Thời gian qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công việc trongđổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành côngbước đầu, là những tiền đề
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY - HỌC TÁC PHẨM “HAI ĐỨA TRẺ” - THẠCH LAM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Môn : Ngữ văn
Tổ bộ môn : Văn - Sử - Địa - GDCD
Năm học: 2020 - 2021
Trang 2SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG PT HERMANN GMEINER VINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY - HỌC TÁC PHẨM “HAI ĐỨA TRẺ” - THẠCH LAM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Trang 3MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
V KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU: 4
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY- HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRONG TRƯỜNG THPT 5
1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy- học theo định hướng phát triển năng lực 5
1.1.1 Khái niệm năng lực 5
1.1.2 Phân loại năng lực: 5
1.1.3 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến: 5
1.1.4 Chương trình giáo dục định hướng năng lực 6
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA DẠY - HỌC THEO PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT 7
2.1 Cơ sở thực tiễn 7
2.2 Nội dung Sáng kiến nghiên cứu thực hiện 7
2.3 Các phương pháp dạy học tích cực theo hướng phát triển năng lực cho học sinh .7
2.3.1 Các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn: 8
2.3.2 Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực 10
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG DẠY – HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN TRƯỜNG THPT 11
3.1 Thực trạng Dạy- học theo định hướng phát triển năng lực ở trường THPT hiện nay 11
3.1.1 Thuận lợi 11
3.1.2 Khó khăn 11
3.2 Thực trạng Dạy- học theo định hướng phát triển năng lực ở trường THPT đang khảo sát 12
Trang 43.2.1 Những kết quả bước đầu của việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra
đánh giá 12
3.2.2 Những mặt hạn chế của hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở đơn vị áp dụng thể nghiệm: 12
3.3 Đánh giá thực trạng 14
CHƯƠNG 4 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG BÀI: “HAI ĐỨA TRẺ” (THẠCH LAM) 15
4.1 Nguyên tắc tiếp cận tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) theo định hướng phát triển năng lực 15
4.1.1 Dạy – học tác phẩm gắn liền với đặc trưng thể loại 15
4.1.2 Dạy – học tác phẩm gắn liền với phong cách nghệ thuật của tác giả 20
4.1.3 Các phương pháp dạy- học theo định hướng phát triển năng lực trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) 22
4.2 Giáo án thể nghiệm: “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) – Tiết 1 27
C PHẦN KẾT LUẬN 39
I BÀI HỌC KINH NGHIỆM 39
II KẾT LUẬN 39
III KIẾN NGHỊ 40
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
E PHỤ LỤC 43
Trang 5A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việc đổi mới phương pháp dạy học là đòi hỏi tất yếu của giáo dục hiện naydạy- học phát triển theo năng lực là xu thế đổi mới Tuy nhiên, tiếp cận tácphẩm văn học theo xu hướng đổi mới không phải là dễ, đòi hỏi chúng ta phải tìmtòi, học hỏi để tìm ra một phương pháp tiếp cận tác phẩm tối ưu nhất giúp học sinhlĩnh hội một cách dễ dàng nhất nhưng đạt hiệu quả cao Trong những năm gần đây,
giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dụctiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học: từ chỗ quan tâm tới việchọc sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việchọc Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển
từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cáchvận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồngthời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sangkiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểmtra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tácđộng kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục Trướcbối cảnh đó cũng như để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sau năm
2018, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lựccủa người học là cần thiết
Thời gian qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công việc trongđổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành côngbước đầu, là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc việc dạy-học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học.Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệptại trường chúng tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạyhọc, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh… chưa nhiều Việc rèn luyện kỹnăng còn thiếu được quan tâm hoặc chưa thật hiệu quả Hoạt động kiểm tra, đánhgiá thiếu khách quan, chính xác (chủ yếu tái hiện kiến thức), chú trọng đánh giácuối kì chưa chú trọng đánh giá quá trình Tất cả những điều đó dẫn tới học sinhhọc thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, Thạch Lamchỉ hiện diện chừng non mười năm, nhưng ông vẫn được xem là tác giả vănxuôi có tầm vóc Những sáng tác của ông khá đa dạng về thể loại nhưng truyện
Trang 6ngắn chiếm một vị trí quan trọng Những sáng tác của ông không chỉ có khẳngđịnh sự nghiệp văn học của một nhà văn mà nó còn có ý nghĩa to lớn đối với việcphát triển của lịch sử văn học nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng.
Trong quá trình sáng tác, Thạch Lam đã có một “một lối riêng” trong Tự lực
văn đoàn Ông cũng là cây bút truyện ngắn hiện đại mà sự độc đáo của phongcách đến nay vẫn đầy sức hấp dẫn Điều đó được thể hiện qua nhiều yếu
tố từ nội dung đến hình thức nghệ thuật Nghiên cứu bài dạy Hai đứa trẻ theo tinh
thần đổi mới chúng tôi muốn góp phần tìm ra cái riêng, cái độc đáo trong phongcách nghệ thuật của nhà văn và những đóng góp của nhà văn trong văn học ViệtNam 1930-1945
Mặt khác trong chương trình ngữ văn THPT, khối lượng truyện ngắn hiện đạikhá lớn nên việc giảng dạy sao cho đạt hiệu quả là điều hết sức cần thiết Nó có tácdụng nâng cao trình độ thưởng thức, nâng cao phẩm chất đạo đức, nhân cách chohọc sinh trong thời đại mới Trong đội ngũ văn nghệ sĩ, các nhà văn lãng mạn cónhiều đóng góp vào sự phát triển, trưởng thành và cách tân truyện ngắn Việt Nam1930- 1945 Trong số những cây bút truyện ngắn lãng mạn của VHVN thế kỉ XXđược đưa vào giảng dạy ở trường THPT, khó có thể thiếu vắng tên tuổi của nhà
văn Thạch Lam Truyện ngắn Hai đứa trẻ của ông chiếm vị trí quan trọng trong
chương trình lớp 1 cơ bản Và đây cũng là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cáchnghệ thuật và tâm hồn cuả tác giả Thạch Lam
Xuất phát từ những đóng góp to lớn của ngòi bút Thạch Lam và tấm lòng yêu
mến, cảm phục, chúng tôi chọn cách tiếp cận Hai đứa trẻ Hơn nữa, nếu đọc – hiểu
vững vàng tác phẩm này theo định hướng năng lực là các em đã có một lượng kiếnthức, kỹ năng tương đối để trước hết là phục vụ tốt cho kì thi Học sinh giỏi, kì thiTrung học phổ thông (THPT) Quốc gia, sau đó là phục vụ cho cuộc sống trongtương lai
Là một giáo viên trực tiếp dạy môn Ngữ văn, tôi thấy dạy- học gắn liền vớiphát triển năng lực của học sinh thông qua môn Ngữ văn thực sự là một vấn đề quan
trọng và cần thiết Vì thế, tôi tập trung vào vấn đề : “Dạy - học “ Hai đứa trẻ” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh ” làm đối tượng nghiên cứu.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khảo sát thực tế tại đơn vị trường PT nơi tôi thực nghiệm về thực trạng học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, tôi nhận thấy bản thân tôivà một số giáo viên đã tiếp cận với việc đổi mới phương pháp song vẫn chưa thựchiện một cách thuần thục, vẫn còn tồn tại việc dạy –học theo lối truyền thụ mộtchiều, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Vớiphương pháp tiếp cận đó khiến cho việc học văn trở nên nhàm chán, thiếu tính thực
Trang 7Dạy-tiễn, các em học sinh thụ động, lười suy nghĩ, không có kĩ năng phát triển trướcđám đông
Tìm hiểu, vận dụng những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học và kiểmtra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học để góp phầnhình thành ở học sinh những năng lực cần hướng đến của môn Ngữ văn cụ thể là:+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực hợp tác
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp tiếng Việt
+ Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ
Chia sẻ kinh nghiệm về “Dạy – học Hai đứa trẻ (Thạch Lam) theo định
hướng phát triển năng lực”, bên cạnh, giúp học sinh thấy được nét đặc sắc chủ yếutrong nghệ thuật viết truyện ngắn của Thạch Lam ; đồng thời, giáo dục nhân cách,bồi dưỡng tư tưởng trong sáng, cảm nhận được vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên phốhuyện lúc chiều tàn, thể hiện sự đồng cảm, xót thương đối với những kiếp sốngnghèo khổ, quẩn quanh trong tác phẩm cũng như bao mảnh đời bất hạnh xungquanh mình
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi đề tài này – như tên gọi của nó, chúng tôi tập trung nghiên cứumột số phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển
năng lực của người học để vận dụng vào việc “ Dạy – học tác phẩm Hai đứa trẻ
(Thạch Lam) lớp 11 chương trình chuẩn Từ đó đưa ra những cách tiếp cận, giảngdạy các tác phẩm truyện ngắn có hiệu quả làm tiền đề áp dụng rộng rãi hơn cho
những năm sau Từ đó, xác lập cách dạy truyện ngắn Hai đứa trẻ đạt hiệu quả và
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi một sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi không có tham vọnggiải quyết hết những vấn đề về việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của người học một cách triệt để bởi đây là vấn đề mới.Chúng tôi chỉ xin tập trung làm rõ một số phương pháp, kỹ thuật dạy học của môn
Ngữ văn theo định hướng năng lực thông qua tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam),
cụ thể như:
Trang 8– Các phương pháp đặc thù của bộ môn:
+ Phương pháp nghiên cứu tình huống
Từ những thu hoạch này, chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra những cách tiếp cận, dạy– học có hiệu quả theo theo định hướng phát triển năng lực của người học chonhững phần còn lại của bộ môn Ngữ văn
V KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu cách tiếp cận tác phẩm Hai đứa trẻ ( Thạch Lam) theo định
hướng phát triển năng lực
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu lí luận
Tìm đọc tài liệu về việc dạy- học theo định hướng phát triển năng lực
2 Nghiên cứu thực tế
Với sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu:
2.1 Khảo sát thực tế học sinh: Qua hai đợt năm học (2019-2020) và đầu năm
năm học 2020- 2021) để nghiên cứu đề tài
2.2 Phương pháp quan sát.
2.3 Sử dụng phương pháp thực hành:
2.4 Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm giáo dục, so sánh.
Trang 9
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY- HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRONG TRƯỜNG THPT
1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy- học theo định hướng phát triển năng lực.
1.1.1 Khái niệm năng lực.
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng 1998) có giảithích: Năng lực là:“ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thựchiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả nănghoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm
2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ
chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người
lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhânnhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản
mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung,
cốt lõi” Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã
xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần có
1.1.2 Phân loại năng lực:
– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: Năng lực tự học, nănglực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lí bản thân
– Năng lực xã hội, bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
– Năng lực công cụ, bao gồm: Năng lực tính toán, năng lực sử dụng ngônngữ, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC)
1.1.3 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến:
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tự quản bản thân
- Năng lực giao tiếp tiếng Việt
- Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Trang 101.1.4 Chương trình giáo dục định hướng năng lực.
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triểnnăng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từnhững năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.Nội dung chương trình gồm:
Mục tiêu giáo dục: kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quansát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục
Nội dung giáo dục :lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đãquy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nộidung chính, không quy định chi tiết
Phương pháp dạy học: GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tíchcực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả nănggiao tiếp,…;
Hình thức dạy học: - Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹthuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành Tổ chứchình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứukhoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyềnthông trong dạy và học
Đánh giá kết quả học tập của HS: Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra,
có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trongcác tình huống thực tiễn
Tóm lại, giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triểnnăng lực người học.Giáo dục định hướng năng nhằm đảm bảo chất lượng đầu racủa việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách,chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn
bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quátrình nhận thức
Trang 11CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA DẠY - HỌC THEO PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT
2.1 Cơ sở thực tiễn
Việc đổi mới giáo dục Trung học dựa trên những đường lối, quan điểm chỉđạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính sách vàquan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục Trung học Điều đó được thểhiện trong nhiều văn bản: Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28; Nghị quyếthội nghị trung ương 8 khóa XI; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-
2020 ban hành kèm theo quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của thủ tướngchính phủ về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những người yêu văn chương vẫn không thể quênđược một dáng hình khiêm nhường, từ tốn "bước những bước thật nhẹ nhàng" vàolàng văn học hiện đại Việt Nam, mang theo những trang văn nồng nàn chất thơ, đólà nhà văn Thạch Lam Là một trong những cây bút chính của nhóm Tự lực văn
đoàn, song văn phong của Thạch Lam vẫn "chảy" riêng biệt một dòng: Trong trẻo
như nắng sớm, thanh khiết như sương mai ( Vũ Ngọc Phan) Có thể nói, sự nghiệp
sáng tác của Thạch Lam chỉ kéo dài khoảng 5-6 năm, song quãng thời gian ngắnngủi ấy cũng đủ để cái tên Thạch Lam trở nên vô cùng sâu đậm trong lòng độc giả.Một kiếp số mỏng manh, một đời văn ngắn ngủi Giữa bộn bề ngột ngạt của cuộcsống hiện đại, đọc lại "Dưới bóng hoàng lan", "Hai đứa trẻ", "Cô hàng xén", "Nắngtrong vườn"… của Thạch Lam, ta thấy tâm hồn mình như lắng lại, như được gộtrửa trong sáng hơn, thanh sạch hơn Văn Thạch Lam ít sự kiện, ít hành động nhưngđầy ắp những bâng khuâng Nó cho ta cơ hiểu thấu nghĩa lí sâu xa của cuộc đờigiản dị, qua sự chiêm nghiệm lặng lẽ Những nét thống nhất và khác biệt ấy thểhiện rõ qua nhiều tác phẩm và "Hai đứa trẻ" (1938) được đưa vào dạy học trongchương trình Ngữ văn lớp 11
2.2 Nội dung Sáng kiến nghiên cứu thực hiện
Phương pháp dạy học là nội dung lớn, được nhiều công trình bàn rất kĩ lưỡng.Việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của ngườihọc do Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai năm 2014; trong đó yêu cầu giáo viêncần vận dụng các phương pháp đặc thù bộ môn kết hợp với các phương phápchung một cách phù hợp, cụ thể:
2.3 Các phương pháp dạy học tích cực theo hướng phát triển năng lực cho học sinh
Dạy học một tác phẩm văn học là việc làm đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt cácthao tác, phương pháp dạy học sao cho học sinh cảm nhận thấy hết những vẻ đẹp
về nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm Dạy học theo theo địnhhướng phát triển năng lực của người học lại cần ứng dụng phương pháp, kỹ thuật
Trang 12dạy học tích cực để phát huy tối đa việc hình thành các năng lực cho học sinh Tứclà làm thế nào để học sinh tự học, tự tìm hiểu để hình thành kỹ năng đọc hiểu tất cảcác tác phẩm ngoài chương trình; vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyếtcác vấn đề trong cuộc sống; đồng thời lại phải vận dụng kiến thức xã hội, kiến thứccác môn học khác để khám phá tác phẩm.
