Mối liên hệ này được thực hiện nhờ các quá trình tuần hoàn của nước dưới dạng tác động trực tiếp của bức xạ Mặt trời, nước sẽ bốc hơi từ các bề mặt nước (biển, đại dương, sông hồ) các si[r]
Trang 1PHẦN I: ĐỊA LÍ ĐẠI CƯƠNG
CHƯƠNG I: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN ĐẠI CƯƠNG
do sức hút từ một nhân trung tâm, có chu kì 180 triệu năm
Theo các nhà thiên văn học thì phần trung tâm đó là một đám sao dày cókhoảng cách giữa chúng nhỏ hơn so với khoảng cách của những ngôi sao khác ởphía ngoài
Tuy nhiên, trong Vũ trụ, Hệ Ngân hà của chúng ta không phải là duy nhất.Ngày nay, các nhà thiên văn học đã quan sát được hàng chục triệu Hệ Ngân hàtương tự Tất cả được coi là thành phần của một Hệ Ngân hà lớn hơn trong Vũtrụ : Hệ siêu Ngân hà
Ngôi sao là các vật thể phổ biến nhất, có kích thước khác nhau được liêntục sinh ra và phát sáng do bị đốt cháy và tắt khi cạn nhiên liệu
- Từ mặt đất có thể thấy chừng 5000 ngôi sao bằng mắt thường Người cổđại phân nhóm các ngôi sao thành các vòm sao mang tên các vị thần linh Làphương tiện hữu ích để định vị, định hướng
- Nhiệt độ của sao: tính trên bề mặt, khoảng 3500oK đến 80000oK có liênquan chặt chẽ với màu sắc Sao nóng nhất màu xanh nước biển, sau đó màu trắng,
Trang 2vàng, da cam và đỏ Màu sắc phần lớn các ngôi sao trong Ngân hà nằm trong sáubậc quang phổ từ nóng nhất đến lạnh nhất kí hiệu B, A, F, G, K, và M.
Mặt trời là một ngôi sao, sinh ra cách đây xấp xỉ 4,6 tỷ năm, có đường kính
1390000 km, khoảng cách trung bình đến Trái đất 149000000 km, có cấu tạo nhưsau:
- Nhân: tập trung phần lớn khối lượng và là nơi tạo ra năng lượng được Mặttrời phát sáng, được nghiên cứu trên phương diện lý thuyết dựa trên nhận thức đãbiết về khối lượng, khối lượng riêng, nhiệt độ bề mặt vùng cấu trúc, cũng như sựchuyển dịch các lớp không khí của nó, áp suất tại tâm đạt tới một tỷ lần áp suất khíquyển
- Quang cầu: là lớp từ đó năng lượng từ nhân trung tâm được giải phóng vàcũng là nơi ánh sáng được phát đi Nhiệt độ trung bình của quang cầu chừng
5800oK, độ dày lớp này vào khoảng 1000 km và phân tích quang phổ quang cầucho biết trong thành phần cấu tạo của lớp này có chừng trên sáu mươi nguyên tốkhác nhau
- Sắc cầu: lớp trên quang cầu, mặt đáy là 5800oK, đỉnh từ 10000 đến
20000oK, chiều dày 500 - 1400 km, khối lượng riêng nhỏ, tạo bởi các đám mây đrô, màu đỏ, nhìn rõ khi có nguyệt thực
hi Tán Mặt trời: là lớp vỏ đẹp nhất được nhìn thấy khi nguyệt thực toànphần, chiều dày 1,2 triệu km, thay đổi mãnh liệt khi vết đen hoạt động Độ sángtương đương với Mặt trăng, nhiệt độ 1,5 triệu độ K, không bức xạ nhiều nhiệt
1.2 Hệ Mặt trời
1.2.1 Cấu tạo
Hệ Mặt trời gồm: một thiên thể lớn ở trung tâm, đó là Mặt trời, xung quanh
có các thiên thể nhỏ hơn: các hành tinh, vệ tinh, các tiểu hành tinh, các sao chổi,thiên thạch và một lượng khí giữa các hành tinh
1.2.2 Vận động chính
- Vận động cùng Hệ Ngân hà trong Vũ trụ (27,35 ngày/vòng)
Trang 3- Vận động tịnh tiến trong Hệ Ngân hà cùng các bộ phận khác của Hệ Mặttrời, vận tốc là 230 km/s về phía sao chức nữ.
1.2.3 Các hành tinh và các tiểu hành tinh
- Hành tinh: là những khối vật chất rắn, hình cầu quay xung quanh Mặt trời
Có tám hành tinh chính: sao Thuỷ, Kim, Trái đất, Hoả, Mộc, Thổ, Thiên vương,Hải vương
- Tiểu hành tinh: là những khối vật chất rắn không có hình dạng nhất địnhquay xung quanh Mặt trời cùng hướng với các hành tinh Có khoảng 40000 tiểuhành tinh, phần lớn chuyển động trong khoảng không giữa sao Hoả và sao Mộc
- Vệ tinh: là những khối vật chất quay xung quanh một hành tinh
Hành tinh, tiểu hành tinh, vệ tinh có quy luật chuyển động trong hệ Mặt trờinhư sau:
+ Quỹ đạo có hình Elip gần tròn
+ Tất cả đều chuyển động tịnh tiến quanh Mặt trời theo chiều thuận thiênvăn
+ Trừ sao Thuỷ, các hành tinh khác đều tự quay quanh trục của mình cũngtheo chiều thuận thiên văn
Các tiểu hành tinh có tâm sai (đến 0,83) và độ xích vĩ (42 độ) hơn hẳn cáchành tinh
1.2.4 Hai nhóm hành tinh
- Kiểu Trái đất : sao Thuỷ, sao Kim, Trái đất và sao Hoả
Kích thước, khối lượng nhỏ nhưng tỷ trọng lớn
Không có khí quyển hoặc lớp khí quyển rất mỏng, khối lượng không đáng
kể so với khối lượng của hành tinh
- Kiểu Mộc tinh: sao Mộc, Thổ, Thiên vương, Hải vương chúng có kíchthước, khối lượng lớn, tỷ trọng nhỏ, tự quay nhanh, độ dẹt lớn
Trang 41.2.5 Thiên thạch và sao chổi
- Sao chổi: là những khối vật chất nhẹ trong hệ Mặt Trời khi xuất hiện trênbầu trời vào ban đêm, bao giờ cũng kéo theo một cái đuôi (dải ánh sáng dài) gầngiống như một cái chổi Sao chổi có hai bộ phận đầu là một khối sáng chói, đuôi
là một đám mây hơi xoè dần về phía sau tạo thành một dải ánh sáng mờ Đuôi saochổi bao giờ cũng có hướng ngược chiều với hướng Mặt trời Sao chổi càng tiếngần đến Mặt trời đuôi càng dài và càng hiện rõ
- Thiên thạch: là những khối vật chất rắn nhỏ bay trong khoảng không giữacác hành tinh Khi đi vào lớp khí quyển của một hành tinh nào đó sẽ bị hút khiếntốc độ và ma sát tăng cao (40 - 60 km/s), phần lớn thiên thạch bốc cháy tạo thànhsao băng hay sao đổi ngôi Nếu không bốc cháy hết vì quá lớn, chúng rơi xuốngtạo tiếng nổ lớn, tạo hố sâu, rộng (2200 tấn, vang xa hơn 1000 km) Thành phầncấu tạo gồm các nguyên tố có mặt trong bảng tuần hoàn Men-đê-leep nhưng chủyếu là các kim loại (sắt và ni-ken) hay các loại đá
Bảng 1.1 Đặc điểm các hành tinh hệ Mặt trời
Khốilượng(so vớiTrái đất)
Thời gian
tự quay 1vòngquanh trục
Thời gian chuyểnđộng 1 vòngquanh Mặt trời
Sốvệtinh
Kiểu
Trái
đất
Kim tinh 108,0 0,82 243,2 ngày 224,70 ngày 0
Trang 52 Hình dạng, kích thước và cấu tạo của Trái đất
2.1 Hình dạng
- Trong thời cổ đại: theo trường phái của Pi-ta-go cho rằng: quả đất có dạngvật chất hoàn hảo nhất nên hình dạng của nó cũng là hình dạng hoàn hảo nhất đó
là hình cầu Chính A-rix-tôt (thế kỉ thứ IV trước Công nguyên) lần đầu tiên đã đưa
ra được chứng cứ khoa học về hình cầu của Trái đất khi ông quan sát hiện tượngnguyệt thực Thế nhưng mãi đến thế kỉ XVII từ sau chuyến đi biển vòng quanh thếgiới (1619- -1621) của Ma-ge-llan người ta mới thật tin là Trái đất có dạng hìnhcầu
- Thế kỉ XVII phát hiện hình dạng Trái đất không phải là hình cầu hoàn hảo
mà là khối cầu dẹt ở hai cực (E-llep soid) được chứng minh qua thí nghiệm củaRi-cher (1672), ở xích đạo đồng hồ quay chậm hơn ở Pa-ri mỗi ngày 2'28'' là dobán kính ở xích đạo lớn hơn Kết luận: khối cầu của Trái đất không phải là khốicầu hoàn hảo mà là một khối cầu dẹt ở hai cực (E-llíp soid)
- Thế kỉ thứ XIX Su-bent (Nga) đã phát hiện hình E-llip của Trái đất khôngchỉ dẹt ở hai cực mà còn dẹt ở xích đạo Độ dẹt ở xích đạo rất nhỏ khoảng 1/30000đường kính của Trái đất
* Hình dạng Gê-ô-it của Trái đất
Quan niệm về hình dạng của Trái đất là một khối cầu hay một khối E-llipsoid đã phản ánh nhận thức của con người trong những giai đoạn khác nhau củakhoa học
Với những số liệu trắc địa ngày càng nhiều đặc biệt là số liệu do các vệ tinhnhân tạo cung cấp Ngày nay, người ta rút ra kết luận: Trái đất có hình dạng rấtđặc biệt đó là hình dạng Qủa địa cầu hay hình Ge-oid (bề mặt hình Ge-oid khôngtrùng với bề mặt khối E-llip soid nhưng thực tế cũng không sai biệt với nó baonhiêu)
Nguyên nhân: do sự tự quay quanh trục của Trái đất và sự phân bố vật chấtnặng nhẹ khác nhau trong nội bộ Qủa đất Những nơi tích tụ vật chất nặng thì bề
Trang 6mặt Qủa đất bị lún xuống gần tâm hơn Những nơi tích tụ vật chất nhẹ thì bề mặtTrái đất lồi lên xa tâm hơn tạo thành bề mặt lồi lõm luôn luôn thẳng hướng vớitrọng lực.
Chiều dài đường xích đạo (chu vi): 40075,7 km
Chiều dài vòng kinh tuyến: 40008,5 km
Diện tích bề mặt Trái đất: 510,2 triệu km2
Thể tích:1083 tỷ m3
2.3 Ý nghĩa địa lí của hình dạng và kích thước Trái đất
Do Trái đất có dạng hình cầu nên Mặt trời không thể chiếu sáng một lúccho mọi nơi trên Trái đất mà chỉ một nửa được chiếu sáng là ban ngày và một nửachìm trong bóng tối là ban đêm cùng với sự tự quay quanh trục của Trái đất làmcho nhịp điệu ngày đêm liên tục xảy ra, lớp vỏ địa lí đã điều hoà nhiệt độ
Các tia sáng chiếu xuống xích đạo tạo góc nhập xạ 90o từ xích đạo về 2 cựcthì góc nhập xạ nhỏ dần Vì vậy, năng lượng Mặt trời mà mặt đất tiếp thu đượcgiảm dần từ xích đạo về 2 cực tạo nên sự phân bố tương tự của chế độ nhiệt Đó lànguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành các vành đai khí hậu và tính địa đới củacác yếu tố địa lí Dạng hình cầu đối xứng qua mặt phẳng xích đạo hình thành hainửa cầu bán cầu Bắc và Nam
Do có dạng hình cầu, Trái đất chứa được lượng vật chất tối đa và nhờ cókhối lượng, kích thước tương đối nên Trái đất đã hình thành và di chuyển xungquanh nó một lớp khí quyển Điều này vô cùng quan trọng vì nó quyết định khả
Trang 7năng xuất hiện và tồn tại sự sống trên bề mặt Trái đất cũng như tạo điều kiện đểdiễn ra các quá trình trong vòng tuần hoàn vật chất và năng lượng trên Trái đất.
2.4 Cấu tạo của Trái đất
Nghiên cứu sự thay đổi của sóng địa chấn lan truyền trong lòng Trái đất,người ta đã biết được Trái đất có cấu trúc gồm nhiều lớp
2.4.1 Lớp vỏ Trái đất
Vỏ Trái đất là lớp vỏ mỏng bao bọc bên ngoài của Trái đất có độ dày daođộng từ 5 km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục địa) Thành phần vật chất của lớp vỏTrái đất chủ yếu gồm hy-đrô, si-líc, nhôm, sắt, can-xi, na-tri Lớp vỏ Trái đất cócấu tạo không đồng nhất có hai kiểu chính là:
Kiểu vỏ lục địa: có cấu tạo ba tầng là các tầng trầm tích, gra-nít và ba-zan.Kiểu vỏ đại dương: có cấu tạo hai tầng là các tầng trầm tích và ba-zan,trong đó tầng trầm tích rất mỏng
Ngoài ra còn có kiểu vỏ chuyển tiếp thường quan sát thấy ở các khu biển rìalục địa hoặc biển nội địa
Vỏ Trái đất chỉ chiếm khoảng 15% về thể tích và khoảng 1% trọng lượngcủa Trái đất nhưng có vai trò rất quan trọng đối với thiên nhiên và đời sống conngười
2.4.2 Lớp man-ti
Dưới vỏ Trái đất cho tới độ sâu 2900 km là lớp man-ti (còn gọi là bao man-ti).Lớp này gồm hai tầng chính Càng vào sâu, nhiệt độ và áp suất càng lớn nên trạngthái vật chất của bao man-ti có sự thay đổi quánh dẻo ở tầng trên và rắn ở tầng dưới
Vỏ Trái đất và phần trên cùng của lớp man-ti (đến độ sâu 1000 km) vật chất
ở trạng thái cứng người ta thường gộp vào gọi chung là thạch quyển Thạch quyển
di chuyển trên một lớp mềm của bao man-ti như các mảng nổi trên mặt nước
Trang 82.4.3 Nhân Trái đất
Nhân Trái đất là lớp trong cùng dày khoảng 3470 km Ở đây nhiệt độ và ápsuất lớn hơn so với các lớp khác, từ 2900 km đến 5100 km là nhân ngoài, nhiệt độkhoảng 5000oC, áp suất từ 1,3 đến 3,5 triệu atm, vật chất tồn tại trong trạng tháilỏng Từ 5100 km đến 6370 km là nhân trong, áp suất từ 1,3 đến 3,5 triệu atm vậtchất ở trạng thái rắn Thành phần vật chất chủ yếu của nhân Trái đất là những kimloại nặng như ni-ken (Ni), sắt (Fe) nên gọi là nhân NiFe
3 Các chuyển động của Trái đất và hệ quả của nó
3.1 Chuyển động tự quay quanh trục và hệ quả của nó
3.1.1 Chuyển động tự quay quanh trục
Hình 1.1 Chuyển động tự quay quanh trục của Trái đất
Các nhà thiên văn học cổ đại đều cho Trái đất là trung tâm của Vũ trụ, Mặttrời và các vì sao đều quay quanh Trái đất sinh ra ngày và đêm Quan niệm đóđược nhà thiên văn học Ptô-lê-mê lập thành học thuyết "Thuyết địa tâm hệ" Cuốithế kỉ XV Cô-Per-nic (Ba Lan) đã nhận thức đúng đắn về các vận động của Tráiđất và vị trí của Trái đất trong hệ Mặt trời, lập nên học thuyết "Nhật tâm hệ"
Năm 1851, Nhà vật lý người Pháp (Foucallt) đã dùng một con lắc nặng 28
kg dài 40m treo trong cung điện Pantheon ở Pa-ri để làm một thí nghiệm nổi tiếngchứng minh hiện tượng tự quay của Trái đất Ông đã để dưới con lắc một bàn cát
và cho quả lắc dao động theo một hướng nhất định Sau một thời gian, mặt phẳng
Trang 9dao động của quả lắc hình như chuyển hướng và vạch trên bàn cát những đườngchéo với đường thẳng vạch ban đầu, những đường chéo đó chuyển dần từ đôngsang tây Theo nguyên lý cơ học thì mặt phẳng dao động của quả lắc không baogiờ bị đổi hướng, vậy điều đó chứng tỏ Trái đất tự quay quanh trục theo hướngngược lại tức là từ tây sang đông Trái đất quay một vòng hết 23h56'4''(một ngàyđêm).
Bảng 1.2 Tốc độ góc quay của Trái đất
Vận tốc quay (m/s) 464 437,7 355,4 232 0
3.1.2 Hệ quả
3.1.2.1 Sự luân phiên ngày, đêm
Hình khối cầu của Trái đất luôn được Mặt trời chiếu sáng một nửa, còn mộtnửa không được chiếu sáng, vì thế sinh ra ngày và đêm Tuy nhiên, do Trái đất tựquay quanh trục nên mọi nơi ở bề mặt Trái đất đều lần lượt được Mặt trời chiếusáng rồi lại chìm trong bóng tối, gây nên hiện tượng luân phiên ngày và đêm Nhịpđiệu ngày đêm kế tiếp làm cho sự phân phối bức xạ Mặt trời trên bề mặt Trái đấtđược điều hoà Sự chênh lệch nhiệt độ không lớn giữa ngày và đêm có ý nghĩa rấtlớn về mặt địa lí nói chung và khí hậu nói riêng
3.1.2.2 Mạng lưới toạ độ trên Trái đất
Sự vận động tự quay quanh trục đã tạo cơ sở cho việc xây dựng mạng lướitoạ độ để xác định vị trí các địa điểm Khi tự quay các điểm trên bề mặt Trái đấtđều di chuyển vị trí chỉ có hai điểm quay tại chỗ đó là hai cực: cực Bắc và cựcNam
Đường thẳng tưởng tượng đi qua tâm Trái đất được gọi là trục Trái đất,Trục nghiêng với mặt phẳng hoàng đạo một góc 66o33'
Vòng xích đạo là vòng tròn lớn thẳng góc với trục Trái đất chia Trái đấtthành hai nửa: nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam
Vĩ tuyến là những vòng tròn song song với đường xích đạo
Trang 10Vĩ độ là số đo tính bằng độ, phút, giây (dọc theo các đường kinh tuyến) từcác địa điểm trên bề mặt Trái đất đến đường xích đạo
Kinh tuyến là đường thẳng nối hai cực của Trái đất
Hai đường kinh tuyến nối với nhau tạo thành một vòng tròn đi qua hai cựcgọi là vòng kinh tuyến
Kinh độ là độ dài của cung trên một vĩ tuyến, từ một địa điểm nhất địnhtrên bề mặt Trái đất đến kinh tuyến gốc
3.1.2.3 Giờ trên Trái đất và đường chuyển ngày quốc tế
Hình 1.2 Các múi giờ trên Trái đất
Trái đất có hình khối cầu và tự quay quanh trục từ tây sang đông nên trongcùng một thời điểm, người đứng ở các kinh tuyến khác nhau sẽ nhìn thấy Mặt trời
ở độ cao khác nhau Do đó, các địa điểm thuộc kinh tuyến khác nhau sẽ có giờkhác nhau đó là giờ địa phương hay giờ Mặt trời Để tiện cho việc tính giờ và giaodịch quốc tế, người ta chia đều bề mặt Trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi giờ rộng
15 độ kinh tuyến Các địa phương nằm trong cùng một múi sẽ thống nhất một giờ,
đó là giờ múi Giờ ở múi số 0 được lấy làm giờ quốc tế hay giờ GMT
Trang 11Vậy giờ chính thức của múi giờ là giờ địa phương của kinh tuyến đi quagiữa múi giờ, về nguyên tắc vẫn là đường thẳng dọc theo kinh tuyến Trong thực tếtrên đất liền đường này ngoằn ngoèo nên được điều chỉnh theo biên giới quốc gia.Đối với các nước hẹp ngang, múi giờ lấy theo giờ kinh tuyến đi qua thủ đô nước
đó (Việt Nam kinh tuyến 105oĐ đi qua Hà Nội thuộc múi giờ số 7) còn một sốquốc gia có lãnh thổ rộng nhưng chỉ dùng một giờ chung cho cả nước như TrungQuốc, một số nước khác lại chia ra nhiều múi giờ như: Liên Bang Nga, Ca-na-đa
Do quy ước tính giờ, nên múi giờ số 0 trùng với múi giờ 24 Giả sử múi giờ
số 0 là 12 giờ thì múi giờ 24 sẽ là 12 giờ nhưng ở hai ngày khác nhau Vì vậy,người ta quy định lấy kinh tuyến 180o ở giữa múi giờ số 12 trên Thái Bình Dươnglàm đường chuyển ngày quốc tế Nếu đi từ phía tây sang phía đông qua kinh tuyến
180o thì lùi lại một ngày lịch, còn đi từ phía đông sang phía tây qua kinh tuyến
180o thì tăng lên một ngày lịch
3.1.2.4 Hiện tượng lệch các hướng chuyển động (lực Cô-ri-ô-lit)
Hình 1.3 Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái đất
Khi Trái đất tự quay quanh trục, mọi địa điểm thuộc các vĩ độ khác nhau ở
bề mặt Trái đất (trừ 2 cực) đều có vận tốc dài ngắn khác nhau và hướng chuyểnđộng từ tây sang đông Do vậy, các vật thể chuyển động trên bề mặt Trái đất sẽ bịlệch so với ban đầu (vì phải giữ nguyên chuyển động thẳng hướng theo quán tính)
Trang 12Lực làm lệch hướng đó được gọi là lực Cô-ri-ô-lit Ở bán cầu Bắc vật chuyển động
bị lệch về bên phải Ở bán cầu Nam bị lệch về bên trái theo hướng chuyển động.Tại xích đạo độ lệch bằng 0, độ lệch tỷ lệ với sin của vĩ độ Độ lệch tỷ lệ với tốc
độ chuyển động nhưng không ảnh hưởng đến độ lớn của nó
Lực Cô-ri-ô-lit tác động mạnh tới hướng chuyển động của các khối khí, cácdòng biển, dòng sông, đường đạn bay trên bề mặt Trái đất
3.2 Trái đất chuyển động xung quanh Mặt trời và hệ quả của nó
3.2.1 Chuyển động xung quanh Mặt trời
- Trái đất chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt trời theo một quỹ đạo cóhình E-líp gần tròn, theo chiều từ tây sang đông
- Thời gian Trái đất chuyển động quanh Mặt trời một vòng là 365 ngày 5h48'46"
- Tốc độ chuyển động trung bình của Trái đất quanh Mặt trời là 29,8 km/s.Nhưng khi Trái đất đến gần Mặt trời nhất thường vào ngày 3 - 1 (điểm cận nhật)lực hút của Mặt trời lớn nhất, khi đó tốc độ chuyển động của Trái đất quanh Mặttrời là 30,3 km/s Còn khi Trái đất ở xa Mặt trời nhất, thường vào ngày 5 -7 (điểmviễn nhật), lực hút của Mặt trời rất nhỏ, tốc độ chuyển động của Trái đất quanhMặt trời là 29,3 km/s
- Khi chuyển động trên quỹ đạo, trục Trái đất luôn nghiêng so với mặtphẳng quỹ đạo một góc là 66o33' và không đổi phương
Trang 133.2.2 Hệ quả
3.2.2.1 Chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt trời
Hình 1.4 Đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của Mặt trời trong một năm
Hiện tượng Mặt trời ở đúng đỉnh lúc 12 giờ trưa (tia sáng Mặt trời chiếuthẳng góc với tiếp tuyến ở bề mặt đất) được gọi là Mặt trời lên thiên đỉnh Ở Tráiđất ta thấy hiện tượng này chỉ lần lượt xảy ra tại các địa điểm từ vĩ tuyến 23o27' N(ngày 22 - 12) cho tới 23o27' B (22 - 6) rồi lại xuống vĩ tuyến 23o27' N Điều đólàm ta có ảo giác là Mặt Trời di chuyển Nhưng trong thực tế không phải Mặt trời
di chuyển mà là Trái đất chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt trời Chuyển độngkhông có thực đó của Mặt trời được gọi là chuyển động biểu kiến hàng năm củaMặt trời
3.2.2.2 Hiện tượng mùa
Hình 1.5 Các mùa theo dương lịch ở Bắc bán cầu
23 o 27’
23 o 27’
Trang 14Mùa là một phần thời gian của năm nhưng có những đặc điểm riêng về thờitiết và khí hậu Nguyên nhân gây ra mùa do trục Trái đất nghiêng với mặt phẳngquỹ đạo của Trái đất và trong suốt năm, trục của Trái đất không đổi phương trongkhông gian nên hai nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam luân phiên nhau ngả về phía Mặttrời Điều đó làm cho thời gian chiếu sáng và sự thu nhận bức xạ Mặt trời ở mỗibán cầu đều thay đổi trong năm.
Một năm được phân chia thành 4 mùa Ở bán cầu Bắc thời gian bắt đầu vàkết thúc của mùa ở các nước theo dương lịch và một số nước quen dùng theo âm -dương lịch ở châu Á không giống nhau
Các nước theo dương lịch ở bán cầu Bắc lấy 4 ngày: xuân phân (21 - 3), hạchí (22- 6 ), thu phân (23 - 9) và đông chí (22 - 12) là khởi đầu của 4 mùa Ở báncầu Nam diễn ra ngược với bán cầu Bắc
Nước ta và một số nước châu Á khác quen dùng âm - dương lịch, thời gianbắt đầu của các mùa được tính sớm hơn khoảng 45 ngày
Mùa xuân từ ngày 4 hoặc 5 tháng 2 (lập xuân) đến ngày 5 hoặc 6 tháng 5(lập hạ)
Mùa hạ từ ngày 5 hoặc 6 tháng 5 (lập hạ) đến ngày 7 hoặc 8 tháng 8 (lậpthu)
Mùa thu từ ngày 7 hoặc 8 tháng 8 (lập thu) đến ngày 7 hoặc 8 tháng11 (lậpđông)
Mùa đông từ ngày 7 hoặc 8 tháng11 (lập đông) đến ngày 4 hoặc 5 tháng 2(lập xuân)
- Mùa xuân (21/ 3 - 22/6): lúc này Mặt trời bắt đầu di chuyển từ xích đạolên chí tuyến bắc Lượng nhiệt dần dần tăng lên và ngày cũng dài thêm ra, nhưng
vì mặt đất mới vừa toả hết nhiệt khi mặt trời ở nửa cầu nam, nay mới bắt đầu tíchluỹ nên nhiệt độ chưa cao
- Mùa hạ (22/6 - 23/9): Mặt trời lên đến chí tuyến bắc và đang di chuyểndần về xích đạo Mặt đất không những được tích luỹ nhiều nhiệt qua mùa xuân màcòn nhận thêm được một lượng bức xạ lớn nên rất nóng, nhiệt độ rất cao
Trang 15- Mùa thu (23/9 - 22/12): Mặt trời di chuyển xuống phía nam Lượng bức
xạ tuy có giảm đi nhưng mặt đất vẫn còn dự trữ trong mùa trước nên nhiệt độ vẫnchưa thấp lắm
- Mùa đông (22/12 - 21/3): Mặt trời từ chí tuyến nam trở về xích đạo.Lượng bức xạ tuy có tăng lên đôi chút nhưng mặt đất đã tiêu hao hết lượng nhiệt
dự trữ do đó trở nên rất lạnh
Hiện tượng mùa diễn ra rõ rệt ở các vĩ độ ôn đới còn ở vùng nhiệt đới hiệntượng mùa diễn ra không rõ rệt
3.2.2.3 Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ
Hình 1.6 Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ
Trong khoảng thời gian từ ngày 21 - 3 đến 23 - 9, bán cầu Bắc ngả về phíaMặt trời, nên bán cầu này có góc chiếu sáng lớn, diện tích được chiếu sáng lớnhơn diện tích khuất trong bóng tối đó là mùa xuân và mùa hạ của bán cầu Bắc,ngày dài hơn đêm; ở bán cầu Nam thì ngược lại, thời gian đó là mùa thu và mùađông nên có đêm dài hơn ngày
Trong khoảng thời gian từ ngày 23 - 9 đến ngày 21 - 3 bán cầu Nam ngả vềphía Mặt trời, nên bán cầu này có góc chiếu sáng lớn diện tích được chiếu sáng lớnhơn diện tích khuất trong bóng tối đó là mùa xuân và mùa hạ của bán cầu Nam,ngày dài hơn đêm Ở bán cầu Bắc thì ngược lại, thời gian đó là mùa thu và mùađông đêm dài hơn ngày
Trang 16Riêng 2 ngày 21 - 3 và 23 - 9, Mặt trời chiếu thẳng góc xuống xích đạo lúc
12 giờ trưa nên thời gian chiếu sáng cho hai bán cầu là như nhau Vì thế ngày dàibằng đêm trên toàn thế giới
Ở xích đạo, quanh năm luôn có độ dài ngày và đêm bằng nhau Càng xaxích đạo, độ dài ngày và đêm càng chênh lệch nhiều Từ vòng cực về phía cực, cóhiện tượng ngày hoặc đêm dài 24 giờ (ngày địa cực, đêm địa cực) Càng gần cực
số ngày, đêm địa cực càng tăng Ở hai cực, số ngày hoặc đêm dài 24 giờ kéo dàisuốt 6 tháng
3.2.2.4 Các vành đai chiếu sáng và nhiệt trên Trái đất
Bảng 1.3 Các vành đai chiếu sáng và nhiệt trên Trái đất
Vành đai Vị trí theovĩ độ Đặc điểm
- Độ cao của Mặt trời lúc giữa trưa xê dịch 50o33' – 90o
- Ngày và đêm luôn luôn bằng nhau
- Không có hiện tượng mùa
Độ cao của Mặt trời lúc giữa trưa xê dịch 47o – 90o
- Độ dài của ngày và đêm thay đổi 10h30'- 13h30'
- Có hai mùa trong năm với mức chênh lệch ít về nhiệtđộ
3 Cận
nhiệt đới
Từ 23o
27'-40o vĩ độBắc- Nam
- Mặt trời không bao giờ lên đỉnh đầu
- Độ dài của ngày và đêm xê dịch từ 9h08'- 14h51'
- Mùa hạ, mùa đông biểu hiện rõ rệt
- Mùa xuân và mùa thu biểu hiện ít rõ
4 Ôn đới Từ 40- 58o
vĩ độ Nam
Bắc Độ dài của ngày và đêm xê dịch từ 6hBắc 8h
- Bốn mùa biểu hiện rõ rệt
- Hai mùa đông và hạ dài gần bằng nhau
Trang 17Có những đêm trắng gần ngày hạ chí và những ngàyrất ngắn gần ngày đông chí ở nửa cầu Bắc, còn nửa cầunam thì ngược lại.
- Bốn mùa thể hiện rõ rệt, mùa đông dài hơn mùa hạ
Độ cao Mặt trời lúc giữa trưa vào mùa hạ thay đổitrong phạm vi từ 46o54'- 38o54'
- Có từ 1 - 103 ngày hoặc đêm dài 24h
7 Cực đới
Từ 74o
33'-90o vĩ độBắc - Nam
- Độ cao lớn nhất của Mặt trời ở hai cực là 23o27'
- Có 103 - 186 ngày hoặc đêm dài 24h
- Mùa trùng với ngày và đêm
3.2.2.5 Dương lịch
- Trái đất chuyển động một vòng trên quỹ đạo hết 365 ngày 5h48'46" Đểtiện làm lịch, người ta đặt ra dương lịch lấy 365 ngày làm một năm lịch và lịch này
đã được người Ai Cập cổ đại sử dụng
- Dương lịch không ngừng được cải tiến Vì năm lịch ngắn hơn năm thậtnên phải quy ước cứ sau ba năm 365 ngày phải có một năm nhuận 366 ngày (lịchJuy liêng) Quy luật của năm nhuận là " Năm nhuận là năm mà con số của năm đóchia hết cho con số 4" như năm : 1988, 1996…
- Nếu cứ tính chẵn 365 ngày 6 giờ thì năm lịch lại chậm đi 11phút 4 giây.Sau 384 năm sẽ chậm đi mất 3 ngày Để cho chính xác cứ 100 lần nhuận trong 400năm lại bỏ đi 3 lần Những năm nhuận bị bỏ là những năm cuối thế kỉ mà con sốhàng trăm không chia chẵn cho 4 như năm 1700, năm 1900… Năm 2000 là nămcuối thế kỉ chia chẵn cho 4 nên là năm nhuận được giữ lại
- Lịch này mang tên lịch Grégoire được dùng từ năm 1582 cho đến nay
- Nước ta và một số nước châu Á còn sử dụng cả âm dương lịch
- Âm dương lịch dựa trên cơ sở kết hợp giữa âm lịch và dương lịch Nếunhư dương lịch dựa trên cơ sở tính toán sự chuyển động của Trái đất xung quanh
Trang 18Mặt trời thì âm lịch dựa trên sự chuyển động của Mặt trăng quay xung quanh Tráiđất.
- Theo âm lịch một năm có 12 tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày, phùhợp với các tuần trăng Mỗi năm được chia làm 24 tiết Mỗi tiết cách nhau 15ngày Âm lịch còn được sử dụng làm nông lịch, cách tính ngày lễ hội và các sinhhoạt khác trong đời sống
4.2.1 Khái niệm phép chiếu hình bản đồ
Phép chiếu hình bản đồ là cách biểu diễn mặt cong của Trái đất lên một mặtphẳng, để mỗi điểm trên mặt cong tương ứng với một điểm trên mặt phẳng
4.2.2 Một số phép chiếu hình bản đồ
4.2.2.1 Phép chiếu phương vị
Phép chiếu phương vị là phương pháp thể hiện mạng lưới kinh, vĩ tuyến củađịa cầu lên mặt phẳng
- Phép chiếu phương vị đứng: thường vẽ bản đồ khu vực quanh cực
- Phép chiếu phương vị ngang: thường dùng để vẽ bản đồ bán cầu Đông vàbán cầu Tây
- Phép chiếu phương vị nghiêng: dùng để vẽ bản đồ các khu vực ở vĩ tuyếntrung bình
Trang 20Những ký hiệu biểu hiện từng đối tượng được đặt chính xác vị trí mà đốitượng đó phân bố trên bản đồ.
Phương pháp ký hiệu không chỉ cho thấy loại hình và sự phân bố của đốitượng mà còn nêu được cả số lượng, chất lượng, quy mô và động lực phát triểncủa đối tượng đó
4.3.2 Phương pháp ký hiệu đường chuyển động
Là phương pháp thể hiện sự di chuyển của các hiện tượng tự nhiên cũngnhư các hiện tượng kinh tế - xã hội trên bản đồ
Bằng phương pháp này không những biểu hiện được hướng di chuyển màcòn thể hiện được cả tốc độ cũng như khối lượng vận chuyển của các đối tượngđịa lí bằng những mũi tên dài, ngắn hoặc dày, mảnh khác nhau
4.3.4 Phương pháp khoanh vùng (vùng phân bố)
Phương pháp khoanh vùng là phương pháp biểu hiện lên bản đồ các đốitượng không phân bố trên khắp lãnh thổ mà chỉ phát triển ở những khu vực nhấtđịnh đặc trưng cho phương pháp này là ở chỗ nó thể hiện sự phổ biến của một loạiđối tượng riêng lẻ, dường như tách ra với các loại đối tượng khác
Nhờ phương pháp khoanh vùng mà ta có thể phân biệt được vùng này vớivùng khác
Có nhiều cách khác nhau để phân vùng trên bản đồ như: dùng các đườngnét liền, đường nét đứt để tạo đường viền, dùng nét gạch hoặc ký hiệu, màu sắc đểphân biệt các vùng
Trang 214.3.5 Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Phương pháp bản đồ - biểu đồ thể hiện giá trị tổng cộng của một hiện tượngđịa lí trên một đơn vị lãnh thổ (đơn vị hành chính) bằng cách dùng các biểu đồ đặtvào phạm vi của đơn vị lãnh thổ đó
5 Thực hành
Bài tập : Một trận bóng đá của giải vô địch Thế giới ở Hàn Quốc diễn ra lúc
13 giờ ngày 1 tháng 6 được truyền hình trực tiếp Tính giờ truyền hình trực tiếp tạicác kinh độ ở các quốc gia sau :
Vị trí QuốcHàn NamViệt Anh ngaLB Ôtx-trây-lia Ac-hen-ti-na
Hoa Kì(Lốt- An-giơ-let)Kinh độ 1200 Đ 1050 Đ 00Đ 450Đ 1500Đ 600 T 1200 T
Để nghiên cứu thạch quyển có nhiều ngành khoa học khác nhau Địa chấthọc nghiên cứu về thành phần cấu tạo, nguồn gốc phát sinh và lịch sử phát triểncủa thạch quyển Địa lí học chỉ nghiên cứu hình dạng bề mặt lớp vỏ cứng cuả Tráiđất, tức là chỉ nghiên cứu về địa hình
Trang 222 Địa hình
2.1 Khái niệm
Địa hình là hình dạng bề mặt Trái đất nói chung hay của một khu vực nóiriêng Địa hình được phân biệt bởi các yếu tố địa hình Các yếu tố địa hình đượcđặc trưng bằng hình thái, trắc lượng hình thái, nguồn gốc và tuổi
- Hình thái và trắc lượng hình thái
Hình thái: là dạng bề ngoài của các yếu tố địa hình, nó có thể là dương (lồi)như một quả núi hay âm (lõm) như một bồn địa, tròn như đỉnh một quả đồi haynhọn như đỉnh các núi đá, có thể kín như một lòng chảo hay hở như một thunglũng sông hướng về phía biển
Trắc lượng hình thái: là hình thái biểu thị bằng các kích thước chính xáccủa các yếu tố địa hình Nó được biểu thị bằng các yếu tố định lượng như: diệntích, độ dài, độ cao tuyệt đối, độ sâu trung bình
- Nguồn gốc hình thành địa hình
Địa hình trên bề mặt Trái đất luôn biến đổi một mặt do những lực có nguồngốc ở trong lòng Trái đất sinh ra (nội lực), mặt khác do những lực ở bên ngoài Tráiđất sinh ra (ngoại lực)
Nội lực là lực được sinh ra ở bên trong Trái đất
Nguyên nhân chủ yếu sinh ra nội lực là các nguồn năng lượng trong lòngTrái đất như: năng lượng của sự phân huỷ các chất phóng xạ, sự chuyển dịch vàsắp xếp lại vật chất cấu tạo Trái đất theo trọng lực, sự ma sát vật chất
Ngoại lực là những lực được sinh ra ở bên ngoài trên bề mặt Trái đất nhưcác nguồn năng lượng của gió, mưa, nước chảy, băng, sóng biển
Nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ củaMặt trời
Mối quan hệ của hai quá trình: các quá trình nội lực và ngoại lực xảy rađồng thời trên bề mặt địa hình, nội lực có xu hướng tăng sự gồ ghề, còn ngoại lực
có xu hướng giảm sự gồ ghề ấy Mặc dù đối lập nhau nhưng quá trình nội lực và
Trang 23ngoại lực vẫn ảnh hưởng qua lại lẫn nhau gọi là mâu thuẫn thống nhất Nội lựcđóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành các yếu tố địa hình lớn Ngoại lực đóngvai trò chủ yếu trong việc hình thành các yếu tố địa hình nhỏ.
- Tuổi địa hình chỉ mức độ cổ hay trẻ của địa hình
2.2 Các dạng địa hình chính
2.2.1 Địa hình kiến tạo
Qúa trình nội sinh đóng vai trò chủ yếu trong sự hình thành địa hình kiếntạo Đặc điểm cơ bản của địa hình này là có sự tương ứng rất lớn giữa địa hình vớicấu trúc địa chất và thường có cấu trúc rất lớn: miền núi, miền đồng bằng rộng lớntương ứng với miền địa máng, miền nền
2.2.2 Địa hình lục địa
Dựa vào độ cao trên lục địa có thể chia ra các loại địa hình: đồng bằng, đồi,cao nguyên, miền núi
2.2.2.1 Địa hình miền núi
Là một dạng địa hình nhô cao rõ rệt trên mặt đất Độ cao của núi thườngtrên 500m so với mực nước biển, có đỉnh nhọn, sườn dốc Chỗ tiếp giáp giữa núi
và mặt đất bằng phẳng ở xung quanh là chân núi Sườn núi càng dốc thì đườngchân núi biểu hiện càng rõ
Dựa vào nguồn gốc và quá trình hình thành người ta chia địa hình núi ralàm 4 nhóm:
- Núi trẻ:
Là núi có cấu trúc địa chất nham thạch được hình thành trong các thời kỳđịa chất gần đây, chủ yếu thuộc Đại tân sinh như : núi An-pơ, Hy-ma-ly-a, An-des…
Đặc điểm: có độ cao tuyệt đối lớn, hình dáng núi còn sắc sảo với các đỉnhcao và nhọn Các núi trẻ hiện nay vẫn còn được tiếp tục nâng cao (thường chỉ vài
cm trong 100 năm)
- Núi già:
Trang 24Là núi có cấu trúc địa chất, nham thạch phần lớn được hình thành từ thời cổđại như: núi Uran, A-pa-lát…
Đặc điểm: các khối núi này đã bị bào mòn, độ cao tuyệt đối nhỏ và có hìnhdáng mềm mại
- Núi tái sinh:
Là các miền núi được hình thành do việc nâng lên với biên độ lớn ở nhữngmiền núi cổ đã qua sang bằng như: Trường Sơn Bắc (Việt Nam), Thiên Sơn, Pa-mia (Trung Quốc)
Đặc điểm: núi tái sinh phụ thuộc vào số lượng các đứt gãy và sự di chuyểntương đối của các tản
Núi lửa hiện nay được phân ra 2 loại: núi lửa hoạt động (còn phun trongthời gian gần đây) và núi lửa tắt (thôi phun trong thời gian dài)
Trên Trái đất có khoảng 500 núi lửa hoạt động, vùng ven bờ lục địa quanhThái Bình Dương có gần 300 núi lửa còn hoạt động, vì vậy người ta gọi vùng này
là "vành đai lửa Thái Bình Dương"
2.2.2.2 Địa hình đồng bằng (bình nguyên)
Đồng bằng là vùng đất rộng có bề mặt tương đối bằng phẳng hoặc gợnsóng Độ cao trên mực nước biển nói chung là thấp dưới 200m Trong miền đồngbằng cũng có thể có núi nhưng chiếm tỷ lệ không đáng kể Về nguyên nhân hìnhthành người ta chia ra làm hai dạng đồng bằng chính
Trang 25Đồng bằng mặt lớp: do phù sa các sông hay biển bồi tụ thường bằng phẳng,thấp thuận lợi cho phát triển nông nghiệp như: đồng bằng A-ma-dôn, đồng bằngsông Cửu Long, đồng bằng sông Trường Giang.
Đồng bằng máng nền: chiếm 30% diện tích các đồng bằng Đồng bằngmáng nền có bề mặt hơi lượn sóng do xâm thực có lựa chọn vì thế đồng bằng nàycòn có tên gọi là bán bìmh nguyên hay gọi khác hơn là đồng bằng bóc mòn Dựavào nhân tố gây ra bóc mòn, các đồng bằng này được chia thành đồng bằng màimòn do biển hay đồng bằng nạo mòn do băng hay là đồng bằng thổi mòn do giónhư đồng bằng Bắc Âu, Đông Âu
2.2.2.3 Cao nguyên
Cao nguyên là dạng địa hình có độ cao tuyệt đối trên 500m, có bề mặttương đối bằng phẳng hoặc gợn sóng, nhưng có sườn dốc nhiều khi dựng đứngthành vách so với vùng đất xung quanh Về nguồn gốc, cao nguyên có thể hìnhthành do tác động bào mòn, san bằng lâu dài của các loại địa hình hoặc do bị mộtlớp đá phun trào dày như đá ba-zan phủ lên trên mặt Ở nước ta Mộc Châu là caonguyên bóc mòn còn Bảo Lộc là cao nguyên bề mặt có phủ đá ba-zan
2.2.2.4 Đồi
Giữa vùng miền núi và đồng bằng có một vùng chuyển tiếp gọi là đồi Đồi
là một dạng địa hình nhô cao, có đỉnh tròn, sườn thoải nhưng độ cao tương đối của
nó thường không quá 200m Đồi ít khi đứng riêng lẻ mà thường hay tập trungthành vùng
2.2.3 Địa hình bóc mòn - bồi tụ
Qúa trình ngoại sinh đóng vai trò chủ yếu trong sự hình thành địa hình bócmòn - bồi tụ phát triển trên các địa hình kiến tạo và đem lại cho những yếu tố địahình kiến tạo những dáng vẻ riêng biệt Dựa vào các nhân tố hình thành có thểchia ra các dạng địa hình sau:
Trang 262.2.3.1 Địa hình do dòng chảy tạo thành
Địa hình do dòng chảy tạo thành là dạng địa hình phổ biến nhất trên bề mặtTrái đất Địa hình do dòng chảy tạo thành rất đa dạng có thể lớn như các thunglũng sông, nhỏ như các mương sói Các dạng địa hình này được hình thành do tácdụng phá huỷ và bồi tụ của dòng nước Tác dụng phá huỷ của dòng nước gọi là tácdụng xâm thực Xâm thực của dòng nước gồm xâm thực sâu (đào lòng) và xâmthực ngang Cả hai quá trình này diễn ra đồng thời nhưng xâm thực sâu chiếm ưuthế trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển dòng sông nhất là khu vực thượngnguồn thường tạo thành các thung lũng chữ V: đào sâu lòng, vách dốc đứng Xâmthực ngang chiếm ưu thế ở khu vực trung và hạ lưu Tại đây sông ngừng đào sâulòng, đáy sông mở rộng, tạo thành các thung lũng hình chữ U Xâm thực ngangxảy ra làm cho con sông đáng ra chảy thẳng nay trở nên ngoằn ngoèo Những đoạncong ấy của thung lũng sông gọi là khúc uốn của sông
Các sản phẩm bị xâm thực được mang đi bằng con đường cơ học hay hoàtan Đó là tác dụng vận chuyển của dòng nước Tại những nơi tốc độ dòng nướcnhỏ đi hay lượng nước giảm xuống thì ở đó xảy ra các quá trình bồi tụ Qúa trìnhnày có thể xảy ra trên suốt dòng sông, nhưng chủ yếu vẫn là ở bộ phận hạ lưu vàcửa sông Tại đây, trong những điều kiện thuận lợi (phù sa của sông lớn, khu vựcbiển gần cửa sông nông, sóng biển yếu, thuỷ triều nhỏ…) sẽ hình thành các châuthổ, đồng bằng
Dựa vào tính chất kéo dài của vận động dòng nước ta có thể chia địa hìnhnước chảy thành địa hình các dòng nước thường xuyên và các dòng nước tạm thời
- Các dòng chảy tạm thời (là dòng chảy chỉ hình thành sau cơn mưa và saukhi tuyết tan) cũng tạo nên các dạng địa hình khác nhau
+ Ở những khu vực cấu tạo bằng đá vụn bở, không có lớp phủ thực vật,mưa nhiều với cường độ lớn và sườn dốc thường tạo thành khe rãnh, mương sói.Khe rãnh, mương sói phát triển với cường độ và mật độ lớn tạo thành điạ hình xấu
Trang 27+ Dòng chảy tạm thời còn tạo thành nón phóng vật Nón phóng vật là dạngđịa hình bồi tụ, thường nằm dưới chân sườn núi, đồi có hình nửa cái nón, vật liệu
ở đỉnh thô, càng xuống dưới chân vật liệu càng nhỏ
- Các dòng chảy thường xuyên khi các rãnh lõm khắc sâu xuống nướcngầm, khi đó nước chảy ra thường xuyên thành suối, ngòi, sông Sông, suối có tácdụng xâm thực vận chuyển và bồi tụ để tạo thành thung lũng sông và đồng bằngchâu thổ
+ Thung lũng sông là dạng địa hình âm kéo dài do xâm thực của dòng nướcthường xuyên tạo thành có hướng dốc phù hợp với hướng dòng chảy của dòngsông
+ Tam giác châu được hình thành ở mực cơ sở của các sông, phù sa củasông ra đến biển thì lắng đọng lại sẽ tạo thành tam giác châu
2.2.3.2 Các quá trình sườn
Theo lý thuyết, sườn là tất cả những mặt nghiêng có độ dốc trên 0o Vì vậy
có thể nói quá trình sườn và các dạng địa hình do nó tạo thành phổ biến ở nhiềunơi Đặc trưng nhất của quá trình sườn là sự di chuyển vật liệu theo khối, dichuyển vật liệu trực tiếp dưới tác động của trọng lực không thông qua môi trườngtrung gian nước sông, băng hà, gió, nước biển… Dựa vào tốc độ di chuyển quátrình sườn được chia làm hai kiểu:
Di chuyển nhanh bao gồm đá lở, đất trượt, bùn chảy, thường xảy ra chớpnhoáng trong khoảnh khắc
Di chuyển chậm có đặc điểm xảy ra chậm, khó nhận biết nhưng rất phổbiến, bao gồm: trượt ngắn, xói mòn, sự va đập của giọt nước mưa, rửa tràn trênmặt
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự di chuyển trên sườn như độ dốc củasườn, tính gắn kết của đá cấu tạo sườn, tính ma sát và đặc điểm lớp phủ thực vật
Trang 282.2.3.3 Địa hình cac-xtơ
Định nghĩa: trên bề mặt Trái đất có những miền được bao phủ bởi các nhamthạch dễ hoà tan trong nước như: đá vôi, thạch cao… Các miền đó do ảnh hưởngcủa nước ngầm và nước trên mặt tạo thành những dạng địa hình rất độc đáo mà từlâu con người gọi là miền cac-xtơ Sự xuất hiện và phát triển địa hình cac-xtơ gồm
ba quá trình:
Qúa trình ăn mòn: là sự hoà tan gây ra do nước và các đi-ô-xit các-bon ởtrong nước
Quá trình xâm thực: là sự phá huỷ bằng con đường cơ giới của nước
Qúa trình phong hoá sinh hoá học: đó là sự phân huỷ đá bằng những axithữu cơ liên quan đến các hoạt động sinh sống của sinh vật như sự mọc cây, rụnglá
Địa hình cac-xtơ rất phổ biến trên thế giới và Việt Nam với nhiều dạng địahình như:
- Địa hình Cac-xtơ trên bề mặt là những dạng địa hình nhìn thấy được bênngoài gồm các dạng:
+ Địa hình âm
Ca-ren là dạng địa hình âm nhỏ được hình thành do quá trình ăn mòn xảy ratrên những khe nứt hay trên những chỗ trũng xuống của bề mặt địa hình Thườnghay gặp ca-ren dưới hình thức những rãnh, giữa chúng là những mào đá sắc nhọn
mà nhân dân ta thường gọi là đá tai mèo
Phễu cac-xtơ, lũng cac-xtơ là dạng địa hình có sườn dốc, đáy của chúng cónhững hố hút nước, đây là những khoảng rỗng nhỏ, dạng ống, thẳng đứng haynghiêng
Cánh đồng Cac-xtơ là dạng địa hình âm lớn nhất Trên mặt cánh đồng cònđầy những rảnh đá, giếng đứng, khe cạn
+ Địa hình cac-xtơ tàn tích là những dạng địa hình dương còn sót lại sauquá trình mở rộng và nối liền các dạng địa hình cac-xtơ âm Cac-xtơ tàn tích baogồm : tháp cac-xtơ, nón và vòm cac-xtơ
Trang 29- Địa hình cac-xtơ ngầm: là dạng địa hình rất đặc biệt nước xâm nhập vàocác lớp đá cac-xtơ bằng nhiều con đường khác nhau gây ra tác động phá huỷ (ănmòn và xâm thực) cũng như bồi tụ (kết tủa, trầm lắng vật liệu bằng con đường cơhọc) kết quả là hình thành các hang động.
Hang động là những khoảng rổng, có kích thước to, nhỏ khác nhau, hìnhthành trong các vùng núi đá vôi, do tác động hoà tan chất vôi của nước ngầm hoặccủa nước thấm qua các khe nứt của đá, nhưng có chứa một lượng axit cac-bo-niccao Trong hang động đá vôi thường có các loại thạch nhũ có hình thù khác nhaunhư: măng đá, vú đá, cột đá
2.2.3.4 Địa hình có các nguồn gốc tạo thành khác
Ngoài những nhân tố trên, địa hình còn có thể được hình thành do tác độngcủa gió, băng hà hay nước biển… nhưng những dạng địa hình đó đều được hìnhthành ở những khu vực có những điều kiện tự nhiên nhất định
- Địa hình do gió thường hay gặp những vùng khí hậu khô hạn, hoang mạc
và bán hoang mạc nơi không có lớp phủ thực vật, đất đá khô, gió phát huy vai tròmạnh mẽ Thường hay gặp là các dạng địa hình thổi mòn, các cồn cát, cánh đồngcát…
- Địa hình băng hà chỉ quan sát thấy ở các vùng vĩ độ cao hay núi cao, nơinhiệt độ luôn luôn thấp, tuyết tích tụ lâu ngày biến đổi thành băng Thường haygặp là các dạng địa hình do băng hà hình thành như: thung lũng băng, những caonguyên băng hà …
2.2.4 Địa hình miền bờ biển
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển địa hình bờ biển như đácấu tạo bờ, cấu trúc địa chất, khí hậu và nhất là tác động của biển (sức công phá,thuỷ triều, đặc tính lí hoá của nước biển…) Địa hình bờ biển phân ra thành haidạng chính :
Các dạng địa hình mài mòn: được hình thành chủ yếu do sự phá huỷ củasóng Khi sóng vỗ bờ, bản thân nó có một sức va đập lớn, lại cộng thêm sức phá
Trang 30huỷ của các tảng đá vật liệu do nó mang theo, làm cho bờ bị ăn lõm tạo thành hàmếch sóng vỗ Hàm ếch ngày càng ăn sâu, đến một mức độ nhất định thì cả phần đá
ở trên bị sập xuống Vật liệu phá huỷ bị lôi ra xa bờ và trầm lắng lại dưới đáy tạothành nền mài mòn Địa hình mài mòn thường đặc trưng cho những khu vực có bờcấu tạo bằng đá cứng, cao và dốc
Các dạng địa hình bồi tụ: nếu bờ biển thoải, cấu tạo bằng các vật liệu vụnthì sẽ xảy ra quá trình bồi tụ Khi sóng đánh vào bờ sẽ phá huỷ bờ và các vật liệu
bị lôi cuốn theo hướng ngang với bờ hay dọc theo bờ tuỳ theo năng lượng củasóng, hướng sóng đánh vào bờ, độ sâu của khu vực …Khi sóng mất dần nănglượng thì sức phá huỷ và vận chuyển giảm, quá trình bồi tụ bắt đầu, hình thành cáccồn cát duyên hải, các đầm phá, bãi nối liền đảo… Dạng địa hình bồi tụ thườngtạo ra các kiểu bờ thẳng, đơn giản, có mũi đất nhọn Nơi đây thuận tiện cho việcphát triển nghề muối, nuôi thuỷ sản hoặc tổ chức thành các bãi tắm, khu du lịchnghỉ mát, an dưỡng
III Khí quyển
1 Khí quyển
1.1 Khái niệm
Khí quyển là lớp không khí bao quanh Trái đất
Khí quyển có độ dày hơn 20000 km Khí quyển có tác dụng bảo vệ Tráiđất, duy trì môi trường sống và tạo điều kiện cho sự phát triển của sinh vật Thôngqua các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng khí quyển thường xuyên có tácđộng đến mọi hoạt động trên Trái đất
1.2 Thành phần của không khí
Khí quyển bao gồm hỗn hợp các chất khí có thành phần hầu như không đổi,trong đó chủ yếu là khí ni-tơ chiếm 78,1% và khí ôxy chiếm 20,9% thể tích Cácchất khí còn lại chiếm 1% Ngoài ra, trong khí quyển còn lẫn nhiều tạp chất như:hơi nước, khí CO2, bụi
Trang 31Trong tầng đối lưu còn có các phần tử vật chất rắn như: tro, bụi, các loạimuối, các vi sinh vật Các phần tử này hấp thụ một phần bức xạ Mặt trời, nhờ đó
mà ban ngày mặt đất đỡ nóng, ban đêm đỡ lạnh, đồng thời chúng còn là hạt nhânngưng tụ để hơi nước đọng lại xung quanh tạo thành sương mù, mây mưa Vì vậycác phần tử vật chất rắn này cũng là nguyên nhân làm cho nhiệt độ ở tầng đối lưugiảm theo độ cao 0,5 - 0,6oC/100m (ở đỉnh tầng đối lưu nhiệt độ xuống tới -80oC)
Đỉnh tầng đối lưu: là lớp trung gian giữa tầng đối lưu và tầng bình lưu có độdày khoảng 1 km Điểm nổi bật của đỉnh tầng đối lưu là có hiện tượng nghịchnhiệt (nhiệt độ tăng theo độ cao) Khí áp, nhiệt độ và các dòng khí ở đây dao độngrất mạnh, làm cho không khí hội tụ và phân kì
1.3.2 Tầng bình lưu
Giới hạn từ đỉnh tầng đối lưu đến độ cao khoảng 50 - 60 km
Trang 32Đặc điểm của tầng này là không khí khô, loãng và chuyển động thành luồngngang Tầng bình lưu tập trung phần lớn khí ô-zôn, nhất là độ cao khoảng 22 đến
25 km Do tia nắng Mặt trời đốt nóng trực tiếp và ô-zôn hấp thụ bức xạ Mặt trờinên nhiệt độ ở đỉnh tầng bình lưu tăng lên đến +10oC Màng ô-zôn có vai trò rấtlớn trong việc bảo vệ sự sống trên Trái đất
1.3.3 Tầng giữa
Giới hạn từ giới hạn trên của tầng bình lưu đến độ cao 75 - 80 km
Đặc điểm của tầng này là nhiệt độ giảm mạnh theo độ cao và xuống cònkhoảng -70oC đến – 80oC Ở đỉnh tầng, không khí rất loãng, từ mặt đất đến hếttầng khí quyển giữa tập trung hơn 99,5% khối lượng của khí quyển
1.3.4 Tầng ion (tầng nhiệt)
Giới hạn: từ giới hạn trên của tầng giữa đến độ cao khoảng 1000 km
Ở đây nhiệt độ rất cao, ở độ cao 600 km nhiệt độ lên đến 1500oC Dưới tácdụng của bức xạ tử ngoại và bức xạ hạt của Mặt trời cấu tạo phân tử và nguyên tửcủa các khí bị phá vỡ, một số vỏ điện tử tách ra khỏi vỏ điện tử Do đó trongkhông gian có những nguyên tử nguyên lành, những nguyên tử mất điện và nhữngnguyên tử riêng biệt Trạng thái vật chất như vậy gọi là trạng thái siêu khí hoặc vậtchất ở trạng thái này gọi là Plas-ma Qúa trình tách ra của các nguyên tử để tạonên các điện tử mang điện gọi là quá trình ion hoá Vì thế tầng nhiệt còn gọi làtầng điện li, quá trình ion hoá cực đại diễn ra ở độ cao 100 km
Tầng nhiệt có vai trò bảo vệ sinh quyển, vì nó hấp thụ tia Rơn-ghen khôngcho tia này xâm nhập đến tầng đối lưu
1.3.5 Tầng ngoài (tầng khuyếch tán)
Giới hạn: từ trên 1000 km đến dưới 20000 km
Tầng khí quyển ngoài chủ yếu là khí hê-li và hi-đrô, không khí ở tầng nàyrất loãng Có khả năng khuyếch tán các chất khí vào không gian, vũ trụ với tốc độlớn
Trang 331.4 Cấu trúc ngang - các khối khí
Trên bề mặt đất, trong tầng đối lưu, không khí cũng không đồng nhất Tuỳtheo vĩ độ và bề mặt Trái đất là lục địa hay đại dương mà hình thành các khối khíkhác nhau
Ở mỗi bán cầu đều có 4 khối khí chính:
Khối khí địa cực (Bắc và Nam) rất lạnh (mùa hè lạnh, mùa đông rét buốt),phát sinh ở vùng địa cực, vùng cao áp nhiệt lực, gió thịnh hành theo hướng Đông.Thường thu hẹp về mùa hè, mở rộng ra vào mùa Đông Ký hiệu là A
Khối khí ôn đới lạnh phát sinh từ khu vực ôn đới (khu vực áp thấp độnglực), lạnh, gió chủ yếu theo hướng Tây Ký hiệu là P
Khối khí chí tuyến rất nóng, khô phát sinh từ vùng cao áp động lực, gióthịnh hành theo hướng Đông Ký hiệu là T
Khối khí xích đạo nóng ẩm phát sinh từ vùng áp thấp xích đạo (áp thấpnhiệt lực), gió hướng Đông Ký hiệu là E
Từng khối khí lại phân biệt thành kiểu hải dương (ẩm), ký hiệu là m và lụcđịa (khô), ký hiệu là c Riêng khối khí xích đạo chỉ có kiểu hải dương, ký hiệu làEm
Các khối khí không đứng yên tại chỗ, chúng luôn di chuyển và làm thay đổithời tiết của những nơi chúng đi qua Đồng thời, chúng cũng chịu ảnh hưởng củamặt đệm ở những nơi ấy mà thay đổi tính chất (biến tính)
1.5 Frông
Frông khí quyển (ký hiệu là F) là mặt tiếp xúc giữa 2 khối khí có nguồn gốckhác nhau Hai khối khí nằm ở hai bên Frông có sự khác biệt với nhau về tính chấtvật lý (độ ẩm, hướng, nhiệt độ) Vì thế, khi Frông đi qua một nơi sẽ dẫn tới sự biếnđổi đột ngột của thời tiết ở nơi đó
Trên mỗi bán cầu có 2 Frông cơ bản:
Frông địa cực (FA)
Frông ôn đới (FP)
Trang 34Giữa hai khối khí chí tuyến và xích đạo không tạo nên Frông thường xuyên
và liên tục bởi chúng đều nóng và thường xuyên có cùng một chế độ gió
Ở khu vực xích đạo, các khối khí xích đạo ở bán cầu Bắc và bán cầu Namtiếp xúc với nhau đều là các khối khí nóng ẩm, chỉ có hướng gió khác nhau Vìthế, chỉ tạo thành dải hội tụ nhiệt đới chung cho cả 2 bán cầu
2 Thời tiết và khí hậu
2.1 Khái niệm thời tiết và khí hậu
Trang 35lên Mặt đất hấp thu lượng nhiệt của Mặt trời, rồi bức xạ lại vào không khí Lúc đókhông khí mới nóng lên độ nóng lạnh đó gọi là độ nóng lạnh của không khí.
2.2.1.2 Sự phân bố nhiệt độ không khí trên Trái đất
- Phân bố theo vĩ độ địa lí
Bảng 1.4 Sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt năm theo vĩ độ địa
- Phân bố theo lục địa và đại dương
Nhiệt độ trung bình năm cao nhất và thấp nhất đều nằm trên lục địa
Đại dương có biên độ nhiệt độ nhỏ, lục địa có biên độ nhiệt độ lớn
Ngoài ra nhiệt độ không khí còn thay đổi theo bờ đông và bờ tây lục địa.Nguyên nhân là do ảnh hưởng của các dòng biển nóng và lạnh và sự thay đổihướng của chúng
- Phân bố theo địa hình