1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT số BIỆN PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ của PHẦN CHÚ GIẢI TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ văn 10 để hỗ TRỢ DẠY học đọc – HIỂU văn BẢN văn HỌC TRUNG đại

22 35 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 199,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sách giáo khoa Ngữvăn chính là sự hiện thực hóa việc thay đổi quan niệm dạy văn này, và phầnchú giải ở mỗi văn bản cũng đã được bổ sung khá kĩ, nhằm mục đích phục vụcho quá trình đ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ CỦA PHẦN CHÚ GIẢI TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 ĐỂ HỖ TRỢ DẠY HỌC ĐỌC – HIỂU

VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Người thực hiện: Lê Thị Thủy Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc môn: Ngữ văn

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

1222

Quan niệm về đọc - hiểu văn bản

Dạy học đọc - hiểu văn bản văn học

Thực trạng vấn đề

Giải pháp thực hiện

Các giải pháp

Khuyến khích việc đọc

Tăng cường hỏi và kiểm tra

Giảng giải các chú giải

Bổ sung thêm chú giải

Kích thích suy nghĩ và khám phá của học sinh

Tự chú giải

Giáo án minh họa

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

3334555677891016

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 183.1

3.2

Kết luận

Kiến nghị

1818

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Nhà văn Macxim Gorki cho rằng Người sáng tác là nhà văn và người

tạo nên số phận cho tác phẩm là độc giả Trong nhà trường phổ thông, học

sinh chính là độc giả đang tham gia vào quá trình đọc – hiểu Quá trình đọc –hiểu một tác phẩm văn học trong chương trình phổ thông thực chất chính làquá trình tiếp nhận văn học mà ở đó, người đọc phát huy năng lực đọc hiểucủa mình để lĩnh hội tác phẩm

Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trườngphổ thông đã và đang diễn ra không ngừng Việc dạy môn văn đã có bước

chuyển mình quan trọng, bắt đầu từ việc thay đổi tư tưởng nòng cốt: dạy văn

trước hết là dạy đọc văn Quan niệm này đề cao vai trò của người học: người

học phải là chủ thể trong quá trình học Dạy văn là dạy cho học sinh năng

lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng

loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thểnghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ,hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡngcho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Sách giáo khoa Ngữvăn chính là sự hiện thực hóa việc thay đổi quan niệm dạy văn này, và phầnchú giải ở mỗi văn bản cũng đã được bổ sung khá kĩ, nhằm mục đích phục vụcho quá trình đọc - hiểu của học sinh được thuận lợi hơn

Trong chương trình Ngữ văn THPT, văn học trung đại là một phầnkhó Khó trước hết vì đây là một giai đoạn văn học kéo dài suốt mười thế kỉ,với rất nhiều tác phẩm, nhiều sự thay đổi cùng với sự biến thiên của thời đại.Khó nữa là vì thời điểm mà những tác phẩm này ra đời cách chúng ta khá xa( gần nhất cũng đã hơn 100 năm ), không chỉ hệ tư tưởng, cách nghĩ, cách tưduy khác, mà ngay việc sử dụng từ ngữ cũng có một sự cách biệt lớn Bướcđầu tiếp xúc với những văn bản này, phần chú giải của sách giáo khoa đãhoàn thành được nhiệm vụ quan trọng: giúp các em học sinh đọc – hiểunhững từ khó, những ý thơ ý văn khó hiểu, những điển tích điển cố, để từ đóhỗ trợ một cách hiệu quả cho quá trình đọc - hiểu của học sinh, cũng như quátrình hướng dẫn đọc - hiểu của giáo viên Mặc dù vậy, đây cũng là phần được

“chú” thêm, nên thường bị xem nhẹ, bị coi là phần “phụ”, không được đề cậpđến trong các tài liệu giảng dạy Việc sử dụng phần chú giải hoàn toàn tùythuộc vào người dạy học, không có bất kì hướng dẫn cụ thể nào, dẫn đến việcphát huy hiệu quả của phần nội dung này để hỗ trợ cho quá trình dạy học cònchưa cao