Để hướng tới mục đích đó, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp dạy họctích cực của bộ môn cũng như các phương pháp chung trong từng tác phẩm, đoạntrích như sau:
2.3.1 Các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn:
2.3.1.1 Dạy học đọc – hiểu:
Dạy học đọc – hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Vậy thế nào là dạy học đọchiểu? Dạy học đọc – hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh nhữngcảm nhận của giáo viên về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho họcsinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuậtcủa văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủđộng có sắc thái cá nhân Hoạt động đọc – hiểu cần được thực hiện theo một trình
tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đếnđọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo Khi hình thành năng lực đọc – hiểu củahọc sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng,tưởng tượng và tư duy Năng lực đọc – hiểu còn là sự tích hợp kiến thức kỹ năngcủa các phân môn cũng như kinh nghiệm sống của học sinh
Quan niệm và phương pháp dạy đọc – hiểu khá tương đồng với cách tiếp cậnđọc – hiểu của PISA Nhưng dạy đọc – hiểu của ta nhấn mạnh đến việc hình thànhcho học sinh cách đọc văn bản theo các kiểu loại và phương thức biểu đạt
Môn Ngữ văn không chỉ hình thành năng lực đọc – hiểu ngôn ngữ mà cònhướng dẫn học sinh cách đọc – hiểu các loại văn bản có hình thức biểu hiện phingôn ngữ (sơ đồ, bản biểu…)
Các nhiệm vụ cơ bản của người học khi đọc – hiểu:
+ Tìm kiếm thông tin từ văn bản
+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối…thông tin để tạo nên hiểubiết chung về văn bản
+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản
+ Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại vănbản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống
2.3.1.2 Dạy học tích hợp
Để đáp ứng với yêu cầu dạy học Ngữ văn theo hướng hình thành và phát triểnnăng lực, cần chú ý đến việc tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp
Trang 13Quá trình dạy học tích hợp lấy chủ thể người học làm xuất phát điểm và đích đến,trong đó tích hợp là việc tổ chức nội dung dạy học của giáo viên(GV) sao cho họcsinh có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhaunhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiếnthức, kĩ năng mới, từ đó phát triển được những năng lực cần thiết Trong môn họcNgữ văn, dạy học tích hợp là việc tổ chức các nội dung của các phân môn văn học,tiếng Việt, làm văn trong các bài học, giúp HS từng bước nâng cao năng lực sửdụng tiếng Việt trong việc tiếp nhận và tạo lập các văn bản thuộc các kiểu loại vàphương thức biểu đạt Bởi tác phẩm văn học vẫn luôn được coi là nghệ thuật củangôn từ, việc tiếp nhận văn bản văn học trước hết là tiếp xúc với phương tiện biểuđạt là ngôn ngữ; mặt khác, việc thực hành tạo lập các văn bản thông dụng trongnhà trường và xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công cụ Như vậy, cả ba nộidung văn học, tiếng Việt và tập làm văn trong môn học này đều có điểm đồng quylà tiếng Việt và đều có mục đích là hình thành cho HS năng lực sử dụng tiếng Việttrong tiếp nhận và tạo lập văn bản ,…
Mặt khác, tính tích hợp của CT và SGK Ngữ văn còn thể hiện ở mối liênthông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống (qua việc tìm hiểu các văn bảnvăn học, đặc biệt là các văn bản nhật dụng, văn bản hành chính, qua chương trìnhdành cho địa phương), liên thông giữa kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với cácmôn học thuộc ngành khoa học xã hội nhân văn và các ngành học khác, nhằm giúp
HS có được kiến thức và kĩ năng thực hành toàn diện, góp phần giáo dục đạo đứccông dân, kĩ năng sống, hiểu biết xã hội,… Tích hợp trong môn học Ngữ vănkhông chỉ là phối hợp các kiến thức và kĩ năng của tiếng Việt và văn học mà còn là
sự tích hợp liên ngành để hình thành một “phông” văn hoá cho HS trong việc đọc –hiểu tác phẩm văn học và tạo lập những văn bản theo các phương thức biểu đạtkhác nhau, có nghĩa là để thực hiện các mục tiêu đặt ra trong môn học Ngữ văn,
HS cần vận dụng tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ, văn hoá, văn học, lịch sử,địa lí, phong tục, vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm của bản thân Điều nàycũng thể hiện rõ một trong những nhiệm vụ của môn học là hướng đến việc cá thểhoá người học
Quan điểm dạy học tích hợp còn gắn với dạy học theo phân hóa Phân hoá làviệc phân chia HS thành các nhóm khác nhau, mỗi nhóm học theo một chươngtrình phù hợp với đặc điểm tâm lý, khả năng học tập, nhịp độ học tập, phù hợp nhucầu học tập của HS, trên cơ sở đó phát triển tối đa năng lực của từng HS Trongmôn học Ngữ văn, dạy học phân hóa thể hiện ở việc tạo điều kiện để mỗi HS bộc
lộ thế mạnh và khả năng và sở thích cá nhân trong việc tự kiến tạo kiến thức chomình, thông qua các hoạt động thảo luận nhóm, khuyến khích các tìm tòi cá nhân,các hướng tư duy và lập luận theo các góc độ khác nhau trong quá trình học tập.Quá trình tổ chức dạy học này sẽ tạo cho HS một nền tảng kiến thức, kĩ năng,phương pháp học tập bộ môn, đáp ứng với những thử thách được đặt ra trong họctập và trong cuộc sống
Trang 142.3.2 Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
Bên cạnh những phương pháp dạy học theo đặc trưng của bộ môn Ngữ văn,việc phát huy các phương pháp dạy học tích cực cũng góp phần vào việc đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả : Thảo luận nhóm, Đóng vai, Nghiên
cứu tình huống,… và các kĩ thuật dạy học tích cực được thực hiện trong các hoạt
động dạy học
2.3.2.1 Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự thamgia tích cực của học sinh trong học tập Trong thảo luận nhóm, HS được tham giatrao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm Thảoluận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự
do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểmbất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyếtvấn đề khó khăn
2.3.2.2 Đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày nhữngsuy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây là phương pháp giảngdạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗđứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các emquan sát được từ vai của mình Phương pháp đóng vai giúp HS rèn luyện thực hànhnhững kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thựchành trong thực tiễn; Gây hứng thú và chú ý cho học sinh; HS hình thành kĩ nănggiao tiếp, có cơ hội bộc lộ cảm xúc; Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo củahọc sinh; Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực;
Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.Ngoài những phương pháp kể trên, còn một số phương pháp và kỹ thuật dạyhọc tích cực khác như: nghiên cứu tình huống, dạy học theo dự án; các kỹ thuậtdạy học tích cực như kĩ thuật chia nhóm, kỹ thuật phòng tranh… nhưng trongphạm vi sáng kiến này chúng tôi không có điều kiện đề cập hết, chỉ xin đưa ranhững thu hoạch cá nhân về 4 phương pháp kể bên trên
Trang 15CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG DẠY – HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRONG MÔN NGỮ VĂN TRƯỜNG THPT.
