ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong khóa luận là việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM Nguồn lực cộng đồng là một khái niệm rộng, khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu 04 nhóm nguồn lực cộng đồng sau đây: Tiền; tài sản; sức lao động; sự tham gia ý kiến
- Phạm vi về không gian: Khóa luận được nghiên cứu tại xã Phú Đô, huyện
Phú Lương, tỉnh Thái nguyên
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2016-2018.
Thời gian thực tập
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Phú Đô, huyện Phú Lương tác động đến việc thực hiện chương trình xây dựng NTM
- Đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí NTM trên địa bàn xã giai đoạn
Để xây dựng nông thôn mới (NTM) hiệu quả, cần tiến hành điều tra và phân tích thực trạng huy động các nguồn lực tại xã Nghiên cứu sẽ được thực hiện thông qua việc khảo sát trực tiếp tại các thôn, xóm như Phú Nam 1, Phú Đô và Phú Thọ.
Xã Phú Đô, huyện Phú Lương đang đối mặt với nhiều thuận lợi và khó khăn trong việc huy động các nguồn lực để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Mục tiêu trong thời gian tới là nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực, cải thiện cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế địa phương Để đạt được điều này, xã cần xác định rõ nhiệm vụ và chiến lược cụ thể nhằm khắc phục những thách thức hiện tại, đồng thời phát huy những lợi thế sẵn có.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác huy động nguồn lực phục vụ xây dựng NTM trên địa bàn huyện đến năm 2020.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1.Thu thập số liệu nghiên cứu a) Thu thập số liệu thứ cấp :
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu hiện trạng chương trình xây dựng nông thôn mới của địa bàn nghiên cứu
- Điều tra các công việc đã và đang triển khai của chương trình xây dựng nông thôn mới có liên quan đến người dân trên địa bàn
- Thu thập số liệu về cán bộ xây dựng nông thôn mới của địa bàn nghiên cứu (Tuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác )
Trong quá trình nghiên cứu, việc thu thập số liệu về các hình thức, nội dung, phương pháp và tần suất tuyên truyền, vận động trên địa bàn là rất quan trọng Bên cạnh đó, việc thu thập dữ liệu sơ cấp cũng cần được thực hiện để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin.
Để nghiên cứu sâu về các vấn đề liên quan đến nguồn lực cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới (NTM), bài viết sẽ tổng hợp quan điểm và ý kiến từ nhiều đối tượng trả lời khác nhau.
Trong bài viết này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 22 cán bộ thuộc các đoàn thể chính trị - xã hội tại xã Phú Đô, bao gồm Chủ tịch, Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên, và các trưởng ban liên quan đến quản lý và chỉ đạo xây dựng nông thôn mới (NTM).
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 22 cán bộ lãnh đạo cấp thôn, bao gồm Trưởng Xóm, Phó Xóm, Hội người cao tuổi và Chi Hội Phụ nữ.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành điều tra tại ba thôn, mỗi thôn chọn mẫu 15 hộ gia đình để phỏng vấn Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là ngẫu nhiên hệ thống, dựa trên danh sách các hộ gia đình trong từng thôn Tổng cộng, 45 hộ gia đình đã được phỏng vấn trong ba thôn này.
3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
3.4.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này giúp hệ thống hoá và phân tích dữ liệu thu thập từ điều tra, nhận diện các quy luật và mối quan hệ giữa các yếu tố như tình hình kinh tế, trình độ văn hoá, và ảnh hưởng của các thành viên trong gia đình Qua đó, có thể đánh giá hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới (NTM).
3.4.2.2 Phương pháp thống kê so sánh
Bài viết tiến hành phân tích thực trạng và đóng góp của người dân, doanh nghiệp, HTX trong xây dựng NTM Phương pháp thống kê so sánh được sử dụng để phản ánh tình hình kinh tế hộ, sản xuất nông nghiệp, đầu tư và quản lý công trình có sự tham gia của người dân Qua đó, xác định hiệu quả từ vai trò của người dân nông thôn trong chương trình xây dựng NTM.
3.4.2.3 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin
Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phú Lương
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường a Vị trí địa lý:
Phú Đô là một xã nằm ở phía Đông của huyện Phú Lương cách trung tâm huyện 20 km
Phía Bắc tiếp giáp với xã Yên Lạc, huyện Phú Lương
Phía Đông tiếp giáp với xã Văn Lăng, xã Hòa Bình, huyện Đồng Hỷ Phía Nam tiếp giáp với xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ
Phía Tây tiếp giáp với xã Tức Tranh, huyện Phú Lương b Điều kiện tự nhiên
Xã có địa hình phức tạp với tỷ lệ đồi núi chiếm ưu thế, xen kẽ là các cánh đồng rải rác Địa hình có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, tạo nên sự đa dạng trong cảnh quan.
Khí hậu của xã được ảnh hưởng bởi vùng nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa lạnh và mùa nóng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhiệt đới Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22°C, trong khi nhiệt độ cao nhất trong mùa nóng đạt 27,2°C Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.000mm đến 2.100mm, góp phần vào sự phong phú của tài nguyên đất.