Xuất phát từ những lí do trên, trong khuôn khổ có hạn của một sáng

kiến kinh nghiệm, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Một số biện pháp phát huy

hiệu quả của phần chú giải trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 để hỗ trợ dạy học đọc – hiểu văn bản văn học trung đại

Đề tài này được thực hiện dựa trên những kinh nghiệm của bản thântôi trong quá trình dạy học theo chương trình mới từ năm 2007 đến nay,

Trang 4

trong đó tập trung chủ yếu vào những tác phẩm được lựa chọn giảng dạytrong chương trình chính khóa.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu những giá trị sống có thể lồng ghép vào quá trình giảng dạy một

số tác phẩm văn học trung đại, từ đó tạo tiền đề cho việc nghiên cứu sâuhơn về việc lồng ghép giáo dục giá trị sống vào môn Ngữ văn ở trườngTHPT

- Đề xuất phương pháp kết hợp giáo dục các giá trị sống cho học sinh trongquá trình giảng dạy văn bản

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài này tập trung nghiên cứu các văn bản văn học trung đại trongchương trình Ngữ văn lớp 10

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích, nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

Trang 5

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Quan niệm về đọc - hiểu văn bản

Đọc – hiểu văn bản là quá trình làm việc với câu chữ, dấu câu…của vănbản để hiểu đúng, hiểu sâu văn bản đó

Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ Từ đọc thông, đọc thuộc, khôngvấp váp về ngữ âm, nghĩa từ, biết ngừng giọng đúng chỗ là một trình độ Bướchai là đọc kỹ, đọc sâu để biết được cách hành văn, sắp xếp ý, dụng ý trong dùng

từ, ngắt câu, chơi chữ lại là một trình độ khác Bước thứ ba là đọc hiểu thôngđiệp mà văn bản gửi đến cho người đọc là một mức rất cao Nhưng đọc văn là đểcảm, để sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát triển bản thân, cho nên đọcsáng tạo và đọc sử dụng là khâu cao nhất Người đọc phải tìm được cái nghĩa màngười đọc trước chưa thấy, thậm chí hiểu cái nghĩa ngoài tầm kiểm soát của tácgiả Đó đã là đọc sáng tạo Trong các khâu đọc đó, đọc hiểu là khâu cơ bản nhất,

nó bắt đầu từ hiểu từ, hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết, hiểu nghĩa toàn bài

2.1.2 Dạy học đọc - hiểu văn bản văn học

Lí thuyết tiếp nhận cho biết, văn bản văn học chỉ là một cấu trúc mời gọi,

nó chỉ cung cấp cài biểu đạt, còn cái được biểu đạt thì bỏ trống hoặc để mơ hồcho người đọc tự xác định Chúng ta đọc kĩ lại bất cứ văn bản nào đều thấy tácgiả hầu như chỉ cung cấp cái biểu đạt Kể một câu chuyện, nhà văn cũng chỉ kểcác nhân vật và sự kiện, số phận, còn ý nghĩa thế nào thì để cho người đọc thểnghiệm Một bài thơ nhà thơ chỉ cho biết cảm xúc của nhà thơ còn ý nghĩa ra saothì tuỳ người đọc suy đoán Như thế hoạt động đọc do người đọc làm chủ, phảiphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, dựa vào ngữ cảnh trong văn bản vàhoàn cảnh phát ngôn (viết) mà tìm ra ý nghĩa Hoạt động tìm ý nghĩa này vềthực chất là một quá trình kiến tạo ý nghĩa, một quá trình hoạt động đầy nhữngthử và sai, loại bỏ cái sai, dần dần xác lập cái đúng