3.1 Thực trạng Dạy- học theo định hướng phát triển năng lực ở trường THPT hiện nay
3.1.1 Thuận lợi
Trong sách giáo khoa ngữ văn 11 (ban cơ bản), chỉ có một tác phẩm chínhkhóa thuộc truyện ngắn Thạch Lam, dung lượng không quá dài Đây lại là tácphẩm hay trong chương trình, hơn nữa văn bản thường nằm trong nội dung ôn thiHọc sinh giỏi khối 11, tác phẩm cũng liên quan mật thiết với chương trình thi TNTHPT nên các em học sinh cũng quan tâm
3.1.2 Khó khăn
Dạy học đọc – hiểu chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ một chiều những cảmnhận của giáo viên về văn bản, chưa hướng tới việc cung cấp cho HS cách đọc,cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản Dạyhọc chú trọng đến cung cấp nội dung tư tưởng hơn là hình thành kỹ năng
Dạy học tích hợp đã được chú trọng trong những năm học gần đây và cũng đãđạt được một số kết quả bước đầu Tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang tínhkhiên cưỡng, thiếu tự nhiên, tức là giáo viên thường áp đặt những nội dung tíchhợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống… một cách lộ liễu,chưa phát huy học sinh huy động kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnhvực… để giải quyết các nhiệm vụ học tập
Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực vào quá trìnhdạy- học môn Ngữ văn:
Trong những năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấpthiết phải đổi mới phương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến; việc
áp dụng những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện Tuy nhiên cáchthực hiện, hiệu quả giảng dạy để đạt được mục tiêu của nó là chưa cao, cụ thể như:Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào mộtvài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, chưathực sự chủ động
Phương pháp đóng vai thực sự là phương pháp chưa được giáo viên chútrọng Nếu có thực hiện thì chỉ là dạng bài viết việc chuyển thể thành kịch bản, xử
lí tình huống giả định, trình bày một vấn đề chưa được quan tâm đúng mức Vì vậymà học sinh ít có cơ hội bày tỏ thái độ, chưa hững thú, chưa hình thành được các
kỹ năng và năng lực của người học Một số giáo viên vẫn ôm đồm kiến thức, làmthay việc học sinh khiến giờ dạy thiếu sôi nổi và tính tích cực Những tồn tại và
Trang 16thiếu sót này đã được chúng tôi nhìn nhận, rút kinh nghiệm và đã và sẽ tiếp tụckhắc phục trong từng giờ giảng
3.2 Thực trạng Dạy- học theo định hướng phát triển năng lực ở trường THPT đang khảo sát.
3.2.1 Những kết quả bước đầu của việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của giáo dục phổ thông,hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá đã được quan tâm tổchức và thu được những kết quả bước đầu thể hiện trên các mặt sau đây:
Đối với công tác quản lý: Có nhiều quan tâm trong công tác đổi mới phươngpháp dạy học của giáo viên BGH luôn tạo điều kiện để các giáo viên tham gia cácbuổi tập huấn về Dạy- học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướngphát triển năng lực học sinh Giáo vụ phụ trách chuyên môn cùng các tổ trưởng dựgiờ đột xuất và dự giờ đánh giá thường xuyên
Đối với giáo viên: đa phần là giáo viên trẻ, tâm huyết, bám lớp bám trường,tích cực học hỏi, có ý thức đổi mới phương pháp dạy học, trau dồi chuyên mônthông qua tài liệu tập huấn, tăng cường dự giờ đồng nghiệp để đúc rút kinhnghiệm; thiết kế giáo án vai trò chủ thể của người học, sử dụng công nghệ thôngtin và sử dụng phương pháp dạy- học đặc thù của bộ môn
Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy học: Bố trí tivi, Wifi, bảng phụ chomỗi phòng học
3.2.2 Những mặt hạn chế của hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở đơn vị áp dụng thể nghiệm:
Bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc đổi mới phương pháp dạyhọc, kiểm tra đánh giá ở trường THPT vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục.Thực trạng cho thấy nhu cầu xã hội hiện nay, các em học sinh chỉ chú trọnghọc những môn mình thi nên với môn Ngữ văn, nhiều em không chú ý đầu tư họctập, không có hứng thú học tập nghiêm túc, chỉ mong qua tốt nghiệp
Việc dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ hiện nay, vì thế cũng gặp đang gặp rất
nhiều khó khăn, giáo viên đang còn lúng túng trong việc tìm ra câu hỏi, phươngpháp phù hợp nhất để phát huy tính tự học cho học sinh Từ trước đến nay hầu nhưgiáo viên còn sử dụng phương pháp truyền thống, các câu hỏi đưa ra chưa có tínhgợi mở nhiều, thậm chí có những câu hỏi khó, yêu cầu quá cao, gây không ít trởngại cho học sinh Do vậy, khi tiếp cận với tác phẩm thuộc thể loại này theophương pháp mới, các em học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc đọc- hiểu tácphẩm một số học sinh chưa quen với việc tự học, làm việc theo nhóm, thảo luận,thuyết trình, tìm tư liệu ở các nguồn, báo chí, internet…, một số học sinh còn thụđộng, thiếu nhiệt tình, ỷ lại vào các thầy cô…
Trang 17Một thực tế đáng buồn nữa là hiện nay hầu hết học sinh rất thờ ơ với mônvăn Có nhiều nguyên nhân nhưng tập trung lại có các lí do sau: học sinh coi mônvăn là một môn học thuộc nên không cần phải suy nghĩ, logic trong khi Ngữ văn làmột bộ môn có tính logic cao, đòi hỏi học sinh phải có sức cảm nhận cảm thụ tốt.Ngoài ra, các em còn quan niệm rằng: môn văn không có tính ứng dụng nên khôngthể thấy được lợi ích của môn văn trong đời sống so với các môn toán, lý, hóa,tiếng anh Mặt khác, một số giáo viên cũng chưa làm hết sức mình để bài dạy thuhút được sự tham gia của đông đảo học sinh Đấy là chưa kể, sự phát triển củacông nghệ thông tin, đa số học sinh dành thời gian nhiều để vào mạngFacebook,inta,zalo… mà không chịu tìm kiếm, đọc tài liệu tham khảo Chính vì
những lẽ trên, sau khi học xong tác phẩm văn học, bao gồm Hai đứa trẻ và Chữ
người tử tù giáo viên vừa ra một vài câu hỏi có chiều sâu thì số đông không trả lời
được Lý do là các em chưa nắm được thế nào là Chủ nghĩa lãng mạn, đặc trưngcủa tác phẩm tự sự Từ trước đến nay, các em đã hình thành một quy định tácphẩm tự sự thì chỉ cần nắm được cốt truyện nắm được đặc điểm của nhân vật là đủ
Vì thế, các em vô cùng lúng túng khi bắt gặp Hai đứa trẻ là truyện ngắn tâm tình,
không có cốt truyện, mà nhân vật chính là chị em Liên cũng không hề được tác giảkhắc họa tính cách Do đó dẫn đến các em gặp khó khăn, lúng túng khi xác định
