Để đạt được mục tiêu này mọi doanh nghiệp đều phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh, phương án kinh doanh, phải kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời tổ chứ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
DIỆP THÀNH QUẢNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ KA LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Thị Nguyên Hồng
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng nguồn gốc rõ ràng, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2013
Tác giả
Diệp Thành Quảng
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau đại học trường Đại học
Mỏ địa chất đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn Quý thầy, Quý cô trong bộ môn quản trị doanh nghiệp đã đóng góp cho nội dung của luận văn nhiều ý kiến quý báu sát với thực tế
và đề tài luận văn
Sau một thời gian tìm hiểu về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH phát triển kinh tế Ka Long, tôi đã có điều kiện vận dụng kiến thức
mà mình đã được học và thâm nhập vào thực tế để củng cố, mở rộng hiểu biết của mình, đến nay luận văn của tôi đã hoàn thành, tôi xin chân thành cảm ơn ban giám đốc và các phòng ban Công Ty TNHH phát triển kinh tế Ka Long, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình viết luận văn
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thị
Nguyên Hồng người đã quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn
Tác giả
Trang 5
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng biểu và hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 5
1.1.1 Chức năng, vai trò và phân loại doanh nghiệp 5
1.1.2 Quan niệm và sự cần thiết đánh giá hiệu quả kinh doanh 7
1.1.3 Các quan điểm cơ bản trong đánh giá hiệu quả kinh doanh 17
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và phương pháp xác định 19
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 24 1.2 Tổng quan thực tiễn hiệu quả kinh doanh của một số Công ty nước ta 35 1.2.1 Kết quả kinh doanh của một số Công ty 35
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Công ty TNHH phát triển Kinh tế Ka Long 38
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh 38
Kết luận chương 1 40
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN KINH TẾ KA LONG 41
2.1 Giới thiệu về Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 41
2.1.1 Lịch sử hình thành Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 41 2.1.2 Quá trình phát triển của Công ty TNHH phát triển kinh tế Ka Long 41
Trang 6Long 42
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH phát triển kinh tế Ka Long 43
2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh 45
2.2 Tình hình thị trường và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 47
2.2.1 Đặc điểm khách hàng của Công ty 47
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 48
2.3 Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả kinh danh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 51
2.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh doanh chung 51
2.3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn 54
2.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí 59
2.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động 61
2.3.5 Phân tích hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật 64
2.4 Đánh giá chung về thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 66
2.4.1 Đánh giá chung 66
2.4.2 Ưu điểm và nguyên nhân 67
2.4.3 Những hạn chế và nguyên nhân 68
Kết luận chương 2 69
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN KINH TẾ KA LONG 70
3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 70
3.2 Quan điểm giải quyết vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 72
Trang 7ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long 72
3.3.1 Chủ động xác định nhu cầu vốn ngắn hạn làm căn cứ để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngắn hạn 73
3.3.2 Đổi mới phương tiện, trang thiết bị công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 75
3.3.3 Đào tạo và nâng cao trình độ của nhân viên 77
3.3.4 Tiếp tục duy trì và mở rộng thị trường kinh doanh 79
3.3.5 Hoàn thiện các chính sách Marketing, tăng cường khuyến khích và hỗ trợ cho các thành viên của hệ thống kênh phân phối 80
3.3.6 Một số giải pháp khác 84
Kết luận chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8STT Tên bảng Trang Bảng 1.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty xuất nhập khẩu Hàng không
AIRIMEX từ năm 2010-2012 35
Bảng 1.2: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 2011-2012 37
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh 45
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp hiệu quả kinh doanh 51
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu phản ảnh sức sinh lời 53
Bảng 2.4: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 54
Bảng 2.5: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 56
Bảng 2.6: Các chỉ tiêu khả năng thanh toán của doanh nghiệp 58
Bảng 2.7: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chi phí 59
Bảng 2.8: Bảng thống kê lao động giai đoạn 2011-2012 61
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động 63
Bảng 2.10: Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định 64
Bảng 2.11: Các chỉ số hoạt động của doanh nghiệp 66
Bảng 3.1: Chỉ tiêu phấn đấu năm 2013 71
Bảng 3.2: Từ bảng số liệu của bảng cân đối kế toán năm 2012 ta tính được như sau: 73
STT Tên hình Trang Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy quản trị của Công Ty 44
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển kinh tế luôn là một vấn đề được quan tâm nhiều nhất trong tất cả các thời đại, đặc biệt là trong thời đại kinh tế thị trường như hiện nay Mỗi doanh nghiệp được ví như là một cơ thể sống của đời sống kinh tế xã hội Tuy nhiên, điều kiện môi trường kinh tế ngày nay đã có nhiều biến động và tốc độ biến động cũng vô cùng nhanh chóng, vì vậy vấn đề kinh doanh có hiệu quả và ngày càng nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn không phải của bất cứ doanh nghiệp nào mà là vấn đề cần quan tâm hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp và của
cả nền kinh tế
Việt Nam chúng ta xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu nhiều hậu quả chiến tranh và hiện nay đang trong giai đoạn từng bước hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới Vì vậy môi trường kinh doanh đang ngày càng chịu sự tác động của nhiều phía với nhiều chiều hướng khác nhau, tốc độ khác nhau, tác động ngày càng mạnh mẽ vào nền kinh tế nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng Đây là một thách thức không nhỏ đối cả nền kinh tế quốc dân và đối với tất cả các doanh nghiệp Để có thể đối phó với mọi biến động của môi trường kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự dự báo, phân tích và đề ra các giải pháp
để thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh hay nói cách khác là phải
có các biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
Thành phố móng cái là nơi cửa khẩu biên giới mậu dịch hội tụ du khách đi lại đông đúc diễn ra nhiều hoạt động nói chung cũng như hoạt động giao thông vận tải nói riêng ,Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành vận tải nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải hành khách công cộng Vận tải hành khách nói chung, vận tải hành khách bằng ô tô nói riêng với chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao, giá cước hợp lý và tính
cơ động cao là một trong những yếu tố giúp cạnh tranh được với các phương thức vận tải khác; ngày càng đáp ứng được nhu cầu đi lại ngày càng cao của người dân
Trang 10vận tải đường bộ phải gánh trọng trách hơn 80% nhu cầu đi lại của người dân Đây
là trách nhiệm, đồng thời cũng là cơ hội để vận tải hành khách bằng ô tô có điều kiện phát triển