Việc dạy học tác phẩm, đoạn trích văn học, xét về thực chất không phải là

giảng văn, mà chính là dạy đọc văn Đọc văn là quá trình hoạt động tâm lí nhằm

nắm bắt ý nghĩa của văn bản, vì thế đó là hoạt động đọc hiểu văn bản Đọc vănbao gồm các phương diện đọc thành tiếng (đọc chính âm, đọc đúng nghĩa) vàdiễn cảm Ngoài ra còn có đọc nhanh, đọc lướt và đọc thầm, đọc chậm, đọc

kĩ Đọc – hiểu văn bản văn học là chủ trương được thực hiện từ THCS Đọc và

viết, nói và nghe là các hoạt động cơ bản của HS trong môn học ngữ văn Cáchoạt động này phải được giáo viên tổ chức cho HS thực hiện trên lớp và trongcác hoạt động học tập

Dạy đọc hiểu văn bản văn học như thế nào lại phải có hiểu biết về vănbản Dạy học Ngữ văn theo yêu cầu đọc - hiểu văn bản, thực chất là hình thànhcho học sinh toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản (kể cả hiểu và cảmthụ), giúp học sinh cách đọc văn, phương pháp đọc - hiểu để dần dần các em cóthể tự đọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn

Trang 6

Vấn đề đọc - hiểu văn bản không phải hoàn toàn xa lạ đối với các giáoviên văn xưa nay và không thủ tiêu yếu tố giảng của giáo viên Quá trình dạyhọc đọc hiểu biến giáo viên từ người giảng văn trở thành người hướng dẫn đọcvăn, tăng cường vai trò hướng dẫn của thầy, tạo điều kiện cho học sinh tự học,

từ đó, rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu của học sinh ở mọi lúc, mọi nơi, trong nhữngđiều kiện khác nhau, và với những kiểu loại văn bản khác nhau

2.2 Thực trạng vấn đề

Các văn bản văn học trung đại được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 10

là những tác phẩm được sáng tác từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII, bao gồm cả hailoại hình văn học chức năng và văn học nghệ thuật

Số lượng văn bản văn học trung đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 là

19 tác phẩm với số lượng chú giải cụ thể như sau:

Stt Tên tác phẩm Số lượngâm tiết Số lượngchú giải

4 Đọc Tiểu Thanh ký – Nguyễn Du 56 4

6 Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền sư 34 0

8 Phú sông Bạch Đằng – Trương Hán Siêu 473 33

9 Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi 1304 44

10 Tựa " Trích diễm thi tập" – Hoàng Đức Lương 682 9

11 Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – Thân Nhân Trung 429 14

12 Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Trích Đại Việt sử ký toàn thư) - Ngô Sỹ Liên. 1176 11

13 Thái sư Trần Thủ Độ (Trích Đại Việt sử ký toàn thư) – Ngô Sỹ Liên. 463 9

14 Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Trích Truyền kỳ mạn lục) – Nguyễn Dữ. 1859 20

15 Tình cảnh le loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm) - Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm. 168 12

16 Trao duyên (trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du 238 13

17 Nỗi thương mình (trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du 140 6

18 Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du 126 12

19 Thề nguyền (trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du 156 15

Những chú giải phần văn học trung đại về cơ bản được chia làm ba dạng:

- Chú giải các điển tích điển cố

- Chú giải các từ Hán Việt

Trang 7

- Chú giải các từ cổ, từ khó và những ý thơ khó hiểu.

Thống kê trên cho thấy số lương chú giải của các văn bản văn học trungđại là rất cao Đặc biệt có nhiều chú giải giải thích trọn vẹn nghĩa của cả cụm từhoặc câu thơ Việc tìm hiểu phần chú giải sẽ cung cấp thêm nhiều hiểu biết vềngôn ngữ, văn hóa, thời đại…khi tác phẩm ra đời

Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng cả người dạy lẫn người học thườngkhông chú ý nhiều đến các chú giải này Việc sử dụng chú giải mới chỉ dừng lại

ở việc đọc cho biết, đọc để hiểu nghĩa những từ, những câu, những cách diễn đạt

đã cách chúng ta khá xa về thời gian Hầu hết các bài học đều không có thờigian để học sinh đọc các chú giải, nhất là ở những văn bản có số lượng chú giải

nhiều và rất dài như Phú sông Bạch Đằng hay Bình Ngô đại cáo Phần chú giải

chưa hỗ trợ nhiều cho quá trình đọc - hiểu văn bản văn học đúng nghĩa Khôngnhững thế, một số trường hợp chú giải chưa thật đầy đủ, chưa rõ nghĩa, hoặcthiếu hụt phần chú giải, dẫn đến khó khăn trong việc đọc – hiểu văn bản văn họctrung đại – vốn là những tác phẩm học sinh khó tiếp nhận Chẳng hạn trong

đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, từ gió đông được chú giải như

sau:

Gió đông: (đông phong) gió mùa xuân

Học sinh sẽ băn khoăn không hiểu vì sao gió đông mà lại là gió xuân Hoặc trong tác phẩm Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, phần tiểu dẫn

đã chỉ ra Tiểu Thanh kí có hai cách hiểu: là tập thơ của nàng Tiểu Thanh hoặc là tên truyện viết về nàng Tiểu Thanh Thế nhưng câu thơ dịch nghĩa Chỉ viếng

nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ lại được chú giải là: “đọc tập kí kể về cuộc đời Tiểu Thanh” là không nhất quán Cũng ở tác phẩm này, chú giải số 2

về câu dịch Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết là

người đẹp linh thiêng nên chết đi vẫn khiến người đời thương tiếc Giải thích thế

là chưa rõ ràng, nên giáo viên phải hướng dẫn thêm để học sinh hiểu đúng vàhiểu rõ hơn về văn bản

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy vai trò quan trọng của phần chúgiải trong việc hỗ trợ dạy học đọc - hiểu các văn bản văn học trung đại, cũngnhư những khó khăn trong cách sử dụng phần chú giải để phục vụ cho hoạt độnggiảng dạy Bước đầu tìm tòi cách thức nâng cao hiệu quả của giờ đọc - hiểu vănbản văn học trung đại, tôi tập trung tìm hiểu cách phát huy hiệu quả của phầnchú giải để dạy học đọc - hiểu văn bản văn học trung đại trong chương trình lớp

10, với hy vọng có thêm một giải pháp để nâng cao chất lượng giờ dạy

em có một tâm thế tốt hơn trước khi học bài mới Việc nhắc nhở này giống như

Trang 8

một sự định hướng cho hoạt động học tập của các em, có tác dụng hỗ trợ nhấtđịnh cho quá trình học cũng như quá trình tự học.

Trong giờ học, đối với những văn bản có dung lượng ngắn và số lượngchú giải không nhiều, tôi thường gọi một em học sinh đọc to phần chú giải saukhi đã đọc xong văn bản, đồng thời yêu cầu các em khác theo dõi Với hoạtđộng này, những em chưa chịu đọc bài và đọc phần chú giải trước khi đến lớp sẽ

có điều kiện “đọc” bài một cách trọn vẹn Việc đọc thông này sẽ là tiền đề cho việc đọc hiểu tiếp sau đó.

2.3.1.2 Tăng cường hỏi và kiểm tra

Tuy nhiên, với những văn bản dài, số lượng chú giải nhiều ( như Bạch

Đằng giang phú của Trương Hán Siêu có 33 chú giải, Đại cáo bình Ngô của

Nguyễn Trãi có 44 chú giải ), việc đọc chú giải trên lớp là điều không thể thựchiện được Vậy làm thế nào để vừa đảm bảo thời lượng bài học, lại vừa đảm bảođược phần kiến thức hỗ trợ mà sách giáo khoa đã đưa ra? Theo kinh nghiệm củatôi, trường hợp này, người giáo viên phải tăng cường hỏi và kiểm tra hoạt độngđọc của các em trong khâu chuẩn bị bài Việc kiểm tra này có thể lồng ghép vớiviệc kiểm tra bài cũ, bài soạn để tạo “sức ép”, buộc học sinh phải đọc kĩ bàitrước khi đến lớp Hoặc giáo viên cũng có thể kết hợp kiểm tra trong quá trìnhhọc bài

Trong trường hợp này, câu hỏi kiểm tra có thể ở hai dạng:

Dạng thứ nhất là câu hỏi tái hiện, được sử dụng khi kiểm tra sự chuẩn bịbài của học sinh

Ví dụ : Trước khi dạy văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ( Thân

Nhân Trung ), tôi hỏi học sinh:

- Hiền tài là gì? Nguyên khí nghĩa là gì?