bố cục để tìm hiểu tác phẩm, khám phá giá trị nội dung và nghệ thuật truyện ngắn.Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, chúng tôithấy việc dạy – học các tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm truyện ngắn nóiriêng trong chương trình tại đơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các nănglực của học sinh Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau:
+ Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT chưa mang lạihiệu quả cao Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạocủa nhiều giáo viên Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết Việc rènluyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thôngqua khả năng vận dụng trí thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Việc ứngdụng công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưađược thực hiện rộng rãi, chưa linh hoạt, chưa phù hợp với đặc trưng bộ môn Ngữvăn nên hiệu quả cao trong các trường THPT
+ Dạy học chưa gắn liền với đặc trưng thể loại, phong cách nghệ thuật của tácgiả, áp đặt suy nghĩ cho HS
+ Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác,công bằng; việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức, học sinhhọc tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức
+ Chất lượng đầu vào cũng là một hạn chế khi các em khi thảo luận nhóm cònthiếu tính tự giác và hợp tác Một số em chưa có ý thức làm việc nhóm, nhân cơhội đó để làm việc riêng Bên cạnh đó yếu tố dịch bệnh cũng ít nhiều tác động đếnviệc ra ngoài thực tế, trải nghiệm để thay đổi phương pháp day - học văn
Trang 18Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài này với mong muốn góp phầntìm ra một cách thức phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm tạo sự hứng thúhấp dẫn để từ đó các em yêu thích môn học Ngữ văn hơn.
3.3 Đánh giá thực trạng
Việc đổi mới phương pháp dạy- học đã được xã hội quan tâm, đầu tư nhiềunguồn lực Tuy nhiên, dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học đãtriển khai nhưng chưa đồng bộ.Vì vậy, quá trình dạy- học chưa phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của người học
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được tính trung thựctrong học tập,thi cử; nhiều học sinh phổ thông còn thụ động trong việc học tập;khả vận dụng và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huốngthực tiễn cuộc sống còn hạn chế
Do đó, việc đổi mới dạy- học theo định hướng phát triển năng lực của họcsinh đang trở thành vấn đề cấp thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực cho đátnước trong thời kì hội nhập
Trang 19CHƯƠNG 4.
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG BÀI: “HAI ĐỨA TRẺ”
(THẠCH LAM).
4.1 Nguyên tắc tiếp cận tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) theo định
hướng phát triển năng lực.
4.1.1 Dạy – học tác phẩm gắn liền với đặc trưng thể loại.
Chú ý đến đặc trưng của thể loại vừa là một yêu cầu vừa là một nguyên tắccủa quá trình phân tích và giảng dạy tác phẩm văn học Với thể loại truyện ngắn,việc tìm hiểu đặc trưng thể loại lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn Nắm vững vàbám sát vào đặc trưng của truyện ngắn, tác phẩm tự sự, người đọc sẽ tìm ra chomình chìa khóa để khám phá được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Qua thực tế
giảng dạy, tôi rút ra một số kinh nghiệm cơ bản khi dạy tác phẩm Hai đứa trẻ của
nhà văn Thạch Lam cần có những kiến thức sau:
4.1.1.1 Khái quát chung về tác phẩm tự sự
4.1.1.1.1 Khái niệm về tác phẩm tự sự
Đứng về phương thức phản ánh đời sống, tác phẩm tự sự là loại tác phẩmphản ánh đời sống trong tính khách quan Tính khách quan ở đây được hiểu vớinghĩa là nội dung được phản ánh trong tác phẩm mang tính khách quan so vớingười kể chuyện Người kể chuyện, ở một mức độ nào đó đứng ở bên ngoài câuchuyện được kể Theo Arixtốt, tự sự là người kể chuyện kể về những gì xảy ra bênngoài mình, khác với trữ tình là kể về chính mình với những tình cảm và cảm xúccủa mình, là vì vậy Do đó, tính khách quan được hiểu như một nguyên tắc tái hiệnđời sống của tác phẩm tự sự
Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khác Phi thì tự sự được hiểu là:
“ phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương diện khác là trữ tình vàkịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học”
Theo từ điển tiếng Việt: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằngcách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt truyện, tương đối hoàn chỉnh”.Sách lý luận văn học định nghĩa: “ Tác phẩm tự sự là loại tác phẩm phản ánh quátrình đời sống, qua con người, hành vi, sụ kiện được kể lại bởi một người kểchuyện nào đó”
Theo giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, Tiến sĩ Huỳnh Như Phương: “Tự sự là kểchuyện, trình bày sự việc, sự vật một cách cụ thể, chi tiết, có đầu có đuôi, tự sự tậptrung chủ yếu vào việc miêu tả thế giới bên ngoài”
Từ các quan niệm trên đây về tự sự, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất
Trang 20sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật, chitiết… có đầu có đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởimột người kể chuyện nào đó
ra Cũng như câu chuyện đó phải được kể dưới một góc nhìn, một quan điểm, mộttình cảm nhất định Điều ấy dẫn đến việc phải có lời văn đặc thù cho từng kiểu kểchuyện, từng giọng kể chuyện, từng cá nhân kể chuyện Đó là các yếu tố cơ bảncủa cấu trúc tác phẩm tự sự Có thể điểm qua một số yếu tố cơ bản sau:
- Sự kiện (biến cố): là những sự việc xảy ra trong đời sống, là những hành
động, việc làm, những sự gặp gỡ có khả năng làm bộc lộ bản chất nhân vật, thayđổi mối quan hệ người và người, làm thay đổi cảm xúc, tình cảm, nhận thức, thậmchí số phận nhân vật Sự kiện thường là cái không bình thường (cho nên còn gọi làbiến cố) trong đời sống nhân vật Chính vì cái không bình thường ấy đã khiến nhânvật phải suy nghĩ, phải cảm xúc, thậm chí phải đấu tranh, dằn vặt, phải tự ý thức
để sau đó buộc nhân vật phải có những hành động, ứng xử phù hợp tiếp theo.Cáikhông bình thường của sự kiện thường xảy ra một cách bất ngờ, đột ngột, có thểphá vỡ trật tự vốn đang tồn tại, làm cho sự kiện trở thành cái lạ lùng, “ thậm chí
một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, ví như sự kiện cho chữ trong Chữ người tử
tù của Nguyễn Tuân vậy.