Tổng diện tích đất tự nhiên: 2.263,64 ha, Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp : 921,22 ha chiếm 40,7%
- Đất lâm nghiệp : 959,65 ha chiếm 42,39%
- Đất chuyên dùng : 137,87 ha chiếm 6.09%
Theo số liệu thống kê cơ cấu diện tích đất xã Phú Đô năm 2018 thể hiện qua bảng 4.1:
Bảng 4.1 Cơ cấu diện tích theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng đất
STT LOẠI ĐẤT Diện tích
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 921,22 40,70
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 240,07 10,64
1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 73,68 3,26
1.1.4 Đất trồng cây lâu năm 681,15 30,06
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 38,12 1,68
II Nhóm đất phi nông nghiệp 260,23 11,49
2.2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan 0,30 0,01
2.2.3 Đất xây dựng công trình sự nghiệp 3,49 0,15 2.2.4 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 9,08 0,40 2.2.5 Đất sử dụng vào mục đích công cộng 84,07 3,71
2.3 Đất cơ sở tín ngưỡng 3,45 0,15
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng 4,58 0,20
2.5 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối 46,51 2,05
2.6 Đất có mặt nước chuyên dùng 5,31 0,23
2.7 Đất phi nông nghiệp khác 0,08 0,00
III Nhóm đất chưa sử dụng 84,42 3,73
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 2,26 0,10
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 0,25 0,01
3.3 Núi đá không có rừng cây 81,91 3,62
(Nguồn: UBND xã Phú Đô) d Tài nguyên nước
Nước mặt: Xã có một hồ chứa nước nằm tại xóm Cúc Lùng với diện tích
Xã có diện tích 4,9 ha với một số đập ngăn nước nhỏ, nằm ở phía Đông nơi có dòng sông Cầu chảy qua 3 xóm Diện tích mặt nước được sử dụng cho nuôi trồng thủy sản là 18 ha.
Nước ngầm: Nguồn nước ngầm giảm dần theo độ cao địa hình
Với địa hình chủ yếu là đồi núi và nguồn tài nguyên đất, nước phong phú, khu vực này có điều kiện thuận lợi để phát triển rừng, nông nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nhu cầu dân sinh, tạo nên một cảnh quan môi trường đa dạng và hấp dẫn.
Môi trường tại đây có khí hậu mát mẻ và trong lành, tạo điều kiện sống tốt cho cư dân Hệ thống cơ sở hạ tầng đang được cải thiện đáng kể, bao gồm giao thông, trụ sở, khu vui chơi, hệ thống điện nước, trường học và làng văn hóa, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế của xã là nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Từ năm 2011, kinh tế xã hội Phú Đô đã phát triển nhanh chóng và bền vững, với sự đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng giao thông và giáo dục Năm 2012, xã Phú Đô vinh dự nhận lá cờ đầu từ Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên trong phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc thúc đẩy kinh tế và giao thương hàng hóa Tỷ trọng sản xuất trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã gia tăng, đồng thời các lĩnh vực khác cũng được chú trọng đầu tư để phục vụ tốt cho sản xuất và an sinh xã hội Công tác tập huấn và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân trong sản xuất và chế biến được thực hiện chủ động, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp.
Cây lương thực: Tổng diện tích gieo cấy 243 ha, cây ngô: 12 ha
Cây công nghiệp (cây chè): Tổng diện tích 500 ha
Chăn nuôi gia súc: 250 con (Trâu, bò) 1800 con lợn các loại
Chăn nuôi gia cầm: 20.000 con (Các loại)
Chăn nuôi thủy sản: 18 ha (cá các loại)
- Về lâm nghiệp: 798,57 ha b Về đời sống:
- Tổng sản lượng lương thực quy thóc: 1.265 tấn
- Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 là: 29,81 triệu đồng/ người/ năm
- Số hộ nghèo theo tiêu chí mới: 10,75% Kết quả điều tra giảm nghèo theo đa chiều năm 2018 c Tổ chức sản xuất:;
- Số HTX: 01 HTX Trong đó sản xuất nông nghiệp: 01 HTX, 30 lao động (mới thành lập)
- Số tổ hợp tác: 02 tổ, trong đó tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp: 02 tổ, có 45 tổ viên
- Số mô hình, hình thức liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông sản chủ, đảm bảo bền vững: 01 mô hình, 400 lao động (Làng nghề chè)
Hiện trạng dân số và lao động của xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên được thể hiện qua bảng 4.2:
Bảng 4.2: Hiện trạng nguồn nhân lực của xã Phú Đô
STT Chỉ tiêu DVT Tổng dân số Cơ cấu
B LĐ CN và tiểu thủ CN Người 717 20
C Lao động trong dịch vụ người 358 10
4 LĐ đã qua đào tạo Người 1111 100
(Nguồn: UBND xã Phú Đô)
Qua bảng thống kê nguồn nhân lực của xã Phú Đô ta có:
Tổng số nhân khẩu: Xã có 5.584 nhân khẩu: + Nữ: 2.978 khẩu
- Lao động: Trong độ tuổi lao động là 3.584 người Trong đó Nữ 1.792 người chiếm gần 50%
- Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp 70%, lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 20%, lao động trong dịch vụ chiếm 10%
- Lao động đã quan đào tạo 1.111 người, chiếm khoảng 31%, trong đó lao động trong nông lâm nghiệp chiếm 20%, lao động phi nông nghiệp chiếm 80%
Thành phần dân tộc: Xã Phú Đô có 5 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm 38%, các dân tộc khác chiểm 62% (Bao gồm dân tộc Kinh, Sán Chay, Tày,
- Thuận lợi: Có cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước, có nguồn lao động dồi dào
Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên nghiệp còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, dẫn đến khó khăn trong việc tuyển dụng vào các cơ quan, xí nghiệp và doanh nghiệp lớn với mức thu nhập cao Hiện tại, nhiều thanh niên sau khi tốt nghiệp đều tìm việc tại các công ty hoặc đi xuất khẩu lao động ra nước ngoài, điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động trong tương lai.