- Có thể hiểu như thế nào về nhan đề của văn bản?

Học sinh đã đọc phần chú giải sẽ trả lời được ngay:

- Hiền tài là người tài cao, học rộng và có đạo đức Nguyên khí là khí

chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của sự vật

- Nhan đề văn bản có thể hiểu: người tài giỏi và có đạo đức chính là yếu

tố quan trọng làm nên sự sống còn và tạo nên sự thịnh vượng của đấtnước

Dạng thứ hai là câu hỏi phát hiện, được sử dụng trong quá trình dạy đọcbài

Ví dụ : Khi dạy văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích

Chinh phụ ngâm khúc), tôi hỏi:

- Vì sao người chinh phụ lại gượng gảy đàn, trong khi với hoàn cảnh củanàng, gảy đàn có thể xem là một cách để vợi bớt bỗi sầu thương nhungnhớ?

Học sinh có thể căn cứ vào hai chú giải số 7 và số 8 ( dây uyên ương và

phím loan) - sgk Ngữ văn 10 tập 2 - tr87 để trả lời: vì nàng sợ dây đàn đứt, sợ

dây đàn chùng – vốn là những điềm gở đối với sự gắn kết lứa đôi

Trang 9

Như vậy, với hai dạng câu hỏi đơn giản này, giáo viên có thể dễ dàngkiểm tra hoạt động đọc của học sinh, khéo léo động viên các em tích cực tự đọc.Một khi học sinh chủ động và tự giác hơn trong quá trình học của mình, hiệuquả của giờ học sẽ tăng lên một cách đáng kể.

2.3.1.3 Giảng giải các chú giải

Đối với mỗi người giáo viên, dạy học làm sao để học sinh có thể hiểu bàimột cách đồng đều là một công việc khó Tôi đã cố gắng áp dụng phối hợpnhiều phương pháp dạy học, bản thân cũng phải tích cực làm việc, tìm hiểu tưliệu để giúp các em phần nào dễ dàng hơn khi tiếp cận với những kiến thức rất

cơ bản của sách giáo khoa Mặc dù những chú giải trong sách giáo khoa tươngđối rõ ràng, dễ hiểu, vẫn rất cần giáo viên chú giải kĩ hơn một số từ ngữ, điểntích, hoặc câu thơ nào đó

Ví dụ 1 : Ở văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh

phụ ngâm khúc), chú giải số 1 trang 88 sgk viết “Gió đông: (đông phong) gió

mùa xuân” Giải thích thế là không rõ, cần phải nói thêm: Đông phong là gió

thổi từ đông nam Trung Hoa vào lục địa về mùa xuân, ý chỉ ngọn gió lành làmhồi sinh muôn vật Như vậy, học sinh có thể hiểu ngay hai câu thơ

Lòng này gửi gió đông có tiện, Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Hàm ý chỉ người chinh phụ mong muốn gửi lòng thương nhớ của mình tới

người chồng đến tận nơi chiến trận xa xôi Vì sao lại là gửi gió đông? Vì nàng

mong muốn tình cảm của mình sẽ được ngọn gió lành đưa đến bên chồng Nhưvậy, từ chú giải, học sinh có thể phần nào hiểu được nội dung văn bản, cũng nhưhiểu được cả tâm trạng của nhân vật trữ tình

Ví dụ 2: Văn bản Thề nguyền (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du), chú giải

số 3 – sách giáo khoa trang 115 chú như sau:

“Trướng huỳnh : xưa có người nhà nghèo không có tiền để đọc sách, phải bắt đom đóm làm đèn học Do đó, trướng huỳnh dùng chỉ phòng học của nho

sinh, đồng thời gợi ý hiếu học Cả câu ở đây ý nói nhìn từ bên ngoài vào thấyánh sáng đèn từ phòng học của Kim Trọng lọt ra dìu dịu.”

