Phương pháp này cũng được sử dụng để nghi ên c ứu các tư liệu từ các ph ần mềm d ạy học, các bộ phim video có kiến thức địa lí, các bộ phim giáo khoa địa lí hiện đang được lưu hành...[r]
Trang 14 Giới hạn của đề tài
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thiết bị dạy học môn địa lí 9
11 Khái niệm về phương tiện dạy học và phim video
9 1.1.1 Khái niệm về phương tiện dạy học
9 1.1.2 Khái niệm về video
10 1.1.3 Vai trò của video trong dạy học địa lí
11 1.2 Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THCS
15 1.3 Cấu trúc, nội dung chương trình địa lí THCS
17 1.4 Thực trạng sử dụng phim video trong dạy học địa lí ở trường
1.4.1 Tình hình trang bị phim video cho dạy học địa lí
19 1.4.2 Tình hình sử dụng phim video cho dạy học địa lí
20
Chương 2: Cách xây dựng bộ sưu tập tư liệu video môn địa lí 22
2.1 Những yêu cầu của một phim video sử dụng trong dạy học
22 2.2 Các loại phim video dạy học địa lí ở trường THCS và CĐSP
24 2.3 Giới thiệu một số cách download video từ YouTube
31 2.4 Photo Story – Câu chuyện bằng hình ảnh
39 2.4.1 Photo Story – Câu chuyện bằng hình ảnh là gì ?
39
Trang 22.4.2 Câu chuyện bằng hình ảnh có ý nghĩa như thế nào với
51 2.7 Giới thiệu một số địa chỉ website hữu ích cho sưu tập tư liệu
62 3.3 Các điều kiện cần thiết để sử dụng phim video
63 3.4 Phương pháp hướng dẫn học sinh THCS khai thác tri thức địa
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Nền giáo dục nước ta đang đứng trước cơ hội và thách thức lớn Vì vậy nền giáo dục nước ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp dạy học Định hướng cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học đã được chỉ rõ trong các Nghị quyết của Trung ương
Đảng về giáo dục và đào tạo Đó là: “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên”
Phương tiện dạy học là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học, nó tác động trực tiếp đến nội dung và phương pháp dạy học, giúp đạt được mục tiêu dạy học Trong số các phương tiện dạy học hiện đại được đưa vào sử dụng trong dạy học, video chiếm một vị trí rất quan trọng
vì với nhiều tính năng ưu việt, video cho phép trình bày các đối tượng, hiện tượng, quá trình theo những chuyển động phát triển nhờ tính năng hoạt động với sự phối hợp cả hai kênh nghe và nhìn tạo nên một hiệu quả truyền thông
to lớn
Thực tế việc sử dụng video trong dạy học địa lí hiện nay còn nhiều hạn chế như:
- Phương pháp sử dụng
- Nguồn tư liệu video còn nghèo nàn
Chương trình địa lí ở trường THCS hiện nay có mục tiêu là: môn địa
lí trong nhà trường THCS góp phần làm cho học sinh có được những kiến thức phổ thông, cơ bản, cần thiết về Trái Đất – môi trường sống của con người, về những hoạt động của loài người trên bình diện quốc tế, quốc gia; bước đầu hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng, tình cảm đúng đắn và
Trang 5tự nhiên, xã hội xung quanh, phù hợp với yêu cầu đất nước, với xu thế thời đại
Xuất phát từ những thực tế trên, nhận thấy việc nghiên cứu cách xây dựng bộ tư liệu video môn địa lí THCS cho sinh viên Văn - Địa trường CĐSP Thái Nguyên, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học địa lí là một yêu cầu cấp thiết nên tôi chọn đề tài nghiên cứu này
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các đoạn phim tư liệu phục vụ cho dạy và học môn Địa Lí ở trường THCS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý luận về thiết bị dạy học môn địa lí
- Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THCS
- Nghiên cứu chương trình đào tạo môn Địa Lí ở trường THCS
- Một số cách sưu tầm và xây dựng bộ sưu tập tư liệu video môn địa lí
- Cách lưu trữ tư liệu video
4 Giới hạn của đề tài
Trang 6Ngoài phần cơ sở lí luận chung, đề tài chủ yếu tập trung vào phương pháp sưu tập tư liệu video Do phụ thuộc vào thời gian, kinh phí nên đề tài không đi sâu vào những vấn đề kỹ thuật điện ảnh cho việc xây dựng phim video giáo khoa địa lí theo quan điểm nghiên cứu Những tư liệu video của
đề tài đã sưu tập được có thể được coi như là nguồn tư liệu cho nghiên cứu
và học tập, nếu có sự hợp tác giữa các nhà chuyên môn và các nhà kỹ thuật thì các sản phẩm này sẽ là những bộ phim video giáo khoa tốt
5 Lịch sử nhiên cứu
Phim ảnh được đưa vào sử dụng trong nhà trường từ những năm 1910
và đã trở thành một phương tiện dạy học mang lại nhiều hiệu quả to lớn Đến những năm 1970, khi kỹ thuật video ra đời đã cung cấp cho giáo dục một phương tiện dạy học tiện lợi nhờ những tính năng ưu việt của nó
Ở các nước phát triển, việc xây dựng, sử dụng phim video dạy học ở tất cả các bộ môn trong nhà trường là một nội dung quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Một số nước phát triển còn xây dựng được một chương trình phim video nhằm mở rộng sự hiểu biết về thiên nhiên, xã hội cho học sinh, sinh viên và quần chúng nhân dân
Ở nước ta việc xây dựng và sử dụng phim video dạy học mới ở giai đoạn bắt đầu nghiên cứu, ứng dụng Trong việc nghiên cứu và xây dựng băng hình dạy học trước hết phải kể đến Trung tâm học liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm nghe – nhìn giáo dục của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh
Việc xây dựng và sử dụng phim video cho dạy học địa lí đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu:
- Đề tài nghiên cứu “Đưa phương tiện nghe nhìn hiện đại vào nhà trường trong điều kiện kinh tế Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2000” của Ngô Thế Phong và Từ Văn Sơn (1993): mặc dù đề tài chỉ nghiên cứu về vai
Trang 7trò, tình trạng và đề xuất phương án đưa các phương tiện nghe nhìn hiện đại, trong đó có video, vào sử dụng trong nhà trường trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, không nghiên cứu về phương pháp sử dụng các phương tiện này trong dạy học, tuy nhiên từ đề tài này hàng loạt băng video giáo khoa của tất cả các bộ môn được xây dựng và xuất bản