- Cốt truyện: Có hai cách hiểu về khái niệm cốt truyện Một là, cốt truyện là
hạt nhân cơ bản của câu chuyện với trật tự các sự kiện theo tuyến tính Với nghĩanày, các nhà nghiên cứu thường gọi đó là khung cốt truyện (fabula) Hai là, cốttruyện đã được nghệ thuật hóa nằm những mục đích tư tưởng và thẩm mĩ nhấtđịnh: đan xen các tuyến nhân vật, phát triển các thành phần phụ, đảo lộn trật tựthời gian, lắp ghép các môtíp, đầu cuối tương ứng Với nghĩa này, người ta dùngkhái niệm truyện kể (story, siuzhet) Ở đây, chúng ta nói đến cốt truyện là nói đếncốt truyện đã được nghệ thuật hóa Cốt truyện là chuỗi sự kiện có tính liên tụctrước sau, có quan hệ nhân quả hoặc có liên hệ về ý nghĩa, vừa có tác dụng biểuhiện tính cách, số phận nhân vật, vừa xây dựng bức tranh đời sống hiện thực, vừalà yếu tố gây hấp dẫn cho nguời đọc.Tiến trình các sự kiện sẽ tạo thành cốt truyện.Bình thường, đứng về cấu trúc cơ bản và truyền thống, cốt truyện thường có cácthành phần cơ bản như: trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Trật tự cốttruyện thường được kể theo trật tự tuyến tính, theo dòng lịch sử Trong truyện tự
sự hiện đại, năm thành phần cơ bản này có thế thiếu vắng một thành phần nào đóvà việc kể chuyện có thể không theo trật tự trước sau của câu chuyện, mà có sự đảongược, xen lẫn các thành phần
Trang 21Ngoài ra, còn có thể có những dạng cốt truyện phổ biến như: truyện lồngtrong truyện, truyện xây dựng trên một môtíp… Cốt truyện ở đây được xem là sựtổng hợp các môtíp theo kế tục thời gian và nhân quả.Cốt truyện trữ tình là câuchuyện không có sự kiện gì đặc biệt mà chủ yếu dựa theo cảm xúc của nhân vật
(Tuyết - Pautốpxki; Dưới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ - Thạch Lam) Đó là loại
truyện kể về thế giới nội tâm nên sự kiện chính là sự kiện nội tâm (sự kiện bêntrong sự kiện)
- Nhân vật cũng là yếu tố cơ bản của thể loại tự sự Đó là loại nhân vật có tên
tuổi, có lịch sử, có quá trình, có số phận Khác với nhân vật trữ tình, nhân vật tự sựđược tập trung khắc hoạ tương đối cụ thể ở nhiều phương diện: ngoại hình, hànhđộng, nội tâm, và đặc biệt là trong mối quan hệ với các nhân vật khác Chỉ có trongmối quan hệ với các nhân vật khác, nhân vật mới bộc lộ hết bản chất của mình,cũng như những biến đổi trong cuộc đời nhân vật cũng tùy thuộc mối quan hệ này.Tuy cũng được khắc hoạ nội tâm, nhưng những xung động nội tâm của nhân vật tự
sự chủ yếu là để lí giải nguyên nhân những hành động tiếp theo, dẫn đến những sựkiện kế tiếp trong cuộc đời nhân vật Ví như đoạn: Chí Phèo tỉnh dậy sau cơn say,
ta thấy có một đoạn nội tâm dài về nguyên nhân khát khao hạnh phúc Tiếp đến làhành động đòi quyền được làm người để có cơ may tìm hạnh phúc
- Người kể chuyện là một loại nhân vật đặc biệt Đó là người kể chuyện trong
tác phẩm, kể về nhân vật và các sự kiện, biến cố nào đó Người kể có ngôi kể, vai
kể, điểm nhìn, giọng điệu kể Nhân vật này có nhiệm vụ phân tích, nghiên cứu, giảithích, khêu gợi, bình luận, làm sáng tỏ mọi quan hệ phức tạp giữa nhân vật và hoàncảnh Thí dụ, người kể chuyện đã giới thiệu, giải thích lai lịch nhân vật trong đoạn
mở đầu truyện Tấm Cám: Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ Mẹ Tấmchết từ hồi Tấm mới biết đi, ít lâu sau, người cha cũng chết Tấm ở với dì ghẻ là
mẹ của Cám Nhân vật này có thể lộ diện, nhưng cũng có thể vô danh, nhưng baogiờ người đọc cũng cảm nhận được linh hồn của người kể chuyện này một cách rõrệt, gần gũi thông qua lời kể, giọng điệu, điểm nhìn, cách dẫn dắt và phân tích, lígiải cốt truyện Ngoài ra, theo vị trí quan sát của người kể, còn có thể phân theođiểm nhìn kể chuyện như: điểm nhìn bên ngoài, bên trong; điểm nhìn không gian(xa, gần), điểm nhìn di động (từ đối tượng này sang đối tượng khác), điểm nhìnthời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai), điểm nhìn luân phiên (trong, ngoài) Sựluân phiên điểm nhìn này cho thấy sự linh hoạt của các kiểu tổ chức miêu tả vàbình luận trong cốt truyện
4.1.1.1.3 Đặc trưng của truyện ngắn lãng mạn.