Giáo viên cần phải giảng giải nghĩa của từ trướng huỳnh trước: màn có ánh sáng đom đóm, rồi mới dẫn điển Xưa có người nhà nghèo…

2.3.1.4 Bổ sung thêm chú giải

Phần chú giải trong sách giáo khoa nhìn chung tương đối dầy đủ Nhưngtheo cá nhân tôi, một vài văn bản giáo viên vẫn cần chú giải thêm một số nộidung để làm tư liệu cho học sinh học tập

Ví dụ 1: Về hai câu thơ 3 và 4 trong bài thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm):

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Sách giáo khoa không chú giải gì về hai câu thơ này Nhưng để học sinh

có thể dễ dàng tiếp nhận thông điệp của tác giả hơn, tôi chú giải thêm : dại và

khôn là cách nói ngược nghĩa của Nguyễn Bỉnh Khiêm Ở bài thơ số 94 ông

cũng từng viết

Trang 10

Khôn mà hiểm độc là khôn dại Dại vốn hiền lành ấy dại khôn

Học sinh có thể vận dụng kiến thức bổ sung này để hiểu hơn lối sống coithường danh lợi, lánh xa nơi quyền quý, giữ gìn sự thanh cao của Nguyễn BỉnhKhiêm là cách ông đi ngược lại lối sống thông thường của người đời, từ đó nhậnthức được đúng đắn về quan niệm sống nhàn của tác giả

Ví dụ 2 : Văn bản Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) là một văn bản khó,

hiện tại vẫn có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tác phẩm này Tuy nhiên khiđưa vào dạy trong chương trình, sách giáo khoa chú giải rất ngắn gọn, khiến cảngười dạy lẫn người học có phần lúng túng khi tiếp cận với tác phẩm Ở vănbản này, có hai câu thơ cần phải cân nhắc :

- Chú giải số 2 về câu thơ thứ ba của bài thơ chưa chính xác: “Ý nói : người đẹp

linh thiêng nên chết đi vẫn khiến người đời thương tiếc” Câu thơ nguyên tác là Chi phấn hữu thần liên tử hậu, không có ý nào nhắc tới sự thương tiếc của

người đời Chỉ có thể hiểu chi phấn là hoán dụ chỉ nhan sắc của Tiểu Thanh, ý

câu muốn nói Tiểu Thanh có linh thiêng chắc phải xót xa vì những việc xảy rasau khi nàng chết (người vợ cả của Phùng Sinh đốt thơ nàng, đốt chân dungnàng)

- Câu thơ thứ tư Văn chương vô mệnh lụy phần dư có hai nghĩa, nhưng không

được chú giải Nghĩa đen của câu thơ nhắc chuyện thơ văn của Tiểu Thanh bịđốt dở, nghĩa hàm ẩn chỉ tài năng của nàng cũng bị vùi dập,Tiểu Thanh mệnhbạc ngay cả khi đã chết Giảng giải rõ như thế mới thấy được nỗi oan chồng chất

nỗi oan, từ đó mới hiểu được cổ kim hận sự mà Nguyễn Du nhắc đến là mối hận

nào Khi giảng thêm về những chi tiết này, tôi nhận thấy học sinh có phần tiếpthu bài học được dễ dàng hơn

2.3.1.5 Kích thích suy nghĩ và sự khám phá của học sinh

Trên cơ sở những chú giải đã có, giáo viên có thể định hướng cho hoạtđộng của người học, giúp học sinh từng bước làm chủ kiến thức Hoạt động họccủa các em vì thế sẽ mang tính chủ động rất rõ rệt Các em cảm thấy mình là

người phát hiện chứ không phải là người nghe lại sự phát hiện của người khác,

cho nên sẽ thấy hào hứng hơn trong quá trình học tập

Người giáo viên hoàn toàn có thể làm được điều này bằng cách xây dựng

hệ thống câu hỏi phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của từng đối tượnghọc sinh Những câu hỏi gắn liền với phần chú giải sẽ góp phần giúp học sinh đi

từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ đó mà dần dần chiếm lĩnh tri thức.

Ví dụ 1 : Khi dạy văn bản Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, tôi đặt câu

hỏi :

1 Em hiểu như thế nào là điếu phạt?

Học sinh có thể đọc chú giải và trả lời được : Điếu phạt là vì dân mà

đánh kẻ có tội

2 Điếu phạt đã được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?

Học sinh dựa vào câu hỏi trên để trả lời : Điếu phạt là vì dân mà diệttrừ quân Minh xâm lược

Trang 11

3 Điều này thể hiện nét nổi bật nào trong tư tưởng của Nguyễn Trãi?Học sinh trả lời : điều này thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của NguyễnTrãi

Ví dụ 2 : Từ chú giải về giấc hòe trong câu thơ cuối của văn bản Nhàn

(Nguyễn Bỉnh Khiêm), tôi đặt các câu hỏi như sau :

1 Việc sử dụng điển tích này cho thấy cái nhìn như thế nào của NguyễnBỉnh Khiêm về công danh phú quý?

(Việc sử dụng điển tích này cho thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm Không coitrọng công danh phú quý, xem đó chỉ là giấc chiêm bao )

2 Kết hợp với hai câu thơ số 3 và số 4, em hiểu gì về quan niệm nhàncủa Nguyễn Bỉnh Khiêm?

( Quan niệm nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là coi thường danh lợi,tránh xa nơi quyền quý để giữ gìn cốt cách thanh cao )

3 So với quan niêm nhàn theo cách hiểu thông thường (nhàn rỗi, không

có hoặc ít có việc phải suy nghĩ đến), em có nhận xét thế nào về quanniệm nhàn này?

( Nhàn không phải là lười lao động, tìm sự nhàn hạ cho bản thân, mà làmột quan niệm sống coi thường lợi danh, sống hòa hợp với tự nhiên

Đó là lối sống đầy chủ động, thể hiện nhân cách cao đẹp của NguyễnBỉnh Khiêm )

2.3.1.6 Tự chú giải

Giáo viên cũng có thể đặt học sinh vào tình thế phải tự chú giải từ ngữ, tựtìm cho mình một cách hiểu đối với câu thơ, câu văn, từ đó làm cơ sở để hiểuhơn về nội dung của tác phẩm Hoạt động này nhằm rèn luyện cho học sinh thóiquen đọc Nói cách khác, muốn tìm hiểu một văn bản mới, học sinh trước hếtphải tìm hiểu từ ngữ, câu chữ…, sau đó mới tiến đến tìm hiểu dụng ý của tácgiả Đây là những kĩ năng cần thiết trong quá trình học văn nói chung và quátrình đọc – hiểu văn bản nói riêng Hoạt động đọc của các em sẽ không chỉkhuôn trong phạm vi những tác phẩm trong nhà trường Tiếp xúc với bất kì vănbản thuộc thể loại nào, các em cũng sẽ rèn được cho mình ý thức đọc – hiểu theotừng cấp độ từ dễ đến khó Như vậy, mục đích đọc – hiểu trong nhà trường phổthông mới có thể thực hiện được một cách hoàn chỉnh

Ví dụ : Khi dạy văn bản Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du), tôi đặt các câu

hỏi sau :

1 Cổ kim hận sự nghĩa là gì?

( Nghĩa là những mối hận xưa nay, ý chỉ việc những người phụ nữxinh đẹp tài hoa thường có số phận bất hạnh.)

2 Cổ kim hận sự thiên nan vấn nghĩa là gì? Ba chữ thiên nan vấn cho

thấy thái độ gì của tác giả?

( Nghĩa là mối hận ấy khó mà hỏi trời được, vì nó lặp đi lặp lại như

một quy luật nghiệt ngã không bao giờ dứt Ba chữ thiên nan vấn cho

thấy thái độ bất bình và đầy oán trách của tác giả.)

3 Từ quy luật nghiệt ngã này, Nguyễn Du đã nghĩ gì về mình?

Ngày đăng: 24/05/2021, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w