi theo hai nhóm: Một nhóm trò chơi tạo hứng phấn và một nhóm trò chơi kích thích tư duy

Các hình thức trò chơi phổ biến là trò chơi ô chữ, trò chơi ghép hình, đóng vai với môn Hóa học còn có thêm các trò chơi lắp ghép các mô hình phân tử, Những mở đầu bài dưới dạng trò chơi sẽ mang lại cho học sinh một không khí hứng khởi và sôi nổi, đó là tiền đề thích hợp để tạo ra những hứng thu và động cơ tích cực học tập

* Mở đầu bài bằng cách nêu vấn đề

Đây cũng là hình thức phổ biến, thường được giáo viên sử dụng trong khi giảng dạy Nêu vấn đề là cách dễ tạo" thách thức" nhất với người học Giáo viên

tổ chức các tình huống học tập bằng cách đặt câu hỏi và nêu ra vấn đề cần giải quyết dựa trên cơ sở là nội dung bài học Câu hỏi đặt ra phải đảm bảo yêu cầu ngắn gọn, bao quát, gắn liền với nội dung bài học, kích thích tư duy học sinh và phải là câu hỏi mở Câu hỏi hay tình huống giáo viên đưa ra trong phần mở đầu

sẽ định hướng cho học sinh trong tiết học, sau khi kết thúc bài học, học sinh tự trả lời được câu hỏi và giải quyết được tình huống của giáo viên đưa ra ban đầu nghĩa là đã lĩnh hội được kiến thức Có hai cách đặt vấn đề thông thường: Cách thứ nhất là nêu vấn đề để học sinh tìm ra nguyên nhân, nguồn gốc của vấn đề, cách thứ hai là đưa ra tình huống để học sinh tự xác định vấn đề Mỗi hình thức

sẽ mang hiệu quả khác nhau, tùy thuộc vào nội dung cụ thể của tiết học, nhưng với hình thức nào cũng phải đảm bảo ba yêu cầu:

- Vấn đề đưa ra phải rõ ràng và sát thực với nội dung kiến thức học sinh cần tiếp thu

- Vấn đề đưa ra phải gắn kết được với kiến thức cũ, chỉ ra được những điều cơ bản học sinh cần tập trung ở bài mới

- Vấn đề đưa ra phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh và tạo hứng thú cho học sinh

* Mở đầu bài giảng theo phương pháp dẫn dắt logic

Kiến thức hóa học là một hệ thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi bài trong hệ kiến thức đó có liên hệ chặt chẽ với nội dung khác Giáo viên dẫn dắt từ kiến thức bài cũ sang kiến thức bài mới bằng mối liên hệ logic, hoặc đi từ kiến thức tổng thể chung đến kiến thức bộ phận của bài học Phương pháp này giúp giáo viên cũng cố kiến thức cũ, xâu chuỗi kiến thức, giúp học sinh có sự so sánh, phát triển, hiểu bài tốt hơn và nhớ lâu hơn

* Mở đầu bài giảng bằng cách gắn liền với thực tiễn

Mục tiêu giáo dục môn hóa học trường THPT cần cung cấp cho học sinh

hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, thiết thực, hiện đại và gắn với đời sống Nội dung chủ yếu bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những ứng dụng và tác hại của những chất trong đời sống, sản xuất và môi trường Những điều này góp phần giúp học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn

Trang 5

diện để có thể tiếp tục học lên đồng thời có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hóa học trong đời sống và sản xuất, mặt khác góp phần phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

* Mở đầu bài giảng bằng cách kể chuyện vui hóa học

Hóa học có rất nhiều câu chuyện vui thú vị: chuyện về các nhà hóa học, chuyện về các phát minh, chuyện về phương pháp điều chế ra chất mới, Giáo viên có thể kể một câu chuyện liên quan tới bài giảng rồi dẫn vào bài giảng Chú

ý câu chuyện phải ngắn gọn, không sa đà đi xa với chủ đề giảng, làm mất thời gian và phân tán sự chú ý của học sinh, làm cho học sinh không định hướng được trọng tâm của bài

* Mở đầu bài giảng bằng con số ấn tượng

Giống như một dòng típ "giật gân" trên báo, giáo viên có thể sử dụng một con số có ý nghĩa, chứa đựng một nội dung trong bài học Phương pháp này rất nhanh chóng thu hút sự tập trung của học sinh, và cũng là cách mở mang thêm tầm hiểu biết hóa học

* Mở đầu bài giảng theo phương pháp trực quan, sử dụng thí nghiệm, tranh ảnh

và máy chiếu

"Trăm nghe không bằng một thấy" việc học sinh được quan sát bằng mắt, được tự tay làm thí nghiệm sẽ giúp các em tin tưởng vào khoa học, nhớ lâu và thật sự hứng thú với môn học Hóa học là môn thực nghiệm nên thí nghiệm hóa học là một phần không thể thiếu giúp giáo viên hướng dẫn các em tìm tòi, tiếp thu kiến thức Cách mở bài này rất phù hợp với đặc trưng của môn học

* Mở đầu bài giảng bằng thơ vui hóa học

Dòng thơ, điệu nhạc luôn là cách ghi vào lòng người dễ nhất Cũng cùng một nội dung kiến thức giống nhau, nếu được mã hóa bằng câu thần chú, phổ thành những bài thơ hóa học thì hiệu quả mang lại sẽ cao hơn nhiều Là giáo viên dạy hóa mỗi chúng ta đều có vài bài thơ thú vị để dạy cho học sinh như

"Bài ca hóa trị", Việc đưa một bài thơ để mở đầu bài giảng sẽ tạo không khí cởi

mở, đậm chất văn học cho môn hóa, một môn học vẫn bị coi là khô khan

* Mở đầu bài giảng bằng cách kể truyện lịch sử hóa học

Việc đưa kiến thức lịch sử hóa học vào dạy học giúp học sinh nhận thức được quá trình hình thành và phát triển của ngành học, cũng như thấy được những khó khăn, gian nan và cả những hi sinh, mất mát trên con đường tìm ra tri thức mới của rất nhiều nhà hóa học Từ đó sẽ nuôi dưỡng tình yêu khoa học của học sinh, giúp các em biết hoài nghi và tìm ra cái mới, trân trọng những thành quả lao động của thế hệ trước

* Mở đầu bằng cách kiểm tra bài cũ, dẫn đến kiến thức mới

Giáo viên một lúc được hai việc: Vừa kiểm tra được bài cũ, vừa giúp mở đầu bài giảng một cách chặt chẽ

Nói chung mỗi cách mở đầu có những ưu nhược điểm khác nhau và khả năng phù hợp nhất định Người giáo viên trong quá trình giảng dạy nên linh hoạt

sử dụng các hình thức này để bài học thêm sinh động Cũng không nên thường xuyên lặp đi lặp lại một kiểu mà nên thay đổi cho phù hợp với từng nội dung và

Trang 6

yêu cầu của từng bài học Mỗi mở đầu hiệu quả sẽ là tiền đề đem lại thành công cho tiết học

2.1.3 Mối quan hệ giữa mở đầu bài giảng và hứng thú học tập môn Hóa học của học sinh THPT

Bất kỳ một hoạt động nào đều có mở đầu Sự khởi đầu là một khâu quan trọng quyết định đến diễn biến của hoạt động Cổ xưa có câu "vạn sự khởi đầu nan", đối với mỗi giáo viên, sự khởi đầu cho một bài học mới là hết sức quan trọng, đó là một nghệ thuật không chỉ đơn thuần dựa trên mục tiêu, nội dung của bài học và còn phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng học sinh Nếu giáo viên có một mở đầu thành công cho bài dạy của mình sẽ tạo được không khí học tập và niềm say mê cho học sinh, làm chủ được lớp học và kích thích khả năng tư duy, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội kiến thức mà giáo viên truyền đạt

Hứng thú học tập của học sinh trong mỗi tiết học trực tiếp hình thành từ khâu mở đầu bài giảng của giáo viên Để tạo được hứng thú cho học sinh, trước hết phần mở đầu bài sẽ hấp dẫn và có khả năng kích thích tư duy học sinh Những học sinh hay quậy phá, hay ngủ gật trong lớp không hẳn là những học sinh hư, cũng có thể do bài giảng không thu hút được sự chú ý của các em nên

sự chú ý đã chuyển sang một hướng khác Nghệ thuật mở đầu bài giảng ở chỗ đó

là giáo viên tạo ra hứng thú và ý thức muốn học một cách tự nhiên cho học sinh, học sinh hào hứng tham gia bài học mà không có cảm giác bị ép buộc hay bị ràng buộc bởi một hình thức kỷ luật hay hình phạt nào đó

Với môn Hóa học, có nội dung kiến thức gắn liền với thực tiễn Đó là điều kiện thuận lợi để giáo viên có thể triển khai các tiết học một cách hấp dẫn

và thu hút sự chú ý của mỗi học sinh Để tạo hứng thú cho học sinh trong môn Hóa học, người dạy cần đi sâu khai thác những đặc điểm thú vị của môn học này, mỗi nội dung học trong từng bài cụ thể sẽ có một đặc điểm riêng thú vị và hấp dẫn Trong những bài học lí thuyết, đó là sự mới lạ của kiến thức mới, đó là những ví dụ sinh động gắn liền với thực tiễn và cuộc sống hàng ngày, đó là mối liên hệ mật thiết của các hợp chất hóa học hay tính hai chiều giữa cấu tạo hóa học và tính chất hóa học,

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

- Những tiết đầu tôi dạy phần hóa học vô cơ ở các lớp 11A1, 11A2, 11A4, 11A5, tôi nhận thấy các em hầu như không chú ý đến bài giảng hoặc nghe giảng một cách thụ động, phần lớn các em đều không thấy hứng thú khi học phần này Môn Hóa học là môn thực nghiệm, tuy nhiên các em không thấy thích thú với các phản ứng hóa học, không cảm thấy thú vị với các ứng dụng của phần hóa học vô cơ và không quan tâm đến phần bài tập Như vậy, mở đầu bài giảng

là một khâu quan trọng để tạo động cơ và hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết học Trong đề tài này, tôi đề xuất một số giải pháp gây hứng thú học tập cho học sinh thông qua phần mở đầu bài giảng hóa học vô cơ lớp 11

- Thời gian khảo sát: Đầu học kỳ I (tháng 9 đến tháng 12 năm 2020)

- Kết quả thống kê:

Trang 7

Lớp SL

Loại giỏi Loại khá Loại TB Loại yếu

Dựa vào kết quả thống kê trên tôi thấy số lượng học sinh yếu chiếm tỉ lệ rất cao còn tỉ lệ học sinh khá, giỏi môn này chiếm tỉ lệ rất thấp ở tất cả 4 lớp tôi dạy, đi liền với đó là tỉ lệ học sinh yêu thích môn học rất ít Chính vì thế tôi quyết định

áp dụng đề tài này vào giảng dạy cho học sinh THPT Tĩnh Gia 4 vào cuối tháng

9 - học kỳ I năm học 2020 - 2021 Nhằm nâng cao năng lực tự học và nâng cao hiệu quả giảng dạy thông qua việc kích thích, tạo động cơ, tạo hứng thú học môn Hóa học cho học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục môn học đạt kết quả cao hơn

2.3 Giải pháp thực hiện

Qua tìm hiểu chương trình Hóa học THPT, đồng thời qua thực tế học tập môn hóa của học sinh lớp 11 trường THPT Tĩnh Gia 4, tôi đề xuất một số kỹ thuật mở đầu bài giảng về phần hóa học vô cơ ( SGK Hóa học lớp 11) nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh

2.3.1 Mục tiêu chung của phần hóa học vô cơ lớp 11.

* Phần kiến thức[4]

- Học sinh trình bày được sự điện ly, chất điện li, chất điện li mạnh, chất điện li yếu, trình bày được định nghĩa axit, bazơ, muối theo thuyết A-re-ni -ut Hiểu được thế nào là axit một nấc, axit nhiều nấc, muối trung hòa, muối axit

- Học sinh trình bày được tích số ion của nước, khái niệm về pH của dung dịch, định nghĩa được môi trường axit, môi trường kiềm, môi trường trung tính Hiểu được bản chất xảy ra trong dung dịch các chất điện li, điều kiện xảy ra phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li

- Học sinh trình bày được tính chất của nitơ, photpho và các hợp chất của Nito

và Photpho( Amoniac, muối amoni, axit nitric, muối nitrat, axit photphoric và muối phptphat) Biết phương pháp điều chế và ứng dụng Nito, photpho và hợp chất của chúng

- Học sinh trình bày được tính chất của Cacbon và hợp chất của cacbon Biết phương điều chế và ứng dụng của cacbon cùng hợp chất của chúng

* Phần kĩ năng[4]

- Quan sát thí nghiệm, hình ảnh, mô hình phân tử và rút ra nhận xét về cấu tạo phân tử và tính chất hóa học