Trong những năm trở lại đây, ngành vận tải ô tô đã có tốc độ phát triển khá cao, vận tải hàng hóa tăng trưởng bình quân năm trên 14,5% đầu phương tiện và gần 15% tổng trọng tải; vận tải hành khách đã tăng trưởng bình quân năm gần 26% đầu phương tiện và gần 9% tổng số ghế xe Tuy nhiên theo kết quả khảo sát của Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển, năng lực cạnh tranh vận tải của Việt Nam hiện nay thấp nhất trong 10 nước châu Á Tính theo thang điểm 7 là cao nhất, Việt Nam đứng cuối bảng được 2,98 điểm, sau Philippines, Pakistan (3,24 điểm), Bangladesh (3,5 điểm) Đứng đầu là Malaysia (đạt 5,28 điểm), Trung Quốc (4,08 điểm) So sánh như vậy đủ thấy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam so với các nước trên thế giới còn rất thấp Để ngành vận tải đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế và hội nhập, ngoài yếu tố cơ sở hạ tầng thì chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp vận tải có ý nghĩa quan trọng, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh cũng như sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong thị trường vận tải nội địa và quốc tế
Ly do nghiên cứu hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long là sự cần thiết và cấp bách phải nghiên cứu vấn để công ty đang vướng mắc
là vấn đề rất quan tâm vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh như thế nào? Để giải quyết được vấn đề này công ty sẽ phát triển nhanh hơn, năng lực cạnh tranh tăng lên
và hiệu quả sản xuất cũng tăng lên là công cụ đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và nguồn vốn và tình hình chấp hành các chế độ chính sách của nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhằm phát hiện ra những khả năng và lợi thế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó điều chỉnh các hoạt động đầu tư, sử dụng phương tiện thiết
bị, các hoạt động sử dụng vốn và nguồn vốn nhằm mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao
Trang 11Xuất phát từ thực tế những vấn đề bức xúc đã đặt ra trên đây và những trăn
trở của bản thân trong việc tìm hiểu và giải quyết vấn đề này, đề tài: “Nghiên cứu
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long” sẽ nghiên cứu, phân tích các yếu tố cấu thành hiêu quả kinh
doanh; đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh đáp ứng nhu cầu phát triển của xa hội; góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long nói riêng và các doanh nghiệp kinh doanh nói chung
2 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh,phát triển bền vững của Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
+Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình kinh doanh và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
+Về không gian: Tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long
+Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh doanh trong thời gian từ năm 2011 và xây dựng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho giai đoạn
2013 – 2018
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề sau:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh
- Đánh giá thực trạng, những tồn tại trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong nghiên cứu này tác giả thu thập dữ liệu bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn những người có am hiểu về đề tài nghiên cứu
5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Việc phân tích dự liệu sẽ thực hiện bằng phương pháp định lượng và định tính với các yếu tố đo lường và đánh giá được, kết hợp với các yếu tố vô hình không
đo lường đánh giá bằng định lượng được
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Về khoa học: Làm rõ cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp
- Về thực tiễn: Sau luận văn này Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long sẽ có cái nhìn khái quát và toàn diện hơn về hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian qua, tìm ra những nguyên nhân còn tồn đọng bên trong Công ty cũng như có được phương hướng phát triển trong những năm tiếp theo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 87 trang, 14 bảng và 1 hình vẽ:
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2:Thực trạng hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh tại Công
ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Phát triển Kinh tế Ka Long
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Chức năng, vai trò và phân loại doanh nghiệp
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế độc lập, là một tập hợp gồm nhiều bộ phận gắn bó với nhau, có vốn và các phương tiện vật chất, kĩ thuật hoạt động có nguyên tắc và mục tiêu thống nhất, thực hiện hạch toán kinh doanh hoàn chỉnh, có nghĩa vụ
và được hệ thống pháp luật thừa nhận, bảo vệ
1.1.1.1 Chức năng và vai trò doanh nghiệp
a/ Chức năng của doanh nghiệp
Doanh nghiệp vừa có chức năng của một đơn vị sản xuất, vừa có chức năng của một đơn vị phân phối
- Với chức năng là một đơn vị sản xuất: doanh nghiệp sản xuất ra của cải vật chất hoặc thực hiện dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận
- Với chức năng là đơn vị phân phối: doanh nghiệp bán ra thị trường thành quả sản xuất hoặc cung cấp các sản phẩm dịch vụ, đổi lại doanh nghiệp thu về lợi nhuận
b/ Vai trò của doanh nghiệp
* Doanh nghiệp là một chủ thể sản xuất ra hàng hoá
* Doanh nghiệp là một pháp nhân kinh tế, bình đẳng trước pháp luật
* Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế, một tế bào của nền kinh tế quốc dân
* Doanh nghiệp là một tổ chức xã hội
1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
Theo các hình thức khác nhau ta có các loại hình doanh nghiệp khác nhau:
a/ Căn cứ theo hình thức sở hữu:
Có 05 loại hình doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp Nhà nước: là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ
Trang 14vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước, Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã cam kết góp phần vào doanh nghiệp Thành viên có thể là tổ chức,
cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi
- Công ty cổ phần: là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng
cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
- Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là cá nhân, có trình độ chuyên môn và có uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty
- Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
b/ Căn cứ qui mô của doanh nghiệp:
Căn cứ 02 nhóm chỉ tiêu mức độ phức tạp và hiệu quả của sản xuất kinh doanh có thể chia làm 03 loại hình doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp có qui mô hoạt động sản xuất lớn
- Doanh nghiệp có qui mô hoạt động sản xuất vừa :
- Doanh nghiệp có qui mô hoạt động sản xuất nhỏ :
- Theo nghị định số: ND - 56 - 2009 của Chính Phủ quy định: các doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 20 người, số vốn nhỏ hơn 20 tỷ đồng được xếp loại doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp có từ 20 người đến 50 người, số vốn từ 50 đến 100 tỷ đồng được xếp loại doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp có từ 50 đến 200 người, số vốn trên 100 tỷ đồng có thể được xếp loại doanh nghiệp vừa (tùy theo loại hình doanh nghiệp)
Trang 151.1.2 Quan niệm và sự cần thiết đánh giá hiệu quả kinh doanh
1.1.2.1 Quan niệm về hiệu quả kinh doanh
a, Quan niệm về hiệu quả nói chung
Trong cơ chế thị trường, mục tiêu của hầu hết tất cả các doanh nghiệp đều nhằm đạt được mục tiêu bao trùm và lâu dài nhất, đó là tối đa hoá lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này mọi doanh nghiệp đều phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh, phương án kinh doanh, phải kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời tổ chức thực hiện chúng một cách có hiệu quả
Trong quá trình tổ chức xây dựng và thực hiện, các nhà quản lý doanh nghiệp phải luôn chú ý tới tính hiệu quả của chúng Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng
bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể không xem xét hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó Để hiểu được hiệu quả kinh
tế cuả các hoạt động sản xuất kinh doanh( hiệu quả sản xuất kinh doanh ), trước tiên
ta phải tìm hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là gì?
Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế: như P.Samerclson, W.Nordhanb, Manfredkuln, Wohe và Doring Song có một quan điểm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý sử dụng là: Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng ( hoặc một quá trình ) kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ các quan điểm trên về hiệu quả kinh tế ta có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như sau: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực của doanh nghiệp (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) trong quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra là thu được lợi ích nhiều hơn
Trang 16Hiệu quả kinh tế là loại chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí cho sản xuất kinh doanh hoặc ngược lại Bởi lẽ, một khi so sánh về mặt thương số nó vừa nghiên cứu mối quan hệ giữa kết quả với chi phí đồng thời xem xét hiện tượng nghiên cứu dưới trạng thái động Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất còn được gọi là các chỉ tiêu năng suất
b, Quan niệm về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Mọi khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh được đưa ra đều chỉ mối liên hệ giữa kết quả đạt được và chi phí đầu vào ở những khía cạnh khác nhau Song có thể
hiểu khái quát về nó như sau: “ Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực như lao động, vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã xác định”
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó xuất phát và tồn tại
từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, các yếu tố cần thiết của doanh nghiệp để tham gia vào hoạt động kinh doanh theo mục đích nhất định
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều khâu với các mối liên hệ, tác động qua lại mang tính chất quyết định và hỗ trợ cùng nhau thực hiện mục tiêu tổng thể của hoạt động kinh doanh Nâng cao hoạt động của tất cả các khâu trong kinh doanh là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tổ chức điều hành hoạt động của bất cứ một doanh nghiệp nào
Xét theo nghĩa rộng hơn thì hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả Chính vì khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
c, Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
Trang 17kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc, tiền, nguyên vật liệu) để đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian
Các Mác đã cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quản lý đó Con người tạo ra của cải vật chất bằng sức lao động Lao động được đo lường bằng thời gian Với một mục tiêu nhất định con người phải thực hiện trong một thời gian lao động ít nhất hay nói một cách khác thì trong một thời gian lao động nhất định kết quả đạt được phải cao nhất
Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu (thời gian hao phí lao động thấp nhất) Điều này
có nghĩa là với mức chi phí nhất định thì doanh nghiệp phải đạt kết quả tối đa hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Trước đây trong lý luận cũng như thực tiễn
đã tồn tại sự nhầm lẫn giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đó đã coi kết quả là mục tiêu mục đích và coi hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu Từ quan niệm nhầm lẫn đó dẫn đến sự hạn chế trong phương pháp luận giải quyết vấn đề, đôi khi người ta hay coi đạt được kết quả là đạt được hiệu quả và rõ ràng điều đó có nghĩa là không cần chú ý đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Đây là quan niệm sai lầm và cần phải được thay đổi
Hiện nay, chúng ta có thể hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp có thể là những đại lượng có thể cân, đo, đong đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận… và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của hãng, chất lượng
Trang 18sản phẩm… Như thế kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp Trong khi
đó trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản kinh doanh Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên,
sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ vấp phải khó khăn là giữa "đầu vào" và "đầu ra" không có cùng một đơn vị đo lường, còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường tiền tệ Vấn đề được đặt ra là hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trước tiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp đạt được ở trình độ nào Nhưng xem xét hiệu quả kinh tế không chỉ dừng ở đó mà thông qua đó có thể phân tích, tìm ra các nhân tố cho phép nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Từ đó có thể có các giải pháp nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp ở mức độ cao hơn với chi phí về nhân tài, vật lực và tiền vốn ít hơn Như vậy, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả
d, Đặc điểm của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một khái niệm phức tạp và khó đánh giá chính xác Sở dĩ phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phức tạp và khó đánh giá chính xác là vì ngay ở khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bởi mối tương quan giữa hai đại lượng là kết quả đạt được từ hoạt động sản xuất (doanh nghiệp sản xuất) hoặc kinh doanh (doanh nghiệp thương mại, dịch vụ…) và chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh đó Trong khi cả hai đại lượng kết quả và chi phí đều khó xác định chính xác
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta thấy hầu như rất ít khi các doanh nghiệp xác định được chính xác các kết quả mà doanh nghiệp thu được ở một thời điểm nào đó do các quá trình tạo ra kết quả diễn ra trong các doanh nghiệp
Trang 19thường có sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,… Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp không phải chỉ tạo ra kết quả (sản phẩm, dịch vụ) mà còn phải bán được các kết quả đó và quá trình bán hàng và quá trình tạo ra kết quả luôn không trùng nhau Một doanh nghiệp ở một thời điểm nào đó có thể có nhiều sản phẩm được sản xuất ra nhưng lại tiêu thụ được rất ít, như thế chưa thể nói doanh nghiệp
đã đạt được kết quả (mục tiêu) Nếu xét trên góc độ giá trị, đại lượng kết quả của sản xuất kinh doanh không phải là đại lượng đánh giá dễ dàng vì ngoài các nhân tố ảnh hưởng trên, kết quả sản xuất kinh doanh còn chịu ảnh hưởng của thước đo giá trị (đồng tiền với những thay đổi của nó trên thị trường) Mặt khác, chính hoạt động của con người là luôn nhằm đến và đạt đến kết quả nhất định, song không phải lúc nào con người cũng nắm chắc được, biết hết được các kết quả do chính hành động của họ Như vậy, phạm trù kết quả là một phạm trù phức tạp mà không phải lúc nào chúng ta cũng đánh giá đầy đủ được nó
Việc xác định đại lượng chi phí cũng không dễ dàng Nếu xét trân phương diện lý thuyết thì chi phí tính bằng đơn vị hiện vật là chi phí sử dụng tài nguyên, chi phí "thực" để tạo ra kết quả của doanh nghiệp song điều đó không thể xác định được trong thực tiễn Ở mọi doanh nghiệp, việc kiểm kê, kiểm tra xem đã sử dụng bao nhiêu đơn vị nguyên nhiên vật liệu mỗi loại cũng không phải lúc nào cũng tiến hành được Trong khi đó, ở mọi doanh nghiệp lại còn nhiều loại nguồn lực đầu vào không chỉ liên quan đến một quá trình tạo ra sản phẩm nào đó mà nó liên quan đến nhiều quá trình kinh doanh khác nhau Điều này dẫn tới việc xác định hao phí một cách chính xác vào một quá trình kinh doanh cụ thể gặp nhiều khó khăn Nếu xét trên phương diện giá trị, chi phí kinh doanh thường được hiểu là giá trị của toàn bộ tài nguyên đã sử dụng trong kinh doanh Bản thân việc sử dụng các yếu tố đầu vào dưới dạng chi phí sử dụng tài nguyên đã là không xác định được trong tính toán bằng tiền, độ phức tạp và thiếu chính xác còn lớn hơn nhiều vì nó hàm chứa rất nhiều yếu tố chủ quan của con người (chi phí là hi phí tính toán) Cùng với sự phát triển của khoa học quản trị kinh doanh con người ngày càng đưa chi phí tính toán tiếp cận đến gần chi phí kinh tế hơn Hơn nữa, không chỉ những chi phí trực tiếp
Trang 20trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới đem lại kết quả cho doanh nghiệp,
mà còn rất nhiều chi phí cho hoạt động xã hội như: Giáo dục, cải tạo môi trường, sức khoẻ… có tác động không nhỏ tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Các chi phí này rất khó tính toán được trong quá trình xem xét hiệu quả kinh tế Mặt khác, trong thực tế khi ra các quyết định sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp thường hướng vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên dẫn đến xu hướng chi phí biên cá nhân (MPC) thấp hơn chi phí biên xã hội (MSC) Điều này dẫn đến sự tách biệt giữa kết quả và hiệu quả cá biệt xã hội Để rút ngắn sự tách biệt này, các biện pháp can thiệp vĩ mô của Nhà nước là hoàn toàn cần thiết Cũng cần thấy rằng khi doanh nghiệp ra quyết định sản xuất kinh doanh theo hướng giảm chi phí biên
cá nhân so với chi phí biên xã hội sẽ tạo ra ảnh hưởng ngoại ứng đối với các doanh nghiệp sản xuất khác cũng như đối với người tiêu dùng và trong nhiều trường hợp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân doanh nghiệp với tư cách là một thành viên trong đó Nhiều doanh nghiệp cố tình giảm thiểu chi phí cho việc xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường và sự ô nhiễm ngày một tăng ảnh hưởng đến cả khu vực rộng lớn và cuối cùng dẫn đến việc đóng cửa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng các biện pháp pháp luật Như thế kết quả và hiệu quả đạt được trước mắt của doanh nghiệp đã dẫn đến không có hiệu quả và thậm chí phi hiệu quả kinh
tế nếu xét trong thời gian dài
e, Phân loại hiệu quả kinh doanh
Đứng trên các góc độ, các phương diện nhìn nhận khác nhau, người ta lại có các cách hiểu khác nhau về hiệu quả Nhìn chung có 4 cách phân loại hiệu quả sau:
a Hiệu quả của chi phí tổng hợp và hiệu quả của chi phí bộ phận
Hình thành cách phân loại này dựa trên cơ sở coi việc thực hiện một nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải sử dụng tổng hợp nhiều yếu tố chi phí Đó là chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Mỗi yếu tố chi phí đó đều là một bộ phận cấu thành nên chi phí tổng hợp Hiệu quả của chi phí tổng hợp là biểu hiện tương quan giữa kết quả thu được và tổng chi phí bỏ ra để thực hiện kết quả đó
Trang 21Hiệu quả của chi phí bộ phận thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được
và từng chi phí bộ phận cần thiết để thực hiện kết quả đó
Giữa hiệu quả chi phí tổng hợp và hiệu quả chi phí bộ phận có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu như hiệu quả của chi phí tổng hợp thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổng hợp tất cả các yếu tố trong hệ thống sản xuất kinh doanh thì hiệu quả của chi phí bộ phận thể hiện sự ảnh hưởng của từng yếu tố sản xuất đến hiệu quả toàn bộ hệ thống sản xuất kinh doanh đó
Cách phân loại này cho các nhà quản lý có thể thấy rõ được hiệu quả tổng hợp của toàn bộ hệ thống và hiệu quả hoạt động của từng yếu tố chi phí Từ đó cho phép các nhà quản lý có thể xác định được những khâu, những bộ phận còn yếu để kịp thời có biện pháp khắc phục, cũng như những khâu, những bộ phận mạnh để tăng cường, nhằm nâng cao hiệu quả của từng yếu tố cũng như hiệu quả của tổng hợp cả hệ thống
b Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
Theo phạm vi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta chia làm hai loại: hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
Hiệu quả sản xuất kinh doanh cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà biểu hiện tập trung nhất của nó là lợi nhuận
Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế Về cơ bản, nó chính là sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hay tổng thu nhập mà đất nước thu được trong mỗi kỳ kinh doanh so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí
Do đó phạm vi xét hiệu quả kinh tế quốc dân là rộng lớn hơn và bao trùm cả phạm vi xét hiệu quả kinh tế cá biệt Hiệu quả cá biệt là một bộ phận cấu thành nên hiệu quả kinh tế quốc dân là tổng hợp của hiệu quả sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Cơ sở của cách phân loại này là coi doanh nghiệp là một tế bào, một bộ phận của nền kinh tế và tổng giá trị thặng dư của toàn
bộ nền kinh tế, là tổng hợp giá trị thặng dư của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Sự nỗ lực nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
Trang 22trong khuôn khổ pháp luật cũng đồng thời làm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế
c Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Căn cứ vào phương pháp tính toán và việc áp dụng các chỉ tiêu hiệu quả, người
ta chia hiệu quả sản xuất kinh doanh thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Hiệu quả tuyệt đối thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí
bỏ ra để thực hiện kết quả đó Về mặt lượng, hiệu quả này thể hiện ở các chỉ tiêu: lợi nhuận, năng suất lao động, thời gian hoàn vốn
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối hoặc so sánh tương quan giữa các đại lượng thể hiện chi phí hay kết quả của các phương án Chỉ tiêu hiệu quả so sánh dùng để đánh giá mức độ hiệu quả của từng phương án từ đó chọn ra phương án có hiệu quả tối ưu nhất
d Hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị-xã hội
Cách phân loại này căn cứ vào tính chất của kết quả sản xuất kinh doanh mang lại Doanh nghiệp nào sản xuất kinh doanh mà mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn chi phí bỏ ra thì doanh nghiệp này đạt được hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế
là mục tiêu hàng đầu của hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh và nó được thể hiện tập trung nhất trong chỉ tiêu lợi nhuận Bên cạnh hiệu quả kinh tế, trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi mà doanh nghiệp mang lại lợi ích cho ngành, cho địa phương, cho toàn xã hội nhiều hơn những chi phí mà xã hội phải gánh chịu từ họ thì doanh nghiệp đó đạt được hiệu quả chính trị- xã hội Hiệu quả chính trị - xã hội thể hiện ở việc doanh nghiệp tạo ra nhiều công ăn việc làm, tạo điều kiện làm tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người lao động, thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế, chính trị mà đảng và Nhà nước đã đề ra
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phần lớn các doanh nghiệp do chạy theo lợi nhuận đã coi nhẹ hiệu quả chính trị - xã hội Do đó để đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững thì Nhà nước cũng như các doanh nghiệp phải cân đối vai trò của hai loại hiệu quả này Điều đó giải thích tại sao cần có sự tồn tại của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp công ích
Trang 231.1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước
Có rất nhiều doanh nghiệp đã trụ vững và phát triển đi lên nhưng bên cạnh đó cũng
có rất nhiều doanh nghiệp “vẫn đang loay hoay chưa tìm ra lối thoát ” và nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã phải đi đến phá sản, giải thể Vì vậy, để phát triển được trong cơ chế thị trường buộc các doanh nghiệp phải không ngừng tìm ra những biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình
a Sản xuất kinh doanh có hiệu quả - điều kiện sống còn của các doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường các chủ thể thường cạnh tranh với nhau rất gay gắt
để đảm bảo cho sự sinh tồn của mình, vì thế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn luôn linh hoạt để tìm hướng đi riêng cho mình Có những doanh nghiệp đi lên bằng việc tìm mọi cách triệt hạ các đối thủ, trốn lậu thuế, làm ăn phi pháp Những doanh nghiệp này thường chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, bởi vì xét trên phương diện đạo đức họ đã vi phạm các nguyên tắc đạo đức trong kinh doanh mà ngày nay luật chơi công bằng luôn được các doanh nghiệp ưa thích Trong thị trường ngày nay, các doanh nghiệp thường phải tìm ra cách đi riêng cho mình, nhưng tất cả họ đều phải trả lời những câu hỏi chung nhất của thị trường, đó là sản xuất cho ai? sản xuất ra cái gì? và sản xuất như thế nào? Tựu chung lại, điểm mấu chốt mà các doanh nghiệp phải giải quyết là tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của họ Quá trình sản xuất các hoạt động dịch vụ kinh doanh đều là những vòng quay liên hồi phục vụ cho một vòng đời sản phẩm Doanh nghiệp thường mong muốn vòng đời sản phẩm ngắn lại, quy mô mở rộng ra, giai đoạn tăng trưởng và phát triển sản phẩm được kéo dài thì đòi hỏi mỗi quyết định kinh doanh phải đúng đắn và mang tính hiệu quả cao Qua đó cho thấy bất kì một doanh nghiệp nào hoạt động không có hiệu quả trong
cơ chế thị trường tức là tự nhấn mình chết chìm trong '' vòng xoáy của các luồng cạnh tranh ''
Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp hiện nay đó chính là việc đi giải quyết bài toán mang tính sống còn, đó là sản xuất kinh doanh có mang lại hiệu
Trang 24quả? Nếu như trước kia, việc đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp chỉ dựa vào khả năng hoàn thành kế hoạch các chỉ tiêu Nhà nước giao cho, thì ngày nay các doanh nghiệp thường phải tự bươn trải để tìm kiếm và đáp ứng nhu cầu của thị trường Muốn vậy, trước tiên mỗi doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm giảm chi phí, giá thành, nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp mình
b Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh và
sự tiến bộ trong kinh doanh
Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Trong khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt hơn
Sự cạnh tranh lúc này không phải là các mặt hàng mà cạnh tranh cả chất lượng, giá cả… Trong khi mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể bóp chết doanh nghiệp trên thị trường Do vậy, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đều phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường Để được điều này thì các doanh nghiệp phải có hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt, giá cả hợp lý
Mặt khác hiệu quả sản xuất kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hóa bán, chất lượng không ngừng được hoàn thiện nâng cao… Như vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả, chính là hạt nhân cơ bản của thắng lợi trong cạnh tranh Và các dạng cạnh tranh nhau tức là không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Chính
sự nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là con đường của doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của mình
c Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu của nhà quản trị
Mục tiêu bao trùm và lâu dài của quá trình kinh doanh là tạo ra lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở các nguồn lực sẵn có Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp có nhiều phương thức khác nhau, trong đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để nhà quản trị thực hiện chức năng cuả mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết sản xuất
Trang 25đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các yếu
tố ảnh hưởng ( những yếu tố then chốt và những yếu tố phụ ) và từ đó đưa ra biện pháp thích hợp trên cả phương diện tăng kết quả và giảm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất: Trình độ lợi dụng các nguồn lực càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc
độ tăng kết quả lớn hơn tốc độ tăng chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào Như vậy, thông qua xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh, các nhà quản trị có thể kiểm soát được công việc kinh doanh của doanh nghiệp mình bằng việc so sánh, đánh giá, phân tích kinh tế nhằm tìm ra các giải pháp tối ưu, đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn để đạt được mục tiêu bao trùm cuối cùng là lợi nhuận
Tóm lại, qua tất cả các vấn đề trên cho thấy rằng sản xuất kinh doanh có hiệu
quả là cần thiết, là mục tiêu kinh tế tổng hợp cần đạt được trong mỗi kỳ kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường
1.1.3 Các quan điểm cơ bản trong đánh giá hiệu quả kinh doanh
Có rất nhiều quan điểm trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, xong tổng hợp chung lại ngày nay có 3 quan điểm đùng để đánh giá hiệu quả kinh doanh đó là:
- Quan điểm thứ nhất: Những người đi theo trường phái này cho rằng: “Hiệu
quả kinh doanh là kết quả đạt được của hoạt động kinh doanh đo bằng doanh thu, số lượng sản phẩm sản xuất ” Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường
là đại lượng có khả năng cân, đo, đong, đếm được như số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu bán hàng, thị phần, lợi nhuận Như vậy kết quả sản xuất kinh doanh thường là mục tiêu của doanh nghiệp Nếu đứng trên góc độ từng yếu tố riêng lẻ để xem xét, thì hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện trình độ, khả năng khai thác các yếu tố trong quá trình sản xuất, nó thể hiện ảnh hưởng của từng yếu tố đó đến kết quả cuối cùng của sản xuất kinh doanh
- Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh doanh là mối quan hệ so sánh giữa kết
quả đầu ra với chi phí đầu vào Hiệu quả sản xuất kinh doanh được tính như sau :
H = KQ - CP
Trang 26H: Là hiệu quả sản xuất kinh doanh
KQ: Kết quả đạt được
CP: Chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào
Do đó để tính được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta phải tính
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả, thì
kết quả là cơ sở để ta tính hiệu quả và hai đại lượng này tỷ lệ thuận với nhau
- Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện mối quan hệ
tương quan giữa kết quả thu được và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện
được kết quả theo hướng tăng thu giảm chi Phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh
thực chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để sử dụng
các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp Xét theo mục đích
cuối cùng thì hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với lợi nhuận Hiệu quả kinh
doanh được xác định theo công thức sau:
H = KQ/CP
H: Là hiệu quả sản xuất kinh doanh
KQ: Kết quả đạt được
CP: Chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào
Xét cho cùng hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện trình độ, khả năng tổ
chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp Nếu tổ chức sản xuất tốt và khả năng
quản lý cao thì doanh nghiệp có thể đảm bảo mua được các yếu tố đầu vào đủ về số
lượng, chất lượng tốt, đúng thời gian và giá cả hợp lý Đồng thời doanh nghiệp có
thể sản xuất sản phẩm chất lượng cao với giá thành rẻ, đưa ra tiêu thụ trên thị
trường một cách nhanh nhất với chi phí thấp nhất
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được gắn liền với việc
thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra Mục tiêu kinh doanh là trạng thái
của doanh nghiệp được xác định trong tương lai ngắn hạn và dài hạn Trước mỗi kỳ
kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải đặt ra cho mình các mục tiêu trong thời gian
trước mắt và lâu dài, từ đó lập ra các chiến lược, kế hoạch để thực hiện mục tiêu đó
Không thể nói một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi doanh nghiệp
Trang 27đó không thực hiện được các mục tiêu đã đề ra Do vậy để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một hệ thống các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với tình hình và khả năng của doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ với xu hướng biến động của thị trường Khi đánh giá về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải gắn chặt nó trong mối quan hệ với hiệu quả kinh
tế xã hội Đó là việc xem xét các chỉ tiêu: Giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao trình độ văn hoá, nâng cao mức sống của người lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường dành được hiệu quả cao cho doanh nghiệp là chưa đủ mà còn phải thực hiện được mục tiêu hiệu quả của cả ngành, cả địa phương và toàn xã hội
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và phương pháp xác định
Khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cần phải dựa vào một hệ thống tiêu chuẩn, các doanh nghiệp phải coi các tiêu chuẩn là mục tiêu phấn đấu Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là biểu hiện đặc trưng về lượng tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, trên thực tế để đánh giá hiệu quả, người ta thường phải sử dụng cả hệ thống chỉ tiêu Sở dĩ có điều
đó là vì bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động
xã hội để sản xuất ra hàng hoá, tuy nhiên việc tính toán nó là rất khó khăn Mặt khác, bản thân mỗi chỉ tiêu lại phản ánh hiệu quả ở một khía cạnh và mỗi chỉ tiêu đó đều có những ưu, nhược điểm riêng Một sự phân tích tổng hợp dựa trên cả hệ thống chỉ tiêu sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.4.1 Quan điểm đánh giá hiệu quả kinh doanh
Việc phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đều nhằm mục đích nhận thức và đánh giá đúng đắn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Qua đó thấy được trình độ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đánh giá được chất lượng của phương án kinh doanh mà doanh nghiệp đã
đề ra Thông qua đó phát hiện ra những ưu điểm cần phát huy và hạn chế, những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 28cần khắc phục, từ đó có thể đưa ra nhưng phương pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua các phương án dử dụng tối ưu các nguồn lực
Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh phụ thuộc và việc :
- Đo lường các yếu tố đầu vào
- Đo lường các yếu tố đầu ra
- So sánh các tỷ số
Nhưng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả phải đáp ứng yêu cầu:
- Đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang tính chất đặc thù của ngành và bao gồm các chỉ tiêu được chọn lọc kỹ lưỡng
- Hiệu quả phải là hiệu quả lâu dài
- Hiệu quả phải nhất quán ở phương diện vật chất
- Hiệu quả phải vừa phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa phải phản ánh một cách chi tiết, cụ thể từng mặt hoạt động
- Hiệu qủa phải bao gồm các chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng, chỉ sử dụng các chỉ tiêu đo lường bằng thước đo giá trị, không sử dụng các chỉ tiêu theo thước đo hiện vật
- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính hướng đích: Phục vụ tốt cho yêu cầu của công tác quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó phải đáp ứng tốt nhất cho người ra quyết định nắm bắt được thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
So sánh các chỉ tiêu đó với đối thủ cạnh tranh để biết được tọa độ doanh nghiệp mình trên thị trường trong và ngoài nước để có chiến lược kinh doanh hợp lý
- Phải có tính thực tiễn: Hệ thống chỉ tiêu có thể thu thập được từ hệ thống hạch toán mà đơn vị đã và đang áp dụng, hoặc có thể sẽ được tổ chức ghi chép thông tin trong tương lai gần
- Hệ thống chỉ tiêu phải phù hợp với khả năng thanh toán của đa phần các doanh nghiệp
- Đảm bảo tính hữu ích: Hệ thống chỉ tiêu phải có tác dụng thiết thực phục
vụ cho công tác quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 291.1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp
a, Sức sản xuất kinh doanh của nguồn lực
Sức sản xuất kinh doanh =
Doanh thu Chi phí nguồn lực Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được 1 đồng doanh thu doanh nghiệp phải mất bao nhiêu chi phí cho nguồn lực
b, Sức sinh lợi
Sức sinh lợi =
Lợi nhuận Chi phí nguồn lực
Sức sinh lợi là chỉ số phản ánh mức sinh lời của các nguồn lực, khẳng định mức độ đạt hiệu quả kinh doanh của các nguồn lực như vốn, tài sản… Nhiều tác giả coi các chỉ tiêu này là thước đo mang tính quyết định đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
c,Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận =
Lợi nhuận
x 100 Doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng doanh thu, 1 đồng vốn đấu tư hay 1 đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu % đồng lời cho doanh nghiệp
1.1.4.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Số lượng
và chất lượng lao động là thành phần quan trọng quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp Ta có các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động sau :
a, Năng suất lao động =
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Tổng số lao động BQ trong kỳ Chỉ tiêu này biểu hiện trực tiếp hiệu quả sử dụng lao động trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh
Trang 30Hiệu suất sử dụng tiền lương cho biết chỉ ra một đồng tiền lương đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiệu suất tiền lương tăng lên khi năng suất lao động tăng với nhịp độ cao hơn nhịp độ tăng tiền lương
c, Lợi nhuận BQ tính cho
một lao động =
Lợi nhuận trong kỳ (ròng) Tổng số lao động BQ trong kỳ Lợi nhuận BQ tính cho
một lao động =
Doanh thu Tổng mức lương Chỉ tiêu này phản ánh một lao động sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời kỳ phân tích
d, Hệ số sử dụng thời
gian lao động =
Thời gian làm việc thực tế Thời gian làm việc theo chế độ Chỉ tiêu này phản ánh khả năng huy động nguồn lực lao động vào sản xuất kinh doanh
1.1.4.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
a, Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn
Vòng quay của VNH = Doanh thu thuần
Vốn ngắn hạn BQ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bình quân đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.Nếu như số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại
Sức sinh lời
vốn ngắn hạn =
Lợi nhuận trước thuế Vốn ngắn hạn BQ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ
Thời gian của một vòng
luân chuyển vốn ngắn hạn =
Thời gian của thời kỳ phân tích (1 năm)
Số vòng quay của vốn ngắn hạn trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để cho vốn ngắn hạn quay được một vòng, càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn
Trang 31b Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn dài hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được tính toán qua nhiều chỉ tiêu nhưng phổ biến là các chỉ tiêu sau:
* Sức sinh lời của tài sản cố định:
Sức sinh lời của
tài sản cố định =
Lợi nhuận trước thuế Nguyên giá BQ tài sản cố định Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá tài sản cố định đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần
* Sức hao phí của tài sản cố định:
Sức hao phí của
tài sản cố định =
Nguyên giá bình quân tài sản cố định Doanh thu hay giá trị SXCN Chỉ tiêu này cho thấy để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận thuần phải cần bao nhiêu nguyên giá tài sản cố định
1.1.4.5 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí
Năng suất sử dụng chi phí = Giá trị sản xuất
Tổng chi phí sản xuất Chỉ tiêu này phản ánh bình quân 1 đồng tổng chi phí sản xuất trong kỳ làm ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
1.1.4.6 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kĩ thuật là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh và thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp
(1.12)
(1.13)
(1.14)
(1.15)
Trang 32qua hệ thống nhà xưởng, kho tàng, bến bãi
Có thể đánh giá quy mô của doanh nghiệp tăng hay giảm, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp có được tăng cường, bổ sung hay không thể hiện qua tình hình tăng thêm hay giảm xuống của tài sản cố định
Khoản đầu tư dài hạn tăng sẽ tạo nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp Đầu tư mua sắm trang thiết bị, đầu tư chiều sâu được đánh giá thông qua chỉ tiêu tỷ suất đầu tư Tỷ suất này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp
Tỷ suất đầu tư = Tài sản cố định và đầu tư dài hạn x 100
Tổng tài sản
Sức sản xuất của TSCĐ = Tổng doanh thu thuần
Nguyên giá TSCĐ Sức sản xuất của tài sản cố định phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại mấy đồng doanh thu thuần
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Để đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt hay không tốt thì doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố Các nhân tố này có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và luôn là đối tượng nghiên cứu các chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp kinh doanh vận tải cũng như rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế quốc dân cũng đều chịu ảnh hưởng của những nhân
tố chính sau:
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, nó liên quan tới tất
cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh do đó nó chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau Muốn đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trước hết Doanh nghiệp phải xác định được nhân tố nào tác động đến kinh doanh và đến hiệu quả kinh doanh nếu không làm được điều này thì Doanh nghiệp không thể biết được hiệu quả hình thành từ đâu và cái gì sẽ quyết định nó Việc kinh doanh tiến triển tốt phụ thuộc vào sự am hiểu tường tận các điều kiện môi trường mà Doanh nghiệp
(1.16)
(1.17)
Trang 33phải đương đầu Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh, nhưng chúng ta có thể nghiên cứu môi trường tổng quát của Doanh nghiệp thành hai nhân
tố chính: Nhân tố bên trong Doanh nghiệp (hoàn cảnh nội bộ) và nhân tố bên ngoài Doanh nghiệp (môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp) Sau đây ta đi vào phân tích cụ thể tác động theo 2 nhóm này
1.1.5.1 Các nhân tố khách quan
Môi trường bên ngoài là hệ thống toàn bộ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp có liên quan và ảnh hưởng tới quá trình tồn tại, vận hành và phát triển doanh nghiệp Các nhân tố bên ngoài bao gồm:
a, Môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, sinh thái, công nghệ
Môi trường kinh doanh và sự cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả được thì đòi hỏi tình hình Kinh tế - Chính trị - Xã hội trong nó phải ổn định, thống nhất phát triển với nhau, đây là yếu tố hàng đầu giúp cho nền kinh tế phát triển, và khi đó các doanh nghiệp chính là nhân tố bên trong giúp cho nền kinh tế có được những bước tiến cao nhất Những yếu tố đó bao gồm: sự biến động của quan hệ cung cầu, thế và lực của khách hàng, nhà cung ứng, sự thay đổi của các chính sách kinh tế, chính sách đầu
tư, chính sách tiền tệ, của Nhà nước Những doanh nghiệp nào thích ứng được sự thay đổi của thị trường thì doanh nghiệp đó sẽ hoạt động kinh doanh có hiệu quả và tồn tại phát triển bền vững ngược lại phải chấp nhận thua lỗ hoặc phá sản
Pháp lý:
Bao gồm luật, các văn bản dưới luật, quy định Tất cả những quy định pháp luật về hoạt động sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình vừa điều chỉnh các hoạt động kinh doanh vĩ mô theo hướng đảm bảo lợi ích cả doanh nghiệp và xã hội
Văn hoá xã hội:
Trang 34Mọi yếu tố văn hoá xã hội đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Các yếu tố về văn hoá như: điều kiện xã hội, trình độ giáo dục, phong cách lối sống, tôn giáo, tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng, đều ảnh hưởng rất lớn Yếu tố trình độ giáo dục sẽ ảnh hưởng tới doanh nghiệp đào tạo đội ngũ lao động chuyên môn cao
và khả năng tiếp thu các kiến thức KH-KT, tác động tới việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại
Sinh thái và cơ sở hạ tầng, kinh tế công nghiệp và môi trường quốc tế
Đó là tình trạng môi trường, xử lý phế thải, các ràng buộc xã hội về môi trường có tác động một cách chừng mực tới hiệu quả sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh cần phải thực hiện các nghĩa vụ với môi trường như đảm bảo xử lý chất thải, sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách hiệu quả và tiết kiệm, nhằm đảm bảo một môi trường trong sạch Môi trường bên ngoài trong sạch thoáng mát sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường làm việc bên trong của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất
Yếu tố cơ sở hạ tầng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh trong việc xây dựng cơ sở vật chất liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giảm thời gian vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp, do đó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh Trong nhiều trường hợp, khi điều kiện cơ sở hạ tầng còn thấp kém còn ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu tư hoặc gây cản trở đối với các hoạt động cung ứng vật tư, kỹ thuật mua bán hàng hoá và khi đó tác động xấu tới hiệu qủa sản xuất kinh doanh
b, Các chính sách của chính phủ
Đây là yếu tố điều tiết mang tầm vĩ mô các hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn bộ nền kinh tế Sự điều tiết được thể hiện thông qua pháp luật, các nghị định dưới luật và các quy định nhằm điều chỉnh nền kinh tế theo một định hướng chung, khắc phục những mặt trái của nền kinh tế như khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy đây là sự can thiệp một cách tích cực của Nhà nước
Trang 35Các yếu tố về chính trị có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố kinh tế vĩ mô Đây là những nhân tố khuyến khích hoặc hạn chế quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh Ví dụ: Chính sách của Chính Phủ có thể làm tăng cường sự liên kết của các thị trường và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng hoạt động xuất nhập khẩu bằng việc
dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và chi phí thuế quan thiết lập mối quan hệ cơ sở hạ tầng của thị trường Hay nói cách khác các chính sách của CP có thể được đặt ra để bảo vệ các Doanh nghiệp trong nước và thị trường nội địa khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài thông qua việc đặt các rào chắn, bằng việc đề ra các chính sách kinh tế
có lợi cho mình Mặt khác, sự không ổn định về chính trị sẽ cản trở sự phát triển kinh tế đất nước và tạo tâm lý không tốt cho các nhà kinh doanh, từ đó có thể dẫn đến sự trì trệ trong hoạt động kinh tế
Mỗi quốc gia đều có hệ thống luật pháp riêng, để điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình, thêm vào đó là sự ràng buộc của hệ thống pháp luật quốc tế Các yếu tố luật pháp ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các mặt sau:
- Quy định về giao dịch hợp đồng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Quy định về lao động, tiền lương, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, đình công, bãi công
- Quy định về cạnh tranh, độc quyền, các loại thuế
- Quy định về vấn đề bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, giao hàng, thực hiện hợp đồng
Các yếu tố trên buộc Doanh nghiệp phải tìm hiểu rõ môi trường chính trị luật pháp khi muốn tham gia kinh doanh quốc tế, để hoạt động có hiệu quả
Trang 36- Giá mua vào: Có vai trò quan trọng ánh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
Nó cần được xác định một cách chính xác để làm sao giá bán ra phù hợp với tình hình giá cả trên thị trường Giá mua vào càng thấp càng tốt và để đạt được giá mua vào thấp thì Doanh nghiệp cần phải tìm hiểu thị trường, lựa chọn thị trường mua hợp lý Doanh nghiệp càng có mối quan hệ, có nhiều nhà cung ứng thì đây là điều kiện thuận lợi cho phép Doanh nghiệp khảo giá và lựa chọn được mức giá hợp lý từ phía các nhà cung cấp
- Giá bán ra: ảnh hưởng đến lợi nhuận của Doanh nghiệp, nó xác định bằng
sự thoả thuận của người mua và người bán thông qua quan hệ cung cầu Để đạt hiệu quả kinh doanh thì giá bán đảm bảo lớn hơn giá thành sản xuất cộng với chi phí lưu thông Do vậy, để đạt được hiệu quả kinh doanh phải dự báo giá cả và thị trường
Doanh nghiệp cần phải phân tích khách hàng hiện tại và tương lai Các thông tin thu được từ phân tích sẽ là cở sở định hướng quan trọng cho các kế hoạch hoạt động kinh doanh Nó là yếu tố quan trọng cho việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Khách hàng là người tiêu dùng các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra Khách hàng với tất cả các yếu tố đi kèm: Khả năng thanh toán, động cơ mua sắm, thị hiếu tiêu dùng… chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Với mỗi doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, việc xác định khu vực tiêu thụ, sở thích, thị hiếu, tâm lý… của khách hàng là yếu tố tối cần thiết
Nếu trong thời kỳ bao cấp, khách hàng phải đặt chỗ, chen lấn, xô đẩy để mua được hàng thì ngày nay các nhà kinh doanh luôn phải trả lời câu hỏi: làm thế nào để làm vừa lòng khách hàng nhất? Trong mối quan hệ với khách hàng, để có thể thu
Trang 37được nhiều lợi ích hơn từ phải khách hàng, có nhiều khách hàng hơn, doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu kỹ về quy mô khách hàng, kết cấu khách hàng, quy mô nhu cầu, động cơ mua bán, thị hiếu của khách hàng… từ đó đưa ra được chiến lược kinh doanh hợp lý, hạn chế được việc gây sức ép từ phía khách hàng
Nhà cung cấp
Những người cung ứng là các doanh nghiệp và các cá nhân đảm bảo cung ứng các yếu tố cần thiết cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh để có thể sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhất định Bất kỳ một sự biến đổi nào từ phía người cung ứng, sớm hay muộn, trực tiếp hay gián tiếp cũng sẽ gây ra ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thật vậy, đối với doanh nghiệp thì muốn có hàng hoá bán cho khách hàng thì doanh nghiệp phải luôn luôn được cung ứng hàng hoá Việc tổ chức nguồn hàng nhằm tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá được diễn
ra thường xuyên liên tục thể hiện sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Do đó các nhà cung ứng có thể giành được quyền lực thương lượng lớn hơn các doanh nghiệp trong một ngành hàng nhất định qua đe doạ tăng giá, giảm chất lượng các hàng hóa và dịch vụ mà họ đang cung cấp, hoặc chia phần cung ứng giữa các khách hàng khác nhau Các doanh nghiệp nhỏ phụ thuộc vào một nhà cung cấp hoặc một nhóm nhà cung cấp nhất định thường ở vào tình thế nguy hiểm đặc thù bị tăng các chi phí cung ứng mà không thể chuyển những gia tăng này sang người tiêu dùng Chính vì thế, nhà quản lý của doanh nghiệp phải luôn luôn có đầy đủ các thông tin chính xác về tình trạng, số lượng, chất lượng, giá cả hiện tại và tương lai của các yếu tố nguồn lực cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ
Đối thủ cạnh tranh
Yếu tố cạnh tranh có tác động lớn tới hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp thương mại Hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng đối với Doanh nghiệp Các đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành hàng đang kinh doanh của Doanh nghiệp Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng Doanh nghiệp tham gia trong ngành hàng, sự đa dạng hoá của sản phẩm
Các tác động của cạnh tranh đòi hỏi Doanh nghiệp cần phải có những ứng xử
Trang 38hợp lý mới có thể đẩy mạnh được hoạt động kinh doanh của mình Việc phân tích các đối thủ cạnh tranh có vai trò quan trọng hàng đầu khi xem xét yếu tố cạnh tranh trong môi trường vi mô của Doanh nghiệp Doanh nghiệp cần đánh giá đúng đối thủ cạnh tranh của mình, xem xét các năng lực triển vọng của đối thủ cạnh tranh Tiềm lực của đối thủ cạnh tranh sẽ là nhân tố tác động quyết định chia sẻ thị phần trên thị trường
Các yếu tố ảnh hưởng khác
Tiến bộ về khoa học ứng dụng là xu thế của kinh tế thị trường, nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại giúp hành trình vận chuyển giữa các quốc gia rút ngắn lại tạo điều kiện cho tốc độ lưu chuyển hàng hoá tăng nhanh, nhờ đó nâng cao được hiệu quả kinh doanh
Lợi thế thương mại, uy tín và danh tiếng Doanh nghiệp
Một Doanh nghiệp có uy tín lớn đối với khách hàng, bao giờ cũng có lợi thế cạnh tranh cao hơn, do đó tiêu thụ được nhiều hàng hoá hơn, thậm chí có thể bán được với giá cao Thực chất đây là kết quả gặt hái được từ chất lượng kinh doanh của Doanh nghiệp trong quá khứ
Tập quán dân cư và mức độ thu nhập bình quân
Đây là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Nó quyết định mức độ số lượng, chất lượng, chủng loại Doanh nghiệp cần nắm bắt và nghiên cứu để làm sao phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng ở mức giá cả chấp nhận được Bởi các yếu tố này tác động một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp
Ngoài ra, còn rất nhiều những nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh mà Doanh nghiệp cần quan tâm xem xét để đánh giá mức độ tác động như yếu tố văn hoá xã hội, dân cư
1.1.5.2 Những nhân chủ quan
Những nhân tố chủ quan hay những nhân tố thuộc về bên trong Doanh nghiệp chính là những nhân tố thuộc hoàn cảnh nội bộ của một Doanh nghiệp Các Doanh nghiệp phải cố gắng phân tích một cách cặn kẽ các yếu tố nội bộ đó nhằm tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của Doanh nghiệp qua đó xác định được năng
Trang 39lực và những lợi thế cạnh tranh của Doanh nghiệp Trong guồng máy hoạt động chung của Doanh nghiệp mỗi nhân tố đóng một vai trò nhất định mà nếu thiếu nó thì toàn bộ hệ thống sẽ hoạt động kém hiệu quả Dưới đây tôi xin đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng chính đến hiệu quả kinh doanh:
a, Nhân tố thị trường và Marketting
Đối với Doanh nghiệp thương mại do hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ để đáp ứng được những thay đổi của thị trường buộc Doanh nghiệp đó phải có bộ phận riêng để nghiên cứu thị trường Do đó yếu
tố Marketting ảnh hưởng rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh trong Doanh nghiệp Bộ phận Marketting bao gồm các khâu như: phân tích, lập kết hoạch, thực hiện kiểm tra các chương trình mà trọng tâm là việc xây dựng và phát huy các mối quan hệ trao đổi với khách hàng trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi Các nhu cầu, thị hiếu, sở thích của thị trường cần được thường xuyên quan tâm một cách có
hệ thống Từ đó Doanh nghiệp có thể đề ra các kế hoạch hành động hữu hiệu hơn về sản phẩm, định giá trong phân phối và giao tiếp với thị trường, với các nhóm khách hàng, các hãng mà Doanh nghiệp có dự định hướng tới
Thị trường luôn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiêu thụ Câu hỏi đầu tiên khi Doanh nghiệp bắt tay vào kinh doanh là Doanh nghiệp sẽ bán cái gì? Cho đối tượng nào? Đưa ra thị trường những sản phẩm nào? Nên tập trung vào một loại hàng hay đưa ra nhiều loại hàng? Và cách thức đưa ra thị trường như thế nào? Hàng hoá là đối tượng kinh doanh của Doanh nghiệp thương mại Việc chọn đúng mặt hàng kinh doanh có ý nghĩa quan trọng to lớn đối với sự thành công hay thất bại của Doanh nghiệp Mặt hàng kinh doanh là lời giải đáp cho Doanh nghiệp về một nhu cầu đã được lượng hoá thông qua nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường Cần phải nhận thức được rằng mọi mục tiêu của Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được nếu hàng hoá mà họ lựa chọn tiêu thụ được
b,Công nghệp và thiết bị
Đây cũng là một nhân tố rất quan trọng trong việc tăng chất lượng sản xuất,
áp dụng tiến bộ mới là điều kiện kiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất Nếu xét trong
Trang 40mối quan hệ với người lao động thì cơ sở vật chất kỹ thuật vừa là công cụ vừa là môi trường tốt để nâng cao năng lực của đội ngũ lao động Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã thực đóng vai trò quyết định đối với việc nâng cao năng suất chất lượng hiệu quả và đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế nước
ta Để phù hợp với xu thế chung đó hầu hết các Doanh nghiệp đã và đang tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nâng cao trang thiết bị kỹ thuật cho Doanh nghiệp mình Thực tế, đã cho thấy Doanh nghiệp nào tạo dựng được công nghệ sản xuất và hệ thống thiết bị hiện đại làm chủ yếu tố kỹ thuật và phát triển sản xuất kinh doanh thì Doanh nghiệp đó đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh cao khả năng trụ được trên thị trường cạnh tranh đem lại khả năng phát triển cho Doanh nghiệp
c, Tình hình vốn và sử dụng vốn
Vốn kinh doanh là một trong những tiềm năng quan trọng nhất của Doanh nghiệp Vốn lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan trọng để xếp Doanh nghiệp vào loại có quy mô lớn hay nhỏ Vốn kinh doanh là điều kiện để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh là cơ sở để hoạch định chiến lược và kế hoạch kinh doanh Nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở chi phí bỏ ra hay là tối thiểu hoá chi phí cho một mục tiêu nhất định nào đó Vì vậy vốn chính là cơ sở để tạo ra lợi nhuận Thiếu vốn sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến kinh doanh sẽ không tận dụng được lợi thế quy mô, thời cơ và cơ hội Vốn gồm có vốn
cố định và vốn lưu động
- Vốn cố định là vốn đầu tư vào tài sản cố định của Doanh nghiệp thương mại Vì tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình kinh doanh, sau mỗi chu kỳ kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nên giá trị của nó được chuyển dần vào giá trị sản phẩm Đặc điểm cơ bản nhất của kinh doanh thương mại
là gắn liền với quá trình phân phối và lưu thông hàng hoá Điều này quyết định cơ cấu vốn kinh doanh trong thương mại Cơ cấu tài sản cố định của Doanh nghiệp thương mại thương được tính bằng các loại, số lượng tài sản cố định và tỷ trọng của mỗi loại so với toàn bộ TSCĐ của Doanh nghiệp Cơ cấu đó và sự thay đổi của nó