- Đề tài cấp Bộ “Xây dựng một số băng hình phục vụ dạy học Giáo dục môi trường ở khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm” của Nguyễn Phi Hạnh: đề tài đã có những nghiên cứu về lí luận xây dựng và sử dụng phim để đổi mới phương pháp dạy học Giáo dục môi trường ở khoa Địa lí
- Luận án tiến sĩ “ nghiên cứu xây dựng phim video giáo khoa và sử dụng trong dạy học địa lí lớp 6 (THCS)” của Nguyễn Quốc Tuấn (2003) là công trình nghiên cứu đầy đủ về video Luận án đề cập đến hai nội dung cơ bản là quy trình xây dựng băng video giáo khoa và phương pháp sử dụng chúng trong dạy học địa lí
Điểm qua các tài liệu, công trình nghiên cứu tiêu biểu trên đây chúng
ta có thể rút ra một số kết luận sau đây:
- Các bài viết, tài liệu chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực kỹ thuật của video
và quy trình xây dựng băng video
- Phần phương pháp sử dụng video trong dạy học nói chung và dạy học địa lí nói riêng chưa được nghiên cứu nhiều, nếu có cũng rất khái quát,
có tính chất định hướng Những nghiên cứu này làm cơ sở bước đầu cho việc nghiên cứu đề tài của chúng tôi - một lĩnh vực chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận:
Trang 8Sưu tầm, tham khảo các tài liệu về nội dung, chương trình môn Địa Lí
ở THCS; Tài liệu liên quan đến vấn đề sử dụng TBDH môn Địa Lí ở THCS; Các danh mục thiết bị dạy học tối thiểu ở từng lớp ở THCS
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tổng kết qua kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp các trường bạn
và của trường CĐSP Thái Nguyên
- Phương pháp lịch sử:
Sử dụng phương pháp lịch sử giúp chúng tôi xác định được tính lịch
sử của đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp:
Phương pháp này được sử dụng nhằm nghiên cứu, chọn lọc các công trình lí luận liên quan tới đề tài, bao gồm các bài viết, sách, tài liệu các công trình khoa học đã được công bố ở trong và ngoài nước Trên cơ sở đó, chúng tôi có được cái nhìn tổng thể về đề tài, kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả ở mức độ nhất định, đề ra các giả thiết để nghiên cứu hoàn thiện cơ
sở lí luận cho đề tài
Phương pháp này cũng được sử dụng để nghiên cứu các tư liệu từ các phần mềm dạy học, các bộ phim video có kiến thức địa lí, các bộ phim giáo khoa địa lí hiện đang được lưu hành Các nguồn tài liệu này là cơ sở chủ yếu
để chúng tôi sưu tập nên bộ tư liệu video dạy học địa lí
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Qua quá trình giảng dạy có sử dụng phim tư liệu sẽ rút kinh nghiệm đối với từng nội dung, từng phần và từng chương để hoàn thiện bộ sưu tập video
Trang 9B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ 1.1 Khái niệm về phương tiện dạy học và phim video
1.1.1 Khái niệm về phương tiện dạy học
Khái niệm phương tiện dạy học hay còn được gọi là thiết bị dạy học,
đồ dùng dạy học đã có các định nghĩa của nhiều tác giả khác nhau, có thể kể tới một số định nghĩa đã được nhiều người thừa nhận:
“Phương tiện dạy học bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo”[25] Với quan niệm này, các phương tiện dạy học được phân thành ba nhóm:
“Phương tiện dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được
GV sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS Đối với HS, đó là các nguồn tri thức phong phú, sinh động, là phương tiện giúp co các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo” [25] Nhiều tác giả khác cũng đưa ra những khái niệm tương tự
Như vậy, có thể kết luận: Phương tiện dạy học là những phương tiện vật chất cần thiết giúp GV và HS tổ chức và tiến hành hợp lí, có hiệu quả quá trình dạy - học nhằm đạt mục đích dạy học
Phương tiện dạy học địa lí
Trang 10Các PTDH địa lí đang được dùng trong nhà trường phổ thông hiện nay gồm toàn bộ cơ sở vật chất, phương tiện truyền thống, hiện đại tạo điều kiện cho việc giảng dạy môn học như: phòng bộ môn địa lí, vườn địa lí, toàn bộ đồ dùng giảng dạy và học tập trực quan như: bản đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ quan trắc, đo đạc, các thiết bị nghe – nhìn và cuối cùng là các tài liệu để cung cấp những tri thức cơ bản cho GV và HS như sách giáo khoa, các sách tham khảo địa lí [7]
1.1.2 Khái niệm về video
Khái niệm video được hiểu bao gồm đầu máy video và các băng video Trong đó, đầu máy video được coi là phần cứng, là cơ sở để thực hiện các nguyên lý thiết kế theo các yêu cầu biểu diễn nội dung bài học, nó giúp cho việc cơ giới hoá, điện tử hoá quá trình dạy học, nhờ đó giáo viên có thể dạy cho nhiều học sinh, truyền đạt nội dung nhiều và nhanh hơn mà tiêu hao sức lực và thời gian ít hơn Để biểu diễn nội dung bài học cần phải có các phần mềm, được xây dựng dựa trên các nguyên lý sư phạm, tâm lý học, khoa học kỹ thuật, để cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức nhất định, đồng thời góp phần cải tiến phương pháp dạy học Đó là các băng video Băng video ghi lại đồng thời hình ảnh và âm thanh của các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, đời sống xã hội… và được đầu máy video phát lại qua màn hình ti vi
Với nhiều tính năng ưu việt, video được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy các thể loại băng video rất phong phú và đa dạng, bao gồm video sử dụng trong đời sống xã hội, băng video sử dụng trong nghiên cứu khoa học và băng video sử dụng trong giáo dục
Trong giáo dục, chúng ta có một hệ thống băng video được xây dựng
để phục vụ cho việc dạy học, với những đặc điểm và yêu cầu riêng, gọi là băng video giáo khoa Nội dung của băng video gắn liền với nội dung của
Trang 11môn học, bài học Cấu trúc của băng video gắn liền với nội dung, phương pháp dạy học và đảm bảo những yêu cầu sư phạm cần thiết
Băng video giáo khoa bao gồm nhiều loại nhằm phục vụ cho các cấp học, các đối tượng học sinh khác nhau như: băng video dành cho trẻ em mẫu giáo, băng video dùng cho trường phổ thông và băng video cho đại học, cao đẳng Ở mỗi loại, tuỳ theo mục đích và nhiệm vụ học tập mà có các băng video dạy học lý thuyết, băng video dạy thực hành Ngoài ra, băng video giáo khoa còn được xây dựng dưới nhiều hình thức thể hiện khác nhau, biểu hiện sự phong phú và đa dạng trong phương thức truyền thông
Ngày nay với sự hỗ trợ của máy vi tính với các phần mềm hữu dụng
đã cung cấp cho giáo viên nhiều videoclip có thể sử dụng trong dạy học, ví
dụ như phần mềm Encarta World Atlas có thể cung cấp rất nhiều các videoclip về đị lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội dưới các hình thức phim
tư liệu, phim hoạt hình ngắn Ngoài ra, kỹ thuật vi tính còn giúp cho việc xây dựng các thể loại băng video giáo khoa trở nên dễ dàng, nhanh chóng và
đa dạng hơn rất nhiều Kỹ thuật vi tính còn giúp chuyển nội dung phim từ băng từ qua đĩa CD dùng trên đầu VCD hoặc trên vi tính, giúp cho giáo viên lựa chọn nội dung trình chiếu một cách nhanh chóng và chính xác hơn rất nhiều so với dùng băng video chạy trên đầu máy video
1.1.3 Vai trò của video trong dạy học địa lí
Với nhiều tính năng ưu việt, video có vai trò to lớn trong dạyhọc nói chung và dạy học địa lí nói riêng, biểu hiện ở các mặt sau dây:
- Video giúp cho học sinh thông hiểu, nắm vững kiến thức địa lí
Để hiểu được một đối tượng chúng ta không những cần phải biết các đặc tính của đối tượng mà còn phải hiểu ý nghĩa, khái niệm và những nguyên tắc nằm sau đối tượng đó Video có khả năng trình bày nội dung có tính chất khái niệm ấy dưới hình thức ảnh kết hợp với âm thanh theo một
Trang 12trình tự liên kết hữu cơ, nhờ đó học sinh có thể hiểu được cơ cấu tạo thành nền tảng các đối tượng, hiện tượng địa lí, tự mình hiểu được những nguyên tắc và khái niệm cơ bản, từ đó nắm vững được kiến thức địa lí
- Video giúp cho HS ghi nhớ kiến thức lâu bền hơn
Video tác động trực tiếp đồng thời vào thị giác và thính giác trong quá trình lĩnh hội kiến thức sẽ giúp cho HS ghi nhớ kiến thức lâu bền hơn Từ thực nghiệm khoa học, người ta đã tổng kết các mức độ tiếp nhận kiến thức của HS trong quá trình học tập qua con đường cảm giác với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học như sau:
Bảng1: Mức độ tiếp thu kiến thức qua các con đường cảm giác khác nhau
Trang 13Kết quả nghiên cứu này nói lên tác dụng to lớn của các phương tiện nghe nhìn, trong đó có video, đối với sự tiếp thu và ghi nhớ kiến thức của học sinh
- Video góp phần làm gia tăng, khắc sâu những kinh nghiệm trực tiếp giúp cho việc học tập của học sinh thêm phong phú và sâu rộng hơn
Muốn nhận thức được bản chất quy luật của một đối tượng nào đó, trước hết cần phải có những kinh nghiệm trực tiếp Kinh nghiệm trực tiếp có được nhờ quá trình quan sát, nghiên cứu, làm thí nghiệm… Trong dạy học địa lí, do đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, những kinh nghiệm trực tiếp càng trở nên cần thiết Thế nhưng, những kinh nghiệm học sinh trực tiếp lĩnh hội được ở trường về môn địa lí còn rất nhiều hạn chế, đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học tập môn địa lí Trong trường hợp này, video có thể bổ sung cho sự thiếu hụt của kinh nghiệm trực tiếp đó bằng kinh nghiệm gián tiếp Nhờ video, học sinh có thể quan sát gián tiếp được những đối tượng, hiện tượng địa lí không thể quan sát được do kích thước quá nhỏ hoặc quá lớn, học sinh có thể tiếp cận được với những đối tượng, hiện tượng phân bố
ở những vùng lãnh thổ xa xôi, không thể đi đến được Nhờ kỹ thuật quay của video, học sinh còn có thể quan sát được cả những hiện tượng, qúa trình diễn
ra quá nhanh hoặc qúa chậm, không kịp quan sát trong thực tế Đồng thời, nhờ khả năng lưu giữ, video còn giúp cho học sinh thấy được hình ảnh, nghe được âm thanh vượt không gian và thời gian
- Video góp phần hình thành và nâng cao khả năng quan sát, tự nghiên cứu của học sinh
Với tính năng kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh dưới hình thức chuyển động, video có khả năng trực tiếp trình bày nội dung kiến thức cơ bản của các đối tượng nghiên cứu dưới dạng hệ thống hoá, khái quát hoá, đơn giản hoá những đối tượng hiện tượng phức tạp, muôn hình muôn vẻ về
Trang 14địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội, tạo điều kiện để học sinh quan sát, độc lập suy nghĩ, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán… trên cơ sở đó
tự phát hiện kiến thức, nhờ đó có thể nắm kiến thức một cách vững chắc hơn
- Video góp phần nâng cao hiệu suất dạy học, phát huy tác dụng trong mọi hình thức dạy học
Với thời lượng nhất định, video trình bày nội dung kiến thức một cách tối ưu thông qua những hình ảnh, với các cảnh thật người thật, các biểu bảng, sơ đồ, bản đồ, chữ viết, những tiếng động thật kết hợp với âm nhạc và những lời thuyết minh sống động sẽ giúp nhịp độ giới thiệu tài liệu được gia tăng, dành thêm nhiều thời gian cho giáo viên tổ chức các hoạt động nhận thức của học sinh
Video không những ghi lại các đối tượng nghiên cứu một cách trung thực, sống động bằng hình ảnh và âm thanh phối hợp với đặc trưng từng môn học mà còn kèm theo những lời thuyết minh, giải thích, bình luận, hướng sự tập trung chú ý của học sinh vào những vấn đề trọng tâm của nội dung bài học, do đó, video có thể phát huy tác dụng trong nhiều hình thức và phương pháp dạy học khác nhau như hình thức dạy học cả lớp, hình thức học tập nhóm, hình thức học tập cá nhân…
- Video góp phần bồi dưỡng tình cảm cho học sinh
Nội dung băng video không chỉ giới thiệu các đối tượng nghiên cứu một cách hữu hiệu mà còn thông qua các hình ảnh về đất nước và con người với các hoạt động sản xuất và sinh hoạt kèm theo những lời giải thích, bình luận giúp học sinh có thể tự mình khám phá ra những giá trị về văn hoá, xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, góp phần bồi dưỡng tình cảm cho học sinh
Trang 151.2 Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh THCS
Học sinh THCS có độ tuổi từ 11 đến 15 Đây là lứa tuổi thiếu niên với đặc điểm tâm lí nổi bật là ý thức tự khẳng định mình, muốn tự lực độc lập trong mọi hoạt động HS ở lứa tuổi này phát triển mạnh mẽ đến mức thiếu cân đối cả về cơ thể, thể chất, tâm lí, trí tuệ