Thuận lợi và khó khăn về điều kiện KT - XH trong tiến trình xây dựng NTM
Sự quan tâm và chỉ đạo từ các cấp lãnh đạo, bao gồm Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân và Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, đã giúp triển khai kịp thời các chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nông thôn mới Điều này tạo ra ý thức và sự đồng lòng cao trong nhân dân, với nhân dân là trung tâm, cùng chung tay với Đảng bộ và chính quyền trong quá trình phát triển Nông thôn mới.
Chương trình xây dựng Nông thôn mới được thực hiện thành công nhờ sự tập trung, đoàn kết và thống nhất của các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng toàn bộ hệ thống chính trị, đồng thời nhận được sự đồng thuận mạnh mẽ từ người dân.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, cùng với trình độ dân trí đồng đều, đã tạo điều kiện cho người dân đoàn kết và chung tay xây dựng Nông thôn mới.
Trong suốt 8 năm qua, xã Phú Đô đã ghi nhận nhiều tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của Đảng, góp phần củng cố và hoàn thiện bộ mặt nông thôn.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, với sự hưởng ứng tích cực từ các phong trào thi đua yêu nước Nổi bật trong số đó là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, cùng với sự tự lực tự cường trong cộng đồng nhằm phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.
Phú Đô là một xã có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp, với ít ngành nghề truyền thống và nghề phụ Hơn nữa, kết cấu hạ tầng tại đây chưa đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai.
Tỷ lệ lao động trong ngành nông lâm và ngư nghiệp vẫn còn cao, trong khi đó tỷ lệ lao động được đào tạo lại thấp, điều này dẫn đến năng suất lao động chưa đạt hiệu quả cao.
Vai trò kinh tế của hợp tác xã (HTX) chưa được phát triển mạnh, dẫn đến việc kinh tế tập thể chưa thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho người dân.
Kinh phí đóng góp để xây dựng nông thôn mới đối với người dân còn gặp rất nhiều khó khăn
Nhiều nông dân hiện nay không còn hứng thú với sản xuất nông nghiệp vì phải đối mặt với nhiều rủi ro, thiên tai và hiệu quả sản xuất thấp.
Một số ít cán bộ xã còn hạn chế về năng lực quản lý, năng lực chuyên môn và công tác chỉ đạo, điều hành.
Thực trạng xây dựng Nông thôn mới tại xã Phú Đô
4.3.1 Kết quả thực hiện các tiêu chí Nông thôn mới đến năm 2018
Từ năm 2011, xã Phú Đô đã đạt 5 tiêu chí trong việc xây dựng nông thôn mới (NTM) theo quy định Đến năm 2018, xã đã hoàn thành tất cả 19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí xây dựng NTM tỉnh Thái Nguyên, tăng thêm 14 tiêu chí so với năm 2011.
Các tiêu chí đã đạt chuẩn:
- Tiêu chí số 3: Thủy lợi
- Tiêu chí số 5: Trường học
- Tiêu chí số 13: Tổ chức sản xuất
- Tiêu chí số 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
- Tiêu chí số 17: Môi trường và an toàn thực phẩm
- Tiêu chí số 8: Thông tin và truyền thông
- Tiêu chí số 12: Lao động có việc làm
- Tiêu chí số 14: Giáo dục và đào tạo
- Tiêu chí số 16: Văn hóa
- Tiêu chí số 18: Hệ thống tổ chức chính trị tiếp cận pháp luật
- Tiêu chí số 19: An ninh và Quốc phòng
- Tiêu chí số 10: Thu nhập
- Tiêu chí số 11: Hộ nghèo
Các tiêu chí chưa đạt chuẩn:
Tiêu chí số 2: Giao thông
Tiêu chí số 6: Cơ sở vật chất văn hóa
Tiêu chí số 9: Nhà ở dân cư
Các tiêu chí đạt nhưng còn thấp, cần bổ sung:
Tiêu chí số 1: Quy hoạch
Tiêu chí số 13: Tổ chức sản xuất
Tiêu chí số 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
Tiêu chí số 17: Môi trường và an toàn thực phẩm
4.3.2 Kết quả huy động nguồn lực trong công tác xây dựng NTM của xã Phú Đô đến năm 2018
Chương trình xây dựng NTM tại xã Phú Đô đã huy động thành công nhiều nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương, tín dụng, doanh nghiệp và sự đóng góp của Nhân dân Nhờ sự vận động tích cực từ Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể, người dân đã tham gia đóng góp về tiền bạc, công sức và tài sản để xây dựng hạ tầng cơ sở Việc lồng ghép và huy động các nguồn lực thực hiện chương trình được địa phương thực hiện cụ thể, phù hợp với các chính sách hiện hành.
Bảng 4.3: Kết quả huy động nguồn lực để xây dựng NTM trên địa bàn xã đơn vị tính: triệu đồng
TT Nội dung chỉ tiêu Kết quả thực hiện
II Ngân sách địa phương
VII Cộng đồng dân cư
(Nguồn: UBND xã Phú Đô)
Theo bảng 4.3 cho thấy: a Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Trong giai đoạn 2011 - 2018, tổng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chỉ đạt 62.133 triệu đồng, cho thấy sự giảm sút trong lượng vốn ngân sách qua các năm Đặc biệt, vốn ngân sách dành cho xây dựng nông thôn vẫn còn rất hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư cho từng xã để phát triển nông thôn mới là rất lớn Để hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, cần phải huy động thêm nhiều nguồn vốn khác, bao gồm cả vốn đầu tư từ ngân sách địa phương.
Nguồn ngân sách địa phương đóng góp khoảng 27% tổng vốn huy động cho xây dựng nông thôn mới, thể hiện sự quan tâm của các cấp tỉnh và huyện trong đầu tư và phát triển nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa Việc huy động và sử dụng nguồn vốn tín dụng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Vốn tín dụng huy động cho xây dựng nông thôn mới chỉ chiếm 7,59% tổng nguồn vốn huy động, cho thấy khả năng huy động vốn từ tín dụng còn hạn chế Để tối đa hóa nguồn vốn này, cần có chính sách phù hợp nhằm khuyến khích đầu tư Bên cạnh việc huy động, việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn cũng rất quan trọng để tránh lãng phí và đầu tư không hiệu quả.
Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư tư nhân trong xây dựng nông thôn mới (NTM), các cấp ủy và chính quyền từ huyện đến cơ sở đã chú trọng thực hiện các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn Tuy nhiên, sau 6 năm triển khai, sự chuyển biến trong lĩnh vực này vẫn chưa rõ rệt Việc huy động và sử dụng nguồn vốn từ cộng đồng cần được cải thiện để thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Cần phát huy nội lực của cộng đồng dân cư bằng cách vận động nhân dân đóng góp sức người, tài sản, hiến vật kiến trúc, cây lâu năm và quyền sử dụng đất, nhằm hỗ trợ ngân sách nhà nước thực hiện hiệu quả các nội dung của Chương trình.
Hiện nay, nguồn vốn huy động từ cộng đồng chiếm khoảng 20% tổng số vốn huy động, đánh dấu một thành công lớn cho cán bộ quản lý ở xã Chương trình xây dựng nông thôn mới đã thu hút sự quan tâm và đóng góp đáng kể từ phía nhân dân.
Ngoài sự đầu tư từ Nhà nước, xã đã thu hút nhiều nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong việc huy động công sức và hiến tặng đất, nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là các tuyến đường giao thông nông thôn.
4.3.3 Kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới của xã phú đô từ 2018 đến nay
Tiêu chí số 1 - Quy hoạch: Đạt
Xã Phú Đô đã thực hiện Quy hoạch tổng thể xây dựng nông thôn mới, được UBND huyện Phú Lương phê duyệt theo Quyết định số 4114/QĐ-UBND vào ngày 29/10/2012 Quy hoạch này bao gồm giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 Ngoài ra, xã cũng đã xây dựng và ban hành Quy chế Quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn mới đến năm 2020, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.
- Tổng kinh phí thực hiện: 300 triệu đồng
+ Vốn ngân sách Trung ương: 300 triệu đồng
Tiêu chí số 2 - Giao thông : Đạt
Tổng chiều dài đường trục xã và liên xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa đạt 8,397 km, đạt chuẩn 100% Đường trục xóm có tổng chiều dài 42,62 km, trong đó 29,71 km đã cứng hóa theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT Đường ngõ xóm sạch sẽ, không lầy lội vào mùa mưa với tổng chiều dài 5,67 km, trong đó 4,65 km đã bê tông hóa, đạt 82% Đường trục chính nội đồng có tổng chiều dài 0,74 km, trong đó 0,33 km đã bê tông hóa, đạt 47%, và 0,39 km được cấp phối, đạt 53%.
- Tổng kinh phí đã thực hiện: 9.397 triệu đồng
+ Vốn ngân sách Trung ương: 7.003 triệu đồng
+ Vốn ngân sách tỉnh: 679 triệu đồng
+ Vốn nhân dân đối ứng: 1.715 triệu đồng
Tiêu chí số số 3 - Thủy lợi: Đạt
Tiêu chí số 4 - Điện: Đạt
Tiêu chí số 5 - Trường học: Đạt
Tiêu chí số 6 - Cơ sở vật chất văn hóa: Đạt
Nhà trung tâm học tập cộng đồng xã có diện tích 241,83m² và quy mô xây dựng đạt 180 chỗ ngồi, cùng với sân thể thao rộng trên 5.000m² Đặc biệt, trung tâm này bao gồm 4 phòng chức năng phục vụ cho công tác văn hóa, trong khi đó có 13/25 nhà văn hóa liên xóm đạt chuẩn.
- Tổng kinh phí thực hiện: 6.419 triệu đồng
+ Vốn ngân sách Trung ương: 4.198 triệu đồng
+ Vốn ngân sách tỉnh: 884 triệu đồng
+ Vốn huy động nhân dân: 1.337 triệu đồng
Tiêu chí số 7 - Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: Đạt
Xã có một chợ với diện tích 3.257 m², bao gồm đình chợ và Ban quản lý gồm 3 người Chợ đã thiết lập nội quy và phương án phòng cháy chữa cháy đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu mua bán của người dân.
Kinh phí thực hiện: 1.198 triệu đồng, trong đó:
+ Vốn ngân sách Trung ương: 1.138 triệu đồng
+ Vốn nhân dân đối ứng: 60 triệu đồng
Tiêu chí số 8 - Thông tin và truyền thông: Đạt
Tiêu chí số 9 - Nhà ở dân cư: Đạt
- Trên địa bàn xã không còn hộ gia đình ở trong nhà dột nát Có 1.161 nhà kiên cố, chiếm 76%, 367 nhà bán kiên cố, chiếm 24%
Tiêu chí số 10 - Thu nhập: Đạt
Tiêu chí số 11 - Hộ nghèo: Đạt
Tiêu chí số 12 - Lao động có việc làm: Đạt
Tiêu chí số 13 - Tổ chức sản xuất: Đạt
Tại xã Phú Nam, có hai mô hình sản xuất và chế biến chè theo tiêu chuẩn Vietgap, với hệ thống tưới chè tiết kiệm được áp dụng tại các xóm Phú Nam 4, Phú Nam 5, Phú Nam 6 và Phú Nam 7 Ngoài ra, toàn xã hiện có 55 hộ chăn nuôi gia súc và gia cầm, góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương.
Tiêu chí số 14 - Giáo dục và Đào tạo: Đạt
Tiêu chí số 15 - Y tế: Đạt
Tiêu chí số 16 - Văn hóa: Đạt
Tiêu chí số 17 - Môi trường và an toàn thực phẩm: Đạt
Tiêu chí số 18 - Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật: Đạt
Tiêu chí số 19 - Quốc phòng và An ninh: Đạt.
Tình hình huy động nguồn lực xấy dựng NTM ở 3 xóm nghiên cứu
4.4.1 Sự hiểu biết của người dân về chương trình
Bảng 4.4: Sự hiểu biết về chương trình xây dựng NTM của các hộ điều tra n = 45
TT Nội dung Số ý kiến Tỷ lệ (%)
1 Có nghe về chương trình NTM 45 100,00
2 Nắm được các tiêu chí của chương trình
3 Nắm được 19 tiêu chí về NTM (theo QĐ
4 Vai trò của người dân trong xây dựng NTM 41 91,11
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, năm 2019)
Theo bảng 4.4, hầu hết người dân ở ba xóm nghiên cứu đều biết về chương trình NTM, với 100% hộ được khảo sát đã nghe về chương trình này Nhận thức của các hộ về chương trình xây dựng NTM đạt mức trung bình, trong đó 44,44% nắm được mục tiêu của chương trình và 26,67% biết được 19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí NTM Đặc biệt, 91,11% số hộ dân nhận thức rõ vai trò của mình trong việc xây dựng NTM Qua nhiều năm triển khai, nhận thức của người dân đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là về vai trò chủ thể của họ trong chương trình.
Người dân địa phương đã tích cực tham gia vào xây dựng nông thôn mới (NTM) thông qua việc góp ý kiến cho quy hoạch chung, bầu ban phát triển thôn và nhận thông tin về các công trình xây dựng trong thôn Mặc dù tỷ lệ tham gia khác nhau, chương trình được triển khai một cách dân chủ tại cấp xóm, với các công việc được thảo luận và lấy ý kiến từ cộng đồng.
Bảng 4.5: Sự tham gia của người dân trong các công việc triển khai trên địa bàn của các hộ điều tra n = 45
STT Nội dung Tham gia Không tham gia
1 Tham gia góp ý kiến vào bản quy hoạch chung xây dựng NTM của xã 13 32
2 Tham gia bầu ban phát triển thôn 41 4
3 Nhận được các thông tin các công trình xây dựng trên địa bàn xã 30 15
4 Nhận được các thông tin các công trình xây dựng trên địa bàn thôn 45 0
5 Tham gia họp bàn các nội dung thực hiện khi xây dựng các công trình trên địa bàn xã: 4 41
6 Tham gia họp bàn các nội dung thực hiện khi xây dựng các công trình trên địa bàn thôn 41 4
7 Trực tiếp thi công, thực hiện công trình 25 20
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, năm 2019)
Theo bảng 4.5, có 13/45 hộ tham gia góp ý kiến vào quy hoạch chung xây dựng NTM của xã, trong khi 41/45 hộ tham gia bầu ban phát triển thôn Tất cả các hộ điều tra đều nhận được thông tin về các công trình xây dựng trong thôn, và 41/45 hộ tham gia họp bàn về việc thực hiện các công trình này Có 25/45 hộ trực tiếp tham gia thi công các công trình Tuy nhiên, thông tin về các công việc triển khai ở cấp xã và các cấp lớn hơn vẫn chưa được người dân biết rõ và họ chưa có cơ hội tham gia.
* Nhận thức của người dân về nguồn lực trong xây dựng NTM
Khi được hỏi “xây dựng NTM bằng những nguồn vốn nào?” các hộ điều tra đều cho những ý kiến khác nhau Thể hiện qua bảng 4.6:
Bảng 4.6: Nhận thức về nguồn lực trong xây dựng NTM của các hộ điều tra n = 45
TT Xây dựng NTM bằng những nguồn vốn nào? số lượng
2 Chỉ nhân dân đóng góp 2 4,44
3 Nhà nước là chủ yếu,nhân dân đóng góp phần nhỏ 28 62,22
4 Nhân dân là chủ yếu, Nhà nước hỗ trợ phần nhỏ 6 13,33
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, năm 2019)
Kết quả khảo sát cho thấy 20% người được hỏi cho rằng xây dựng NTM hoàn toàn do Nhà nước đầu tư, trong khi 62,22% cho rằng vốn nhà nước là chủ yếu và nhân dân chỉ đóng góp một phần nhỏ Chỉ 13,33% cho rằng vốn từ nhân dân là chính, với sự hỗ trợ nhỏ từ Nhà nước, và chỉ có 4,44% người cho rằng nguồn vốn hoàn toàn đến từ nhân dân Điều này cho thấy nhận thức của một bộ phận người dân về nguồn lực trong xây dựng NTM còn hạn chế.
Bảng 4.7 Tổng hợp sự đóng góp kinh phí tiền mặt xây dựng các công trình nông thôn của các hộ điều tra
STT Hoạt động Số hộ tham gia
(nE) Tỷ lệ (%) Tổng số tiền
2 Công trình VH, TD, TT 4 8,89 1.400.000
(Nguồn: số liệu điều tra 2019)
Theo bảng số liệu 4.7, người dân đã tích cực đóng góp kinh phí cho việc xây dựng các công trình nông thôn Họ tham gia vào các hoạt động như xây dựng nhà văn hóa, cải tạo kênh mương và xây dựng đường giao thông giữa các xóm.
- Đường giao thông của xã trong tổng số 45 hộ được điều tra thì có 43 hộ tham gia đóng góp chiếm 95,56% với tổng số tiền 10.100.000đ
- Công trình văn hóa, TD, TT, có 4/45 hộ tham gia đóng góp chiếm 8,89% với tổng số tiền là 1.400.000đ
- Xây dựng trường học có 38/45 hộ tham gia chiếm 84,44% với tổng tiền là 3.800.000đ
- Đường GT của xóm có 44/45 hộ tham gia chiếm 97,78% với tổng số tiền là 40.800.000đ
- Đường nội đồng có 41/45 hộ tham gia chiếm 91,11% với tổng số tiền là 4.100.000đ
- Nghĩa trang nhân dân có 4/45 hộ tham gia chiếm 8,89% với tổng số tiền là 650.000đ
- Hệ thống thoát nước có 5/45 hộ tham gia chiếm 11,11% với tổng số tiền là 1.000.000đ
Bảng 4.8 Tổng hợp sự đóng góp ngày công tham gia xây dựng công trình công cộng của các hộ điều tra n = 45
Số ngày công lao động (ngày) Đơn giá (1000đ/ngày)
2 Cải tạo, xây dựng mới kênh mương 45 150 6,75
3 Xây dựng nhà văn hóa 61 150 9,15
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, năm 2019)
Theo bảng số liệu 4.8, người dân tham gia tích cực vào việc xây dựng nông thôn mới, với tổng cộng 61 ngày công lao động cho xây dựng nhà văn hóa, tương đương 9,15 triệu đồng Tiếp theo, việc thi công đường giao thông cũng nhận được sự đóng góp lớn với 52 ngày công, tính thành tiền 7,8 triệu đồng Sự quan tâm của người dân đối với xây dựng đường bê tông là đáng kể, vì nó cải thiện đáng kể điều kiện đi lại, đặc biệt trong những ngày mưa, giúp giao thương và sinh hoạt thuận lợi hơn Cuối cùng, việc cải tạo kênh mương có mức đóng góp thấp nhất với 45 ngày công, tương đương 6,75 triệu đồng.
4.4.2 Đánh giá về cán bộ thực hiện công tác huy động nguồn lực a Trình độ cán bộ xã
Qua số liệu điều tra về cán bộ xã và cán bộ thôn xóm trên địa bàn xã Phú Đô trên tổng số 22 cán bộ cấp xã, bảng 4.9:
Bảng 4.9: Tổng hợp số liệu về trình độ cán bộ xã Phú Đô
STT Chỉ tiêu Số lượng (người)
1 Số người học hết lớp 12 22
3 Học hết lớp học hết lớp 9 -
II Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
1 Trình độ trên đại học 1
III Thâm niên công tác
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, năm 2019)
Theo số liệu, hầu hết cán bộ tại xã Phú Đô đều có trình độ chuyên môn cao, với 100% tốt nghiệp cấp 3, 30% tốt nghiệp Đại học, 60% tốt nghiệp Cao đẳng và 10% tốt nghiệp sơ cấp nghề Đặc biệt, đa số cán bộ có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên, cho thấy sự ổn định và kinh nghiệm trong đội ngũ Tình hình tập huấn cán bộ phụ trách xây dựng NTM tại xã cũng đang được chú trọng để nâng cao năng lực và hiệu quả công việc.
Trong tổng số 22 cán bộ xã được điều tra thì 100% cán bộ được tham gia lớp tập huấn
Các lớp tập huấn có thời gian trung bình từ 1-5 ngày
Nội dung các lớp tập huấn mà cán bộ được tham gia chủ yếu là về các chuyên đề sau:
- Quy hoạch chung xây dựng xã và Đề án xây dựng nông thôn mới của xã
- Một số nội dung trọng tâm về nông nghiệp, nông thôn bền vững
- Công tác giữ gìn, bảo vệ môi trường ở nông thôn
- Phát triển văn hóa xã hội, giữ gìn an ninh trật tự trong xây dựng nông thôn mới
- Quy trình triển khai thực hiện dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong nông thôn mới
- Đổi mới, nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn
- Phân tích đánh giá hiện trạng và lập kế hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã có sự tham gia của người dân
- Quản lý tài chính và thực hiện các quy trình, thủ tục thanh quyết toán
- Kỹ năng tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng nông thôn mới
- Kỹ năng lập và tổ chức triển khai kế hoạch phát triển thôn theo phương pháp dựa vào nội lực cộng đồng
- Kỹ năng lập và tổ chức triển khai kế hoạch phát triển nông thôn theo phương pháp dựa vào nội lực cộng đồng
Trong quá trình thăm quan nghiên cứu thực tế, ý kiến của cán bộ xã về những khó khăn trong việc huy động nguồn lực đóng góp bằng tiền được thể hiện rõ qua bảng 4.8 Các cán bộ xã đã chỉ ra rằng việc tìm kiếm nguồn lực tài chính gặp nhiều trở ngại, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các dự án phát triển cộng đồng.
Bảng 4.10: Ý kiến của cán bộ xã về khó khăn trong huy động nguồn lực từ cộng đồng n = 22
Người dân chưa hiểu rõ về chương trình xây dựng
NTM (mục tiêu, các tiêu chí, cách thức thực hiện, vai trò của người dân…
Nhận thức của dân hạn chế, tâm lý ỷ lại, trông chờ nhà nước hỗ trợ 13 59,09
Thu nhập của người dân còn thấp 22 100,00
Chưa đảm bảo tính công khai minh bạch trong việc huy động nguồn lực 5 22,73
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, năm 2019)
Các cán bộ xã cho biết rằng khó khăn lớn nhất trong việc huy động nguồn lực từ cộng đồng, đặc biệt là đóng góp tài chính, là do thu nhập của người dân còn thấp Hơn nữa, 81,82% cán bộ cho rằng người dân chưa hiểu rõ về chương trình xây dựng nông thôn mới, và 59,09% ý kiến cho rằng nhận thức của họ còn hạn chế, với tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ từ nhà nước Điều này cho thấy những thách thức mà các cán bộ xã phải đối mặt trong việc mobilize nguồn lực cộng đồng.
Qua tổng số 22 cán bộ và 45 hộ dân được điều tra trên địa bàn xã Ta rút ra được nhận xét:
- Năng lực trình độ của cán bộ NTM tương đối thấp
- Các nội dung đào tạo tập huấn tương đối đầy đủ
- Người dân đã tích cực tham gia các phong trào xây dựng NTM của xã nói riêng và chương trình MTQG về xây dựng NTM nói chung.
Những thuận lợi và khó khăn trong huy động các nguồn lực thực hiện xây dựng NTM trên địa bàn xã và mục tiêu, nhiệm vụ trong thời gian tới
Huy động các nguồn lực từ cộng đồng là một quá trình tự nguyện, trong đó Ban Chỉ đạo và Ban Quản lý xã chỉ định hướng Việc sử dụng nguồn lực này do người dân quyết định, nhưng cần tuân thủ đúng quy định của Nhà nước.
Mức thu nhập của nhân dân còn thấp do đó việc huy động các nguồn đóng góp từ dân nhiều khi còn chậm
4.5.3 Mục tiêu, nhiệm vụ trong thời gian tới a Mục tiêu chung
Xây dựng nông thôn mới là phấn đấu Phú Đô phát triển toàn diện, kinh tế
Văn hóa và xã hội phát triển đồng nghĩa với đời sống nhân dân được nâng cao, cơ sở hạ tầng được đồng bộ hóa, hệ thống chính trị vững mạnh và an ninh chính trị được giữ vững Mục tiêu cụ thể là xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, đảm bảo an sinh và ổn định cho người dân.
- Mục tiêu đến hết năm 2019 xã đạt chuẩn NTM theo bộ tiêu chí NTM tỉnh Thái Nguyên
Mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn nhằm hoàn thành các công trình thiết yếu như giao thông, điện, nước sạch, trường học, trạm y tế, khu thể thao và nhà ở, cùng với hệ thống thủy lợi Những cải thiện này sẽ tạo ra sự đột phá trong diện mạo nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn:
Thu nhập bình quân đầu người: Đến hết năm 2018 phấn đấu đạt trên 29 triệu đồng
Hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo dưới 12%/năm
Mục tiêu phát triển văn hóa, xã hội và môi trường được đặt ra, bao gồm việc tạo ra việc làm, cải thiện cơ sở hạ tầng thương mại, tổ chức sản xuất hiệu quả, nâng cao chất lượng giáo dục, củng cố hệ thống tổ chức chính trị, và đảm bảo an ninh quốc phòng Dự kiến nguồn lực cho giai đoạn 2019 - 2020 sẽ được phân bổ hợp lý để đạt được các mục tiêu này.
Tổng vốn: 15.500 triệu đồng, phân theo các nguồn:
Ngân sách nhà nước: 12.000 triệu đồng, trong đó:
+ Ngân sách Trung ương: 4.400 triệu đồng;
+ Ngân sách tỉnh: 7.000 triệu đồng;
+ Ngân sách huyện: 500 triệu đồng;
+ Ngân sách xã: 100 triệu đồng;
Tín dụng (vay phát triển sản xuất): 300 triệu đồng;
Vốn từ các chương trình, dự án khác:500 triệu đồng;
Vốn của doanh nghiệp: 200 triệu đồng;
Đóng góp của người dân: 2.000 triệu đồng;
Nguồn vốn khác: 500 triệu đồng.
Các giải pháp huy động nguồn lực thực hiện chương trình
Dựa trên quá trình thu thập thông tin và kết quả điều tra tại ba xóm nghiên cứu, tôi đề xuất một số giải pháp nhằm huy động nhiều hơn nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) Những giải pháp này không chỉ phù hợp với cả ba xóm mà còn là những vấn đề cần được chú trọng trong việc triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM tại xã Phú Đô.
Xây dựng NTM là một quá trình lâu dài và phức tạp, đòi hỏi sự tập trung vào đào tạo cán bộ tại các xã và các thành viên trong tiểu ban phát triển nông thôn về kiến thức liên quan Cán bộ có năng lực và trình độ chuyên môn cao sẽ dễ dàng hơn trong việc vận động người dân tham gia vào quá trình xây dựng NTM Ngược lại, nếu cán bộ xã yếu kém về năng lực, hiệu quả từ các khoản đầu tư của nhà nước sẽ không được phát huy, và sự tham gia của cộng đồng cũng sẽ hạn chế Do đó, cán bộ xã và thôn đóng vai trò chủ chốt trong việc hướng dẫn và tổ chức thực hiện xây dựng NTM, và thành công hay thất bại của chương trình phụ thuộc lớn vào tâm huyết và khả năng tổ chức của họ.
Để người dân hiểu rõ về xây dựng NTM, cần giải thích NTM là gì, lý do xây dựng và vai trò của họ trong quá trình này Công tác tuyên truyền giúp cộng đồng nắm vững mục tiêu và 19 tiêu chí NTM, cũng như các bước thực hiện và vai trò của các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội Ngoài việc sử dụng các kênh thông tin đại chúng, các xã nên in tờ rơi và biên soạn tài liệu chi tiết về chương trình NTM để phát cho hộ dân, treo bảng hiệu công cộng ghi rõ các tiêu chí NTM và tổ chức các cuộc họp thảo luận với người dân về chương trình này.
Ba là, cần cụ thể hóa cách thức lấy ý kiến tham gia của người dân vào các nội dung trong chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) và cơ chế huy động các khoản đóng góp tự nguyện của dân cho xây dựng cơ sở hạ tầng theo Nghị định số 24/1999/NĐ-CP Đồng thời, cần xem xét cơ chế huy động nguồn lực cộng đồng từ việc hiến đất và tài sản cho các công trình công cộng.
Đối với các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, việc đóng góp bằng tiền mặt có thể gặp nhiều trở ngại Do đó, có thể áp dụng một số giải pháp hỗ trợ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đóng góp này.
Chuyển sang hình thức đóng góp bằng công lao động cho nhóm hộ này sẽ giúp người dân phấn khởi và nhiệt tình tham gia hơn Đối với những công trình không yêu cầu kỹ thuật cao, nên giao cho cộng đồng quản lý và khoán chất lượng Nhờ đó, người dân sẽ trực tiếp sử dụng đồng tiền họ đóng góp cùng các khoản hỗ trợ từ Nhà nước và địa phương.
Trước cuộc họp thôn, cần thảo luận và đề xuất mức đóng góp hợp lý cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cho phép họ đóng góp ít hơn so với các hộ khác Đồng thời, các xã nên áp dụng hình thức huy động sự đóng góp của toàn thể người dân trong thôn, sau đó triển khai thực hiện từng đoạn đường một, nhằm giảm bớt gánh nặng cho những hộ gặp khó khăn.