- Viết được các phương trình hóa học thể hiện tính chất của đơn chất và hợp chất

- Tư duy khoa học và sáng tạo, liện hệ với thực tiễn đời sống

- Biết phân biết các hợp chất vô cơ

* Về thái độ

- Say mê, hứng thú học tập môn hóa học

Trang 8

- Ý thức tuyên truyền, vận dụng những tiến độ của khoa học kĩ thuật nói chung, của hóa học nói riêng vào đời sống và sản xuất

- Rèn luyện các đức tính: Cẩn thận, trung thực, kiên nhẫn, tỉ mỉ, khoa học trong công việc Tinh thần trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội

- Bước đầu học sinh có định hướng chọn nghề nghiệp có liên quan đến hóa học

* Về năng lực

- Rèn luyện học sinh các năng lực: Quan sát, thực hành, viết PTHH, ngôn ngữ hóa học, tính toán, tư duy, nghiên cứu, sáng tạo, giải quyết vấn đề và năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống

2.3.2 Một số kỹ thuật về cách mở đầu bài giảng phần hóa học vô cơ lớp 11

Mở đầu bài "Sự điện li"

Cách 1: Kể chuyện vui hóa học

“Trước khi học bài mới, cô sẽ kể cho các em

nghe một câu chuyện liên quan đến nhà hóa học

Xvante Areniuyt(1859 – 1927), nhà hóa học Thụy

Điển Tác giả của thuyết về sự điện li và thuyết năng

lượng hoạt động hay thuyết va chạm hoạt động Khả

năng, sự hiểu biết và ham thích của ông thể hiện

ngay ở những nghiên cứu của ông tiến hành trong

phòng thí nghiệm của giáo sư Talen

Năm 1887, sau nhiều năm ngiên cứu đã đưa

ra thuyết điện li Khi ông đưa ra thuyết điện li người

ta công nhận công trình của ông một cách lạnh lùng

Các giáo sư già cho rằng trong đó là một mớ những

suy nghĩ vô lí Bởi vậy họ không ủng hộ Areniuyt vào

chức vị phó giáo sư trường đại học tổng hợp thành phố Upxan Thế nhưng các công trình nghiên cứu của ông lại thu hút sự chú ý của những nhà khoa học lớn như: Clausius, Maaye, Oxtwan Đặc biệt Oxtwan lại có đánh giá tốt về những quan điểm khoa học của Areniuyt mà thời gian đó người ta cho là không bình thường Ông đã đến Thụy Điển tìm gặp và mời Areniuyt đến cùng ông làm việc Tại đây ông tiến hành nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực động hóa học, nghiên cứu tính dẫn điện và độ nhớt của dung dịch Năm 1887, ông trình bày những cơ sở của thuyết điện li của mình trên một tờ tạp chí của Đức Nhờ đó mà thế giới biết đến tên ông Areniuyt được tặng giải thưởng Noben về hóa học năm

1902 Ông từng là viện trưởng đầu tiên của viện nghiên cứu hóa lý mang tên Noben ở Xtockhôm và là thành viên trong ủy ban xét tặng giải thưởng Noben, ông đã lãnh đạo viện này tới khi ông mất vào năm 1927” Vậy thuyết điện li mà Areniuyt đưa ra được phát biểu như thế nào? Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu qua bài “Sự điện li””

Cách 2: Liên hệ thực tế

Tại sao nước cất không dẫn điện nhưng khi cho dây điện xuống nước áo,

hồ sông …thì các sinh vật như cá, tôm lại bị điện giật? Hoặc khi sử dụng kích điện trong bán kính 1-2 m, tất cả các sinh vật dưới nước từ cá, sinh vật phù du

Hình 1.Xvante Areniuyt

Trang 9

đều bị điện giật Để hiểu rõ tại sao lại như thế cô trò chúng ta hãy đi tìm hiểu nguyên nhân qua bài học “Sự điện li”?

Cách 3: Sử dụng thí nghiệm[1,tr.2]

Gv: cho học sinh quan sát thí nghiệm mô phỏng ( powerpoint) về sự

điện li

Hình 2 Mô phỏng thí nghiệm tính dẫn điện của dung dịch NaCl

Sau đó, GV đặt vấn đề với học sinh:“ Tại sao chúng ta chỉ thấy bóng đèn ở cốc đựng dung dịch NaCl bật sáng? Dung dịch NaCl có phải dẫn được điện không?” Để trả lời các câu hỏi này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu bài “Sự điện li”

Cách 4: Chuyện vui hóa học

Trước khi vào bài giáo viên kể câu chuyện vui sau

SỰ HIỂU LẦM THÚ VỊ

Nhà hóa học Mỹ S.Mulliken – giải thưởng Nobel hóa học năm (1966 )

có bà vợ rất tận tâm và dịu hiền song chẳng biết gì về hóa học cả Một lần gia đình mở tiệc, song khi khách mời đã đông đủ thì ông vẫn ở phòng thí nghiệm chưa về Sau khi gọi điện cho ông, bà vợ thông báo với khách:

- Nhà tôi đang bận “giặt và là” tại phòng thí nghiệm, vì vậy ông ấy gửi lời xin lỗi các quý vị Mời quý vị ngồi vào bàn tiệc chờ

Khách ăn tiệc vui vẻ song không khỏi thắc mắc vì giáo sư chẳng bao giờ phí thời giờ cho những công việc lao động đơn giản Hỏi ra mới biết, hóa ra bà

vợ nghe nhầm Ông báo tin mình đang bận “quan sát một ion” (To watch an ion)

Trang 10

bà lại nghe là đang bận “giặt và là” (To wash and iron) Chẳng là hai nhóm từ này phát âm khá giống nhau mà

Qua mẫu chuyện GV nhắc nhở HS khi phát âm phải chuẩn, to, rõ ràng để tránh gây hiểu nhầm, cần rèn luyện kĩ năng nghe tiếng anh tốt, nâng cao khả năng giao tiếp

Vậy ion gồm những loại gì, sự hình thành nó như thế nào ta cùng nghiên cứu bài “Sự điện li”

Mở đầu “ Axit – Bazo- Muối”

Cách 1: Kiểm tra bài cũ

Hãy xác định chất điện li mạnh, chất điện li yếu và viết các phương trình điện li: HCl, HNO2, HClO, Ba(OH)2, NaHCO3, H2SO4, Mg(OH)2, K2SO4?

Gv: Trong các chất trên chất nào là axit, bazơ và muối?

Ở chương trình THCS , các em đã được tìm hiểu về: axit, bazơ và muối

đó là các chất điện li Ở bài hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu theo quan điểm của A-rê-ni-ut, Axit, bazơ và muối được định nghĩa như thế nào nhé?

Cách 2: Thơ vui hóa học

Các em đã biết đến axit, bazơ và muối trong chương trình hóa học lớp 9

Cô đọc bài thơ để các em nhớ lại đặc điểm và tính chất hóa học của axit và bazơ nhé

Nếu em là axit Anh nào biết tong em

Anh xin làm bazơ Chứa bao nhiêu H+

Em thích làm axit Tình yêu dành cho em

Có vị chát vị chua Mạnh hơn lực axit

Như dư vị tình yêu Thắng cả lực bazơ

Không ngọt ngào đường mật Để đến tận bây giờ

Tính khí em đặc biệt Vẫn trung hòa không kịp Đâu chỉ có proton

Để hiểu rõ hơn về bản chất axit, bazơ và muối chúng ta tìm hiểu bài “ Axit – Bazơ – Muối”

Mở đầu bài “Nitơ”

Cách 1: Kể chuyện

“ Trước khi học bài mới, cô sẽ kể cho các em nghe một câu chuyện về

quá trình tìm ra nguyên tố mà tên của nó có ý ngĩa là “ Không duy trì sự sống”

Vào năm 1756, Lômônôxốp đã tiến hành thí nghiệm nung thât nóng các kim loại trong bình thủy tinh để nghiên cứu xem chúng có tăng trọng lượng hay không Từ những thí nghiệm đó ông đi gần tới việc tìm ra nguyên tố này nhưng

vì những thí ngiệm đó được tiến hành trong một nước Nga nông nô lạc hậu nên những kết quả nghiên cứu của ông không được chú ý đến

Năm 1772, Danien Rơzơfo ( Daniel Rutheford, 1749-1811, nhà y học người Anh) đã trình bày trong luận án “ về không khí cố định hay ngạt thở’’ cách lấy một khí ra từ không khí nếu đốt nóng kim loại, photpho, lưu huỳnh Ông cũng biết được tính chất của khí này làm lửa tắt và sinh vật chết Gần như đồng thời với Rơzơfo nhà hóa học Thủy Điển C.Sile cũng tiến hành một loại thí

Ngày đăng: 24/05/2021, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w