Hoạt động nhận thức cơ bản của tuổi thiếu niên là hoạt động học tập trong nhà trường So với học sinh tiểu học, hoạt động học tập của học sinh THCS đã có những biến đổi phù hợp với ý thức tập làm người lớn
- Về động cơ học tập: Hứng thú nhận thức của các em thiên về hành động thực tiễn nhiều hơn là nhận thức lý thuyết, thiên về nhận thức sự việc một cách trực tiếp hơn là lý luận về sự việc đó Động cơ học tập rất đa dạng
và chưa bền vững Để các em có động cơ, thái độ học tập đúng đắn thì tài liệu học tập phải có nội dung khoa học súc tích, phải gắn với thực tiến cuộc sống
- Về chú ý: Chú ý có chủ định được hình thành dần dần, mặt khác chú
ý dễ bị phân tán và không bền vững Để thu hút sự chú ý của các em cần tổ chức hoạt động học tập hợp lý, nội dung học tập đòi hỏi phải giúp học sinh hoạt động nhận thức tích cực, thôi thúc tìm tòi mới thu hút được sự chú ý của các em
- Về ghi nhớ: Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ
có ý nghĩa, dựa trên sự phân loại, hệ thống hoá Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu ghi nhớ tăng lên Dạy học cần tránh việc buộc HS phải công nhận, buộc HS phải ghi nhớ máy móc Việc áp dụng các phương tiện nghe, nhìn hiện đại trong giáo dục sẽ giúp HS huy động được nhiều giác quan để nhận thức, tăng khả năng ghi nhớ, biết ghi nhớ lôgich theo sự sắp xếp có hệ thống nội dung dạy học từ các phương tiện này
Trang 16- Về tư duy: Tư duy trừu tượng của học sinh THCS đã chiếm ưu thế, nhưng những thành phần hình tượng - cụ thể của tư duy bộ phận không giảm xuống mà vẫn được phát triển Trong dạy học khi phân tích các dấu hiệu bản chất, trừu tượng của đối tượng mà không hình thành được biểu tượng trực quan về đối tượng cho HS sẽ làm các em hiểu bản chất của đối tượng một cách hình thức Do sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là truyền hình, học sinh THCS ngày nay nhận thức phát triển hơn những năm sáu mươi, bảy mươi Việc dạy học nếu chỉ sử dụng các phương tiện dạy học truyền thống sẽ làm cho nội dung dạy học kém hấp dẫn,
ít gây hứng thú học tập và hạn chế khả năng phát triển tư duy của các em
- Về quan hệ giao tiếp: Học sinh THCS có nhu cầu lớn trong giao tiếp với bạn bè, khao khát được hoạt động chung với nhau GV cần biết tạo điều kiện cho HS phát triển quan hệ giao tiếp, hợp tác trong tập thể theo hướng phục vụ cho mục tiêu dạy học Việc sử dụng các phương tiện nghe – nhìn hiện đại tạo điều kiện cho việc học tập cá nhân, học tập theo nhóm một cách tích cực và phát triển quan hệ giao tiếp tích cực trong học tập
Ngoài ra các nhà tâm lí học cũng đã nói tới sự phát triển của gia tốc sinh học, gia tốc tâm lí, gia tốc xã hội của trẻ em từ thập kỉ 80 đến nay so với trẻ em từ thập kỉ 70 của thế kỉ XX về trước Ngày nay trẻ em đến trường đã sẵn có vốn tri thức phong phú thu được từ các nguồn thông tin ngoài xã hội
Do vậy những hình thức tổ chức học theo trường, theo lớp chưa được cải tiến sẽ khó tạo hứng thú cho các em trong học tập Phương pháp dạy học cần kích thích tính độc lập tư duy của HS với sự hỗ trợ thích đáng của các phương tiện dạy học sinh động, hấp dẫn cuốn hút các em vào hoạt động nhận thức
Trang 171.3 Cấu trúc, nội dung chương trình địa lí THCS
Hệ thống kiến thức địa lí theo chương trình THCS liên quan đến ba nội dung cơ bản của khoa học địa lí là:
- Những kiến thức về địa lí đại cương
- Những kiến thức về địa lí các châu
- Những kiến thức về địa lí Việt Nam
Như vậy, cấu trúc của chương trình được sắp xếp theo thứ tự HS học các kiến thức liên quan đến địa lí đại cương trước sau đó là địa lí các châu lục và cuối cùng là học địa lí Việt Nam Việc sắp xếp chương trình như vậy
đi theo con đường từ những kiến thức khái quát đến những kiến thức cụ thể Trong dạy học, đây là con đường ngắn nhất, tiết kiệm được thời gian Nhưng việc sắp xếp chương trình này đòi hỏi ở HS sự nỗ lực học tập rất lớn để nắm
được kiến thức khái quát(các khái niệm, các quy luật), trong khi các kiến
thức cụ thể mà HS có được còn rất hạn chế Đây là một khó khăn đối với việc dạy học địa lí ở trường phổ thông THCS
* Cấu trúc của chương trình địa lí mới ở THCS có những đổi mới:
- Nội dung kiến thức có sự nối tiếp giữa các lớp học của cấp học
- Tổng số tiết dạy của cấp học không có thay đổi nhiều so với chương trình cũ (chương trình mới hơn chương trình cũ 11 tiết), nhưng có sự điều chỉnh số tiết giữa các lớp học
- Chương trình không có sự tách rời giữa địa lí tự nhiên và địa lí kinh
tế - xã hội Nội dung kiến thức cũng phản ánh được những quan điểm hiện đại, những thành tựu của khoa học địa lí
* Số lượng đơn vị kiến thức của cấp học theo chương trình mới tương đương với chương trình cũ Tuy nhiên, bên cạnh những kiến thức phổ thông
cơ bản của khoa học địa lí, nhiều kiến thức gần gũi với cuộc sống và sự hiểu
Trang 18biết của HS được lựa chọn đưa vào SGK Các vấn đề này thay thế những vấn đề khó, nặng về lý thuyết, mang tính hàn lâm của chương trình cũ
Các yêu cầu về hình thành kỹ năng địa lí cho HS cũng được nâng cao hơn chương trình cũ: các kỹ năng bản đồ, kỹ năng quan sát, nhận xét, tập giải thích một số hiện tượng địa lí thường xảy ra ở địa phương, kỹ năng thu thập, xử lý và trình bày lại thông tin… Phần lớn các kỹ năng địa lí cần hình thành cho HS một phần thông qua bài thực hành, còn phần lớn được tích hợp vào các bài học
Về thái độ, học xong chương trình, học sinh phải hình thành được tình yêu quê hương đất nước qua việc tôn trọng các thành quả kinh tế, văn hoá của người lao động, có thái độ khoa học đối với các quy luật của các sự vật, hiện tượng địa lí, tham gia tích cực vào các hoạt động sử dụng hợp lí, bảo vệ
và cải tạo môi trường…
Từ những đặc điểm nội dung chương trình địa lí THCS ta thấy:
- Những hiện tượng về địa lí tự nhiên phân bố trên một không gian rộng lớn, học sinh không thể đi đến được, cũng không thể hình dung được nếu không có sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học khác nhau để giúp học sinh nắm bắt được đối tượng, hiện tượng đó
- Những hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trong mối liên hệ hữu cơ giữa các thành phần trong một tổng thể nhất định và theo chiều hướng phát triển Nội dung của các thành phần này vô cùng đa dạng và phức tạp Có những đối tượng, hiện tượng có thể trông thấy được, có những đối tượng hiện, hiện tượng không thể tri giác được Để cung cấp cho học sinh những hình ảnh trực quan về các đối tượng, hiện tượng này giáo viên phải sử dụng rất nhiều phương tiện trực quan khác nhau như các hình ảnh, bản đồ, sơ đồ, các loại phim ảnh…
Trang 19- Những hoạt động kinh tế - xã hội thế giới diễn ra trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của tất cả các nước, khiến bản đồ kinh tế thế giới thay đổi từng ngày, từng giờ
Do đó việc cập nhật thông tin kinh tế thế giới là một yêu cầu cần thiết trong quá trình dạy học phần địa lí kinh tế Điều này chỉ có thể thực hiện được nhờ các phương tiện kỹ thuật hiện đại như video, máy vi tính…
1.4 Thực trạng sử dụng phim video trong dạy học địa lí ở trường THCS hiện nay
1.4.1 Tình hình trang bị phim video cho dạy học địa lí
Mặc dù từ nhiều năm nay ngành giáo dục đã thấy được tầm qua trọng của phim video trong việc nâng cao chất lượng dạy học, tuy nhiên tình hình trang bị phim video cho các trường còn quá ít, chưa đáp ứng được yêu cầu học tập môn địa lí
Theo kết quả điều tra 20 trường THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thì hầu như số phim video dùng cho môn địa lí rất nghèo nàn, nhiều trường không có lấy một phim video
Bảng 3: Thống kê số lượng phim video ở một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1 Quang Trung – TP Thái
Nguyên
1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
3 Hiện tượng trào mắc ma và núi lửa
4 Ô nhiễm môi trường nước
5 Ô nhiễm môi trường không khí
2 La Hiên – Võ Nhai 1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
3 Lâu Thượng – Võ Nhai 1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
Trang 204 An Khánh - Đại Từ 1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
5 Minh Tiến - Đại Từ 1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
6 Điềm Thụy - Phú Bình 1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
7 Thượng Đình – Phú Bình 1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
8 Đồng Tiến - Phổ Yên 1 Sự chuyển động của Trái Đất quanh trục
2 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
3 Ô nhiễm môi trường nước
Nguồn phim trên có được chủ yếu qua các đợt tập huấn, rất ít giáo viên tự mua hoặc tự sưu tập trên Internet Khi phỏng vấn giáo viên địa lí, họ cho biết: “chúng tôi biết trên TV2, trên Internet có rất nhiều phim tư liệu hay nhưng không biết cách lấy như thế nào”
1.4.2 Tình hình sử dụng phim video cho dạy học địa lí
Cũng qua điều tra cho thấy, vì nhiều lý do khách quan (cơ sở vật chất)
và chủ quan (ý thức của giáo viên) mức độ sử dụng video trong dạy học địa
lí các trường THCS tỉnh Thái rất thấp Việc sử dụng phim video vẫn còn mang tính tự phát, chưa có một sự chỉ đạo thống nhất Các phương tiện dạy học này mới chỉ được xem là phương tiện động viên, khuyến khích sử dụng chứ chưa phải là phương tiện bắt buộc
Khi dự một số giờ địa lí có sử dụng vieo thì phần lớn giáo viên tiến hành theo trình tự như sau:
- Trước hết, giáo viên giới thiệu các đề mục của bài học, sau đó giáo viên định hướng những nội dung cần chú ý trong phim video
- Chiếu phim cho học sinh xem Thường giáo viên chiếu từng đoạn tương ứng với dàn ý bài học Sau mỗi đoạn trình chiếu, giáo viên đặt câu hỏi
Trang 21về nội dung đoạn phim để học sinh trả lời Những vấn đề giáo viên hỏi và học sinh trả lời chính là nội dung bài học Giáo viên ghi nội dung này lên bảng
Với phương pháp dạy học như vậy có thể rút ra được những nhận xét sau đây:
- Tiết học sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh và tiết kiệm được thời gian trên lớp hơn
- Tuy nhiên, video chỉ mới được sử dụng như một phương tiện trực quan, có tính chất minh hoạ thay cho lời thuyết giảng của giáo viên
- Phương pháp dạy học này chính là phương pháp dạy học mà lâu nay vẫn tồn tại, được thể hiện qua quá trình 4 bước: trình bày thông tin, giải thích thông tin cho học sinh hiểu, củng cố thông tin và kiểm tra việc nắm thông tin của học sinh
Trang 22Chương 2:
CÁCH XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP TƯ LIỆU VIDEO MÔN ĐỊA LÍ 2.1 Những yêu cầu của một phim video sử dụng trong dạy học
2.1.1 Tính khoa học
Tính khoa học của phim video giáo khoa thể hiện:
- Trước hết ở nội dung kiến thức đưa lên phim phải chọn lọc, phản ánh chính xác những đặc điểm đặc trưng của đối tượng địa lí mà phim thể hiện Sao cho, việc sử dụng hình ảnh ít nhất mà vẫn phản ánh được kiến thức
cơ bản của bài học và tính thẩm mĩ của phim
- Nội dung kiến thức phải được sắp xếp có hệ thống, bố cục chặt chẽ thể hiện được cấu trúc của bài học và bản chất của các sự vật hiện tượng địa
lí
- Tính khoa học của phim còn thể hiện được phương pháp nghiên cứu khoa học, quan điểm địa lí hiện đại và những thành tựu mới nhất của khoa học địa lí Đối với nội dung kiến thức liên quan đến các quan điểm, giả thuyết khoa học đòi hỏi phải được thừa nhận rộng rãi Ví dụ, khi xem bộ phim về “Cấu tạo bên trong của Trái Đất”, HS sẽ hiểu được thuyết “kiến tạo mảng” giải thích nguyên nhân hình thành các vận động kiến tạo và các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp địa chấn, phương pháp nghiên cứu trực tiếp ngoài thực địa…
2.1.2 Tính sư phạm
- Với mục đích dùng để dạy học, nội dung kiến thức đưa vào phim video phải phù hợp với nội dung của bài học trong chương trình Nội dung kiến thức cơ bản thể hiện trên phim không thể đi quá xa nội dung bài học, vượt quá phạm vi của chương trình Nội dung kiến thức cũng phải phù hợp với đặc điểm tâm lí, nhận thức và trình độ hiểu biết của học sinh Những vấn
Trang 23đề khó, phức tạp cần được phân tích, giải thích cặn kẽ để HS có thể hiểu được
- Hình ảnh, âm thanh trong phim phải rõ ràng, ngắn gọn mà vẫn đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để học sinh trong phòng có thể nhìn
và nghe được, với kích thước màn hình phổ biến hiện nay Với phim video dạy học địa lí, các hình ảnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh được kiến thức cơ bản của bài phải dành thời gian thích đáng để thể hiện
- Số lượng phim sử dụng cho chương trình phải phù hợp với các hình thức tổ chức dạy học Dung lượng của mỗi bộ phim cũng phải phù hợp với các kiểu tiết học, hình thức tổ chức dạy học mà phim thể hiện
- Cấu trúc nội dung phim video giáo khoa địa lí phải thể hiện được phương pháp dạy học Trong phim phải thể hiện được cách nêu vấn đề, đặt câu hỏi, giải quyết vấn đề… theo định hướng sử dụng các phương pháp tích cực Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới PPDH hiện nay
2.1.3 Tính thẩm mĩ
Tính thẩm mĩ luôn được đề cao trong việc xây dựng các bộ phim Phim video cũng như phim xinê, trước hết là phương tiện được thể hiện bằng hình ảnh, do vậy hình ảnh, màu sắc phải sắc nét, đẹp, sống động, hài hoà phản ánh trung thực các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Trong phim dạy học địa lí ngoài hình ảnh động, cần bổ sung những hình ảnh tĩnh phù hợp với kiến thức của bài học mà phim thể hiện Những hình ảnh tĩnh tương đối này không chỉ có ý nghĩa chuyển cảnh… như phim thông thường mà còn
là nguồn kiến thức có tính khái quát cao mà nhiều khi hình ảnh động không thể thay thế được
Trang 24Lời thuyết minh phải cô đọng, trong sáng, diễn cảm, nhạc đệm phải phù hợp với hình ảnh, lời nói diễn ra trong phim Đây là điều kiện giúp HS tập trung theo dõi nội dung phim một cách đầy đủ
Trong phim ngoài hình ảnh, các con số, chữ viết trên phim phải đẹp, màu sắc thích hợp, xuất hiện phù hợp với hình ảnh, lời thuyết minh Tiếng động, âm nhạc trong phim phải thích hợp với nội dụng phim tạo cảm giác tự nhiên, tránh đơn điệu, nặng nề, giả tạo Âm lượng cũng phải vừa phải, không ảnh hưởng tới lời thoại, lời thuyết minh trong phim
Tính thẩm mĩ của phim còn thể hiện ở sự chuyển tiếp “mượt mà” hợp
lôgíc giữa các hình ảnh động, tĩnh, tượng hình, tượng trưng… của phim giáo khoa địa lí giúp cho HS tiếp thu mạch kiến thức liên tục có hệ thống, phù hợp với chương trình Đây là một yêu cầu khó đối với các nhà làm phim, bởi
vì trong một bộ phim, để thể hiện được nội dung kiến thức bài học đòi hỏi phải sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau
Tính thẩm mĩ của phim video dạy học còn thể hiện ở việc sử dụng hợp lí các kĩ xảo điện ảnh trong việc phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng địa lí Ví dụ, trong việc thể hiện một số quá trình địa lí đòi hỏi phải quay nhanh hoặc quay chậm, lồng cảnh, ghép cảnh, sử dụng hình ảnh mô phỏng… mới phản ánh trực quan, bản chất các đối tượng để HS có thể quan sát được
2.2 Các loại phim video dạy học địa lí ở trường THCS và CĐSP
2.2.1 Phân loại phim video dạy học
- Phân loại theo đối tượng sử dụng: phim sử dụng trong đời sống xã hội, phim sử dụng trong nghiên cứu khoa học và phim dạy học
- Phân loại dựa vào màu sắc: phim màu và phim đen trắng; phim cũng
có thể được phân loại thành phim tài liệu và phim dàn cảnh dựa vào tính chất của đối tượng cần phản ánh
Trang 25- Theo những tiêu chí đánh giá khác nhau, mỗi loại phim này còn được chia nhỏ thành nhiều thể loại phim Sự phân loại phim video dạy học còn dựa vào nội dung dạy học và hình thức tổ chức dạy học
* Dựa vào nội dung dạy học của phim, có thể khái quát hệ thống phim video dạy học trong nhà trường qua sơ đồ sau
Phim video dạy học theo sơ đồ trên gồm: phim sử dụng cho dạy học trường đại học, cao đẳng; phim dạy học ở trường phổ thông, phim cho trẻ
em lứa tuổi mẫu giáo, nhà trẻ Mỗi loại phim dạy học này bao gồm nhiều thể loại khác nhau tuỳ theo mục đích và nhiệm vụ học tập Phim dạy học ở trường phổ thông bao gồm phim dạy học ở trường Tiểu học, THCS và Trung học phổ thông Phim dạy học ở trường THCS bao gồm phim dạy học ở từng môn với những phim theo từng hình thức tổ chức dạy học
* Dựa vào hình thức thể hiện, phim video dạy học có thể được sắp xếp theo sơ đồ sau:
Trang 26Hình thức phim tư liệu được thể hiện bằng hình thức đưa tin Toàn bộ nội dung của phim được truyền tải bằng lời thuyết minh đi kèm hình ảnh Đây là hình thức được sử dụng phổ biến hiện nay của các bản tin, các bộ phim video có nội dung khoa học trên truyền hình và ở nhiều bộ phim giáo khoa được xây dựng trong thời gian qua Sử dụng hình thức này cho phép trong một thời gian ngắn cung cấp được một lượng thông tin lớn mà kinh phí thực hiện không nhiều Nhược điểm của nó trong dạy học là làm cho HS tiếp thu kiến thức thụ động, hạn chế khả năng phát huy tính tích cực chủ động trong học tập của HS Hình thức này có thể thích hợp với hình thức học tập ngoại khoá trong nhà trường Việc sử dụng đòi hỏi GV phải có PPDH thích hợp, sự hướng dẫn cần thiết
- Hình thức tương tác giúp người học có thể tham gia trực tiếp hay gián tiếp khi xem phim và tự đánh giá được kết quả học tập của mình qua hệ thống câu hỏi trên phim Hình thức này sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của HS trong học tập, giúp học sinh có thể tự học Đây là hình thức phim học tập có nhiều ưu điểm
- Hình thức kịch và nửa kịch (hình thức đóng vai) thuộc thể loại phim
dàn cảnh thông qua sự diễn xuất của diễn viên hay của GV và HS trong một môi trường giống như thật Hình thức này trong dạy học phù hợp với các bài
Trang 27dạy thực hành, khảo sát thực tế về tự nhiên, kinh tế - xã hội ở địa phương, giáo dục môi trường, giáo dục dân số…
- Hình thức diễn giải được thể hiện trong phim video do một diễn giả trình bày lại nội dung bài học với một số thiết bị dạy học như máy chiếu qua đầu, bản đồ, bảng biểu…Hình thức này đã được sử dụng trong chương trình khoa học giáo dục của VTV 2 – Đài truyền hình Việt Nam, nhằm ôn tập cho
HS chuẩn bị thi vào đại học Nhưng hạn chế của phương pháp trình bày này
là sự trình bày một chiều không chú ý tới người học có tiếp thu được hay không Các bộ phim này nếu xây dựng tốt có thể cho HS và GV tham khảo trước, hoặc sau bài dạy
- Hình thức phỏng vấn làm cho người xem như cảm thấy được tham gia vào chương trình, nhưng sự thành công của phim phụ thuộc rất nhiều vào
kỹ năng của người phỏng vấn, người trả lời phỏng vấn, nguồn tư liệu phim dùng để minh hoạ
Qua phân tích trên cho thấy, việc sử dụng hình thức phim tương tác có hiệu quả dạy học tốt nhất Tuy nhiên, tuỳ theo mục đích sử dụng, cần kết hợp các hình thức khác như hình thức tư liệu, hình thức phỏng vấn, hình thức kịch và nửa kịch để làm phim video phục vụ dạy học Hơn nữa, hiệu quả của việc xây dựng phim video dạy học còn tuỳ thuộc rất nhiều vào phương pháp của người sử dụng chúng
2.2.2 Đặc điểm riêng của phim video dạy học địa lí
Hệ thống kiến thức địa lí có những đặc điểm riêng khác với những môn học khác Các sự vật, hiện tượng địa lí được thể hiện bởi hệ thống kiến thức nay là những bức tranh thực tế sống động về tự nhiên và xã hội Do vậy, những hình ảnh từ thiên nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội của con người không thể hoàn toàn là tác phẩm do nhà làm phim sáng tạo ra Những hình ảnh này phần lớn được các nhà làm phim dạy học địa lí ghi lại một cách
Trang 28trung thực theo kịch bản của mình, phục vụ cho dạy học địa lí Vì thế, hình ảnh được thể hiện trên phim video dạy học địa lí tương tự như thể hiện trên phim tài liệu Nếu như các bộ phim tài liệu khác quan tâm đến các sự kiện, các nhân vật lịch sử… trong đời sống kinh tế - xã hội, thì phim video phục
vụ dạy học địa lí phần lớn lại chú ý đến tính quy luật của các đối tượng địa lí
tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội Dù xây dựng theo hình thức nào thì phim video dạy học địa lí đều phải dựa trên nguồn tài liệu phản ánh một cách trung thực các sự vật, hiện tượng địa lí
Tuy nhiên, để thể hiện được bản chất của các sự vật, hiện tượng địa lí,
phim video giáo khoa địa lí cần có sự hỗ trợ của các phương tiện khác (bản
đồ, biểu đồ…) và sử dụng kĩ xảo điện ảnh (quay nhanh, quay chậm, kĩ thuật
vi tính…) Những hình ảnh này tuy không phải là những hình ảnh trực tiếp từ
hiện thực khách quan nhưng chúng phản ánh hiện thực với tính khái quát cao, sử dụng thích hợp sẽ bổ sung được những mặt hạn chế của những hình ảnh trực tiếp giúp HS tìm ra kiến thức
2.2.3 Các thể loại phim video dạy học địa lí ở trường THCS và CĐSP
Theo cách phân loại trên, phim video dạy học địa lí gồm: phim cho
dạy học nội khoá(phim video sử dụng 1 tiết học cho 1 bài học, phim tổng kết
một chương hay toàn bộ chương trình) và phim dạy học ngoại khoá
- Phim cho dạy học nội khoá
Các tiết học địa lí có thể phân thành 5 kiểu: tiết học mở đầu; tiết học nắm kiến thức và kĩ năng mới; tiết học vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo địa lí; tiết học khái quát và hệ thống tri thức địa lí; tiết học kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh
Do đặc điểm chương trình, hình thức dạy học theo tiết lên lớp là hình thức dạy học chủ yếu Trong đó, tiết học nắm kiến thức và kĩ năng mới
Trang 29chiếm ưu thế Vì thế phim video sử dụng cho loại tiết học này cũng chiếm phần lớn chương trình phim video của mỗi lớp học, cấp học
+ Phim sử dụng cho mỗi tiết dạy nắm kiến thức và kĩ năng mới gồm:
* Phim sử dụng cho một tiết học với thời lượng không quá 15 phút
* Phim sử dụng để trình bày một vài đề mục của bài học với thời lượng không quá 10 phút
* Phim được sử dụng nhằm phản ánh một, vài đơn vị kiến thức cơ bản
của bài (video clip) với thời lượng không quá 5 phút cho mỗi video clip
+ Phim sử dụng để vận dụng kiến thức và kĩ năng, kĩ xảo địa lí
Với hình thức học tập này, phim video có thể được sử dụng:
* Thể hiện những bài mẫu về thực hành, khảo sát địa lí địa phương để
HS tham khảo, bắt chước trước khi HS tiến hành công việc ngoài thực địa
* Thể hiện những yêu cầu thực hành mà trong nhà trường ít có điều kiện Qua các bộ phim này, HS có được các kĩ năng đó về mặt lí thuyết để vận dụng khi có điều kiện thực hiện Ví dụ, có thể xây dựng những video clip về cách xác định phương hướng trên biển, độ cao địa hình…qua một số tình huống cụ thể, HS lựa chọn phương pháp đúng
+ Phim sử dụng cho tiết học khái quát và hệ thống hoá tri thức
* Nội dung của phim thường bao quát qua nhiều bài học nhưng thời lượng không thể kéo dài, do vậy cần khái quát theo từng vấn đề sử dụng thích hợp cho thể loại này
* Các tiết ôn tập là những tiết học dành nhiều thời gian cho HS trình bày, thảo luận những kiến thức đã học nên việc xem phim chỉ có thể tiến
hành bằng cách cho HS xem lại những đoạ phim cần thiết(video clip), HS đã
xem mà chưa rõ Như vậy, có thể thấy rằng việc xây dựng các bộ phim riêng cho các tiết học khái quát và hệ thống hoá tri thức trong tiết dạy học nội
Trang 30khoá địa lí sẽ khó phù hợp Loại phim này nếu được xây dựng chỉ thích hợp cho hình thức học tập theo nhóm, tự học
+ Phim cho các tiết học kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng địa lí của học sinh
Các bộ phim sử dụng để trình bày kiến thức và kĩ năng mới đều có thể
sử dụng để kiểm tra, đánh giá trình độ nhận thức của HS theo từng bài học Tuy nhiên, các tiết kiểm tra còn tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức của HS, khả năng ở từng địa phương khác nhau, do vậy việc xây dựng phim để đánh giá trình độ nhận thức của HS là chưa cần thiết
- Phim sử dụng cho hình thức ngoại khoá
+ Nội dung ngoại khoá trong dạy học địa lí có một ý nghĩa quan trọng:
* Bổ sung, mở rộng kiến thức cơ bản mà HS thu được qua hoạt động nội khoá, qua đó giúp HS nắm vững kiến thức
* Tạo điều kiện để cập nhật kiến thức
* Giúp HS gần gũi với hoạt động nghiên cứu khoa học
* Qua hoạt động ngoại khoá, HS thêm hứng thú, tích cực hơn trong học tập
+ Trong dạy học địa lí ở THCS đòi hỏi phải quan tâm hơn nữa đến thể loại phim này vì:
* Nội dung kiến thức của chương trình địa lí ở THCS do cần phải cô đọng nên không thể phản ánh được hoàn chỉnh vấn đề địa lí
* Không phải nội dung tiết học địa lí nào cung có thể xây dựng thành phim được Do vậy, các bộ phim video phục vụ dạy học ngoại khoá có thể
bổ sung nhiều vấn đề cho hình thức học tập theo tiết học
* Thông qua các bộ phim này, nhiều chuyên đề địa lí cần thiết có thể thực hiện thuận lợi
Trang 31* Việc tổ chức một buổi ngoại khoá địa lí bằng phim video đơn giản hơn nhiều so với hình thức ngoại khoá khác mà vẫn có hiệu quả cao nếu tổ chức tốt
+ Việc xây dựng các bộ phim cho hoạt động ngoại khoá có nhiều thuận lợi hơn việc xây dựng các bộ phim cho các tiết học vì:
* Các vấn đề địa lí dễ được trình bày hoàn chỉnh, không phụ thuộc quá chặt chẽ vào kiến thức cơ bản của bài học và dễ thể hiện qua video
* Dung lượng kiến thức không bị giới hạn trong một tiết học Tuy nhiên, do khả năng chuyển tải thông tin tương đối lớn của phim video nên việc xây dựng các bộ phim không nên quá dài, chỉ tối đa khoảng 45 phút Phim như vậy sẽ phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS hơn
* Có thể xây dựng phim theo các hình thức khác nhau tuỳ khả năng
* Cần tính đến việc sử dụng những hình ảnh đặc sắc của các bộ phim này cho các tiết học nội khoá khi xây dựng phim
Có thể nhận thấy rằng: trong các loại phim video dạy học địa lí thì phim cho các tiết dạy trình bày kiến thức, kỹ năng mới và phim cho hoạt động ngoại khoá là cần thiết và quan trọng nhất Trong đó, phim cho các tiết dạy trình bày kiến thức, kĩ năng mới phải chiếm phần lớn
2.3 Giới thiệu một số cách download video từ YouTube
Số lượng video trên YouTube rất lớn, nhưng lại không cho phép người dùng download chúng về máy tính Với 9 thủ thuật dưới đây, sẽ có được bất cứ đoạn video nào
1 YouTube.com
a) Để tìm video, ta làm như sau:
- Mở trình duyệt web internet explore và nhập địa chỉ YouTube.com Màn hình của trang YouTube hiện ra
- Gõ từ liên quan đến đoạn phim cần tìm vào ô tìm kiếm
Trang 32- Ví dụ: cần tìm phim nói về Hồ Gươm, ta gõ vào từ khoá: “Hồ
Gươm”
- Nhấn Enter hoặc clik chuột vào nút Search để tìm Trang web hiển thị các đoạn phim có tiêu đề chứa từ khoá mà ta gõ
- Để xem một đoạn phim chúng ta clik chuột chọn đoạn phim đó.(clik
chuột vào đoạn phim: Hồ Gươm)
- Nếu đó không phải là đoạn phim ta cần Chọn nút <Back> để trở lại trang trước, rồi tiếp tục chọn xem phim khác cho đến khi tìm được phim ưng
ý
- Ta có thể tìm bằng từ khoá tiếng anh sẽ cho nhiều kết quả hơn
- Ví dụ ta tìm phim về sư tử bằng từ khoá: Lion
b) Tải video trên youtube về máy của mình:
- Để tải video mà mình tìm được trên youtube về máy của mình, ta làm như sau:
- Tại cửa sổ trang web đang xem phim tìm được Vào File\New window\
Trang 33- Gõ địa chỉ: downloadyoutubevideos.com Bước tiếp theo, ta trở lại trang chứa đoạn phim đang xem
- Dùng chuột chọn địa chỉ trang web trên thanh Address Click phải chuột, chon copy trong menu hiện ra
- Trở về cửa sổ của trang download Tại hộp thoại YOUTUBE URL Clik phải chuột chọn Paste
- Sau đó nhấn nút Download bên phải
- Một cửa sổ mới xuất hiện, tìm đến dòng chữ Click Here to Download: click phải chuột vào dòng đó, chọn save target as, khi cửa sổ Save hiện ra, nên đặt lại tên cho đoạn phim này Chú ý tên file phải có phần
Trang 34đuôi là.flv Sau đó nhấn Save để ghi file vào thư mục My Documen\My video
- Đợi 1 thời gian cho đến khi dowload xong Cần lưu ý là các đoạn phim thường có kích thước lớn nên thời gian dowload thường lâu hơn so với dowload một bức ảnh
- Để có thể xem được đoạn phim này trên máy tính, các bạn có thể sử dụng phần mềm xem phim VLC, hoặc phần mềm soạn thảo bài giảng Violet Các phần mềm có thể được dowload tại địa chỉ website bachkim.vn Ở đây
ta sử dụng Violet
Trang 35- Đầu tiên, ta mở Violet và tạo một thư mục mới:(chạy Violet, tạo mục
mới, thu nhỏ cửa sổ lại)
- Mở thư mục chứa file phim Kéo thả file Hoguom.flv vào Violet,
sau đó xem phim(Nhấn đồng ý ở Violet, phóng to (nhấn ống nhòm), nhấn
Play để xem phim)
2 Kiss YouTube
Đây là cách thức đơn giản nhất nhất để download video từ YouTube Khi muốn download 1 đoạn video, bạn chỉ cần thêm chữ “ kiss” vào trước đường dẫn trong thanh địa chỉ trình duyệt và nhấn enter Sau đó bạn kích vào đường link được cung cấp ở trang web tiếp theo để lưu file về máy tính.Ví dụ, nếu muốn download đoạn video từ:
http://www.youtube.com/watch?v=ea0CDieb4yM, bạn chỉ việc sửa nó thành http://http://www.kissyoutube.com/watch?v=ea0CDieb4yM
Trang 36Lưu ý: Để sử dụng cách thức này, máy tính cần phải cài đặt Java, download tại http://www.java.com/en/download/index.jsp
3 Easy Video Downloader
Với người dùng Firefox, cài đặt plugin Easy Video Downloader là cách nhanh nhất để download video từ YouTube Với plugin này, bạn có thể download video với nhiều định dạng trực tiếp từ cửa sổ YouTube
Download plugin này tại
https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/10137(truy cập bằng Firefox
và nhấn vào Add to Firefox) Sau khi cài đặt và khởi động lại Firefox, plugin
sẽ yêu cầu chọn vị trí mặc định để lưu file video download được
4 Videodownloadx.com (http://www.videodownloadx.com)
Không có nhiều tùy chọn nhưng rất đơn giản và hoạt động khá hiệu quả Ngoài chức năng download, Videodownloadx.com cũng cho phép chuyển đổi định dạng file download được và chia sẻ với bạn bè qua email
Trang 38Đây là tiện ích miễn phí, cho phép bạn download video với chất lượng tốt nhất từ youtube và chuyển đổi chúng sang các định dạng khác Điểm nổi
bật của chương trình là có thể download video theo chuẩn HD (nếu có)
Chương trình bao gồm phiên bản cài đặt và phiên bản Portable, download tại
tool-to-download-hd-videos-from-youtube/
http://soft4all.info/free-software-download/youtube-downloader-hd-free-hoặc tại
http://softbuzz.net/Windows/Network-Internet/Download-Managers/Youtube-Downloader-HD_40.html
9 Save2PC