Đề cương chi tiết, đầy đủ dành cho học sinh, sinh viên ôn tập Triết học Mác Lênin.Hệ thống đầy đủ các ý, các mục, các phần cho các câu hỏi.Dễ hiểu, câu từ chuẩn xác.Câu 1: Quan điểm về đặc điểm GCCN trong nền sản xuất TBCN. Liên hệ GCCN VNCâu 2: Quan điểm về hình thái KTXH CSCN, nhất là thời kì quá độ và đặc trưng của CNXH. Liên hệ thời kì quá độ và đặc trưng CNXH ở VNCâu 3: Quan điểm về dân chủ, nhà nước XHCN. Liên hệ VNCâu 4: Quan điểm về nguồn gốc, bản chất, tính chất của tôn giáo và các nguyên tắc ứng xử của đcs và nhà nước xhcn đối với các tôn giáo. Liên hệ VNCâu 5: Cương lĩnh dân tộc của CN Mác Lênin. Liên hệ VN
Trang 1Câu 1: Quan điểm về đặc điểm GCCN trong nền sản xuất TBCN Liên hệ GCCN VN
Việc xã hội hóa lao động ngày càng tiến nhanh thêm dưới muôn vàn hình thức, đã biểu hiện đặc biệt
rõ ràng ở sự phát triển của đại công nghiệp…, đấy là cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời không thể tránh khỏi của chủ nghĩa xã hội” mà động lực trí tuệ và tinh thần lực lượng duy nhất của sự chuyển biến đó chính
là giai cấp công nhân giúp cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người thành công – cách mạng xã hội chủ nghĩa
lệ của máy móc, của người đốc công và trước hết là của chính nhà tư sản chủ công xưởng.”- Trích Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản
Cũng theo C.Mác giai cấp công nhân là giai cấp tạo ra các giá trị thặng dư và sự giàu có cho xã hội Ngày nay, đây là giai cấp lao động sản xuất ra của cải vật chất trong lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, tiên tiến Sản phẩm thặng dư do họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và phát triển xã hội Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”,
Ph.Ăngghen định nghĩa: “Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vàotình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những biến động của cuộc cạnh tranh không gìngăn cản nổi” Tuy vậy, thật không chính xác khi gọi giai cấp vô sản là giai cấp công nhân Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình độ lao động công nghiệp cao là đứa con của nền công nghiệp hiện đại Song khái niệm giai cấp công nhân (giai cấp vô sản) được các nhà kinh điển xác định trên 2 phương diện
cơ bản: kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội
*Xem xét giai cấp công nhân trên phương diện kinh tế - xã hội
Thứ nhất, giai cấp công nhân với phương thức lao động công nghiệp trong nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa: đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công
nghiệp, bởi vì đó là sản phẩm của nền đại công nghiệp Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơbản của mọi tầng lớp công nhân Các ông còn nhấn mạnh rằng, “Các giai cấp đều suy tàn và tiêu vong cùngvới sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân -5- nền đại công nghiệp” và “công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy”… “công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại”
Thứ hai, giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đó là giai cấp của những người
lao động không sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Họ phải bán sức lao động cho nhà tư sản và bị
tư sản bóc lột giá trị thặng dư Đối diện với nhà tư sản, công nhân là những người lao động tự do, với nghĩa
là tự do bán sức lao động của mình để kiếm sống Chính điều này khiến cho người công nhân trở thành giaicấp đối kháng với giai cấp tư sản Công nhân ấy buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa, họ được ví
Trang 2như là một món hàng bị đem bán như bất kì món hàng nào khác vì thế họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh mọi sự lên xuống của thị trường Đối diện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân trong chế độ tư bản chủ nghĩa được thể hiện theo cách gọi của C.Mác và
Ph.Ăngghen là giai cấp vô sản, “giai cấp công nhân làm thuê hiện đại vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân nên buộc phải bán sức lao động của mình để kiếm sống Phương diện thứ hai này nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nên C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản
Ngày nay, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, bộ mặt của giai cấp công nhân hiện đại có nhiều thay đổi khác trước Cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân đã có những thay đổi to lớn: bên cạnh côngnhân của nền công nghiệp cơ khí đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp tự động hoá, với việc áp dụng phổ biến công nghệ thông tin vào sản xuất Song, dù cho trình độ kỹ thuật có thay đổi như thế nào đi nữa thì xét theo tiêu chí kinh tế - xã hội, giai cấp công nhân vẫn tồn tại như là một giai cấp đặc thù Căn cứ vào hai phương diện cơ bản của giai cấp công nhân như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể coi những người lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp là công nhân Còn những ngườilàm công ăn lương phục vụ trong các ngành khác như y tế, giáo dục, văn hoá, dịch vụ (không liên quan trực tiếp đến sản xuất công nghiệp) là những người lao động nói chung, đang được thu hút vào tổ chức công đoàn nghề nghiệp, nhưng không phải là công nhân
*Xem xét giai cấp công nhân trên phương diện chính trị - xã hội
Trong cách nhìn duy vật biện chứng về lịch sử sự thống trị của giai cấp tư sản, đặc biệt của bộ phận
tư sản đại công nghiệp là điều kiện ban đầu cho sự phát triển giai cấp công nhân Nói chung sự phát triển của giai cấp vô sản công nghiệp được quy định bởi sự phát triển của giai cấp tư sản công nghiệp Chỉ dưới
sự thống trị của giai cấp này giai cấp vô sản công nghiệp mới có được một quy mô lớn và có thể nâng lên thành một cuộc cách mạng
Xem xét giai cấp công nhân (giai cấp vô sản) từ phương diện kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội trong chủ nghĩa tư bản các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học - C.Mác và Ph.Ăngghen không những đưa lại quan niệm khoa học về giai cấp công nhân mà còn làm sáng tỏ những đặc điểm quan trọng của nó với tư cách là một giai cấp cách mạng có sứ mệnh lịch sử thế giới Giai cấp công nhân có những đặcđiểm chủ yếu sau đây: Nổi bật nhất là lao động bằng phương thức công nghiệp với công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng suất cao, quá trình lao động mang tính chất xã hội hóa Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại Vậy nên giai cấp công nhân đại diện cho nền sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất tiên tiến mang tính chất xã hội hóa ngày càng cao, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại Nền sản xuất đại công nghiệp và phương thức sản xuất xã hội hóa đã rèn luyện cho công nhân phẩm chất về tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và tâm lí lao động công nghiệp Và trong quá trình lao động bị áp bức và bóc lột bởi giai cấp tư sản
và chủ nghĩa tư bản họ đã tự ý thức cho mình là một giai cấp chống lại tầng lớp thống trị và là một giai cấp cách mạng có tinh thần cách mạng triệt để nhất Những đặc điểm đó đã tạo nên những phẩm chất cần thiết cho một giai cấp cách mạng và có vai trò lãnh đạo
*Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và giai cấp công nhân thế giới hiện nay
a) Nội dung kinh tế:
Trang 3Về kinh tế, giai cấp công nhân có nhiều sứ mệnh quan trọng Đầu tiên là nắm vai trò là nhân tố hàng đầu, quan trọng không thể thiếu và tiên phong của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao Bởi lẽ tính chất nền tảng của xã hội hóa cao là chế độ sở hữu xã hội, tiêu biểu cho lợi ích của toàn xã hội Mà giai cấp công nhân là chủ thể đại biểu cho lợi ích chung của xã hội: Chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất không
có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu Nó phấn đấu cho lợi ích chung của toàn xã hội Nó chỉ tìm thấy lợi ích chân chính của mình khi thực hiện được lợi ích chung của cả xã hội Với nội dung này, giai cấp công nhân hoàn toàn phù hợp với vai trò trên Giai cấp công nhân cũng nắm vai trò là đại biểu cho quan hệ sản xuất mới, tiên tiến nhất dựa trên chế độ sở hữu xã hội (công hữu) về tư liệu sản xuất, đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất thuộc về xu thế phát triển của lịch sử xã hội Cụ thể nội dung sứ mệnh lịch sử của giaicấp công nhân về kinh tế được hiểu như sau:
Về vai trò chủ thể của quá trình sản xuất bằng phương thức sản xuất xã hội hóa cao giai cấp công nhân có nhiệm vụ sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của con người và xã hội
để từ đó tạo tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hóa và thực hiện "một kiểu tổ chức xã hội mới về lao động" nhằm tăng năng suất lao động xã hội và thực hiện các nguyên tắc sở hữu, quản lý, phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Nhìn vào thực tế, đa số các nước xã hội chủ nghĩa lại ra đời từ phương thức quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Vì thế sứ mệnh về kinh tế của giai cấp công nhân nơi đây còn đóng vai trò nòng cốt trong quá trình giải phóng lực lượng sản xuất (vốn lạc hậu, bị kìm hãm trong quá khứ), thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển để tạo cơ sở cho quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa ra đời Đặc biệt hơn, để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội thì công nghiệp hóa là một yêu cầu tất yếu có tính quy luật Để thực hiện sứ mệnh của mình giai cấp công nhân phải là lực lượng đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa Vì vậy trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, yêu cầu mới được đặt ra là phải gắn liền công nghiệp hóa với hiện đại hóa, đó là đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường
Hiện nay, sứ mệnh của giai cấp công nhân về kinh tế có sự cải tiến và gắn liền với xã hội.Vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân trong kinh tế đó là việc sử dụng công nghệ hiện đại, tăng năng suất, chất lượng cao, đã đảm bảo cho sự phát triển bền vững của cả nền kinh tế thông qua đó góp phần làm ổn định
và phát triển của xã hội Sứ mệnh của giai cấp công nhân đối với sự phát triển xã hội ngày càng thể hiện rõ,biểu hiện là trong sự phát triển sản xuất của chủ nghĩa tư bản trong thế giới ngày nay có sự tham gia trực tiếp của giai cấp công nhân và các lực lượng lao động - dịch vụ chất lượng cao, đây là nhân tố kinh tế - xã hội thúc đẩy sự chín muồi các tiền đề của chủ nghĩa xã hội trong lòng chủ nghĩa tư bản Đó chính là điều kiện để phát huy vai trò chủ thể của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh vì dân chủ, tiến bộ xã hội và chủ nghĩa xã hội Mặt trái, hiện nay có sự mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản trên toàn cầu về những lợi ích Nguyên nhân là do toàn cầu hóa hiện nay vẫn mang đậm tính chất tư bản chủ nghĩa với những bất công và bất bình đẳng xã hội đối với giai cấp công nhân Điều này thúc đẩy các cuộc đấu tranh đòi lợi ích, công bằng, bình đẳng và chống bóc lột giá trị thặng dư trên phạm
vi thế giới, đó chính là sứ mệnh và từng bước thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân về kinh tế
-xã hội
b) Nội dung chính trị - xã hội
Trước khi giành được quyền làm chủ đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sứ mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là tiến hành cuộc cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột và bất bình đẳng của chủ nghĩa tư bản, giành lại quyền và
Trang 4lợi ích về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Tạo điều kiện để đi đến thành lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã hội Sau khi làm chủ được đất nước, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải biết sử dụng nhà nước của mình và do mình làm chủ như một công cụ, phương tiện để tiến hành cải tạo xã hội cũ đi đến phát triển mọi mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ) để xây dựng xã hội mới nơi mà mọi mặt đều ổn định và phát triển để phục vụ quyền, lợi ích, tính dân chủ, công bằng, bình đẳng của nhân dân lao động và tiến bộ xã hội theo lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Hiện nay, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên thế giới có phân ra cụ thể: Ở các nước tư bản chủ nghĩa, đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mục tiêu trực tiếp là chống lại bất công và bình đẳng xã hội, mụctiêu lâu dài là giành chính quyền Điều này được nêu rõ trong Cương lĩnh chính trị của các Đảng Cộng sản trong các nước tư bản chủ nghĩa Ở các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản đã được cầm quyền, nội dung chính trị - xã hội của sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân là lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, giải quyết thành công các nhiệm vụ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trên hết là xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững
c) Nội dung tư tưởng - văn hóa
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, trong đó có lĩnh vực văn hóa, tư tưởng là phải tập trung xây dựng hệ giá trị mới: lao động, công bằng, dân chủ, bình đẳng
và tự do Hệ giá trị này là sự phủ định Đầu tiên là sự phủ định các giá trị tư sản mang bản chất tư sản và phục vụ cho giai cấp tư sản, đây chính là chống lại sự thống trị của giai cấp tư sản và tư bản chủ nghĩa Cùng sự phủ định những tàn dư các giá trị đã lỗi thời, lạc hậu của các xã hội quá khứ Hệ giá trị mới đã thể hiện bản chất ưu việt của chế độ mới xã hội chủ nghĩa về việc sẽ từng bước phát triển và hoàn thiện Thực chất, sứ mệnh lịch sử này của giai cấp công nhân trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng là cải tạo cái cũ lỗi thời, lạc hậu để xây dựng cái mới tiến bộ trong lĩnh vực ý thức tư tưởng, tâm lý, lối sống và đời sống tinh thần
xã hội Đưa hệ ý thức tiên tiến nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin để củng cố ý thức nhân dân lao động làm nền tảng tinh thần của xã hội Tư tưởng Mác - Lênin đã khắc phục các ý thức hệ tư sản không phù hợp và tàn
dư lỗi thời, lạc hậu còn sót lại của xã hội cũ Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân về văn hóa, tư tưởng còn có một nội dung trọng yếu về cách mạng văn hóa tư tưởng là phát triển văn hóa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa Về bối cảnh hiện nay trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, vẫn tiếp tục nổi bật từ xưa đến nay là cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa hệ giá trị của giai cấp công nhân
và hệ giá trị của giai cấp tư sản Đây là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội với nền tảng lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin với chủ nghĩa cá nhân của giai cấp tư sản Cuộc đấu tranh ngày càng diễn ra quyết liệt và phức tạp, nhất là trên nền kinh tế thị trường hiện tại đã gây ra nhiều tác động Mặt khác, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, phong trào cách mạng thế giới phải vượt qua giai đoạn thoái trào tạm thời đã tác động vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, gây ra những thử thách cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa và làm cho cuộc đấu tranh tư tưởng với lý luận chủ nghĩa tư bản ngày càng phức tạp và gay gắt.Tuy nhiên ở các cuộc cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thì lý tưởng chủ nghĩa xã hội vẫn là đặc trưng nắm
vị trí chỉ đạo, định hướng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển xã hội Các giá trị của hệ giá trị: lao động, sáng tạo, công bằng, dân chủ, bình đẳng,
tự do vẫn là những giá trị được nhân loại thừa nhận và phấn đấu thực hiện Về thực tế thì các giá trị được toàn thể nhân loại hướng tới đều tương đồng với những giá trị mà mục tiêu, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đề ra Cả ở các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa nơi mà các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì theo đuổi những giá trị ấy đều đem lại những tiến bộ xã hội quan
Trang 5trọng Từ bối cảnh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay được rút ra là đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng Cộng sản, giáo dục nhận thức và củng cố niềm tin khoa học đối với lý tưởng, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, giáo dục và thực hiện chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân trên cơ sở phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc
*Đặc điểm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
a) Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân xuất phát từ những tiền đề kinh tế - xã hội của sản xuất mang tính xã hội hóa với hai biểu hiện nổi bật là:
Thứ nhất, xã hội hóa sản xuất làm xuất hiện những tiền đề vật chất, thúc đẩy sự phát triển của xã hội,
thúc đẩy sự vận động của mâu thuẫn cơ bản trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác chỉ
rõ mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản Có mâu thuẫn ắt có đấu tranh, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội Học thuyết kinh tế của C.Mác chứng minh về mặt lý luận rằng: giai cấp vô sản nhất thiết phải đấu tranh chống giai cấp
tư sản và nhất định giai cấp vô sanr sẽ thắng lợi và chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản
Thứ hai, quá trình sản xuất mang tính xã hội hóa đã sản sinh ra giai cấp công nhân và rèn luyện nó
thành chủ thể thực hiện sứ mệnh lịch sử Biết rằng xã hội hóa là nền tảng qua trọng của loài người và giúp cho xã hội phát triển liên tục Ngoài ra, lý luận về giá trị thặng dư: “Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động (người lao động làm thuê) tạo ra và thuộc về nhà tư bản (người mua hàng hóa sức lao động)” là hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của C.Mác Mà mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư làm cho người lao động không ngừng bị bóc lột lao động với tiền công rẻ mạt trong khi nhà tư bản không ngừng giàu có để tăng tích lũy tư bản Tích lũy tư bản biến giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm Đó chính là sự bất công sâu sắc về mặt xã hội, là mâu thuẫn lợi ích không thể điều hòa giữa hai giai cấp Mâu thuẫn đã trở thành động lực chính cho cuộc đấu tranh giai cấp, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại
b) Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự nghiệp cách mạng của quần chúng và mang lại lợi ích cho đa số
Đây là cuộc cách mạng của đại đa số mưu lợi ích cho tuyệt đại đa số Nhận thấy trong xã hội tư bản,
về mặt số lượng, giai cấp tư sản mặc dù không nhiều nhưng lại chiếm phần lớn tài sản trong xã hội, có lợi thế về tiền bạc rồi quyền lực; trong khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động chiếm nhiều hơn cả nhưngchỉ có thể kiếm sống bằng tiền công lao động ít ỏi mà còn bị chèn ép bởi người chủ cho ra giá trị thặng dư
Mà xã hội đó muốn phát triển không thể dựa vào áp bức sức lao động Việc đấu tranh, làm cách mạng thể hiện ý chí và nguyện vọng chung của đại đa số người trong xã hội đó Điều đó có nghĩa sự nghiệp cách mạng cần hướng tới sự thống nhất cơ bản về lợi ích giai cấp công nhân với lợi ích của nhân dân lao động dựa trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất Lực lượng sản xuất xã hội hóa cao, ở trình độ phát triển hiện đại và chế độ công hữu sẽ tạo ra cơ sở kinh tế để chấm dứt vĩnh viễn chế độ bóc lột người
c) Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải là thay thế chế độ sở hữu tư nhân này bằng một chế độ sở hữu tư nhân khác mà là xóa bỏ triệt để tư hữu về tư liệu sản xuất
Chính lịch sử chứng minh rằng chừng nào còn có tư hữu về tư liệu sản xuất thì vẫn còn tồn tại mâu thuẫn không thể điều hòa trong lòng xã hội Vì bản chất của tư bản hình thành trên sự biến đổi giá trị thặng
Trang 6dư mà giá trị thặng dư có nhờ lao động của người lao động dư ra Sự xóa bỏ này không do chủ quan, duy ý chí mà bị quy định bởi một cách khách quan từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
d) Việc giai cấp công nhân giành lấy quyền lực thống trị xã hội là tiền đề để cải tạo toàn diện, sâu sắc và triệt để xã hội cũ và xây dựng thành công xã hội mới với mục tiêu cao nhất là giải phóng con người
So với các cuộc cách mạng trước đây, mục tiên tiến hành đấu tranh chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho
họ Tới thời điểm giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng, mục tiêu không đơn giản giành lấy lợi ích
cá nhân hay cho một giai cấp nữa, mục tiêu đã lớn mạnh hơn là giải phóng con người hướng tới sự tự do, bình đẳng, bác ái “Con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội”- C.Mác - nên muốn phát triển
xã hội cần tập trung vào con người cũng như giải phóng con người là mục tiêu cao cả Quan điểm của C.Mác là một bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người, về bản chất con người và vị trí, vai tròcủa con người trong tiến trình phát triển của nhân loại Đồng thời quan điểm của C.Mác cũng cho thấy, mọihoạt động lao động sản xuất con người đều không ngoài mục đích sáng tạo ra toàn bộ nền văn hoá vật chất
và tinh thần Cũng với ý nghĩa đó, bằng các hoạt động cách mạng, con người đánh dấu các trang sử mới cho chính mình phù hợp với nhu cầu và mục đích của mình trong tiến trình phát triển
*Những điều kiện quy định và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
*Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định tính tất yếu khách quan của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: " Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất
và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh
ra người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau" Điều kiện khách quan bao gồm:
a) Do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân quy định
Giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiện đại Chính nền sản xuất hiện đại đã tạo ra tiền đề cần thiết cho xã hội hóa cao để xây dựng xã hội mới Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế, quy định giai cấp công nhân phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa giành chính quyền về tay mình Giai cấp công nhân trở thành đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của lịch sử, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới, không cònchế độ người áp bức, bóc lột người
b) Do địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân quy định
Giai cấp công nhân được sinh ra trong nền sản xuất đại công nghiệp, gắn với phương thức lao động trình độ cao, tiên tiến và là giai cấp cách mạng đã đào tạo cho họ tính tổ chức và kỷ luật Trong tiến trình đấu tranh giai cấp chống tư sản và chủ nghĩa tư bản đã rèn luyện cho công nhân trưởng thành về mọi mặt, nhất là ý thức chính trị tự giác và đoàn kết để tự giải phóng mình và giải phóng xã hội Giai cấp công nhân
là giai cấp cách mạng, đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, phương thức sản xuất tiên tiến thay thế chophương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, xác lập phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa Giai cấp công nhân là đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của tiến trình lịch sử Giai cấp công nhân không được sinh
ra với trình trạng nghèo khổ mà là do họ bị bóc lột, áp bức và nhiệm vụ của cách mạng là giải phóng giai cấp công nhân, xã hội ra khỏi tình trạng đó
Trang 7*Điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử
a) Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng
Số lượng biểu thị sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng với quy mô phát triển của nền sản xuất hiện đại Phát triển số lượng phải đi kèm với chất lượng thể hiện trình độ trưởng thành về ý thức chính trị thông qua việc tự giác và nhận thức được trọng trách của giai cấp mình trong lịch sử trên nền tảng giác ngộ
lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Cùng với đó là năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà lao động bằng trí óc, nănglực sáng tạo ngày càng chiếm vị thế quan trọng Vì vậy, để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân cần tăng về số lượng và đặc biệt là chất lượng
b) Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi
sứ mệnh lịch sử của mình
Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân đảm nhận vai trò lãnh đạo cuộc cách mạng
là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng Đảng ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân Giaicấp công nhân là lực lượng quan trọng nhất của Đảng, còn Đảng là đội tiên phong, là đại biểu trung thành nhất cho lợi ích của giai cấp công nhân, toàn dân tộc và xã hội
c) Để cuộc cách mạng thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đi tới thắng lợi, phải có
sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác
Nó làm tăng đại đoàn kết và sức mạnh tổng hợp để thực hiện mục tiêu thắng lợi và là một điều kiện quan trọng không thể thiếu khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
*Đặc điểm GCCN cuối thế kỷ XIX (theo quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin)
Giai cấp công nhân cuối thế XIX là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội Bên cạnh đó, 1 bộ phận lớn công nhân bị giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản bóc lột giá trị thặng dư Vì mục tiêu hòa bình, hợp tác
và phát triển, vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội và chủ nghĩa xã hội thì họ luôn là lực lượng đi đầu trong các cuộc đấu tranh Và giai cấp công nhân cuối thế kỉ XIX là giai cấp lao động, làm thuê, bị bóc lột và xuấtthân chủ yếu từ nông dân, nông thôn Họ chỉ có thể bán sức lao động của mình để lấy tiền lương.Chính vì vậy, hao phí lao động đơn thuần là hao phí sức lực cơ bắp Những nhu cầu về vật chất, nhu cầu về tinh thần
và văn hóa tinh thần của công nhân đơn giản, không có yêu cầu quá cao Và trong thời gian này thì quá trình sản xuất của giai cấp công nhân mang tính chất nhỏ hẹp, gói gọn trong quy mô một khu vực hoặc mộtquốc gia
*Đặc điểm GCCN thế kỷ XXI (hiện nay)
Sang thế kỳ XXI, giai cấp công nhân vẫn là lực lượng sản xuất hàng đầu Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sản sinh ra tình trạng 1 bộ phận công nhân vẫn
bị bóc lột giá trị thặng dư Và họ vẫn không ngừng đấu tranh cho lợi ích của mình, đi đầu trong những phong trào đấu tranh Nhờ quá trình đô thị hóa, giai cấp công nhân đã được bổ sung thành phần, góp phần làm đa dạng hơn xuất thân của giai cấp công nhâ Trước sự phát triển khoa học – công nghệ mạnh mẽ của thế kỷ XXI, họ có xu hướng trí tuệ hóa, dẫn đến hao phí lao động hiện đại chủ yếu là hao phí về trí lực Từ
đó, những nhu cầu cũng được tăng lên, đa dạng và phong phú hơn Với xu thế thế giới hiện nay là hòa
Trang 8bình, hợp tác, và phát triển thì quá trình sản xuất có sự liên kết, mở rộng và vượt khỏi phạm vi quốc gia – dân tộc, với mô hình lao động đa dạng, mang tính chất quốc tế.
So sánh đặc điểm GCCN cuối thế kỷ XIX và GCCN thế kỷ XXI
So với giai cấp công nhân thời Mác tại thế kỷ XIX với những quan niệm của ông thì giai cấp côngnhân hiện nay đặt trong bối cảnh hiện tại đã có nhiều điểm không còn phù hợp, cần bổ sung, phát triển.Tuy vậy vẫn xuất hiện những nét tương đồng và cả những nét khác biệt, có những biến đổi mới trong điềukiện lịch sử mới Vì thế chúng ta cần làm rõ những đặc điểm nêu trên theo quan điểm lịch sử - cụ thể củachủ nghĩa Mác – Lênin để một mặt khẳng định những giá trị lịch sử của chủ nghĩa Mác – -18- Lênin, mặtkhác cần có những bổ sung, phát triển nhận thức mới trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân hiện nay
Sự tương đồng giai cấp công nhân hiện nay so với giai cấp công nhân truyền thống:
Trước hết, giai cấp công nhân hiện nay vẫn đóng vai trò là lực lượng sản xuất hàng đầu trong xã hội
hiện đại Họ là chủ thể của quá trình sản xuất công nghiệp hiện đại mang tính xã hội hóa ngày càng cao Xãhội nào cũng tồn tại và phát triển thông qua quá trình sản xuất và tiêu thụ của cải vật chất Với tư cách làlực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp và tham gia quá trình sản xuất, tái sản xuất của cải vật chất,giai cấp công nhân góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội Thêm vào đó, tính chất xã hội hóangày càng tăng của sản xuất cũng làm nảy sinh những nhân tố mang tính chất xã hội trong quá trình pháttriển Theo C.Mác, đây chính là yếu tố duy vật cho chủ nghĩa xã hội hiện đại, cái tính chất mà trước cuộcCách mạng công nghiệp lần thứ nhất chưa xuất hiện trên thực tế Công nghiệp càng phát triển thì tính chất
xã hội hóa này ngày càng cao, và công nhiệp hóa vẫn là cơ sở khách quan để giai cấp công nhân hiện đạiphát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng
Tiếp theo, giống với thế kỷ XIX, một bộ phận công nhân hiện đại vẫn bị giai cấp tư sản và chủ nghĩa
tư bản hiện đại ngày nay bóc lột giá trị thặng dư Chủ nghĩa tư bản mặc dù có những bước phát triển mới,biến đổi về lượng và chất cục bộ, nhưng bản chất bóc lột không hề thay đổi Dựa vào thực tế cho thấy rằng,xung đột về lợi ích cơ bản giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân (giữa tư bản và lao động) vẫn tồn tại,Đồng thời, quy luật giá trị thặng dư ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa vàkinh tế tri thức, song, cơ chế tác động của quy luật này cũng phức tạp hơn, hình thức bóc lột giá trị thặng
dư tinh vi hơn nhiều so với trước đây Phong trào công sản và công nhân ở nhiều nước vẫn luôn là lựclượng đi đầu trong các cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển, vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xãhội và chủ nghĩa xã hội
Từ những nét tương đồng nêu trên giữa giai cấp công nhân hiện nay với giai cấp công nhân truyềnthống từ kế kỷ XIX, có thể khẳng định: Lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong chủ nghĩaMác – Lênin vẫn có giá trị khoa học và cách mạng; đóng vai trò và ý nghĩa to lớn, có nhiệm vụ chỉ đạocuộc đấu tranh cách mạng hiện nay của giai cấp công nhân nói riêng, phong trào công nhân và quần chúnglao đông nói chung, với mục tiêu chống chủ nghĩa tư bản và đưa ra lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩatrong sự phát triển của thế giới hiện nay
Những nét khác biệt và sự biến đổi của giai cấp công nhân hiện nay so với giai cấp công nhân truyền thống
Giai cấp công nhân truyền thống, tức là thời của Mác, vào thế kỉ XIX, khi ông đề xuất lên các họcthuyết của mình, thì những nội dung trong học thuyết phải phù hợp -19- với tình hình xã hội và chính trị tạithời kì đó, phù hợp với giai cấp công nhân thời kì đó Thế nhưng, từ cuối thế kỷ XX trở lại đây, trải quacác cuộc cách mạng công nghiệp, gắn liền cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, giai cấp công nhânngày nay đã mang trong mình những sự biến đổi và khác biệt nhất định để phù hợp và bắt kịp thời đại
Đầu tiên, phải kể đến giai cấp công nhân thời Mác là giai cấp lao động, làm thuê, bị bóc lột và xuất
thân chủ yếu từ nông dân, nông thôn Nhưng khoảng giữa thế kỷ XX trở lại đây, xu thế đô thị hóa và đôngđảo cư dân đô thị đã bổ sung một lượng lớn vào nguồn nhân lực của GCCN khiến cho quá trình đô thị hóatrên thế giới có sự khác biệt so với những thế kỷ trước
Đồng thời, dưới thời đại của sự phát triển kinh tế tri thức, công nhân hiện đại xuất hiện xu hướng trí
tuệ hóa, khác biệt so với giai cấp công nhân ngày trước rằng họ chỉ có thể bán sức lao động của mình đểlấy tiền lương Trình độ mới của sản xuất và dịch vụ cùng cách tổ chức xã hội hiện đại đã làm cơ cấu của
Trang 9giai cấp công nhân hiện đại đa dạng tới mức nội hàm của nó liên tục phải điều chỉnh, mở rộng theo nhiềuhướng như: theo lĩnh vực (công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ); theo trình độ công nghệ “Công nhân áoxanh” - công nhân công nghiệp truyền thống; “Công nhân áo trắng” - công nhân có trình độ đại học, caođẳng, chủ yếu làm công việc điều hành, quản lý sản xuất; “Công nhân áo vàng” - công nhân của các ngànhcông nghệ mới; “Công nhân áo tím” - công nhân dịch vụ - lao động, ví dụ: gác cầu thang, vệ sinh đôthị, ); theo sở hữu tư liệu sản xuất (công nhân có cổ phần và công nhân không có cổ phần); theo chế độchính trị (công nhân ở các nước phát triển theo định hướng XHCN, các nước G7, các nước đang pháttriển, ) Chính vì vậy, đòi hỏi và yêu cầu đề ra đối với giai cấp công nhân hiện nay là phải luôn phát triểncùng với sự phát triển của công nghiệp cách mạng khoa học và công nghệ Nếu vào thế kỉ XIX, khi côngnghệ và khoa học chưa thật sự có những biến chuyển hiện đại, thì với sự phát triển của cách mạng khoahọc như hiện tại đã đề ra những chuẩn mực cao hơn, đòi hỏi giai cấp công nhân phải có trình độ kỹ thuậttốt hơn, chuyên nghiệp hơn.
Điều này đã dẫn đến điểm khác biệt thứ ba, là hao phí lao động hiện đại chủ yếu là hao phí về trí lực
chứ không còn đơn thuần là hao phí sức lực cơ bắp Ngày nay, công nhân được đào tạo có chuẩn mực vàthường xuyên được đào tạo lại, nhằm đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ trong nền sản xuất
Điểm khác biệt thứ tư, chính là tư duy lý luận về văn hóa phát triển, nhận thức về văn hóa của giai
cấp công nhân cũng được nâng lên Từ đó, bên cạnh những nhu cầu về vật chất, nhu cầu về tinh thần vàvăn hóa tinh thần của công nhân cũng ngày càng tăng, phong phú và đa dạng hơn, đòi hỏi chất lượnghưởng thụ tinh thần cao hơn Tính chất xã hội hóa của lao động công nghiệp trong thời đại ngày nay cũngmang nhiều biểu hiện mới: sản xuất công nghiệp trong thế giới toàn cầu hóa đang mở rộng thành “chuỗigiá trị toàn cầu”
Thứ năm, khác với truyền thống, quá trình sản xuất có sự liên kết, mở rộng và vượt khỏi phạm vi
quốc gia – dân tộc, với mô hình lao động đa dạng, mang tính chất quốc tế Trên bình diện thế giới hiện nay,hòa bình, hợp tác cùng phát triển trong môi trường dân chủ, công bằng, bình đẳng đang là xu thế lớn Xuthế ấy tạo điều kiện thuận lợi cho “Cách mạng công nghiệp 4.0”, đồng thời đưa ra thử thách cho giai cấpcông nhân trong giai đoạn hiện nay “Cách mạng công nghiệp 4.0” là một quá trình phát triển của vănminh, có những đóng góp, bổ sung vào nhận thức duy vật lịch sử về các vấn đề trong phát triển Ở phươngdiện xã hội, sát cánh cùng giai cấp sản xuất ra của cải vật chất - giai cấp công nhân, Cùng với sự phát triểncủa “Cách mạng công nghiệp 4.0” và kinh tế sáng tạo, lao động sáng tạo ngày càng chiếm vị trí chủ đạotrong lực lượng lao động xã hội, đặt ra vấn đề nhìn nhận lại vai trò của các giai cấp công nhân xã hội hiệnđại Về phía các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp lãnh đạo và Đảng Cộngsản trở thành Đảng cầm quyền Đó là những biến đổi mới của giai cấp công nhân hiện nay so với giai cấpcông nhân thế giới thế kỷ XIX
*Đặc điểm GCCN thế giới hiện nay
Giai cấp công nhân thế giới hiện nay vẫn là lực lượng sản xuất hàng đầu Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sản sinh ra tình trạng 1 bộ phận công nhân vẫn
bị bóc lột giá trị thặng dư Và họ vẫn không ngừng đấu tranh cho lợi ích của mình, đi đầu trong những phong trào đấu tranh của nhân loại Thông quá quá trình đô thị hóa, giai cấp công nhân đã được bổ sung thành phần, góp phần làm đa dạng hơn xuất thân của họ Trước sự phát triển khoa học – công nghệ mạnh
mẽ của thế kỷ XXI, họ có xu hướng trí tuệ hóa, dẫn đến hao phí lao động hiện đại chủ yếu là hao phí về trí lực Những nhu cầu cũng được tăng lên, đa dạng và phong phú hơn Và với xu thế thế giới hiện nay là hòa bình, hợp tác, và phát triển thì quá trình sản xuất có sự liên kết, mở rộng và vượt khỏi phạm vi quốc gia – dân tộc, với mô hình lao động đa dạng, mang tính chất quốc tế
*Đặc điểm GCCN Việt Nam hiện nay
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lớp công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt nam từ thời kỳ khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ hai (1924 - 1929) Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ
Trang 10phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sauđây:
a) Đặc điểm ra đời và phát triển:
Giai cấp công nhân ra đời vào đầu thế kỉ XX, trước cả sự ra đời của giai cấp tư sản Việt Nam, trựctiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp và bè lũ tay sai của chúng Chính vì vậy, giai cấp công nhân ViệtNam phát triển chậm vì nó sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, dưới ách thống trị củathực dân Pháp
b) Đặc điểm về chính trị
Đây là đặc điểm ưu trội của giai cấp công nhân Việt Nam do chính hoàn cảnh lịch sử mà giai cấpcông nhân ra đời quy định Trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp, giai cấp công nhân đã tự thể hiệnmình là lực lượng chính trị tiên phong để lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải quyết mâu thuẫn
cơ bản giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân và phong kiến thống trị, mở đường cho sự phát triểncủa dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản Tinh thần dân tộc gắn bó mật thiết với nhân dân, với dân tộc
có truyền thống yêu nước, đoàn kết và bất khuất chống xâm lược; trưởng thành nhanh chóng về ý thứcchính trị của giai cấp, sớm giác ngộ lý tưởng, mục tiêu cách mạng Thông qua truyền thống yêu nước vàđoàn kết, cho thấy giai cấp công nhân có phẩm chất tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, vớiĐảng Cộng sản, với lý tưởng, mục tiêu cách mạng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội Giai cấp công nhân
có tinh thần cách mạng triệt để và là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộngsản
c)Giai cấp công nhân Việt Nam gắn bó mật thiết với các tầng lớp nhân dân trong xã hội:
Lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích dân tộc gắn chặt với nhau, tạo thành động lực thúc đẩy đoànkết giai cấp gắn liền với đoàn kết dân tộc Đại bộ phận công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân và cáctầng lớp lao động khác, cùng chung lợi ích, nguyện vọng nên có mối liên hệ tự nhiên, chặt chẽ với giai cấpnông dân và các tầng lớp lao động trong xã hội Những yếu tố này tạo thuận lợi xây dựng khối liên minhgiai cấp với giai cấp công nhân, với đội ngữ trí thức làm nòng cốt trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Những đặc điểm trên bắt nguồn từ lịch sử hình thành và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam với cơ sởkinh tế - xã hội và chính trị ở đầu thế kỉ XX
Ngày nay, những đặc điểm đó đã có những biến đổi do tác động của tình hình trong nước và thế giới.Giai cấp công nhân có những biến đổi từ cơ cấu xã hội – nghề nghiệp, trình độ học vấn, tay nghề, đờisống Đảng Cộng sản đã có quá trình trưởng thành, trở thành Đảng cầm quyền, duy nhất ở Việt Nam,đang nỗ lực đổi mới, nâng cao năng lực… Những nét đổi mới chính:
Giai cấp công nhân Việt Nam tăng nhanh về số lượng và chất lượng, là giai cấp đi đầu trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức bảo vệ tài nguyên và môi trường
Cơ cấu nghề nghiệp đa dạng, có mặt trong mọi thành phần kinh tế nhưng đội ngũ công nhân trong khu vựckinh tế nhà nước là tiêu biểu, chủ đạo Công nhân tri thức, nắm vững khoa học – công nghệ tiên tiến; côngnhân trẻ được đào tạo nghề theo chuẩn nghề nghiệp, được rèn luyện trong thực tiễn; là lực lượng chủ đạotrong cơ cấu giai cấp công nhân, trong lao động và phong trào công đoàn Trước sự phát triển mạnh mẽ củacách mạng công nghiệp lần thứ 4, giai cấp công nhân Việt Nam đứng trước những thời cơ và thách thứcnguy cơ trong phát triển
So sánh đặc điểm GCCN thế giới hiện nay và GCCN Việt Nam hiện nay
Thứ nhất: Về nét tương đồng giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân thế giới
Mang bản chất là giai cấp công nhân, giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân thế giới chắc chắn sẽ có những điểm tương đồng nhất định
Trước hết, cả hai đều giữ vai trò là giai cấp tiên phong của cách mạng Họ đại diện cho lực lượng sản
xuất tiến bộ nhất của thời đại Đồng thời họ còn có hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác dẫn đường, cho nên họ
là lực lượng tiên phong dẫn đường trong các cuộc cách mạng
Một nét tương đồng nữa, là giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để, thể hiện ở chỗ giai
cấp công nhân là lực lượng không có tư liệu sản xuất, nói cách khác là không có gì để mất Nếu đấu tranh thành công thì giai cấp công nhân sẽ phá tan được xiềng xích của mình, còn nếu đấu tranh thất bại, họ sẽ
Trang 11trở về với xiềng xích đó, không hơn không kém Công nhân được xem giai cấp có mục tiêu phải theo đuổi đến tận cùng, không chỉ là xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, mà còn vì xóa bỏ tận gốc chế độ người bóc lột người Giai cấp công nhân nói chung không chỉ vì mục đích giải phóng cho chính họ, mà còn giải phóng toàn thể
xã hội loài người, mong muốn xây dựng hình thái kinh tế xã hội mới thực sự tiến bộ, trong đó đảm bảo tínhbình đẳng, công bằng và con người được phát triển toàn diện
Nét tương đồng tiếp theo giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân thế giới chính là
họ có tính tổ chức và kỷ luật cao Tính tổ chức và kỷ luật của giai cấp công nhân được xây dựng, rèn giũa bởi chính dây chuyền lao động mang tính chất công nghiệp của chủ nghĩa tư bản, mỗi người chỉ đảm nhận một mắt khâu trong toàn bộ dây chuyền: họ phải đúng giờ, có sản phẩm và sản phẩm đó phải có giá trị (một mắt khâu mà dừng, một mắt khâu mà vô kỷ luật, vô tổ chức thì không thể đảm bảo toàn bộ dây
chuyền được hoạt động tốt), điều này trái ngược với đặc tính của các ngành nghề, các tầng lớp khác như nông dân hay trí thức
Cuối cùng, giai cấp công nhân có bản chất quốc tế Giai cấp tư sản không chỉ dừng lại ở biên giới
quốc gia cụ thể nào, mà nó đã mang tính tập đoàn Thậm chí chủ nghĩa tư bản sau khi phát triển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, thì hình thành các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, có sự liên kết toàn cầu Vậy không lý do gì để chống lại giai cấp tư sản, chống lại chủ nghĩa tư bản mà giai cấp công nhân không có sự liên kết trên toàn cầu Đặc biệt chủ nghĩ tư bản vô cùng mạnh, vì thế để chống lại chủ nghĩa tư bản thì giai cấp công nhân phải có tình thần đoàn kết quốc tế thì may chăng mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình
Thứ hai, Về những nét khác biệt giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân thế giới Nét khác biệt đầu tiên, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp đã cùng nhân dân lao động làm chủ
những tư liệu sản xuất và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ, họ không bị giai cấp tư sản bóc lột Trong khi giai cấp công nhân thế giới là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giaicấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư
Tiếp đến, xét đến thời điểm ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn vào cuối TK XIX và
chiếm tỷ lệ ít trong thành phần dân cư, đa số xuất thân từ nông dân, có mối liên hệ máu thịt với nhân dân Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, một “chủ nghĩa tư bản thực lợi” không quan tâm mấy đến phát triển công nghiệp, nên giai cấp công nhân Việt Nam phát triển chậm
Bên cạnh đó, giai cấp công nhân thế giới ra đời ra đời sớm hơn, vào cuối TK XVIII, chiếm lực lượng
đông đảo, xuất thân là những nông dân bị mất đất hoặc là những thợ thủ công bị phá sản và phải đi làm thuê, ra đời và phát triển gắn liền với sự bị bóc lột và áp bức vô cùng nặng nề của GCTS Chính vì vậy giai cấp công nhân phát triển nhanh và mạnh mẽ
Hoàn cảnh ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân thế giới cũng có nét khác
biệt Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một Điều này khiến cho động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội Có thể nói, giai cấp công nhân Việt Nam luôn đấu tranh với mục đích hướng về quyền lợi cộng đồng Còn cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế thì lại hướng tới mục đích đòi quyền lợi cá nhân, và quyền lợi giai cấp Nếu các phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế diễn ra thiếu sự lãnh đạo đúng đắn và đường lối chính trị rời rạc, thì giai cấp công nhân Việt Nam ra đời lại có Đảng lãnh đạo nên luôn giữ vững được tinh thần đoàn kết thống nhất và giữ vững vai trò lãnh đạo của mình Kế thừa được truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cười của dân tộc mà giai cấp công nhân nước ta luôn tỏ rõ là một giaicấp
Nét khác biệt tiếp theo, giai cấp công nhân Việt Nam có xu hướng gia tăng về số lượng, cả ở bộ phận
công nhân công nghiệp truyền thống, cả ở bộ phận công nhân làm việc trong các lĩnh vực sản xuất mới, lĩnh vực công nghệ cao Chỉ có lĩnh vực công nghiệp có xu hướng ngày càng mở rộng Giai cấp công nhân thế giới có xu hướng giảm về số lượng, thay thế bằng công nghệ hiện đại và máy móc, thay thế công việc thủ công bằng công việc máy móc Lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp dần thu hẹp lại, lĩnh vực dịch vụ được mở rộng Điều này được các nhà nghiên cứu xã hội học lý giải do vùng kinh tế đang phát triển (bao
Trang 12gồm Việt Nam) đang trong quá trình công nghiệp hóa (còn vùng kinh tế tại các các nước phát triển trên thế giới đã hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, chuyển các ngành công nghiệp truyền thống, sử dụng nhiều lao động sang khu vực các vùng kinh tế đang phát triển), đang thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là củacác vùng kinh tế đang phát triển
Tổng kết lại, dù có những nét tương đồng hay khác biệt thì giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp
công nhân thế giới vẫn mang trong mình những nhiệm vụ và sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng, cao cả, giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển của một quốc gia, một đất nước
B.LIÊN HỆ VIỆT NAM
* Quan điểm, chính sách của ĐCSVN về việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (Đại hội) – 2 Đại hội
*Quan điểm của ĐCSVN về việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (Đại hội)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ĐCSVN có những bước tiến mới trong nhận thức, lý luận
về GCCN trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN và hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội lần thứ IX khẳng định: “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn vè kinh tế, xã hội Mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích GCCN thống nhất với lợi ích toàn dân tộc”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Coi trọng giữ vững bản chất giai cấp
công nhân và các nguyên tắc sinh hoạt của Đảng” Đồng thời, “Chú trọng xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ mới”.Đảng và Nhà nước phải “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nhà ở, các công trình phúc lợi phục
vụ cho công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
…để bảo về quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân”
*Chính sách của ĐCSVN về việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Định hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ mới: Một là, kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam
Hai là, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh của
liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, của tất
cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết dân tộc Ba là, thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế Bốn là, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng trí thức hóa giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược Năm là, xây dựng giai cấpcông nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động
Kết luận: Tóm lại, qua việc phân tích, trình bày nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử Vì vậy hiểu rõ về giai cấp công nhân, đặc biệt hiểu rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là điều hết sức quan trọng trong nhận thức mỗi chúng ta, từ đó giúp mỗi người có một cái nhìn, một nhận thức đúng đắn hơn
Trang 13trong từng giai cấp xã hội nói chung cũng như giai cấp công nhân nói riêng, để qua đó mỗi người cần nỗ lực nâng cao ý thức trách nhiệm về giai cấp công nhân cũng như nâng cao tri thức bản thân.
Trong tình hình xã hội nước ta hiện nay, Đảng và nhà nước ta đang cố gắng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời Đảng và nhà nước đã và đang nâng cao trình độ giai cấp công nhân để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới Để nâng cao trình độ nhận thức mỗi người dân nước ta cũng như giai cấp công nhân Việt Nam thì vấn đề cấp thiết là tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đường lối chính sách của Đảng và nhà nước
để mỗi người có cái nhìn tổng quan và đúng đắn hơn
Câu 2: Quan điểm về hình thái KT-XH CSCN, nhất là thời kì quá độ và đặc trưng của CNXH Liên hệ thời kì quá độ và đặc trưng CNXH ở VN
Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử do C Mác xây dựng nên Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác Lý luận đó đã
được thừa nhận lý luận khoa học và là phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu
lĩnh vực xã hội Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài
người, Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội,
chỉ rõ được bản chất của từng chế độ xã hội Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một
cách đứng đắn và khoa học sự vận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định
cũng như tiến trình vận động lịch sử chung của xã hội loài người Trong thực tiễn, Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở bám sát tư tưởng Mác- Lênin và đặc biệt là
việc vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào công cuộc xây dựng đất nước,
việc vạch ra những mối liên hệ hợp quy luật và đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo thực
hiện thành công công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam thành một đất nước giàu
mạnh, xã hội công bằng văn minh cũng là một nhiệm vụ thực tiễn đang đặt ra
Chính vì những lý do trên việc nghiên cứu đề tài: “Sự vận dụng học thuyết
hình thái kinh tế xã hội vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” thực
sự mang tính cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về thực tế và lí luận
A.LÝ LUẬN CHUNG
*Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội:
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử để chỉ xã hội ở từng giai đoạnphát triển lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độnhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy Hình thái kinh tế - xã hội có cấu trúc phức tạp, mỗi yếu tố có vị trí, chức năng riêng vàluôn tác động qua lại lẫn nhau Hình thái kinh tế - xã hội gồm ba mặt cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
*Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa:
Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội: Là một phạm trù của duy vật lịch sử (hay còn gọi và chủ nghĩa biện chứng về xã hội) dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng của xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc
thượng tầng tương ứng xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó Nó chính là các xã hội cụ thể được tạo
thành từ sự thống nhất biện chứng giữa các mặt trong đời sống xã hội và tồn tại trong từng giai đoạn lịch
sử nhất định
Trang 14Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa: Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
là hình thái phát triển cao nhất hiện nay, kết tinh của văn minh nhân loại, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những giá trị của hình thái kinh tế - xã hội trước đó với đặc trưng cơ bản là có quan hệ sản xuất dựa tren sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, thích ứng với lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tạo thành cơ sở
hạ tầng có trình độ cao hơn so với cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản; có kiến trúc thượcng tầng tương ứngthực sự là của nhân dân với trình độ xã hội hóa ngày càng cao
Cũng như mọi hình thái kinh tế - xã hội khác, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có quá trình phát triển từ thấp đến cao do sự trưởng thành về kinh tế và các quan hệ xã hội phù hợp, thể hiện ở từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau, kế tiếp và thống nhất với nhau
b Các điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa:
Sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là hợp quy luật Sự thay thế đó có nguồn gốc kinh tế- xã hội sâu xa, đó là miếng đất hiện thực tư bản chủ nghĩa
Những điều kiên cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa:
- Thứ nhất, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển, dựa trên sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại làm cho lực lượng sản xuất phát triển không ngừng với trình độ xã hội hóa ngày càng cao, vượt khỏi giới hạn chật hẹp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn này dẫn đến mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản
- Thứ hai, trong xã hội tư bản chủ nghĩa có hai giai cấp cơ bản, tiêu biểu nhất, đối lập nhau về lợi ích cơ bản, đó là giai cấp công nhân đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa ngày càng cao và giai cấp tư sản thống trị xã hội đại biểu cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Hai giai cấp này mâu thuẫn với nhau ngày càng rõ rệt, sâu sắc và gay gắt Các cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản áp bức, bóc lột phát triển từ thấp đến cao
- Thứ ba, trong xã hội tư bản chủ nghĩa xuất hiện những tai họa cho cả giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cho cả nhân loại cũng như môi trường thiên nhiên (áp bức, bóc lột, bất công, phân hóa giàu nghèo,phân biệt chủng tộc, chiến tranh xâm lược, lối sống văn hóa, đạo đức suy đồi, tệ nạn xã hội phức tạp, ô nhiễm môi trường…)
Đến khi xuất hiện những tình thế, thời cơ, tạo ra những điều kiện cần và đủ thì cách mạng xã hội chủ nghĩa
nổ ra Cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và thắng lợi sẽ mở đầu cho sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, có những nước tư bản chủ nghĩa mới ở trình độ trung bình và những nước chưa qua chủ nghĩa tư bản cũng có thể nổ ra cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
để bước sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
Vậy, những điều kiện để những nước tư bản chủ nghĩa trung bình và những nước chưa qua chủ nghĩa tư bản lên hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa là:
- Một là, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc gây chiến tranh xâm lược các thuộc địa, gây tai họa cho hàng trăm quốc gia dân tộc, làm xuất hiện những mâu thuẫn cơ bản và gay gắt của thời đại mới:+ Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản
+ Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc xâm lược với các quốc gia dân tộc thuộc địa, phụ thuộc
+ Mâu thuẫn giữa các nước tư bản – đế quốc với nhau
+ Ở hàng trăm nước nông nghiệp, vẫn còn mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, tư sản với nông dân, trong
đó nổi lên mâu thuẫn giữa tư bản – đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai phong kiến với cả dân tộc bị áp bức, bóc lột, mất độc lập tự do
Trang 15- Hai là có những tác động toàn cầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của học thuyết Mác – Lênin … thức tỉnh các dân tộc vùng lên giành độc lập dân tộc Nhiều nước sau khi giành được độc lập dân tộc đã chọn con đường phát triển đi lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
*Hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa gồm những giai đoạn nào?
*Quá độ là gì? Có mấy hình thức quá độ?
*Các đặc trưng cơ bản của CNXH :
đã đạt tới trình độ xã hội hóa rất cao Tuy nhiên, chưa đủ khả năng tạo ra sự thịnh vượng cho toàn xã hội Chủ nghĩa xã hội với mục tiêu hướng đến sự thịnh vượng và đáp ứng nhu cầu về phúc lợi ngày càng cao cho toàn thể nhân dân thì càng không có cách nào khác là phải tạo ra một lực lượng sản xuất có trình độ cao hơn hẳn lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa
Theo chủ nghĩa Mác Lênin, đối với một số quốc gia đi lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nền kinh
tế tư bản phát triển trung bình hoặc " Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" thì việc tạo ra một nền kinh tế có trình độ phát triển cao trong một thời gian ngắn không phải là dễ dàng Đòi hỏi Đảng Cộng Sản và công nhân tại các quốc gia này phải biết cách sử dụng "Các bước đi quá độ" thích hợp, không loại trừ khả năng
sử dụng và tiếp tục duy trì các quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa Để tạo ra bước đột phá cho việc tạo ra mộtlực lượng sản xuất tiên tiến ở các giai cấp tiếp theo V.I.Lênin đưa ra công thức về "Chủ nghĩa xã hội":
"Chính quyền Xô viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ-rớt+ ngành giáo dục quốcdân Mỹ etc etc ++ = (tổng số) = Chủ nghĩa xã hội"
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mỗi chế độ xã hội đều có một cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của nó Nếu công cụ thủ công là đặc trưng cho cơ sở vật chất – kỹ thuật của các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa thì nền đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất của CNTB Xã hội xã hội chủ nghĩa này sinh với tính cách là phủ nhận biện chứng chủ nghĩa tư bản, thì cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải là nền đại công nghiệp phát triển và hoàn thiện trên một trình độ cao của nó
Hai là, t ừng bước xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa đồng thời thiết lập chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Trang 16C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhắc nhở: trong quá trình thực hiện "sứ mệnh lịch sử" của mình, giai cấp
vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để "từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp
tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước" hoặc: giai cấp vô sản "phải chiến lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu nhà nước" đây là điều kiện tiên quyết để giải phóng người lao động ra khỏi các quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa, đồng thời cũng là tiền đề quan trọng để thực hiện tổ chức quản lý sản xuất và thực hiện phân phối công bằng trong chế độ mới Điều đó có nghĩa là "chủ nghĩa xã hội xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân nhưng quyền sở hữu cá nhân vẫn được tôn trọng Mặc dù thừa nhận việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân để thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu dưới chủ nghĩa xã hội song C Mác và Ph Ăng-ghen cho rằng: Do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa từ lâu vốn là một trong những động lực quan trọng cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nên việc xóa bỏ nó ngay lập tức là không thể mà phải "kinh qua một quá trình rất khó khăn và lâu dài tronghiện thực" Sau này, V.I.Lênin cũng cho rằng Chủ nghĩa xã hội là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, "từ chủ nghĩa tư bản, nhân loại chỉ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nghĩa là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất và chế độ phân phối theo lao động của mỗi người" Đặc biệt, bài học từ thực tiễn của cách mạng Nga, V.I.Lênin cho rằng: với các quốc gia trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm của nền kinh tế còn ở trình độ thấp thì việc thiết lập ngay chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chưa thể thực hiện ngay Trái lại, trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ có thể thực hiện chế độ kinh tế nhiều thành phần Thậm chí, trong những trường hợp cần thiết vẫn phải "kết hợp, liên hợp, phối hợp giữa nhà nước Xô viết - nền chuyên chính vô sản với chủ nghĩa tư bản", nhưng kinh tế tập thể và Nhà nước vẫnphải đóng vai trò chủ đạo
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen đã cho rằng thủ tiêu chế độ
tư hữu là cách tốt nhất, tổng quát nhất về thực chất của cuộc cải tạo xã hội theo lập trường của giai cấp vô sản Tuy nhiên, đặc trưng của chủ nghĩa công sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xóa
bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa
Theo Ăngghen, việc thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất sẽ dẫn đến việc thủ tiêu nên sản xuất hàng hóa, nền kinh tế còn có kế hoạch trên quy mô toàn xã hội sẽđược thiết lập
Ba là, t ạo ra cách thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới với năng suất cao
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, khi đạt tới xã hội chủ nghĩa, tư liệu sản xuất đã mang tính xã hội hóa,không còn chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đòi hỏi việc tổ chức vận hành và quản lý nền sản xuất mới này phải hết sức khoa học, chặt chẽ và hiệu quả cao nếu không sẽ tạo ra một sự lãng phí nguồn lực và suy giảm
về động lực thúc đẩy phát triển dưới chủ nghĩa xã hội muốn vậy chủ nghĩa xã hội cần phải tạo ra một cách
Trang 17thức tổ chức lao động và kỷ luật mới cho người lao động với năng suất cao Quan niệm về kỷ luật lao động mới không đồng nghĩa với việc tăng cường khả năng, kiểm tra, kiểm soát đối với người lao động Trái lại, cách thức lao động mới của người lao động dưới chủ nghĩa xã hội dựa trên tinh thần hăng say tự giác và sáng tạo Quá trình tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới phải tạo ra cho người lao động hiểu rằng: lao động của họ giờ đây không còn là sự cưỡng bức hay lao động "tự tha hóa" Trái lại, hoạt động lao động trong xã hội mới đối với mỗi người dưới đây thực sự là lao động "Vì mình", lao động "cho mình", lao động
là vinh quang
Để có được cách tổ chức lao động mới với ý nghĩa lao động, tự giác sáng tạo đối với bản thân mỗi người lao động thì cần phải thực hiện chế độ kiểm kê, kiểm soát toàn dân Điều này, đặc biệt có ý nghĩa đốivới việc tổ chức quản lý và vận hành nền kinh tế trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội.Chủ đưa ra một hình thức tổ chức lao động nghĩa xã hội sẽ tạo ra một năng suất lao động cao hơn cả nhờ việc đưa ra một hình thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới theo nguyên tắc tự giác, tự nguyện xong có sự kiểm, kiểm soát toàn dân đối với việc sản xuất và phân phối sản phẩm đảm bảo lợi ích của đa số người lao động.Trong sự nghiệp kiến thiết chế độ xã hội mới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học rất quan tâm và coi trọng việc tổ chức lao động và kỷ luật lao động nhằm khắc phục những tàn dư của tình trạng lao động bị tha hóa trong xã hội cũ, xây dựng thái độ lao động mới phù hợp với địa vị làm chủ của người lao động Các ông nhấn mạnh rằng chỉ có tổ chức hết sức chặt chẽ và kỷ luật lao động nghiêm ngặt mới dẫn tới chủ nghĩa xã hội Theo các ông, lao động được tổ chức có kế hoạch và kỷ luật tự giác, tự nguyện là đặc trưng của xã hội chủ nghĩa
Bốn là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động - nguyên tắc cơ bản nhất.
Trong giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa nền sản xuất chua phát triển đến mức đủ sức thỏa mãn nhu câu của tất cả mọi thành viên trong xã hội nên nguyên tắc phân phối của cải trong giai đoạn này chủ yếu
vào kết quả lao động làm theo năng lực, hưởng theo lao động Đây là hình thức căn bản của chủ nghĩa xã
hội, là nguyên tắc phân phối chủ yếu, thích hợp nhất với các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất
Lao động trở thành động lực và cơ sở quyết định địa vị và phúc lợi vật chất của mỗi người Nó đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách của sự công bằng xã hội Nó kết hợp được chặt chẽ lợi ích của sản xuất với lợi ích của cá nhân lao động, khuyến khích người lao động đầu tư cho chuyên môn, thúc đẩy người lao động ra sức học tập kỹ thuật, văn hóa Góp phần giáo dục về quan điểm, thái độ và kỷ luật lao động đối vớimỗi thành viên xã hội Banr thân người lao động sẽ vì lợi ích của bản thân mà quan tâm đến kết quả lao động, từ đó ra sức sản xuất
Trang 18Theo nguyên tắc này, mỗi người sản xuất sẽ được nhận từ xã hội một lượng sản phẩm tiêu dùng trị giá ngang số lượng, chất lượng và hiệu quả lao động mà họ đã cung cấp cho xã hội, sau khi đã trừ đi một
số khoản đóng góp nhất định cho hoạt động vì lợi ích chung Trong chủ nghĩa xã hội còn sử dụng nguyên tắc này, bởi vì trong xã hội đó, của cải làm ra chưa đạt tới mức thật dồi dào như trong chủ nghĩa cộng sản
Năm là, chủ nghĩa xã hôi dân chủ, nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa mang bản chất của giai cấp công nhân vừa mang tính nhân dân rộng rãi.
C Mác và Ăngghen đã chỉ rõ “ bước thứ nhất trong cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ” Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga Xô Viết, Lênin đã khẳng định tính ưu việt của chế độ dân chủ vô sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính ưu việt của chính quyền Xô Viết, một hình thức của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện trướchết nó là một công cụ để bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân Lợi ích của giai cấp công nhân cơ bản là lợiích của công nhân lao động, do vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa còn mang tính nhân dân rộng rãi Xây dựng “Nhà nước kiểu mới’ cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
I Nhà nước do ĐCS lãnh đạo vì nhà nước chỉ là công cụ để thực thi đường lối chính trị của Đảng cầm quyền thông qua việc thể chế hóa đường lối chính trị đó và tổ chức thực hiện nó
II Xây dựng bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, tính giản, tổ chức khoa học, hoạt động hiệu quả và tiết kiệm theo nguyên tắc “thà ít mà tốt’ tức là coi trọng chất lượng, không chạy đua theo số lượng
III Cải cách nhà nước phải thể hiện tính cơ bản, tình hệ thống chặt chẽ, chính quy về nguyên tắc và
về tổ chức, không được nóng vội trên cơ sở đó phát huy tính năng động và sáng tạo của bộ máy nhà nước
và viên chức nhà nước trong thực tiễn
Bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi của nhà nước là thực tiễn sinh động để các Đảng Cộng sản trên thế giỏi tham khảo, vận dụng vào xây dựng nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác–Lênin đã đề cập tới khái niệm chuyên chính vô sản khi xác định bản chất, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước kiểu mới – nhà nước được xác lập do thắng lợi của cách mạng
xã hội chủ nghĩa Thực chất của chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp công nhânđối với Nhà nước và toàn xã hội nhằm bảo vệ và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền dân chủ thuộc về tay nhân dân, trước hết là nhân dân lao động
Sáu là, mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng và phát triển con người.
Trang 19Là một trong những học thuyết vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại, ngay từ khi mới ra đời học thuyết Mác đã đặt ra mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa như Ăngghen đã khẳng định là giải phóng con người Chủ nghĩa Mác- Lênin đề ra mục tiêu cụ thể của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là phải đâu tranh “xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này đi bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, chủ nghĩa xã hội chính là đích đến của những con người tự do Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới làm cho “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sựphát triển tự do của mọi người” Đây là mục đích tự thân của lịch sử mà chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản sẽ đạt tới trong một tiến trình hết sức lâu dài Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện Nhờ xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất cơ bản khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến mức cho phép thực hiện được, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản sẽ loại bỏ tai họa lớn nhất của loài người: tình trạng người bóc lột người, tình trạng nô dịch và áp bức dân tộc; thực hiện được sự công bằng, bình đẳng xã hội, trước hết là bình đẳng về địa vị xã hội của con người Chủ nghĩa xã hội tạo ra
sự bình đẳng nam – nữ, thưc hiện mối quan hệ bình đẳng và hữu nghị giữa các dân tộc Trên cơ sở toàn bộ những cải biến xã hội lịch sử nói trên, chủ nghĩa xã hội tạo ra những điều kiện để từng bước tiến đến giải phóng triệt để con người Ngoài các đặc trưng cơ bản trên chủ nghĩa xã hội còn có các đặc trưng khác như
về văn hóa, xã hội, quan hệ giữa các dân tộc trong nước và quốc tế
B.LIÊN HỆ VIỆT NAM
*Quá độ trực tiếp hay quá độ gián tiếp? Vì sao?
*Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Căn cứ vào lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh cho rằng
do tính chất và đặc điểm của đất nước, Việt Nam muốn đi lên XHCN tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ với đặc điểm to nhất: “…là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn của tư bản chủ nghĩa” Từ Hội nghị Trung ương 1 Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930) đến Hội nghị Trung ương 9 khóa VI Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 8-1990), thời kỳ quá độ luôn được xác định là: “do được các nước XHCN giúp đỡ, nên bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN”, tức là nửa trực tiếp Đại hội II Đảng Lao động Việt Nam (tháng 02-1951) nêu rõ: TKQĐ ở Việt Nam có điểm xuất phát thấp hơn, cho nên lâu dài, khó khăn hơn Với đặc điểm như thế, Hồ Chí Minh cho rằng “xây dựng CNXH
là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”
Xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu là một công việc hết sức mới mẻ đối với Đảng, với Nhà nước và đối với cả nhân dân Vì vậy Hồ Chí Minh cho rằng: tiến lên CNXH không phải muốn mà tức khắc có, không thể một sớm một chiều là có thể giải quyết xong những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, phức tạp mà CNXH đặt ra Người căn dặn: phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng cách đi, cách làm cho phù hợp với nước mình, đồng thời phải học tập kinh nghiệm của các nước anh em nhưng không được sao chép máy móc, phải độc lập sáng tạo, không được làm bừa, làm ẩu
Trang 20Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, trong thời kỳ kháng chiến, Đảng ta đã chỉ đạo nhiệm vụ cách mạng của hai miền Nam Bắc có sự khác nhau Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc nhân chủ nhân dân, thống nhất nước nhà Nhờ đó, những thành tựu của miền Bắc đã thật sự xứng đáng là hậu phương vững chắc của miền Nam và có vai trò quyết định trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Đất nước thống nhất, cả nước bước bước vào thời
kỳ quá độ đi lên CNXH, vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về thời kỳ quá độ lên CNXH ở “những nước tiểu nông”, Đảng và nhân dân ta đã có những thành quả ban đầu trong xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan ,chủ quan dẫn đến khủng hoảng nghiệm trọng về kinh
tế - xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỉ XX Nguyên nhân chủ quan: sau khi thống nhất đất nước, do hậu quả từ chiến tranh khiến bước đầu khôi phục lại đất nước gặp nhiều khó khăn Thế nhưng bình yên chưa được bao lâu thì ngay trong năm 1975 Việt Nam ta lại phải đối phó với tập đoàn diệt chủng Khơ-me đỏ (đứng đầu là Polpot) nhiều lần gây hấn, tấn công tàn bạo biên giới phía Tây Nam Sau khi giúp đỡ Hunsen lật đổ chế độ Khơ-me đỏ tháng 1/1979 thì Trung Quốc (cùng với Mỹ và các quốc gia khác hỗ trợ cho Khơ-me đỏ) đã tiến hành gây hấn, tấn công vào biên giới phía Bắc nước ta, khiến cho Việt Nam vốn đang phải vừa khôi phục đất nước vừa dồn lực phản công Khơ-me đỏ chịu nhiều thiệt hại nặng nề, nhất là về kinh tế cùng với những mất mát về người và vật chất bị tàn phá trong cuộc chiến Ngoài
ra trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995, Việt Nam đang trong tình trạng bị cấm vận kinh tế và căng thẳng với Trung Quốc Những điều này cũng đã ảnh hưởng lớn khiến thời kỳ quá độ của Việt Nam tiến lên XHCN gặp rất nhiều khó khăn Nguyên nhân chủ quan đến từ tình trạng tham nhũng, các chính sách kinh
tế không hợp lý, không theo kịp thời đại mới, cào bằng,… cũng đã khiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng Hậu quả là từ năm 1976 - 1986, tăng trưởng kinh tế thấp thậm chí xuống mức âm, lạm phát phi mã kéo dài,cán cân thanh toán mất cân đối, tỷ lệ thất nghiệp cao, chất lượng sống của nhân dân đi xuống khiến sự bất mãn trong xã hội tăng lên, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam sa sút
Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện cho đất nước Đảng ta đã xác định: “Thời kỳ quá độ ở nước ta, do tiến thẳng lên CNXH từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn Đó là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng từ kiến trúc thượng tầng” Vì vậy, thời kỳ quá độ ở nước
ta nhất thiết phải trải qua nhiều bước, nhiều chặng đường phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hộiđan xen, trung gian, quá độ Tránh khỏi những sai lầm trong chính sách, rút kinh nghiệm từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước CNXH Đông Âu (trong quá trình hình thành và phát triển, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt những thành tựu to lớn về nhiều mặt, từng là chỗ dựa cho phong trào hoà bình vàcách mạng thế giới, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
Trang 21bộ xã hội Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, nhưng một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi phục
Sau mười năm đổi mới (1996) nước ta đã rút ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của chặng đường đầu thời kỳ quá độ, đất nước chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở cửa và hội nhập với thế giới
Thực hiện bước quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay bên cạnh những yếu tố thuận như nhân loại
đã chuyển sang cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 từ đó tạo ra sự tác động rất lớn thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất, xu thế “toàn cầu hoá” đang tạo cơ hội để cho nền kinh tế của nhiều quốc gia có cơ hội để vươn lên, quá trình đổi mới với chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hội nhập quốc tế,… thì chúng ta còn gặp nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật còn tương đối nghèo nàn, lạc hậu, các chính sách chưa thay đổi để phù hợp với thời đại,… Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến tự chuyển hoá” trong nội bộ, đấu tranh quyết liệt chống lại “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, chống phá Tất cả những vấn đề trên càng cho thấy “tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp” của thời kỳ quá độ lên CNXH như Lênin đã chỉ ra
*Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Căn cứ vào tình hình cụ thể của đất nước và những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta đã xác định những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở VIệt Nam mà chúng ta sẽ xây dựng là:
- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
- Do nhân dân lao động làm chủ
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển
- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạp
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới
Kết luận: Những thành tựu mà công cuộc đổi mới mang lại đã chứng minh cho sự đúng
đắn của quy luật phát triển trong việc dụng hình thái kinh tế - xã hội Xây dựng chủ
Trang 22nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tạo nên sự biến đổi về chất của xã hội
trong tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn và lâu dài Do vậy phải trải qua một
thời kì quá độ lâu dài vời nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội
Câu 3: Quan điểm về dân chủ, nhà nước XHCN Liên hệ VN
A.LÝ LUẬN CHUNG
*Khái niệm dân chủ (quan điểm của chủ Chủ nghĩa Mác - Lênin)
Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của quá trình đấu tranh cho hạnh phúc và tương lai của con người
Từ thuở xa xưa, con người đã luôn có khát vọng vươn tới một cuộc sống tốt đẹp cho con người, vì con người và do con người – đó chính là dân chủ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dân chủ, tuy nhiên theo chủ nghĩa Mác – Lênin, đã nhìn nhận dân chủ trên những phương diện sau:
Trên phương diện chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị , dân chủ là hình thức hay hình thái nhà
nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ Nó luôn gắn với một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền mà ở đó không có “dân chủ phi giai cấp” “dân chủ chung chung”
Trên phương diện quyền lực , dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ đất nước Lợi
ích của nhân dân trong mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội sẽ đảm bảo được thực hiện khi quyền lực nhà nước thuộc quyền sở hữu của nhân dân lao động
Trên phương diện tổ chức và quản lí xã hội , dân chủ là một nguyên tắc - nguyên tắc dân chủ Sự kết
hợp giữa nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc tập trung đã hình thành nên nguyên tắc tập trung dân chủ trong
tổ chức và quản lí xã hội Đây là nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp trên với việc mở rộng dân chủ cho cấp dưới, đảm bảo nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lí nhà nước, thiết lập được trật tự xã hội
Trên phương diện tư tưởng , dân chủ là một quan niệm - quan niệm về dân chủ, về tinh thần dân chủ.
Nó được thể hiện trong thực tiễn đời sống xã hội trên toàn phương diện trong đời sống, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội thông qua sự quy định của các điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội hay bối cảnh lịch sử
đã được đặt trước đó
Dân chủ được coi là mục tiêu, là tiền đề, cũng là phương tiện để vươn tới tự do, giải phóng con người, giai cấp và xã hội Dân chủ là quyền lực của nhân dân được thực hiện bởi những tổ chức tự quản một cách tự nguyện, theo truyền thống đã chuyển sang một hình thức mới gắn liền với nhà nước Từ đây dân chủ được thể chế hóa bằng chế độ nhà nước, bằng pháp luật Và vì gắn liền với nhà nước như thế, nên khi nhà nước tiêu vong, dân chủ cũng sẽ bị mất đi Nhưng khi xem dân chủ với tư cách một giá trị xã hội,
nó lại là một phạm trù vĩnh viễn, tồn tại và phát triển cũng với xã hội loài người
* Khái niệm Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trang 23Trên cơ sở thực tiễn quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của các nền dân chủ trong lịch sử, đặc biệt là nền dân chủ tư sản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định rằng: Đấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài, phức tạp và không thể dừng lại ở dân chủ tư sản Vì đấy, tất yếu ra đời một nền dân chủ mới song với sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ, đó chính là nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, hay còn gọi là dân chủ vô sản.
Thực chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được hình thành sơ khai từ các cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp
và Công xã Paris năm 1871 Cho đến khi cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động giành lại được chính quyền, lập nên Nhà nước xã hội chủ nghĩa và lãnh đạo nó thông qua chính đảng của mình, thiếp lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để thực hiện quyền lực của nhân dân Sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu một bước phát triển mới về chất của dân chủ Những điều kiện cần thiết mà cách mạng xã hội chủ nghĩa mang lại đã giải phóng nhân dân lao động,
mở rộng dân chủ và lôi cuốn quần chúng vào công cuộc cải tạo xã hội, xây dựng nền dân chủ mới, không những kế thừa từ những giá trị của các nền dân chủ trước đó mà quá trình phát triển của nó còn thu nạp và làm sâu sắc thêm những giá trị mới của nền dân chủ mới
Theo C.Mác và Ăngghen, dân chủ là sản phẩm tiến hóa, là nhu cầu khách quan của con người, nên sau khi giành được chính quyền, nhiệm vụ của cách mạng vô sản là sử dụng có hiệu quả quyền lực nhà nước để hình thành nên một xã hội mà ở đó, nhân dân được nắm giữ toàn bộ quyền làm chủ trong tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Một chế độ dân chủ thể hiện chủ yếu qua nhà nước thì khi đó không có “dân chủ phi giai cấp”, “dân chủ chung chung” hay “dân chủ thuần túy” Ngược lại, Lênin đã nhấn mạnh, mỗi chế độ dân chủ gắn liền với nhà nước đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội và phân biệt dân chủ vô sản với các nền dân chủ trước đó như dân chủ nô lệ, dân chủ tư sản ở chỗ, dân chủ vô sản là chế độ thống trị của đa số với thiểu số,
vì lợi ích của đa số
V.I.Lenin cho rằng, cuộc đấu tranh cho dân chủ với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội luôn gắn liền với nhau Sự phát triển của nền dân chủ vô sản sau các cuộc đấu tranh cho dân chủ là tiền đề cho thắng lợi triệt
để của cách mạng vô sản, hoàn toàn của mục tiêu chủ nghĩa xã hội Không có các cuộc đấu tranh cho dân chủ thì cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản cũng không thể hoàn thành
Ở nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động được thực sự là người chủ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Toàn bộ quyền lực được sử dụng để điều hành và quản lí nhà nước đều là
do nhân dân nắm giữ Dân chủ trong chủ nghĩa xã hội trở thành giá trị phổ biến, bao quát tất cả các mặt của đời sống xã hội Từ đây, “xóa bỏ giai cấp” dần được định hướng rõ rệt, thức đẩy và phát huy cao độ
tính tích cực, sáng tạo của quần chúng nhân dân, để nhân dân tham gia vào công việc quản lý nhà nước,
Trang 24quản lý và phát triển xã hội “Với việc phát triển chế độ dân chủ một cách đầy đủ, nghĩa là với việc làm cho toàn thể quần chúng nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi vào mọi công việc quản lý nhà nước” (V.I.Lenin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Moscow, 1981, t30, trang 93)
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cần và phải mở rộng dân chủ với đông đảo quần chúng nhân dân, song song với đó, kiên quyết hạn chế dân chủ và đấu tranh chống mọi hành vi vi phạm giá trị dân chủ Trong nền dân chủ này, chuyên chính bảo vệ và phát triển thành quả dân chủ của nhân dân, hai yêu tố này tự quy định, tác động, bổ sung cho nhau Vì sự cần thiết phải xử lý kịp thời, đúng đắn các hành vi gây ảnh hưởng
xấu đến quyền dân chủ của nhân dân, pháp luật ra đời từ đây Dân chủ và pháp luật có mối quan hệ biện
chứng, là điều kiện, tiền đề để tồn tại, phát triển của nhau
Dưới sự lãnh đạo của Đảng dựa trên chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhìn chung, quần chúng nhân dân có tính tự giác cao, trình độ giác ngộ chính trị và trình độ văn hóa dân chủ cao Khi
đó, nhân dân đấu tranh mới có hiệu quả trong việc chống lại những giá trị và chuẩn mực đi ngược với lợi ích nhân dân
Ta rút được khái niệm: dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mà ở đó mọi quyền lực đều thuộc
về nhân dân; dân là chủ và dân làm chủ; pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng; được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; và trải đều ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Trong quá trình hình thành và phát triển, dân chủ xã hội chủ nghĩa có những bản chất cơ bản sau đây:
Về chính trị, với tư cách là chế độ nhà nước được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân lao động và đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện cho nhân dân tham gia ngày càng đông đảo và có ý nghĩa quyết định vào công việc quản lí chính trị - xã hội Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thì bao nhiêu quyền lực đều là của dân, bao nhiêu sức mạnh đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa do đó về thực chất là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước đảm bảo sự thoả mãn ngày càng cao cho các nhu cầu và lợi ích của nhân dân, trong đó có lợi ích của giai cấp công nhân là phù hợp nhất với các quan điểm chung
của quần chúng nhân dân Điều đó cho thấy, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc
Về kinh tế, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ
yếu cho toàn xã hội xuất phát từ quá trình xã hội hóa Đó là sự đi lên mạnh mẽ không ngừng nghỉ của lực lượng sản xuất trên cơ sở khoa học, công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên về
Trang 25vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động, đảm bảo mọi người ai cũng đều được hưởng thụ những thành quả chung của sự phát triển xã hội Ngoài ra, bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế xã hội chủ nghĩa luôn gắn liền với nhau, hình thành, bù trừ và hoàn thiện lẫn nhau Tuy nhiên, muốn mục tiêu này đạt được, đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp.
Về văn hóa - tư tưởng, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng tư
tưởng, đồng thời kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa, tư tưởng của nhân loại Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, các giá trị dân chủ dần biến thành những nguyên tắc phổ biến trong hoạt động và các quan
hệ xã hội Cụ thể là những giá trị dân chủ, quyền lực nhân dân được thể chế hóa thành Hiến pháp và Pháp luật, thành hệ thống chính trị, ngày càng trở thành nhân tố hàng đầu, thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về xã hội, trên cơ sở là sự kết hợp hài hòa giữa về lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã
hội Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đẩy mạnh tính tự giác, sức sáng tạo và tính tích cực của con người trong công cuộc xây dựng xã hội mới Mọi nhân dân đều có quyền được bầu cử và tự ứng cử mình vào các vị trí trong các cơ quan nhà nước hay các tổ chức chính trị - xã hội
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dù cho có ra đời muộn hơn, thời gian phát triển cũng ngắn hơn các nền dân chủ trước đó nên cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế trên các lĩnh vực ở đời sống xã hội Nhưng vận dụng những bản chất vừa nêu trên, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đang từng bước, từng ngày hoàn thiện để đáp ứng cho công dân những điều tốt đẹp nhất
*Nhà nước là gì và nhà nước xã hội chủ nghĩa là gì
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu
thuẫn giai cấp không thể điều hoà được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được” Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó khôngcòn nữa
Và nhà nước xã hội chủ nghĩa là một trong những tổ chức chính trị cơ bản nhất của hệ thống chính
trị xã hội chủ nghĩa, một công cụ quản lý mà Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ra để qua đó là chủ yếu, nhân dân lao động thực hiện quyền lực và lợi ích của mình, cũng qua đó là chủ yếu mà giai cấp công nhân và Đảng của nó lãnh đạo xã hội về mọi mặt
*Bản chất, chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
*Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trang 26Nhờ vào kết quả của cuộc cách mạng giai cấp vô sản và nhân dân lao động tiến hành dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng Sản, một kiểu nhà nước mới được ra đời, đó là nhà nước xã hội chủ nghĩa Là một công cụ quản lý do chính đảng của giới giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức nên mỗi quốc gia, tùy vào điều kiện và thực tiễn mà có những đặc điểm, hình thức và phương pháp phù hợp riêng Song, điểm chung giữa các nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức vừa thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân, vừa thể hiện ý chí cho nhân dân, vừa thực hiện công việc tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân, đặtdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới có bản chất khác với bản chất của các kiểu nhà nướcbốc lột trước đây Nó được xây dựng trên cơ sở của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, là công cụ để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp vô sản, vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộngrãi và tính dân tộc sâu sắc Vì thế, nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất ưu việt được thể hiện rõ trên những phương diện:
Về chính trị, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một bộ máy chính trị - hành chính, một cơ quan cưỡng chế
của nhân dân lao động và giai cấp vô sản là lực lượng giữ địa vị thống trị về chính trị Tất cả các nhà nước bóc lột đều là nhà nước theo đúng nghĩa của nó, nghĩa là bộ máy của thiểu số những kẻ bóc lột để trấn áp
đa số nhân dân lao động bị áp bức bóc lột Còn về sự thống trị của giai cấp vô sản, đó là bộ máy do giai cấpcông nhân và nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và những phần tử phản động Do đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa là đại biểu cho ý chí chung của nhân dân lao động “Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn áp đặc biệt là 'nhà nước' vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ, mà không còn là nhà nước theo đúng nghĩa nữa Sự trấn áp ấy có thể dung hợp với việc mở rộng chế độ dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân, khiến cho sự cần thiết phải có một bộ máy trấn áp đặc biệt cũng bắt đầu mất dần"
Về kinh tế, bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa chịu sự quy định của cơ sở kinh tế của xã hội xã hội
chủ nghĩa, đó là quan hệ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu Khác với các nhà nước bốc lột, các nhà nước xã hội chủ nghĩa không đơn thuần chỉ là bộ máy hành chính - cưỡng chế mà nó còn là một tổ chức quản lý kinh tế xã hội của nhân dân lao động Nó không còn là nhà nước theo đúng nghĩa, mà chỉ là “nửa nhà nước” “nhà nước không còn nguyên nghĩa” Vì lợi ích của quần chúng nhân dân lao động là trên hết, nên mục tiêu hàng đầu của nhà nước xã hội chủ nghĩa là phát triển kinh tế để có thể chăm lo cho đời sống của nhân dân lao động
Về văn hóa - xã hội, Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng tinh thần là lý luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin và những giá trị văn hóa, tiến bộ của nhân loại, đồng thời vẫn giữ riêng những bản sắc của dân tộc Sự phân hóa của các giai cấp, tầng lớp từng bước được thu hẹp, bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực về cơ hội phát triển
Trang 27*Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa: Với những bản chất đó đã cho ta thấy được các chức
năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện tập trung ở việc quản lí xã hội trên tất cả các lĩnh vực, tùy theo góc độ tiếp cận mà được phân chia khác nhau:
Căn cứ vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước: Chức năng đối nội, Chức năng đối ngoại Căn cứ vào lĩnh vực tác động của quyền lực nhà nước: Chức năng chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội Căn cứ vào tính chất của quyền lực nhà nước: Chức năng giai cấp (trấn áp) và chức năng xã hội (tổ chức và xây dựng)
Bạo lực, trấn áp là cái vốn có của mọi nhà nước, do đó bạo lực, trấn áp cũng là cái vốn có của nhà nước xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin khẳng định ”Bất cứ một nhà nước nào cũng có nghĩa là dùng bạo lực, nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bóc lột hay đối với những kẻ bóc lột” Nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là bạo lực với những kẻ bóc lột, và cũng không phải chủ yếu làbạo lực, nhà nước chỉ dùng bạo lực để đập tan sự phản kháng của kẻ thù chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững an ninh xã hội
Với bản chất của nhà nước vô sản, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: việc tổ chức, xây dựng mang tính sáng tạo nhằm cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộngsản chủ nghĩa chính là chức năng căn bản, quan trọng và then chốt của nhà nước xã hội chủ nghĩa Cải tạo
xã hội cũ xây dựng thành công xã hội mới là nội dung chủ yếu và mục đích cuối cùng của nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là sự nghiệp vĩ đại, là công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp, đòi hỏi Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải có một bộ máy đầy đủ sức mạnh để trấn áp kẻ thù và những phần tử chống đối cách mạng Đồng thời phải là một tổ chức có đủ năng lực quản lý và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tếnắm vai trò là quan trọng và phức tạp nhất Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước mà ở đó sự thống trị chính trị thuộc về giai cấp vô sản cách mạng - giai cấp công nhân do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh
ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ tất cả các mặt của đời sống xã hội
*Mối quan hệ giữa dân chủ xã hội và nhà nước xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng và hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa Là nhà nước tiến bộ, ưu việt hơn các chế độ xã hội khác về đặc trưng chính trị, xã hội, văn hóa nhằmgiải phóng con người ra khỏi tình trạng áp lực, bốc lột, bất công Nhờ có những tính ưu việt của mình mà nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã kiểm soát một cách có hiệu quả quyền lực nhà nước, ngăn chặn được sự tha hóa của quyền lực nhà nước có thể dễ dàng đưa ra khỏi những người thực thi công vụ không còn đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Nếu như nguyên tắc của nhà nước xã hội chủ nghĩa không thực hiện
Trang 28được, khi đó, quyền lực của nhân dân bị biến thành quyền lực của một nhóm người lợi dụng quyền lực và phục vụ lợi ích riêng cho họ, sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành công cụ quan trọng cho việc thực thi quyền làm chủ của người dân Bằng việc thể chế hóa nguyện vọng của nhân dân thành cách hàng lang pháp lý, phân định rõ ràng về quyền và trách nhiệm của mỗi người dân, bảo vệ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là phương thức thể hiện
và thực hiện dân chủ Ở nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải củng cố, xây dựng để trở thành công
cụ bảo vệ và phát triển thành quả của dân chủ
Trong quá trình củng cố nhà nước và hệ thống pháp luật, sự thống nhất các chức năng xã hội, chính trị và xã hội, dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện tập trung ở chỗ: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong mọi phương diện của đời sống xã hội, đặc biệt là dân chủ trực tiếp Đặc trưng cơ bản của sự điều tiết xã hội bằng pháp luật là tính cưỡng chế cao, đó là phương thức rất quan trọng để giữ vững định hướng chính trị, bảo đảm môi trường chính trị ổn định cho các quan hệ giữa nhân dân và nhà nước Nhà nước là thiết chế cóchức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân, quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với xã hội dân sự thực chất là quan hệ giữa giữ vững kỷ cương pháp luật với phát huy cao nhất quyền dân chủ của quần chúng nhân dân Mối quan hệ này cho thấy, dân chủ và kỷ cương không bài trừ và phủ định lẫn nhau, trái lại, đó chính là sự thống nhất biện chứng, là điều kiện, tiền đề để tồn tại và phát triển của nhau Nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản, là người sáng lập ra nhà nước và mọi hoạt động của nhà nước đều nhằm phục vụ lợi ích của nhândân lao động Với ý nghĩa đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa chính là nhà nước của dân, do dân và vì dân (nhân dân lao động) và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là thuộc tính gắn liền với bản chất của nhà nước xãhội chủ nghĩa Chính vì vậy nhà nước được xem là “nền tảng”, “ trụ cột’,” công cụ chủ yếu, vững mạnh” của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
B.LIÊN HỆ VIỆT NAM(CHƯA LIÊN HỆ CẦU CỬ 6/1/1946, NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ)
*Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
a) Quan niệm về Dân chủ
Kế thừa và vân dụng quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ trước hết là một giá trị nhân loại chung Khi coi dân chủ là một giá trị xã hội mang tính toànnhân loại, Người đã khẳng định: Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ Người nói:” Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” Khi coi dân chủ là một thể chế chính trị, một chế độ xã hội, Người khẳng định: ”Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”, “chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ”, nước ta là nước dân chủ, thì dân chủ là “dân làm chủ” Và
Trang 29theo Hồ Chí Minh, dân chủ phải bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Nghĩa là dân chủphải toàn diện, bao quát mọi lĩnh vực, trong đó hai lĩnh vực quan trọng hàng đầu và nổi bật nhất là kinh tế
và chính trị Nó quy định và quyết định dân chủ trong các lĩnh vực xã hội và trong đời sống, tư tưởng Không những thế, nó còn thể hiện trực tiếp quyền con người và quyền công dân (nhân quyền và dân
quyền)
Trước những năm đổi mới, kế thừa hai quan niệm trên, Đảng ta quan niệm rằng: “Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động có tổchức, mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”, “phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”, “xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa” là một trong những nhiệm vụ
“trung tâm” của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định, “trong toàn bộ hoạt động của mình, phải lấy dân làm gốc, xây dựng quyền làm chủ của nhân dân lao động và đây là tập thể mang bản chất của chế
độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, được thể hiện qua mọi lĩnh vực trong đời sống”
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã đưa ra một quan niệm mới về dân chủ: “ Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai
đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực
thuộc về nhân dân; dân chủ phải gắn liền với công bằng xã hội và được thực hiện qua thực tiễn đời sống thông qua các hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra qua các hình thức dân chủ trực tiếp; tuy nhiên dânchủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật; dân chủ là một thể chế chính trị, xã hội mà ở đó bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Quan điểm trên cho thấy rằng, Đảng ta đã có sự nhận thức về dân chủ một cách đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta trong tiến trình lịch sử
và hiện nay
b) Bản chất của nền Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Bản chất dân chủ ở VN là dựa vào Nhà nước XHCN và sự ủng hộ, giúp đỡ của nh.dân Quyền làm chủ của nhân dân là tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân, dân là gốc, dân là chủ Điều này đã được HCM khẳng định:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đề vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều là của dân
Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Trang 30Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở dân.”
Nước ta đi theo con đường XHCN, vì vậy, xây dựng nền dân chủ XHCN là vấn đề quan trọng xuyên suốt quá trình cách mạng của nước ta Ngay từ khi Đảng ra đời (1930) để lãnh đạo cách mạng; trong cươnglĩnh chính trị đầu tiên đã nhất quán chủ trương, đường lối trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc phải xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân mà mục tiêu cốt lõi của nó là “Độc lập dân tộc, người cày có ruộng” và thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu trong lĩnh vực chính trị Khi chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở kế thừa nền dân chủ nhân dân đã có, phải tiến hành ngay việc xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu xuyên suốt là: “Độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
So với các nước đi theo con đường dân chủ đầy sóng gió, sự phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta rất ổn định, có hiệu quả Nguyên nhân chính là do Đảng và Nhà nước ta luôn tuân thủ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi hành động Điều đó được thể hiện ở những mặt sau đây: một là, tư tưởng chiến lược chỉ đạo phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là dựa trên lý luận dân chủ của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nguyên tắc cơ bản; hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vaitrò độc tôn lãnh đạo công cuộc phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; ba là, cơ sở kinh tế cho việc xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hoàn thiện tiến lên kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ đạo; bốn
là, phương thức thúc đẩy công cuộc phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là lấy dân làm gốc; năm
là, trọng điểm công cuộc phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa là thường xuyên củng cố, phát triển dân chủ trong Đảng, coi dân chủ trong đảng là “hạt nhân” của dân chủ xã hội chủ nghĩa và lấy dân chủ trong Đảng thúc đẩy dân chủ trong toàn xã hội Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngày càng cao dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở nước ta, quán triệt sâu sắc quan điểm dân biết, dân bàn, dân thực hiện, dân kiểm tra
Để tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
mở rộng hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, thực hiện thành công mục tiêu “tối thượng” của cách mạng:
“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của Đảng đề ra, chúng ta phải coi trọng phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vì nó là mục tiêu cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Đến lượt
nó, nền dân chủ XHCN được phát triển và hoàn thiện lại trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội không ngừng phát triển Chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ chỗ chưa chín muồi đến chín muồi, từ chỗ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ chỗ chưa phát triển đến phát triển Quá trình này cần có thời gian và môi
Trang 31trường ổn định, đặc biệt là ổn định chính trị, xã hội Muốn duy trì ổn định chính trị, xã hội để tiến lên phải phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và lấy đó làm động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diện xã hội từ thấp đến cao Bản chất chính trị của giai cấp công nhân đòi hỏi phải dùng phương pháp dân chủ để quản lý nhà nước, cải tạo xã hội Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới trong tiến trình lịch sử, dân chủ
xã hội chủ nghĩa là thực hiện quyền nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội Đây là bản chất tốt đẹp của nhà nước xã hội chủ nghĩa đã và đang tồn tại, phát triển ở một số nước trên thế giới, trong đó có nước
ta Vì vậy, đòi hỏi chúng ta cần tự giác tuân thủ quy tắc dân chủ, xây dựng và kiện toàn thể chế dân làm chủ, hình thành trật tự dân chủ ổn định và bền vững
c) Các hình thức thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay
Trong quá trình đổi mới, dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được mở rộng về cả nội dung (dân chủ trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và diễn ra từ Trung ương đến cơ sở), lẫn hình thức (trực tiếp và gián tiếp) Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủ với những qui chế, thiết chế để nhân dân thảo luận, biểu quyết, tham gia trực tiếp quyết định công việc của cộng đồng, của Nhà nước (không phân biệt giới tính, địa
vị, tôn giáo,… ); hình thức phổ biến là trưng cầu ý dân (trong phạm vi toàn quốc); bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, thực hiện sáng kiến pháp luật (nhân dân tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật); làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, xây dựng và thực hiện các qui ước, hương ước phù hợp với pháp luật; và nó là hình thức dân chủ mà trong đó mọi công dân trực tiếp tham gia vào cáchoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội
Dân chủ gián tiếp (dân chủ đại diện): là hình thức dân chủ thông qua những quy chế, thiết chế
để nhân dân bầu ra những người đại diện thay mặt mình để quyết định các công việc chung của cộng đồng, của Nhà nước; là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lí nhà nước và xã hội thông qua hoạt động của những người đại diện, cơ quan đại diện của mình
*Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ)
a) Quan niệm về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật, nhà nước hứng tới những vấn đề về phúc lợi cho mọi người, tạo điều kiện cho cá nhân được tự do, bình đẳng, phát huy hết năng lực của chính mình Đặc trưng nhà nước pháp quyền nói chung đã được đề cập trong nhiều quan điểm, học thuyết của các nhà tư tưởng, các nhà lý luận chính trị – pháp lý trong lịch sử phát triển các tư tưởng chính trị – pháp lýnhân loại
Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây
Trang 32dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện.
Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật: Hiến pháp
và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; tuy nhiên khôngphải mọi chế độ lập hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội
Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt
động của Nhà nước và xã hội: Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước
Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp; mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng Mô hình quan
hệ giữa Nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều luật cấm
Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên
tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực: Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát
quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp vàquyền tư pháp; đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ máy nhà nước
Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp: Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ và công bằng, do vậy, một
cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiếnpháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh; hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc và chủ thể của các hành vi này; đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội