Đánh giá kiến thức thái độ thực hành về TDAT trong sinh viên hệ chính quy trường Đại học Y dược Thái Nguyên năm 2019...12 3.2.. Thực trạng kiến thức thái độ thực hành về TDAT trong sinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN
Chủ nhiệm đề tài : Trần Thị Hiền
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Đàm Khải Hoàn
Thái Nguyên, tháng 12, năm 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này, em đãnhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Thầy Cô, bạn bè, Ban lãnh đạo và sinhviên tại trường Đại học Y dược Thái Nguyên
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin trân trọng cảm ơn:
Ban Giám hiệu, bộ môn Y tế công cộng trường Đại học Y Thái NguyênBan Giám hiệu, Ban chấp hành Đoàn thanh niên, các Phòng ban và sinhviên trường Đại học Y dược Thái Nguyên - nơi em thực hiện nghiên cứu
Đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứukhoa học
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới:
Phó giáo sư- Tiến sĩ Đàm Khải Hoàn - người thầy đã dìu dắt, giúp đỡ,hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và hoàn thành nghiên cứu này
Các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ trong hội đồng khoa học thông qua đềcương và đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong quá trình nghiên cứu
và hoàn chỉnh đề tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè,
và sinh viên trường Đại học Y dược Thái Nguyên đã giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11, năm 2019
TRẦN THỊ HIỀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em là Trần Thị Hiền, sinh viên lớp Y học dự phòng khóa 10, khoa Y tếCông cộng Trường Đại học Y dược Thái Nguyên, xin cam đoan:
1 Đây là đề tài do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn khoahọc của PGS.TS Đàm Khải Hoàn
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Người viết cam đoan Trần Thị Hiền
Trang 4ĐHYD Đại học Y dược
HIV/AIDS Human immunodeficiency virus infection /
Acquired immunodeficiency syndrome
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngườiKAP Knowledge, Attitudes, Practice
Kiến thức, thái độ, thực hànhKHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Thực trạng hành vi TDAT ở thanh niên hiện nay 2
1.2 Yếu tố liên quan đến hành vi tình dục an toàn của ở thanh niên hiện nay 5
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Đối tượng 10
2.2 Địa điểm 10
2.3 Thời gian nghiên cứu 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu 10
2.4 Cỡ mẫu 10
2.4 Chỉ số nghiên cứu 10
2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu 11
2.6 Xử lý số liệu 11
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1 Đánh giá kiến thức thái độ thực hành về TDAT trong sinh viên hệ chính quy trường Đại học Y dược Thái Nguyên năm 2019 12
3.2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục an toàn của sinh viên tại địa điểm nghiên cứu 15
Chương 4 BÀN LUẬN 17
4.1 Thực trạng kiến thức thái độ thực hành về TDAT trong sinh viên hệ chính quy trường Đại học Y dược Thái Nguyên năm 2019 17
4.2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục an toàn của sinh viên tại địa điểm nghiên cứu 18
KẾT LUẬN 19
KHUYẾN NGHỊ 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung về cấc đối tượng 12
Bảng 3.2 Kiến thức tốt của đối tượng nghiên cứu về tình dục an toàn 13
Bảng 3.3 Thái độ tốt của đối tượng về tình dục an toàn 14
Bảng 3.4 Thực hành tình dục an toàn của đối tượng 14
Bảng 3.5 Mối liên quan giữa những yếu tố nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu với thực hành tình dục an toàn 15
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành TDAT của đối tượng 16
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa thái độ với thực hành tình dục an toàn của đối tượng 16
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề tình dục an toàn(TDAT) trong sinh viên đã và đang trở thành mốiquan tâm hàng đầu trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản của Việt Namcũng như các nước trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, tỷ lệ quan hệ tìnhdục trước hôn nhân tăng, tình dục không an toàn tăng, kéo theo hệ lụy là tỷ lệnạo phá thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng gia tăng.Theo báocáo của Viện da liễu Trung ương bệnh nhân mắc các bệnh lây nhiễm qua đườngtình dục là học sinh, sinh viên tăng từ 575 ca trong năm 1997 (chiếm 0,8% sốbệnh nhân khám và điều trị tại Viện) tăng lên 7.391 ca vào năm 2002 (chiếm4,1% số bệnh nhân khám và điều trị tại Viện) [7, tr.20].Các trường Đại học lànơi tập trung số lượng thanh niên khá lớn.Tỷ lệ tình dục an toàn ở sinh viên là48%, khi có thai ngoài ý muốn thì có tới 43% chọn giải pháp nạo phá thai[1].Trường đại học y dược Thái Nguyên là một trường mà sinh viên chủ yếuđến từ các tỉnh miền núi phía Bắc.Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản(SKSS) còn nhiều hạn chế Sự thiếu hiểu biết về SKSS dẫn tới hậu quả về hành
vi tình dục thiếu an toàn, kéo theo hệ lụy là tỷ lệ nạo phá thai và bệnh lây truyềnqua đường tình dục tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và tinh thần củahọc sinh, sinh viên.Trong khi công tác giáo dục sức khỏe giới tính trong sinhviên y dượcchưa được quan tâm nhiều Câu hỏi đặt ra là kiến thức, thái độ vàthực hành TDAT của sinh viên trường Đại học Y dược Thái Nguyên hiện naynhư thế nào?Những yếu tố nào liên quanđến kiến thức, thái độ và thực hành củasinh viên về các TDAT? Để góp phần trả lời cho những câu hỏi này, chúng tôi
tiến hành thựchiện đề tài: “Kiến thức thái độ và thực hành tình dục an toàn ở
sinh viên hệ chính quy trường đại học Y dược Thái Nguyên năm 2019” với
02 mục tiêu như sau:
1 Đánh giá kiến thức thái độ thực hành về tình dục an toàn trong sinh viên
hệ chính quy trường Đại học Y dược Thái Nguyên năm 2019.
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục an toàn của sinh viên tại địa điểm nghiên cứu.
Trang 8mẽ nhất, đam mê nhất, đồng thời đem lại khoái cảm mãnh liệt nhất, nhờ đó mà
có sự sinh sản để duy trì nòi giống [2]
Tình dục (sex) là sự thể hiện:
- Tưởng tượng, mơ ước về quan hệ tình dục với đối tượng
- Quan hệ tình dục (âu yếm, giao hợp) với đối tượng
vi tình dục, tuy nhiên tựu chung lại, đây là những hành vi tập trung vàoviệc tìm kiếm khoái cảm tình dục [2]
1.1.2 Thực trạng hành vi tình dục:
Độ tuổi trung bình quan hệ tình dục lần đầu ở Mỹ là 18, ở Việt Nam cũng
là 18, theo nghiên cứu quốc gia về vị thành niên và thanh niên năm 2010 Tuyvậy, tỷ lệ nạo phá thai ở Mỹ thấp hơn rất nhiều so với Việt Nam Điều này cóthể do các chương trình giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản và giáo dục tìnhdục được triển khai tốt hơn Theo kết quả nhiều cuộc khảo sát cho thấy thế hệthanh thiếu niên ngày càng có quan hệ tình dục (QHTD) sớm Nếu như năm
Trang 9năm trước, tuổi QHTD lần đầu ở nam giới là 20, nữ là 19,4 thì nay độ tuổi này
đã giảm còn 18,2 ở nam và 18 ở nữ Kết quả khảo sát cũng cho thấy sự tồn tạicủa tình dục trước hôn nhân trong nam/nữ chưa lập gia đình ở nhóm tuổi 14-
17, là 42% nam và 37% nữ, con số tương ứng ở nhóm tuổi 22-25 là 57% nam
và 52% nữ Đặc biệt, sau năm năm, tỉ lệ nữ giới có QHTD trước hôn nhân đãtăng từ 74% lên 77% Về nguyên nhân của trình trạng trên, có ý kiến cho rằngviệc các bạn trẻ hiện nay quan hệ tình dục trước hôn nhân là bị ảnh hưởng củacác nước phương Tây.Ở Việt Nam trong năm 2017 cứ 1.000 phụ nữ có thai thì
có 24 trường hợp ở tuổi vị thành niên và trong 1.000 ca phá thai có 15 trườnghợp ở tuổi vị thành niên Đây mới chỉ là con số thống kê được, còn nhữngtrường hợp không được thống kê do phá thai tại các cơ sở tư nhân, ngoài cônglập cho nên theo các chuyên gia y tế, thực tế những trường hợp phá thai cònnhiều hơn Mỗi năm cả nước có khoảng 1,2 triệu đến 1,6 triệu ca nạo phá thai;trong đó 20% là ở lứa tuổi vị thành niên và khoảng 15% đến 20% số ca nạophá thai là của thanh niên chưa lập gia đình, số thanh niên có quan hệ tình dụctrước hôn nhân tăng Tỷ lệ nạo phá thai gia tăng cho thấy vấn đề thực hành tìnhdục an toàn rất kém Theo nghiên cứu của Bs Tôn Thất Chiểu về vấn đề tìnhdục an toàn của sinh viên đại học Huế thấy: Tỷ lệ sinh viên có hành vi quan hệtình dục trước hôn nhân là 7,7%; trong số này có 14,9% sinh viên là nam và4,5% sinh viên là nữ Trong số sinh viên có quan hệ tình dục có 15,2% sinhviên không dùng biện pháp khi quan hệ tình dục Tỷ lệ sinh viên có thai ngoài
ý muốn hoặc làm cho người khác có thai ngoài ý muốn là 13,0% và tất cả sốnày đều phá thai Có thể thấy những con số đáng báo động này khiến vấn đềtình dục an toàn và sức khỏe sinh sản cho học sinh, sinh viên đã và đang trơthành sự quan tâm lớn của Việt Nam và trên thế giới
Vấn đề thực hành tình dục không an toàn dẫn đến nhiều hệ lụy nguy hiểm.Một trong số đó là việc có thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai ngàymột gia tang Tình hình nạo phá thai trên thế giới đang rất báo động Tổ chứcWHO đã thống kê, thế giới có gần 60 triệu ca phá thai Nhưng trong đó, có hơn
Trang 1017,1 triệu ca phá thai không an toàn, tự ý dùng thuốc hoặc người hỗ trợ phái thaithiếu kĩ thuật Ở Châu Phi có 3/4 số ca phá thai không an toàn, có không ítnhững trường hợp phụ nữ chết trong khi phá thai Tình hình nạo, hút thai ở giớitrẻ đang có chiều hướng gia tăng về số lượng và giảm về độ tuổi Điều này chothấy rằng một quan niệm sống cởi mở đến mức xô bồ phổ biến, kể cả nhữngngười có học như học sinh, sinh viên Vụ Sức khỏe Bà mẹ & Trẻ em - Bộ Y tếcho biết, mỗi năm nước ta có khoảng 250.000 - 300.000 ca phá thai được báocáo chính thức Đáng chú ý, tỉ lệ phá thai trên 12 tuần tuổi chiếm tới gần 80%.Trong khi đó, theo số liệu của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, 20-30% các
ca phá thai là phụ nữ chưa kết hôn và 60-70% là sinh viên, học sinh, chủ yếu ở
độ tuổi 15 - 19 Cũng theo nghiên cứu của tổ chức trên, tỉ lệ sử dụng các biệnpháp tránh thai ở nước ta được duy trì ở mức cao (khoảng 75-79%) trong nhiềunăm qua nhưng tỉ lệ phá thai vẫn còn cao là do: còn nhiều trường hợp không ápdụng biện pháp tránh thai (chiếm 55,6%), có nhu cầu nhưng không được đápứng và đặc biệt là thất bại trong các biện pháp tránh thai (gần 40%).Hiện nay, ởnước ta tỷ lệ các cặp vợ chồng vô sinh khoảng 20-25%, trong đấy 10% là donam giới Còn nữ giới đa phần do viêm nhiễm, viêm dính vùng tử cung, tắc vòitrứng, tổn thương niêm mạc tử cung, lạc nội mạc tử cung… Hậu quả này phầnlớn do phá thai và tình dục không an toàn
Nghiên cứu của Phạm Thị Hương Trà Linh về thực trạng và một số yếu tốliên quan về hành vi quan hệ tình dục của sinh viên trường Cao đẳng Y tế PhúThọ cho thấy: Tỷ lệ QHTD trước hôn nhân là 29,1%, tỷ lệ SV sử dụng BCS khiQHTD là 25% 9,7% SV mắc BLTQĐTD, 13% mang thai ngoài ý muốn [5].Một nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ QHTD trước hôn nhân và các yếu tố liênquan được thực hiện trên 405 SV trường Đại học Nội Vụ Hà Nội năm 2015 của
Đỗ Thị Hạnh Trang cho thấy: tỷ lệ QHTD trước hôn nhân là 23,7%, ở nam là35%, ở nữ là 20,9% [8]
Trang 111.2 Yếu tố liên quan đến hành vi tình dục an toàn của ở thanh niên hiện nay
Mặc dù chưa có nghiên cứu đầy đủ về các vấn đề SKSS ở nước tathời gian qua, nhưng qua kết quả của một số nghiên cứu cụ thể ta có thểphần nào nhận diện những khía cạnh của SKSS VTN ở Việt Nam Chẳnghạn, một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi SKSS của nhóm VTN
Hà Nội cho thấy: tỷ lệ VTN, thanh niên chưa kết hôn có QHTD nam chiếmkhoảng 17,0% và nữ chiếm 2,6%; trong những người khảo sát có 37% nam
và 12,5% nữ chấp nhận có thể có QHTD trước hôn nhân; đa số VTN đượchỏi cho rằng trinh tiết vẫn rất quan trọng nhưng không phải quan trọng nhưtrước đây [6]
Nhận thức về các chủ đề SKSS thì tỷ lệ thanh thiếu niên đã nghe nói
về các chủ đè này rất cao, chủ đề ít được nghe nói nhất cũng đạt 77,7% đó làchủ đề về thai nghén và kinh nguyệt, chủ đề về Kế hoạch hóa gia đình(KHHGĐ) được nghe nói đến nhiều nhất với tỷ lệ 92,4%, không có sự khácbiệt đáng kể giữa nam và nữ Tuy nhiên nhận thức về một vấn đề nào đóchưa chắc đã nói lên kiến thức và hiểu biết đúng trong lĩnh vực đó; kết quảcủa SAVYI cho thấy tỷ lệ đã nghe nói về KHHGĐ và thai nghén/chu kỳkinh nguyệt khá cao, nhưng khi hỏi về kiến thức thời điểm dễ có thai trongchu kỳ kinh nguyệt chỉ có dưới 30% trả lời đúng; thông tin đại chúng lànguồn cung cấp thông tin phổ biến nhất cho thanh thiếu niên về SKSS, sựkhác biệt giữa thành thị và nông thôn chỉ là 5% trong việc tiếp cận thông tin
từ nguồn thông tin đại chúng (97% thành thị, 92% nông thôn); tỷ lệ thanhthiếu niên có được thông tin từ những cán bộ chuyên môn xếp thữ 2, baogồm giáo viên (67,8%), nhân viên y tế (47,6%) và cộng tác viên dân số(42,3%) Điều này cho thấy giáo viên ở các nhà trường phổ thông có trao đổimột số thông tin về SKSS với học sinh; tuy nhiên các chương trình SKSS ởnhà trường có đầy đủ và toàn diện hay không; các phương tiện thông tin đạichúng có thể truyền đạt các thông điệp tới thanh thiếu niên, giáo viên nhà
Trang 12trường có thể làm tốt hơn trong việc hỗ trợ các em phát triển kỹ năng sống,
vì kỹ năng không thể chuyển tải được qua các kênh truyền thông đại chúng
Hiểu biết của giới trẻ về mang thai và phòng tránh thai đã có nhiều cảithiện so với trước đây nhưng chưa được cải thiện một cách động bộ Tỷ lệ biết vềthời điểm có thể mang thai khi QHTD thấp hơn (chỉ có 13% trả lời đúng so với17% của 5 năm trước đây) và kiến thức của nam thấp hơn của nữ [3]
Nhận thức và kiến thức của thanh thiếu niên về các bệnh lây truyền quađường tình dục (9 bệnh được hỏi) ngoài HIV thì trung bình mỗi thanh thiếu niên
là 3; nhận thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục có vẻ thấp hơn nhậnthức về chủ đề sức khỏe sinh sản Chỉ có 0,3% thanh thiếu niên cho biết đã từngmắc STIs[6] Tỷ lệ này là nhỏ, và trong số những người đã mắc, phần lớn đi chữatrị tại các cơ sở y tế công, một số nhỏ tới phòng khám tư, một số tự mua thuốc vềchữa và một vài người nói là không điều trị gì Một kết quả đáng khích lệ là 97%thanh thiếu niên được phỏng vấn cho biết có nghe nói về HIV/AIDS.Mức độ nhậnthức rất cao này chứng tỏ các chiến dịch truyền thông về HIV/AIDS ở Việt Nam
đã rất thành công trong việc tiếp cận đa số thanh thiếu niên và nâng cao nhận thức
về HIV/AIDS đến các vùng của đất nước
Nhận thức và sử dụng các BPTT, hầu hết thanh thiếu niên (97%) đềubiết ít nhất một BPTT và trung bình thanh thiếu niên biết đến 5,6/10 biệnpháp Chỉ có 14% thanh thiếu niên được hỏi đã từng sử dụng BPTT, trong
đó nhóm lập gia đình có tới 71,6% sử dụng so với nhóm chưa lập gia đình là3,8% Lần đầu tiên QHTD có sử dụng BPTT chiếm tỷ lệ 2,1% ở nhóm chưalập gia đình, chủ yếu là sử dụng BCS chiếm tỷ lệ 79,9%, sử dụng thuốc viêntránh thai là 6,1% Có lẽ do nữ chưa lập gia đình khó tiếp cận thuốc viêntránh thai do các thông điệp tuyên truyền về tình dục an toàn và HIV khiếncho thanh thiếu niên lựa chọn BCS để bảo vệ kép khỏi lây bệnh và tránhthai Có đến 98,5% biết rằng dùng BCS có thể phòng tránh thai, phòng HIV
và các bệnh lây qua đường tình dục Trong QHTD của nữ VTN không sửdụng BPTT có thể do hoàn cảnh tình cờ, không nghĩ đến mang thai, không
Trang 13sẵn có BPTT, lười không sử dụng, sợ tác dụng phụ, dẫn đến có thai ngoài
ý muốn của các em [5]
Về quan hệ tình dục số VTN có hoạt động tình dục ở độ tuổi 14-17không nhiều (có 20/3.213 người nghiên cứu), nhưng ở nhóm tuổi trên 18chưa lập gia đình chiếm tỷ lệ 9,6% trên tổng số người được điều tra Trong
số thanh niên chưa lập gia đình có QHTD, phần lớn 71,9% trả lời có quan hệtình dục lần đầu với người yêu, 10% với bạn và 9,1% với gái mại dâm Đa
số người trả lời (85%) cho biết rằng mình chỉ có một bạn tình trong vòng 12tháng qua [6]
Trong điều kiện hiện nay, có một thực tế đáng báo động là sự gia tăngcác ca nạo phá thái ngoài ý muốn đặc biệt gia tăng ở các trẻ VTN.Theo mộtbáo cáo tại Hội thảo "Vị thành niên - sức khỏe và phát triển" do tổ chứcWHO và Viện Xã hội học tổ chức tại Hà Nội năm 2001 thì có tới 15% thanhniên Hà Nội và 25% thanh niên thành phố Hồ Chí Minh có QHTD trước hônnhân Cũng theo báo cáo này, hàng năm Việt Nam có khoảng từ 1 - 1,4 triệu
ca nạo phá thai và trong ước tính có khoảng 20-30% thuộc nhóm VTN Theobáo cáo "Nạo phá thai ở tuổi thanh niên tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh”thì trong 6 tháng năm 2001 có 19,5% số nữ thanh niên đến nạo phá thai, trong
đó VTN là 6% và số học sinh, sinh viên chiếm 17,29% tổng số người đến nạophá thai
Nguyên nhân từ đâu số lượng các ca nạo phá thai tăng? và tác hại của nạophá thai có thể gây thủng tử cung, nhiễm trùng…dẫn đến vô sinh, để lại nhiều dichứng, hậu quả xấu… Có rất nhiều nguyên nhân để dẫn tới việc làm ngoài ýmuốn: ăn chơi sa đọa, bị lôi cuốn vào lối sống buông thả, bố mẹ ngại hoặc hạnchế khuyên ngăn con cái, ở nhà trường thì có cũng chỉ là hìnhthức…Nguyênnhân chủ đạo và là nguyên nhân chính đó là sự kém hiểu biết và mù thông tin vềkiến thức và cách thức tránh thai ngoài ý muốn
Tuy được thực hiện cả trên diện rộng lẫn bề sâu, song hiện trạng chấtlượng SKSS VTN về cơ bản vẫn còn thấp; các yếu tố có tính nguy cơ đối với
Trang 14sức khỏe nói chung và SKSS nói riêng của đối tượng này vẫn còn nhiều Theođiều tra của Trung tâm Nghiên cứu Dân số thuộc Đại học Y Thái Bình, hiện
có tới 20-30% số ca nạo phá thai tại các cơ sở y tế công lập là VTN; gần 1/10
số người nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi 13-19; gần 39% phụ nữ làm mẹ trước
19 tuổi Kiến thức về SKSS của VTN cũng còn nhiều lỗ hổng: 42% nam và51% nữ VTN chưa từng nghe nói về KHHGĐ; 85% không có hiểu biết đầy
đủ về BPTT phổ thông nhất là BCS Kết quả khảo sát trên diện hẹp tại mộttrường học ở Hội An cho thấy có hơn 12% số em được hỏi cho rằng "khôngthể mang thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên"; hơn 12% không biết táchại của QHTD nếu không được bảo vệ Đáng lưu ý là, có tới gần 10% số em
"ngây thơ" cho rằng "quan hệ tình dục là một cách để thể hiện tình yêu"
Trên thực tế thì trong nhà trường việc giáo dục sức khoẻ giới tính mới chỉmang tính hình thức chưa thật sự thấy tầm quan trọng của việc tuyên truyền phổbiến kiến thức cho các bạn học sinh khi còn đang ngồi trong ghế nhà trường Sựthiếu quan tâm một cách đúng đắn của gia đình và nhà trường đã làm cho các
em thiếu hiểu biết một cách đúng đắn và mắc phải những sai lầm đáng tiếc, đôikhi còn có những quan niệm như là làm thế như “ vẽ đường cho hươu chạy”,song việc vẽ đường cho hươu chạy đúng còn hơn là không đúng đường, vì vậycần có cái nhìn đúng đắn và nghiêm túc về vấn đề này, học sinh hay có tính hiếu
kỳ và tò mò những vấn đề người lớn càng lẩn tránh càng kích thích tính tò mòcủa các em…Vì vậy cần có việc làm cụ thể để giúp các em tránh được những sailầm không đáng có
Rõ ràng, chương trình chăm sóc SKSS VTN đã có những tiến bộ đáng
kể Tuy nhiên, các hoạt động hỗ trợ, can thiệp vẫn chưa thật đồng đều, nênchương trình chỉ mới tiếp cận được một bộ phận nhỏ VTN Còn trong mạnglưới y tế cơ sở, mặc dù VTN đã được xem là một đối tượng của Chiến lượcchăm sóc SKSS, song hầu hết chưa xây dựng được mô hình cung cấp dịch vụ
và tư vấn phù hợp Trong khi đó, rất nhiều những người làm cha làm mẹ vẫncòn xem chuyện bàn luận về SKSS là điều cấm kỵ đối với con mình và họ sẵn
Trang 15sàng ngăn cản sự tiếp cận của chúng đối với các tài liệu liên quan Vì nhữngđiều này, để Kế hoạch hành động về chăm sóc SKSS VTN được thực hiệnthông suốt và đạt hiệu quả cao hơn, cần phải có sự vào cuộc mạnh mẽ hơncủa nhiều ban ngành và của toàn xã hội đặc biệt là trong các Nhà trường, gópphần đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất đểphát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội [2].
Trang 16Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng: Sinh viên hệ chính quy trường ĐHYD Thái Nguyên.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên hệ chính quy trường ĐHYD Thái Nguyên từnăm thứ nhất đến năm thứ 5
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm: Trường Đại học Y dược Thái Nguyên.
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019.
2.4 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang.
2.4 Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu
Z(1-α/2): Hệ số tin cậy, với khoảng tin cậy 95%, Z(1-α/2)= 1,96
p: tỷ lệ sinh viên có hành vi TDAT tốt trong nghiên cứu của Đàm KhảiHoàn 2016 là 0,5 [3]
d: Sai số tuyệt đối giữa mẫu và quần thể, chọn d = 0,05
Thay vào công thức tính n = 384 sinh viên Thực tế điều tra được 400 sinh viên
- Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiên đơn từ danh sách các khối, lớp sinhviên của nhà trường
2.4 Chỉ số nghiên cứu
-Nhóm các chỉ số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu như giớitính, ngành học, năm học, điều kiện bản thân, điều kiện kinh tế
- Các thông tin kiến thức về tình dục an toàn: Tỷ lệ sinh viên có hiểu biết
về tình dục an toàn, thời điểm có thai, các biện pháp tránh thai, địa điểm cung
Trang 17cấp phương tiện tránh thai, tác hại của nạo phát thai, các bệnh lây truyền quađường tình dục.
- Các thông tin thái độ về tình dục an toàn: Thái độ của sinh viên về vấn đềQHTD trước hôn nhân, có thai trước hôn nhân, nạo phá thai, độ tuổi kết hôn, tìmhiểu về SKSS
- Các thông tin về thực hành tình dục an toàn: Tỷ lệ sinh viên đã có quan hệtình dục (QHTD), sử dụng biện pháp tránh thai của sinh viên khi QHTD
2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn tự điền; trước
khi tiến hành điền phiếu, sinh viên đã được các cán bộ hướng dẫn cách ghiphiếu, giải thích rõ mục đích của nghiên cứu, không ghi tên học sinh trong phiếuđiều tra và được giữ bí mật hoàn toàn Đề nghị sinh viên điền phiếu với tinh thần
tự nguyện, hợp tác, khách quan để trả lời theo yêu cầu điều tra
2.6 Xử lý số liệu: Số liệu được nhập trên phần mềm EPIDATA 3.01 và được
xử lý bằng các thuật toán thống kê trên phần mềm SPSS 20.0
Trang 19Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá kiến thức thái độ thực hành về TDAT trong sinh viên hệ chính quy trường Đại học Y dược Thái Nguyên năm 2019.
Bảng 3.1 Thông tin chung về cấc đối tượng
Bảng 3.2 Kiến thức tốt của đối tượng nghiên cứu về tình dục an toàn
Trang 20Về nơi cung cấp các BPTT 353 88,3
Về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Về nơi cung cấp dịch vụ xét nghiệm HIV/AIDS 394 98,5
Về cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS 381 95,3
Đa số sinh viên có kiến thức tốt về tình dục an toàn (78,3%) Trong đó,kiến thức tốt về đường lây truyền HIV chiếm tỉ lệ cao nhất (99,5%), tiếp đến làkiến thức tốt về nơi cung cấp dịch vụ xét nghiệm HIV/AIDS và cách phòngtránh lây nhiễm HIV/AIDS ( 98,5% và 95,3%) Kiến thức tốt về tác dụng củabao cao su 92,0% Kiến thức có tỉ lệ tốt có tỷ lệ thấp nhất là về các bệnhLTQĐTD (49,5%)
Bảng 3.3 Thái độ tốt của đối tượng về tình dục an toàn
%
Về quan hệ tình dục sử dụng biện pháp tránh thai
(BPTT)
305 76,3
Về mức độ nguy hiểm của nạo hút thai 348 87,0
Về tình dục lành mạnh trước hôn nhân 262 65,5
Về hành vi mang theo bao cao su (BCS ) của người
khác
290 72,5
Trang 21Về đối tượng sử dụng BCS 335 83,8
Chưa tốt ( <80% tốt) 102 25,5Phần lớn sinh viên có nhận thức khá tốt về tình dục an toàn (74,5%), vẫncòn 25,5% sinh viên chưa có thái độ đúng đắn Trong đó, thái độ về việc tìmhiểu ức khỏe sinh sản và đối tượng sử dụng BPTT là tốt nhất với cùng tỉ lệ87,0% Thái độ về việc sử dụng bao cao su của sinh viên là thấp nhất với 58,3%
Bảng 3.4 Thực hành tình dục an toàn của đối tượng
Trang 22và 60,4%); Ngành bác sĩ đa khoa có tỷ lệ thực hành TDAT cao nhất (82,7%),tiếp theo là Y học dự phòng và dược sĩ đại học với tỷ lệ lần lượt là 54,5% và53,3% Tiếp đó là xét nghiệm y học với 46,4% và thấp nhất là cử nhân điềudưỡng (26,7%) Năm học càng cao thì tỷ lệ hành vi TDAT càng lớn Những sinhviên ở trọ một mình có xu hướng quan hệ tình dục cao hơn và an toàn hơnnhững sinh viên sống cùng gia đình.Trong khuôn khổ nghiên cứu chưa tìm thấymối liên quan giữa điều kiện kinh tế và hành vi thực hành TDAT
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành TDAT của đối tượng
Thực hành Kiến thức
có kiến thức tốt thì tỉ lệ thực hành TDAT tốt hơn (p<0,05)
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa thái độ với thực hành tình dục an toàn của đối tượng