Ở Việt Nam, ra đời trong bối cảnh nước thuộc địa, sau khi chủ nghĩa lãngmạn đã có một thời khì phát triển, văn chương lãng mạn xuất hiện với sự ảnhhưởng của văn học Pháp kết hợp với tinh hoa, “hơi thở” văn học dân gian và vănhọc cổ điện của dân tộc Văn học lãng mạn thuộc loại hình văn học biểu hiện: cácnhân vật, tình huống, hình ảnh được nhà văn sáng tạo ra làm nhằm thỏa mãn yêu
Trang 22tìm kiếm giá trị cao đẹp trong cảnh đời thường tăm tối, khám phá những cao cảtrong số phận bị ruồng bỏ, chà đạp để nhấn mạnh yếu tố phi thường khác lạ Thạnh
Lam trong Hai đứa trẻ cũng thước dậy khát vọng mãnh liệt ở những mạnh đời
nghèo nàn tăm tối nơi phố huyện nghèo Từng ấy con người trong bóng tối vẫnkiên nhân hy vọng “ mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sông nghèo khổ hằngngày của họ.” cái ngày mai ấy những người nơi phố huyện chưa hình dung rađược, chắc nhà văn cũng chưa mường tượng ra Nhưng đó vẫn và cái đích đểngười ta hướng tới, hi vọng, đợi chờ
Một đặc điểm khác của văn học lãng mạn là tự do biểu hiện tình cảm cái Tôi
cá nhân, cái tôi tràn đầy tình cảm, cảm xúc, cảm giác Trong Hai đứa trẻ, tất cả các
chi tiết, sự việc, tâm trạng nhân vật trong bức tranh phố huyện đều được cảm nhậnbằng tấm lòng chia sẻ cảm thông của nhân vật Liên, một mặt là do cảm xúc nhàvăn hóa thân vào rất tự nhiên, tinh tế
Thủ pháp tương phản đối lập cũng là một nét nổi bật trong văn học lãng mạn
Ở Hai đứa trẻ của Thạch Lam có sự tương phản giữa vũ trụ bao la với những kiếp
người nghèo khổ, ánh sáng và bóng tối Bóng tối càng dày đặc bao nhiêu thì khátvọng hướng về ánh sáng càng được khắc họa bấy nhiêu Những cuộc đời trongbóng tối ấy, cũng như không gian phố huyên kia, dày đặc, tăm tối nhưng vẫn lóelên ánh sáng của một thế giới khác Thạch Lam đã mang đến một thông điệp giàu ýnghĩ về con người tạo nên giá trị nhân văn cho tác phẩm: hãy tin tưởng và trậntrọng khát vọng của con người
Mặt khác tác phẩm lãng mạn luôn phát huy cao thượng trí tượng tượng mộtcách cao độ, có thể đưa người đọc đến những bên bờ xa lạ, ở đó cuộc sống con
người có khả năng tốt đẹp hơn Hai đứa trẻ của Thạch Lam thuộc khuynh hướng
lãng mạn vì nó đề cập đến sự nhàm chán thực tại đến cùng cực của chị em Liên
Từ đó hai chị em luôn nhớ đến cuộc sống tươi đẹp đã từng có khi gia đình ở HàNội Đồng thời bộc lộ những khát khao hướng tươi một cuộc sống có tương laitươi đẹp qua hình ảnh đoàn tàu
Dấu hiệu đầu tiên để phân biệt truyện ngắn lãng mạn với các loại truyện ngắnkhác là tính chất phi cốt truyện Ở loại truyện này, người sáng tác không nhằm tậptrung xây dựng nhân vật có đời sống nội tâm phức tạp, nhiều mâu thuẫn, biến cốmà chủ yếu tạo một ấn tượng, một suy nghĩ, cảm xúc hướng người đọc tới nhữngdòng tâm lý, tâm trạng, những thăng trầm trong tình cảm của nhân vật.Chi tiết, tình tiết trong truyện ngắn lãng mạn không làm thành bước ngoặt để thoátnút, mở nút mà chủ yếu là làm cơ sở để tạo bối cảnh cho cảm xúc phát triển nhữngđiểm ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có khác nhau
Truyện ngắn lãng mạn thì lại giàu chất thơ, chất suy tưởng Chẳng hạn trong
Hai đứa trẻ chúng ta thấy bức tranh phố huyện hiện lên đầy chất thơ, nhiều màu
sắc, đường nét, âm thanh hài hòa Đằng sau bức tranh ấy là cả một không gian tăm
tối trong một ngày tàn, phiên chợ tàn với những kiếp người tàn nhưng sâu thẳm
trong tâm hồn họ vẫn ánh lên niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng Trong
Trang 23Hai đứa trẻ ta thấy lòng yêu tha thiết những con người nhỏ bé của tác giả Từ đây
làm nên một thiên truyện thấm đẫm chất trữ tình
Nhân vật trong truyện ngắn lãng mạn đều có đời sống nội tâm không quáphức tạp, không rõ ngoại hình, ít hành động, tính cách mờ nhạt, chủ yếu xuất hiệnqua tâm trạng Qua nhân vật, tác giả không nhằm mục đích khái quát tính cách,bản chất xã hội mà nhằm bộc lộ một tư tưởng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Đisâu vào thế giới nội tâm nhân vật trên điểm nhìn nghệ thuật của nhà văn về cơ bảntheo xu hướng nhân vật.
4.1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của“Hai đứa trẻ”- Thạch Lam
Hai đứa trẻ mang đặc điểm của một truyện ngắn hiện đại trữ tình Vì vậy, khi
giảng dạy tác phẩm, giáo viên cần lưu ý một số đặc điểm sau của chủ nghĩa lãng mạn
và thể loại truyện ngắn tâm tình được thể hiện qua tác phẩm Hai đứa trẻ có những
đặc trưng nổi bật sau:
- Truyện ngắn tâm tình là loại truyện nghiêng về cảm xúc, cảm giác và mangnhiều đặc điểm của thể loại trữ tình Có nhiều tác giả khẳng định rằng: Cốt truyệncủa Thạch Lam rất đơn giản, hầu như không cso chuyện gì đáng kể Trần NgọcDung cho rằng; “ nhiều truyện ngắn của Việt Nam là loại truyện ngắn không cótruyện Truyện không có cốt truyện hoặc cốt truyện rất mờ nhạt Truyện sử dụngtối giản cốt truyệnvà lời thuật kể để mở rộng khả năng quan sát cảnh sắc biến độngtrong không gian, thời gian và nắm bắt những biến đổi mong manh, bất thường củatâm trạng nhân vật bằng tài năng miêu tả “dòng tâm tư” nhân vật Liên để làm nổibật vẻ đẹp riêng trong nỗi niềm nhân vật
- Truyện không có xung đột kịch tính mạnh mẽ
- Nhân vật không có tính cách rõ ràng
- Truyện kể giàu cảm xúc, trữ tình, giàu chất thơ được khai thác bởi tâm hồngiàu cảm xúc, năng lực nhận thức và biểu hiện vẻ đẹp của sự sống luôn biến đổithoáng qua, mơ hồ trong cảnh sắc và vẻ đẹp bí ẩn trong tâm hồn, ý thức con người”.Nguyễn Thành Thi cũng viết: “ Truyện ngắn Thạch Lam rât giàu chất thơ Chất thơ
ấy man mát trong giọng điệu, ngôn ngữ truyện ngắn của ông Thạch Lam hình nhưmuốn trải tấm long cuả ông, của người trong truyện lên những trang văn Nhưng ởđâu, bao giờ , câu văn Thạch Lam vẫn chỉ là thủ thỉ tâm tình bình dị trong sáng
- Lời kể chuyện nhỏ nhẹ, ân tình, thâm thúy Giọng điệu chủ đạo trong truyệnngắn Thạnh Lam là trữ tình sâu lắng Nguyễn Hoành Khung khẳng định: “ Với ngòibút giạn dị, tinh tế lạ thường, ngôn ngữ đặc biệt trong sáng, đầy chất thơ, Thạch Lam
đã góp phần nnag cao trình độ truyện ngắn Việt Nam lên một bước mới”
- Cảm xúc của tác giả bộc lộ kín đáo thâm trầm và tinh tế
Những đặc trưng cơ bản trên đây sẽ là điểm tựa cho chúng ta trong quá trình
dạy - học tác phẩm Hai đứa trẻ cuả Thạch Lam theo đúng đặc trưng thể loại.
Trang 244.1.2 Dạy – học tác phẩm gắn liền với phong cách nghệ thuật của tác giả
Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam, mang một phong cách rấtriêng, không giống với bất cứ nhà văn nào trong Tự lực văn đoàn Đó là một phongcách nhẹ nhàng, những trang văn giàu cảm xúc, thấm đượm tình người Ông có lốiviết đi sâu vào khám phá thế giới tình cảm của con người bằng giọng điệu thủ thỉtâm tình, bằng những nỗi cảm thông sâu sắc, bằng niềm thương và bằng tìnhngười Cuộc đời ông gắn bó với sự ra đời và phát triển của Tự lực văn đoàn, bằngmột khuynh hướng khác, một cách nhìn và khám khá cuộc sống theo lối riêngmình, Thạch Lam đã xác định được giá trị của mình với bạn đọc bằng một phongcách nghệ thuật riêng,độc đáo
Mặc dù trong Tự lực văn đoàn có tôn chỉ mục đích riêng của các sáng
tác văn chương, nhưng Thạch Lam vẫn tìm cho mình một con đường đi riêng,một phong cách riêng không lẫn với các nhà văn trong Tự lực văn đoàn Ôngtham gia sáng tác rất nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kí, phê bình
văn học Truyện ngắn có tập Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc; tiểu
thuyết có Ngày mới; bút kí có Hà Nội băm sáu phố phường; tiểu luận phê bình Theo dòng Không giống với hai người anh Nhất Linh và Hoàng Đạo có
đời sống chính trị phức tạp, Thạch Lam hướng tới một xã hội công bằng vànhiều yêu thương Chính vì vậy mà phong cách nghệ thuật của Thạch Lammang một nét riêng biệt so với các nhà văn đương thời và những người anh trong
Tự lực văn đoàn
Những sáng tác của ông viết về thế giới nội tâm của nhân vật, ông thường chú
ý miêu tả những trạng thái tình cảm, những biến cố tâm lí của nhân vật Điều này
đã làm cho truyện ngắn của Thạch Lam luôn thu hút người đọc Truyện Hai đứa
trẻ là một truyện ngắn không có cốt truyện, nó diễn tả lại trạng thái cảm xúc của
Liên trong một khoảng thời gian ngắn ngủi buổi chiều đi dần vào đêm tối ở phốhuyện tràn ngập bóng tối Những truyện ngắn của Thạch Lam đi sâu vào khám cáctrạng thái tâm lí của nhân vật, cách tiếp cận khám phá con người trên phương diện
đi sâu vào những thế giới nội tâm, tinh thần của nhân vật đã tạo nên một nét độcđáo trong thế giới nghệ thuật của Thạch Lam
Không giống với phong cách của các thành viên trong Tự lực văn đoàn,Thạch Lam thường viết về những con người có những số phận đau khổ bấthạnh, những lớp người sống dưới đáy xã hội Mỗi một kiểu nhân vật ông đều
đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm, tinh thần của họ Những nhân vật củaông bao giờ cũng thiên về cảm xúc, suy nghĩ Trong khi những cây bút của Tự lựcvăn đoàn đi sâu vào miêu tả thế giới của những con người nghèo khổ bằng cái nhìn
ít thiện cảm, thì Thạch Lam viết về những người nghèo khổ với nỗi lòng thươngcảm Một dạng nhân vật nữa được nhà văn tập trung miêu tả nhiều đó là nhữngngười phụ nữ Họ là những người mẹ, người vợ, người chị đảm đang Ngoài raThạch Lam còn phát hiện ra ở những con người lam lũ đó những vẻ đẹp trongtâm hồn của họ Thạch Lam miêu tả họ và đồng thời thấy được nỗi vất vả của
họ, những truyện ngắn viết về kiểu nhân vật này Thạch Lam dường như thấu
hiểu những nỗi đau của các nhân vật Đó là mẹ Lê trong Nhà mẹ Lê, Tâm trong
Trang 25Cô hàng xén, Hai cô gái giang hồ trong Tối ba mươi…
Bên cạnh những thành công đó, một nét độc đáo trong phong cách nghệ thuậtcủa Thạch Lam là thành công ở việc sử dụng hệ thống ngôn ngữ văn chương điêuluyện, trau chuốt, không cầu kì, giản dị trong sáng thuần Việt, ít sử dụng chữNho Đọc văn của Thạch Lam hôm nay ta vẫn thấy nó thật hiện đại, đó khôngphải là những câu văn của quá khứ như một số sáng tác của Tự lực văn đoàn.Thạch Lam có một lối viết giàu cảm xúc và nhạc điệu, từ ngữ dùng giản dị,không cầu kì Xuất hiện trên văn đàn cùng thời với rất nhiều nhà văn khác, ThạchLam mang một dấu ấn rất riêng Không trào lộng như Vũ Trọng Phụng, không hàihước như Nguyễn Công Hoan, không triết lý như Nam Cao Thạch Lam nhẹ nhàngvà tinh tế Ngôn ngữ và giọng điệu trữ tình cũng vì thế là đặc trưng cơ bản củatruyện ngắn Thạch Lam Mỗi truyện ngắn của ông như một bài thơ về những cuộcđời, những thân phận nhỏ bé, côi cút và bất hạnh, gợi sự thương cảm, xót xa sâusắc của tình người Giản dị mà sâu sắc, chứa chan tình nhân ái, Thạch Lam hướngngười đọc tới sự thanh cao của cái đẹp, cái thiện Ông luôn đi sâu vào khám pháđời sống tâm linh của nhân vật bằng một ngòi bút rất tinh tế, rất hiểu sự đời - đó lànhững vẻ đẹp lẩn khuất bên trong tâm hồn con người: tình thương, sự cảm thông,lòng vị tha giữa người với người, giữa người với vật Thật cảm động trước tìnhthương mà bọn trẻ dành cho lũ chim non trong cơn giông tố, sự sám hối bởi mộtphút giận dữ đã gây bất hạnh cho một con người, sự cảm thông với số phận nghèokhổ của những tấm lòng cao cả, những tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của những
em bé nghèo nơi phố huyện… những con người nhỏ bé, bình thường ấy bỗng vútcao trong tác phẩm Thạch Lam, gợi sự ám ảnh về nhân cách và tình người cao cả.Ngôn ngữ truyện ngắn Thạch Lam là lối ngôn ngữ dư ba, có sức đọng lớn
Thạch Lam không gân guốc, không đao to búa lớn mà luôn thâm trầm kínđáo Và đằng sau những dòng chữ lặng lẽ ấy là bao nhiêu những dằn vặt của sựthức tỉnh nhân cách con người Mỗi người ai rồi cũng sẽ có tình huống phải lựachọn, những phút giây chống chếnh bên bờ vực của sự sa ngã nhân cách Nếukhông sáng suốt và bản lĩnh để chiến thắng người ta sẽ ngã, sẽ tự đánh mất mình.Truyện ngắn Thạch Lam với những lời văn nhẹ nhàng và kín đáo,
Là một thành viên của Tự lực văn đoàn, phong cách Thạch Lam có ảnh hưởng
của trường phái lãng mạn Song trong cái lãng mạn của Thạch Lam có vẻ tươi sángcủa ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay, nó thức tỉnh trong sâu thẳm con ngườimột chút mơ mộng, một niềm vui sống Giọng văn Thạch Lam có sức sôi cuốn kỳdiệu là vì vậy Càng đọc càng say, càng đọc càng bị cuốn hút Nó như kiểu “lạtmềm buộc chặt”, càng đi sâu vào người đọc càng không thể dứt ra Chất giọng ấy
đã diễn tả một cách tinh tế những cung bậc tình cảm của con người Một nỗi buồnkhe khẽ, vơ vẩn, mơ hồ của một cô bé trong cảnh chiều tàn nơi phố huyện:
“Chiều Chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ngoàiđồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve.Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen: đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dầnvào cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liênkhông hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày