1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án thử nghiệm khí hoá than ngầm dưới lòng đất ucg tại xã an vỹ, huyện khoái châu, tỉnh hưng yên

111 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Đáp ứng việc thực hiện mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời Để xác định chi phí, lợi íc

Trang 1

VŨ THỊ KIM DUNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI DỰ ÁN THỬ NGHIỆM KHÍ HÓA THAN NGẦM DƯỚI LÒNG ĐẤT UCG TẠI XÃ VỸ AN, HUYỆN KHOÁI

CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ 4

1.1 Tổng quan về dự án đầu tư 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư 4

1.1.1.2 Khái niệm về dự án đầu tư 5

1.1.1.3 Các khái niệm khác có liên quan 7

1.1.2 Phân loại dự án đầu tư 9

1.1.2.1 Theo cơ cấu tái sản xuất 9

1.1.2.2 Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội 9

1.1.2.3 Theo giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình sản xuất xã hội 10

1.1.2.4 Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư 10 1.1.2.5 Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư 10

1.1.2.6 Theo phân cấp quản lý 10

1.1.2.7 Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư 11

1.1.2.8 Theo nguồn vốn 11

1.2 Hiệu quả của dự án đầu tư 11

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả của dự án đầu tư 11

1.2.2 Phân loại hiệu quả của dự án đầu tư 11

1.2.2.1 Hiệu quả kinh tế tài chính (hiệu quả đứng từ góc nhìn của chủ đầu tư) 11

1.2.2.2 Hiệu quả kinh tế xã hội (hiệu quả đứng từ góc nhìn của các nhà quản lý kinh tế vĩ mô) 12

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư 13

1.2.3.1 Hiệu quả kinh tế tài chính của dự án đầu tư 13

Trang 3

1.2.3.2 Hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư 15

1.2.4 Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư 18

1.2.4.1 Mục tiêu phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư 18

1.2.4.2 Quan hệ giữa phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân 18

1.2.4.3 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội các dự án đầu tư 20

1.2.5 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư 22

1.2.5.1 Đặt vấn đề 22

1.2.5.2 Đánh giá sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế 23 1.2.5.3 Đánh giá các đóng góp của dự án đối với các mục tiêu khác 25

1.2.5.4 Ảnh hưởng của dự án đến các mục tiêu khác 27

1.3 Quan điểm của tác giả về đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư 29

1.3.1 Khái niệm về hạch toán bền vững 29

1.3.1.1 Khái niệm phát triển bền vững 29

1.3.1.2 Khái niệm về hạch toán bền vững 30

1.3.1.3 Khái niệm đầu tư bền vững 31

1.3.2 Mô hình hạch toán bền vững trong dự án đầu tư 32

1.3.3 Các bước thực hiện hạch toán bền vững 33

1.3.3.1 Hạch toán trực tiếp 33

1.3.3.2 Hạch toán gián tiếp 37

1.3.4 Đầu tư bền vững trên cơ sở hạch toán bền vững 38

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN THỬ NGHIỆM KHÍ HÓA THAN NGẦM DƯỚI LÒNG ĐẤT UCG TẠI XÃ AN VỸ, HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN 40

2.1 Giới thiệu tổng quan 40

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội thị trấn Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 40

2.1.1.1 Vị trí địa lý 40

Trang 4

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 40

2.1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 41

2.1.2 Sự hình thành và phát triển của dự án 43

2.1.3 Đặc điểm quản lý tổ chức của Ban 45

2.2 Phân tích công nghệ thử nghiệm khí hóa than ngầm dưới lòng đất của dự án 46

2.2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của khu vực thực hiện dự án 46

2.2.2 Mô tả công nghệ của dự án 48

2.2.2.1 Lịch sử công nghệ khí hóa than ngầm 48

2.2.2.2 Phân tích công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất UCG của dự án 51 Công tác vận hành 63

2.3 Phân tích dự án thử nghiệm khí hóa than ngầm dưới lòng đất UCG tại xã An Vỹ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 69

2.3.1 Nhu cầu và điều kiện thực hiện dự án 69

2.3.1.1 Nhu cầu về điện 69

2.3.1.2 Nhu cầu về nước 69

2.3.1.3 Nhu cầu về xăng dầu 70

2.3.1.4 Nhu cầu thiết bị dùng cho dự án 70

2.3.2 Những thách thức và rào cản của dự án 72

2.3.3 Triển vọng phát triển của dự án 75

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN THỬ NGHIỆM KHÍ HÓA THAN NGẦM DƯỚI LÒNG ĐẤT UCG TẠI XÃ AN VỸ, HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN 77

3.1 Sơ đồ dòng vật liệu và năng lượng của dự án 77

3.2 Xác định lượng đầu vào và đầu ra của dự án 77

3.2.1 Danh mục các chi phí môi trường và xã hội của dự án 77

3.2.2 Các chi phí đầu vào và đầu ra của dự án 78

3.3 Áp dụng hạch toán bền vững vào dự án 82

3.3.1 Xử lý chất thải và chất phát thải 83

Trang 5

3.3.1.1 Thiết bị liên quan 84

3.3.1.2 Bảo dưỡng và vận hành nguyên liệu và các dịch vụ 84

3.3.1.3 Chi phí nhân công liên quan đến môi trường 84

3.3.1.4 Thuế, phí, lệ phí 85

3.3.1.5 Tiền phạt 85

3.3.1.6 Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý môi trường 86

3.3.1.7 Các khoản dự phòng cho các chi phí làm sạch và phục hồi 86

3.3.1.8 Các chi phí xử lý khác 87

3.3.2 Quản lý giảm thiểu và quản lý môi trường 88

3.3.2.1 Các chi phí bên ngoài cho quản lý môi trường 89

3.3.2.2 Tiền lương cho các hoạt động quản lý môi trường 89

3.3.2.3 Chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển 89

3.3.2.4 Chi phí bổ sung cho công nghệ sạch hơn 89

3.3.2.5 Các chi phí quản lý môi trường khác 89

3.3.3 Chi phí phân bổ cho bán sản phẩm và chất thải 90

3.3.4 Khí hóa than ngầm với sự thu giữ niêm cất Cacbon (khí CO 2 ) 90

3.3.5 Doanh thu môi trường 92

3.4 Hạch toán các chi phí xã hội 93

3.4.1 Chi phí xã hội trong quá trình lập dự án và sản xuất 93

3.4.2 Chi phí xã hội của dự án liên quan đến cộng đồng địa phương 93

3.4.3 Chi phí xã hội liên quan đến việc nộp ngân sách nhà nước 94

3.5 Phân tích chi phí – lợi ích của dự án 95

3.6 Đánh giá một số chỉ tiêu hiệu quả xã hội khác của dự án 97

3.6.1 Những lợi ích của việc triển khai Dự án thử nghiệm khí hoá than ngầm 97

3.6.1.1 Nhóm lợi ích kinh tế 98

3.6.1.2 Nhóm lợi ích môi trường 98

3.6.1.3 Nhóm lợi ích xã hội 98

3.6.2 Đánh giá một số giả định về triển khai dự án khí hóa than ngầm 99

3.6.2.1 Không triển khai thử nghiệm Dự án về khí hoá than ngầm 99

Trang 6

3.6.2.2 Triển khai chậm hơn Dự án 99

3.6.2.3 Triển khai Dự án ở quy mô nhỏ 99

3.6.2.4 Triển khai Dự án ở quy mô lớn 99

3.6.2.5 Triển khai Dự án ở địa điểm khác 99

3.6.2.6 Triển khai đầu tư công nghệ khác để cùng đạt được mục đích 100

3.6.2.7 Phương án sử dụng tài nguyên khác để cùng đạt được mục đích 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………105

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với Việt Nam, ngành than là một trong những ngành then chốt, có vai trò vô cùng quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội; góp phần không nhỏ trong công cuộc xóa đói giảm nghèo; đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đảm bảo an ninh quốc phòng cho đất nước

Sản phẩm của ngành than còn được coi là huyết mạch của nền kinh tế hiện đại, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, là một tài nguyên khoáng sản lớn của đất nước Tuy nhiên, than tại các mỏ đang khai thác đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt

và thiếu trầm trọng trong giai đoạn sắp tới Tài nguyên khoáng sản than của nước ta còn rất nhiều nhưng lại có trữ lượng lớn tại vùng đồng bằng Sông Hồng Việc khai thác than ở vùng đồng bằng khác với việc khai thác than truyền thống từ trước đến giờ do đặc điểm địa hình, dân cư; nó đòi hỏi phải có một công nghệ khai thác mới phù hợp và theo nghiên cứu thì công nghệ khí hoá than ngầm dưới lòng đất (UCG)

là phù hợp nhất Công nghệ UCG chưa từng được áp dụng để khai thác than tại Việt Nam hơn nữa theo quy hoạch phát triển ngành than được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì bể than đồng bằng Sông Hồng sẽ được ưu tiên phát triển trong thời gian sắp tới nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

Ban Quản lý các dự án Than Đồng Bằng Sông Hồng – Vinacomin được thành lập với chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng: phát triển các bể than tại đồng bằng Sông Hồng, đi đầu về công nghệ khai thác than mới (UCG) Để khẳng định sự phù hợp của công nghệ UCG vào sản xuất than tại Việt Nam cũng như đảm bảo nâng cao năng suất khai thác than thì cần phải thực hiện dự án thử nghiệm khí hoá than ngầm UCG, và để quyết định có thực hiện dự án thử nghiệm này không thì chúng ta cần phải đánh giá tính khả thi và hiệu quả thành công của dự án

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế xã

hội dự án thử nghiệm khí hoá than ngầm dưới lòng đất UCG tại xã An Vỹ, huyện

Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên ” làm luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 9

2 Mục đích của đề tài

Mục đích của đề tài này là trên cơ sở nghiên cứu những lý luận cơ bản về đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án và lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu để:

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc thực hiện dự án UCG

- Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án khí hóa than ngầm dưới lòng đất tại

xã An Vỹ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Từ đó tạo cơ sở cho những quyết định về thử nghiệm, khai thác, sử dụng hợp lý nhất, tốt nhất tài nguyên than tại các vùng đồng bằng Sông Hồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: dự án khí hóa than ngầm dưới lòng đất tại xã An Vỹ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Phạm vi nghiên cứu: những vấn đề cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả kinh tế

xã hội của dự án và cơ sở thực tiễn của việc thực hiện dự án khí hóa than ngầm dưới lòng đất tại xã An Vỹ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên để đánh giá hiệu quả kinh

tế xã hội của dự án UCG

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp dự báo, phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phương pháp so sánh đối chiếu, các phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Luận giải những vấn đề lý luận cơ bản đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của

dự án

- Phản ánh đúng giá trị kinh tế xã hội của dự án thử nghiệm khí hóa than ngầm dưới lòng đất tại xã An Vỹ, huyện Khoái Châu, Hưng Yên Từ đó làm cơ sở cho quyết định có thực hiện dự án hay không

- Đề tài cũng có thể được sử dụng làm cơ sở để các cơ quan chức năng ra quyết định quản lý, phát triển bể than đồng bằng Sông Hồng

6 Nội dung nghiên cứu

Kết cấu của luận văn gồm có 3 chương:

Trang 10

Chương I: Những vấn đề cơ bản về đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự

án đầu tư

Chương II: Tổng quan về dự án thử nghiệm khí hóa than ngầm dưới lòng

đất UCG tại xã An Vỹ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Chương III: Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án thử nghiệm khí hóa

than ngầm dưới lòng đất UCG tại xã An Vỹ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA DỰ

ÁN ĐẦU TƯ 1.1 Tổng quan về dự án đầu tư

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư

Trước khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005, khái niệm đầu tư kinh doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật Luật Đầu tư, với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, đã định nghĩa:

"Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư"

Người ta thường quan niệm đầu tư là việc bỏ vốn hôm nay để mong thu được lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên tương lai chứa đầy những yếu tố bất định mà ta khó biết trước được Vì vậy khi đề cập đến khía cạnh rủi ro, bất chắc trong việc đầu

tư thì các nhà kinh tế quan niệm rằng: đầu tư là đánh bạc với tương lai Còn khi đề cập đến yếu tố thời gian trong đầu tư thì các nhà kinh tế lại quan niệm rằng: Đầu tư

là để dành tiêu dùng hiện tại và kì vọng một tiêu dùng lớn hơn trong tương lai

Tuy ở mỗi góc độ khác nhau người ta có thể đưa ra các quan niệm khác nhau

về đầu tư, nhưng một quan niệm hoàn chỉnh về đầu tư phải bao gồm các đặc trưng sau đây:

- Công việc đầu tư phải bỏ vốn ban đầu

- Đầu tư luôn gắn liền với rủi ro, mạo hiểm… Do vậy các nhà đầu tư phải nhìn nhận trước những khó khăn nay để có biện pháp phòng ngừa

- Mục tiêu của đầu tư là hiệu quả Nhưng ở những vị trí khác nhau, người ta cũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Với các doanh nghiêp thường thiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận Còn đối với nhà nước lại muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội.Trong nhiều trường hợp lợi ích xã hội được đặt lên hàng đầu

Trang 12

Vì vậy một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về lĩnh vực đầu tư như sau: Đầu tư là một hình thức bỏ vốn vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm thu được những lợi ích kì vọng trong tương lai

Ở đây ta cần lưu ý rằng nguồn vốn đầu tư này không chỉ đơn thuần là các tài sản hữu hình như: tiền vốn, đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, hàng hoá….mà còn bao gồm các loại tài sản vô hình như: bằng sáng chế, phát minh nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kĩ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại, quyền thăm dò khai thác, sử dụng tài nguyên

1.1.1.2 Khái niệm về dự án đầu tư

Có nhiều cách định nghĩa dự án Tuỳ theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: cách hiểu

“tĩnh” và cách hiểu “động” Theo cách hiểu thứ nhất “tĩnh” thì dự án là hình tượng

về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới Theo cách hiểu thứ hai

“động” có thể định nghĩa dự án như sau:

Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm

vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới

Như vậy theo định nghĩa này thì:

Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định

Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên một thực thể mới

Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau:

Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất

Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính:

Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn) Nghĩa là, mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc khi xác định rõ ràng mục tiêu của dự án không thể đạt được và dự án bị loại

bỏ

Trang 13

Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác Dù định nghĩa khác nhau nhưng có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của khái niệm dự

án như sau:

Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng Mỗi dự án thể hiện một hoặc một nhóm

nhiệm vụ cần được thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên cần được chia thành nhiều bộ phận khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao

Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn Nghĩa là, giống

như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc

Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án… Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều

bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các

cơ quan quản lý nhà nước Tuỳ theo tính chất và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên là khác nhau Giữa các bộ phận quản lý chức năng

và nhóm quản lý dự án thường xuyên có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau Vì mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các

bộ phận quản lý khác

Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ) Khác với quá

trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất Lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại

Môi trường hoạt động “va chạm” Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau

cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị Một số trường hợp, các thành viên quản lý dự án thường có hai thủ trưởng trong cùng một thời gian nên

sẽ gặp khó khăn không biết thực hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau

Trang 14

Tính bất định và độ rủi ro cao Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn, vật tư

và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao

1.1.1.3 Các khái niệm khác có liên quan

* Chu kỳ của dự án đầu tư

Chu kỳ của hoạt động đầu tư là các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động

Ta có thể minh hoạ chu kỳ của dự án theo sơ đồ sau đây:

Hình 1.1 Chu kỳ của dự án đầu tư

Chu kỳ một dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn: Giai đoạn tiền đầu

tư (Chuẩn bị đầu tư), giai đoạn đầu tư (Thực hiện đầu tư) và giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư (Sản xuất kinh doanh) Mỗi giai đoạn lại được chia làm nhiều bước Chúng ta có thể sơ đồ hoá như sau:

Tiền đầu

tư Đầu tư

Vận hành kết quả đầu tư

dự ánBCNC

KT )

Đánh giá

và quyết định (thẩm định dự án)

Đàm phán và

kí kết các hợp đồng

Thiết

kế và lập dự toánthi công xây lắp công trình

Thi công xây lắp công trình

Chạy thử và nghiệm thu sử dụng

Sử dụng chưa hết công suất

Sử dụng công suất

ở mức

độ cao nhất

Công suất giảm dần

và thanh

Hình 1.2 Các bước công việc của một dự án đầu tư

Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm

Trang 15

nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp

* Quản lý dự án

Phương pháp quản lý dự án lần đầu được áp dụng trong lĩnh vực quân sự Mỹ vào những năm 1950, đến nay nó nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi vào các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng và xã hội Có hai lực lượng cơ bản thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp quản lý dự án là:

Nhu cầu ngày càng tăng những hàng hoá và dịch vụ sản xuất phức tạp, kỹ nghệ tinh vi, trong khi khách hàng ngày càng khó tính;

Kiến thức của con người (hiểu biết tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật) ngày càng tăng

Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về

kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép

Quản lý dự án bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện

và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu xác định

Lập kế hoạch Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việc

cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự logic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ

đồ hệ thống

Điều phối thực hiện dự án Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm: tiền

vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hoá thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ dự

án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc)

Giám sát là quá trình theo dõi, kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn

thành, giải quyết những vấn để liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng

Trang 16

Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày trong hình 1.3

1.1.2 Phân loại dự án đầu tư

1.1.2.1 Theo cơ cấu tái sản xuất

Dự án đầu tư được chia thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu Trong đó đầu tư chiều rộng có vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao Còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầutư không lâu và độ mạo hiểm ít hơn so với đầu tư theo chiều rộng

1.1.2.2 Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội

Có thể chia thành dự án đầu tư phát triển kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội),…

Trang 17

Hoạt động của các dự án đầu tư này có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển xản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, đến lượt mình các dự án đầu

tư phát triển sản xuất kinh doanh lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác

1.1.2.3 Theo giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình sản xuất xã hội

- Đầu tư thương mại: hoạt động đầu tư mà thời gian thưch hiện đầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngăn hạn, vốn vận động nhanh ,

độ mạo hiểm thấp do trong thời gian ngắn tính bất định không cao, lại dễ dự đoán

và dự đoán dễ đạt đọ chính xác cao

- Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn (5,10,20 năm hoặc lâu hơn), vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thưch hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính hoạt động đầu tư phức tạp, phải chịu nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được

1.1.2.4 Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư

- Đầu tư ngắn hạn: tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn, thương do những chủ đầu tư ít vồn thực hiện, đầu tư vào các hoạt động nhanh chóng thu hồi vốn

- Đầu tư dài hạn là việc đầu tư xây dựng các công trình đòi hỏi vốn đầu tư dài, khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu

1.1.2.5 Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư

- Đầu tư gián tiếp: trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thưc hiện và vận hành các kết quả đầu tư Người có vốn thong qua các hoạt động tài chính trung gian để đầu tư phát triển

- Đầu tư trực tiếp: người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện vận hành các kết quả đầu tư Loại đầu tư này tạo nên hững năng lực sản xuất phuc vụ mới ( cả lương và chất)

1.1.2.6 Theo phân cấp quản lý

Đầu tư phát triển được chia thành đầu tư theo các dự án quan trọng quốc gia, dự

án nhóm A, B,C

Trang 18

Tùy theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án mà phân thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C Trong đó dự án quan trọng quốc gia do quốc hội quyết định, dự án nhóm A do thủ tướng chính phủ quyết định, nhóm B, C do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định

1.1.2.7 Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư

- Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định

- Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho các cơ sở hiện có, duy trì các hoạt động của cơ sở vật chất kĩ thuật không thuộc các doanh nghiệp Đầu

tư cơ bản quyết định đầu tư vận hành, đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả đầu tư cơ bản phát huy tác dụng

1.2 Hiệu quả của dự án đầu tư

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả của dự án đầu tư

Hiệu quả của dự án đầu tư là đánh giá toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án Hiệu quả của dự án được đặc trưng bằng 2 nhóm chỉ tiêu:

- Định tính: thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được

- Định lượng: thể hiện quan hệ giữa lợi ích và chi phí của dự án

1.2.2 Phân loại hiệu quả của dự án đầu tư

1.2.2.1 Hiệu quả kinh tế tài chính (hiệu quả đứng từ góc nhìn của chủ đầu tư)

Khi đánh giá dự án đầu tư, các chủ đầu tư lẽ dĩ nhiên phải xuất phát trước hết

từ lợi ích trực tiếp của họ, tuy nhiên các lơi ích này phải nằm trong khuôn khổ lợi ích chung của quốc gia Các tổ chức tài trợ cho các dự án đầu tư cũng xuất phát trước hết từ lợi ích của chính họ có tính đến lợi ích chung và các hạn chế của pháp luật

Trang 19

Dưới góc độ nhà đầu tư, lợi ích kinh tế xã hội của dự án được xem xét biệt lập với các tác động của nền kinh tế đối với dự án (như trợ giá đầu vào, bù lỗ đầu ra của Nhà nước) Trong trường hợp này, phương pháp áp dụng là dựa trực tiếp vào số liệu của các báo cáo tài chính của dự án để tính các chỉ tiêu định lượng và thực hiện các xem xét mang tính chất định tính sau:

+Mức đóng góp cho ngân sách (các khoản nộp vào ngân sách khi dự án bắt đầu hoạt động như thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế đất ) từng năm và cả đời dự án

+ Số chỗ làm việc tăng thêm từng năm và cả đời dự án

+ Mức tăng năng suất lao động sau khi có dự án so với trước khi có dự án từng năm và bình quân cả đời dự án

+ Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường của dự án

+ Nâng cao trình độ kĩ thuật của sản xuất: thể hiện ở mức thay đổi cấp bậc công việc bình quân sau khi có dự án so với trước khi có dự án và mức thay đổi này tính trên mỗi đơn vị đầu tư

+ Nâng cao trình độ quản lý: thể hiện ở thay đổi mức đảm nhiệm quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý sau khi có dự án so với trước khi có dự án

+ Các tác động đến môi trường sinh thái

+ Đáp ứng việc thực hiện mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời

Để xác định chi phí, lợi ích đầy đủ của các dự án đầu tư phải sử dụng các báo cáo tài chính, tính lại đầu vào đầu ra theo xã hội Không sử dụng giá thị trường để

Trang 20

tình chi phí và lợi ích kinh tế xã hội và giá thị trường chịu sự chi phối của các chính sách tài chính, kinh tế, hành chính của Nhà nước Do đó giá thị trường không phản ánh đúng chi phí xã hội thực tế

Vì vậy, khi tính toán hiệu quả kinh tế xã hội của những dự án có tầm cỡ lớn, bao quát một vùng, một ngành rộng lớn hay quan trọng của nền kinh tế thì phải điều chỉnh giá này theo giá xã hội, phải lưu ý đến yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến dự

án và ngược lại

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư

1.2.3.1 Hiệu quả kinh tế tài chính của dự án đầu tư

Đánh giá tài chính của dự án là tính các chỉ tiêu và so với tiêu chuẩn chấp nhận dự án:

Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu tài chính của dự án đầu tư

Bảng 1.1 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư

NPV > 0 Dự án được chấp nhận

NPV < 0 Dự án không được chấp nhận

NPV cao nhất Hiệu quả lớn nhất cho doanh nghiệp

IRR > hệ số chiết khấu Dự án được chấp nhận

IRR < hệ số chiết khấu Dự án không được chấp nhận

Chi phí vòng đời sản phẩm thấp Dự án có chi phí nhỏ nhất

 Thời gian hoàn vốn ngắn  Thu hồi vốn đầu tư nhanh và rủi ro

Trang 21

PV: hiện giá của khoản thu hồi thuần mà dự án có thể mang lại trong suất quá trình hoạt động

PI: hiện giá thuần của các khoản đầu tư của dự án

n: vòng đời của dự án

Fi : khoản thu hồi thuần của dự án tại năm (i) tính từ năm gốc

Ii : khoản đầu tư của dự án tại năm (i) tính từ năm gốc

Tỷ suất thu hồi nội bộ IRR

Khái niệm (IRR) là tỷ suất ta phải tìm sao cho với mức lãi suất đó làm cho tổng giá trị hiện tại của các khoản thu nhập trong tương lai do đầu tư mang lại (PV) bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư (V) tức là tổng thu của dự án sẽ cân bằng với tổng chi trong cùng một mặt bằng thời gian hiện tại

Hay : IRR là tỷ lệ chiết khấu mà với nó NPV (NPV = 0)

Ý nghĩa thực tiễn: Người ta sử dụng IRR để thẩm định và ra quyết định đầu

tư IRR chính là tỷ lệ lãi suất tối đa mà dự án có thể chịu đựng được để đảm bảo thu hồi vốn đầu tư

Công thức:

IRR = r1 + (r2 - r1)(NPV1/NPV1 - NPV2)

Trong đó:

IRR: Hệ số hoàn vốn nội bộ cần nội suy (%)

r1: Tỷ suất chiết khấu thấp hơn tại đó NPV1 > 0 gần sát 0 nhất

r2: Tỷ suất chiết khấu cao hơn tại đó NPV2 < 0 gần sát 0 nhất

NPV: Giá trị hiện tại thực IRR cần tìm (ứng với NPV = 0) sẽ nằm giữa r1 và r2

Chỉ tiêu tỷ số lợi ích / chi phí (B/C)

Được xác định bằng tỷ số giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra Lợi ích và chi phí của dự án có thể tính theo giá trị ở mặt bằng thời điểm hiện tại hoặc thời điểm tương lại Công thức tính như sau :

Trong đó:

- Bi: Thu nhập của năm thứ t

Trang 22

- Ci: Chi phí của năm thứ t

- r: Lãi suất

- n: Số năm thực hiện đầu tư

Khi sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá dự án người ta so sánh như sau:

B/C>1 Các khoản thu bù đắp được các khoản chi phí

đã bỏ ra

Dự án được chấp nhận

B/C<1 Các khoản thu không bù đặp được chi phí Dự án bị loại

Mặc dù chỉ tiêu này thường được sử dụng để xếp hạng của các dự án Tuy nhiên không nên sử dụng một mình mà phải kết hợp với nhiều chỉ tiêu khác để có quyết định chính xác vì đối với những dự án loại trừ thì B/C cao không có nghĩa là NPV cũng cao

Thời gian hoàn vốn T

Xác định trên cơ sở xem xét cân bằng giữa thu hồi thuần và đầu tư ban đầu theo giá thực tế mà không quan tâm đến sự khác biệt của tiền tệ theo thời gian

Công thức tính như sau :

Trong đó : + Di: đầu tư lũy kế tính được tại năm i

+ Hi : thu hồi thuần lũy kế tính được tại năm i

+ T : thời gian hoàn vốn của dự án

Dự án sẽ được chấp nhận khi mà thời gian hoàn vốn của dự án tính toán được nhỏ hơn hoặc bẳng thời hạn vốn quy định

1.2.3.2 Hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư

Giá trị gia tăng thuần túy NVA

Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Giá trị gia tăng thuần tuý là giá trị chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào Công thức tính toán như sau:

NVA = O - (MI + I)

Trong đó:

Trang 23

NVA- là giá trị gia tăng thuần tuý do dự án đem lại đây là đóng góp của dự

án đối với toàn bộ nền kinh tế

O- là giá trị đầu ra của dự án

MI- là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và các dịch vụ mua ngoài theo yêu cầu để đạt được các đầu ra trên đây ( như năng lượng, nhiên liệu )

I- là vốn đầu tư ban đầu

Chỉ số lao động có việc làm

Bao gồm số lao động trực tiếp và số lao động gián tiếp do dự án tạo ra các dự

án liên đới, đó là các dự án được thực hiện do sự đòi hỏi của dự án Việc xác định

số lao động trực tiếp và lao động gián tiếp do thực hiện dự án như sau:

Xác định số lao động cần thiết cho dự án đang xem xét tại năm hoạt động bình thường của dự án

Xác định số lao động cần thiết cho dự án liên đới đối với dự án đang xem xét

cả đầu vào lẫn đầu ra Đây chính là số lao động gián tiếp nhờ vào việc thực hiện dự

Chỉ tiêu này phản ánh tác động điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ Để xác định chỉ tiêu này, trước hết phải xác nhận nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ được phân phối giá trị tăng thêm của dự án Tiếp đến xác định phần giá trị tăng thêm do dự án tạo ra mà nhóm dân cư và vùng lãnh thổ thu được Cuối cùng tính chỉ tiêu tỉ lệ giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc mỗi vùng lãnh thổ thu được trong tổng giá trị gia tăng ở năm hoạt động bình thường của dự án So sánh tỉ lệ này của các nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ với nhau sẽ thấy được tình hình phân phối giá trị gia tăng do dự án tạo ra giữa các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ trong nước

Những tác động khác của dự án

Mục tiêu và phạm vi phân tích tác động đến môi trường sinh thái: Việc thực hiện một dự án thường có những tác động nhất định đến môi trường sinh thái Các

Trang 24

tác động này cũng có thể là tích cực nhưng cũng có thể là tiêu cực Tác động tích cực có thể là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt cho dân cư địa phương Các tác động tiêu cực bao gồm việc ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai, làm ảnh hưởng sức khoẻ con người và súc vật trong khu vực Nếu là tác động tiêu cực thì các giải pháp khắc phục, chi phí để thực hiện các giải pháp đó Nếu chi phí này quá lớn, lớn hơn cái xã hội nhận được thì phải chuyển địa điểm thực hiện dự án (nếu có thể được) hoặc bác bỏ dự án

Những ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng: Sự gia tăng năng lực phục vụ của kết cấu hạ tầng sẵn có, bổ sung năng lực phục vụ mới của kết cấu hạ tầng mới

Tác động dây truyền: Do xu hướng phát triển của phân công lao động xã hội, mối liên hệ giữa các vùng, các ngành trong nền kinh tế ngày càng gắn bó chặt chẽ

Vì vậy, lợi ích kinh tế xã hội của dự án không chỉ đóng góp cho bản thân ngành được đầu tư mà còn có ảnh hưởng thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác Tuy nhiên ảnh hưởng dây truyền này không chỉ có ý nghĩa tích cực mà trong một số trường hợp nó cũng có tác động tiêu cực Khi phân tích dự án cần phải tính đến cả hai yếu tố này

Những ảnh hưởng đến sự phát triển địa phương: Có những dự án mà ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương là rất rõ rệt Đặc biệt

là đối với các dự án tại các địa phương nghèo, miền núi, nông thôn với mức sống và trình độ dân trí thấp Nếu dự án được triển khai tại các địa phương trên tất yếu sẽ kéo theo việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng Những năng lực mới của kết cấu hạ tầng được tạo từ những dự án nói trên không những chỉ có tác dụng đối với chính những dự án đó mà còn có ảnh hưởng đến các dự án khác và sự phát triển của địa phương

Nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, trình độ nghề nghiệp của người lao động, trình độ quản lý của những nhà quản lý, nâng cao năng suất lao động, nâng cao thu nhập của người lao động

Những tác động về xã hội, chính trị và kinh tế khác (tận dụng và khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới phát hiện, tiếp nhận được công nghệ mới nhằm hoàn thiện cơ cấu sản xuất, những tác động đến các ngành, các lĩnh vực khác;

Trang 25

tạo thị trường mới, tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển các địa phương yếu kém, các vùng xa xôi nhưng có tiềm năng về tài nguyên…)

1.2.4 Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư

1.2.4.1 Mục tiêu phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư

Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội hoặc hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư là một nội dung quan trọng và phức tạp của phân tích dự án, có nhiệm vụ đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư trên quan điểm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tức là phân tích đầy đủ, toàn diện những đóng góp thực sự của dự án vào việc phát triển nên kinh tế quốc gia và việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước

1.2.4.2 Quan hệ giữa phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc

dân

Giữa phân tích hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả kinh tế doanh nghiệp về hình thức không có sự khác nhau Cả hai loại phân tích đều bằng cách chỉ ra các khoản chi phí, các khoản lợi ích và thông qua việc so sánh để đánh giá hiệu quả của chúng

Tuy vậy, phân tích hiệu quả kinh tế doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế quốc dân khác nhau ở nhiều phương diện Xuất phát điểm của sự khác nhau này là sự khác nhau giữa hiệu quả tài chính và hiệu qua kinh tế xã hội Tức khác nhau giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội, giữa chi phí doanh nghiệp với chi phí xã hội, mà quan niệm lợi ích và chi phí do mục tiêu quyết định Trong phân tích kinh tế xã hội

có nguyên tắc: "Tất cả những gì làm tăng mục tiêu là lợi ích và những gì làm giảm mục tiêu là chi phí" Có thể nêu cụ thể sự khác nhau giữa phân tích hiệu quả kinh tế

doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế quốc dân như sau:

- Mục tiêu của sự phân tích hiệu quả tài chính là đánh giá kết quả tài chính thực của dự án, trong khi đó phân tích hiệu quả kinh tế xã hội chỉ ra đóng góp thực

sự của dự án vào tất cả các mục tiêu phát triển (kinh tế và không kinh tế) của đất nước, vào lợi ích chung của toàn xã hội Phân tích hiệu quả tài chính chỉ xét trên tầm vi mô còn phân tích kinh tế xã hội phải xét trên tầm vĩ mô

- Phân tích hiệu quả tài chính chỉ xét lợi ích và chi phí trên góc độ của nhà đầu

tư còn phân tích kinh tế xã hội xem xét lợi ích và chi phí trên góc độ toàn xã hội

Trang 26

Lợi ích và chi phí trong phân tích hiệu quả tài chính là lợi ích và chi cục bộ còn lợi ích và chi phí trong phân tích hiệu quả kinh tế xã hội là lợi ích và chi phí toàn bộ, tổng thể Vì vậy chỉ tiêu chủ yếu trong phân tích hiệu quả tài chính là lợi nhuận còn trong phân tích hiệu quả kinh - xã hội là giá trị gia tăng Chỉ tiêu giá trị gia tăng cho phép loại trừ những khoản thanh toán chuyển giao ra khỏi chi phí tính toán lợi ích kinh tế xã hội Những khoản mục này trong phân tích tài chính là chi phí còn trong phân tích kinh tế xã hội được coi là thu nhập (lợi ích)

* Thuế: là một khoản chi đối với chủ đầu tư, nhưng nó là một khoản thu nhập đối với ngân sách quốc gia Sự miễn giảm thuế để ưu đãi, khuyến khích nhà đẩu tư lại là một sự hy sinh của xã hội, một khoản chi phí mà xã hội phải gánh chịu

* Lương: là một khoản thuộc chi phí sản xuất, nhưng trong phân tích kinh tế

xã hội lương là một khoản thu nhập đối với xã hội

* Các khoản lãi vay: Cũng là một khoản mục thanh toán chuyển giao, trong phân tích tài chinh nó được coi như là một khoản chi phí được tính trong giá thành sản phẩm, nhưng trong phân tích kinh tế xã hội nó phải được cộng vào

* Trợ giá bù giá: trong phân tích tài chính là thu nhập nhưng trong phân tích kinh tế xã hội là chi phí

- Việc phân tích hiệu quả tài chính chỉ tính toán những hiệu quả trực tiếp bằng tiền Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội còn được xem cả hiệu quả gián tiếp bao gồm hiệu quả có thể đo được và không đo được Việc phân tích hiệu quả tài chính giúp cho các nhà đầu tư tìm đến những dự án đầu tư cho phép tối đa hoá lợi nhuận, còn phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội giúp cho các nhà quản lý vi mô và quản lý vĩ mô, chúng thống nhất trong một dự án là điều lý tưởng, nhưng trong thực tiễn không phải lúc nào cũng đạt được điều đó, cần phải tìm đến một sự hợp lý nhất định

- Vì mục tiêu và nhiệm vụ phân tích khác nhau nên phương tiện để phân tích cũng khác nhau nhất định: phân tích hiệu quả kinh doanh dựa vào giá thị trường, còn phân tích hiệu quả kinh tế xã hội dựa vào giá điều chỉnh và chúng được coi là tiệm cận với giá xã hội Với hiệu quả tài chính, ảnh hưởng của yếu tố thời gian được giải quyết bằng việc áp dụng lãi suất hiện hành trên thị trường vốn, còn trong phân tích hiệu quả kinh tế xã hội lại dùng tỷ suất chiết khấu xã hội

Trang 27

- Hiệu quả kinh doanh được xem xét dưới góc độ sử dụng đồng tiền (đồng vốn) nên người ta còn gọi là hiệu quả vốn đầu tư, còn hiệu quả kinh tế xã hội được xem xét dưới góc độ sử dụng các nguồn tài nguyên của đất nước

1.2.4.3 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội các dự án đầu tư

Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư là công việc khó khăn và phức tạp xuất phát từ nhiều điểm:

Thứ nhất, cũng như xác định hiệu quả tài chính, xác định hiệu quả kinh tế xã

hội của một dự án đầu tư đều có tính dự báo trong một tương lai có nhiều rủi ro không lường hết được

Thứ hai, tính phức tạp của phân tích hiệu quả kinh tê - xã hội của một dự án

đầu tư tăng lên so với phân tích hiệu quả tài chính do tính đa mục tiêu trong việc phân tích Các dự án được lựa chọn không phải theo một tiêu chuẩn mà theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau Ra quyết định theo một tiêu chuẩn đơn giản nhiều hơn so với quyết định theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau Tính đa mục tiêu trong việc phân tích hiệu quả kinh tế xã hội đòi hỏi phải thu thập và xử lý một khối lượng thông tin lớn

và liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Để phân tích được hiệu quả kinh tế xã hội, không những cần cung cấp những thông tin về kinh tế mà còn thông tin về xã hội, những thông tin trong nước mà cả những thông tin quốc tế, những thông tin liên quan trực tiếp đến dự án mà còn cả những thông tin liên quan gián tiếp Những thông tin này không phải bao giờ cũng có

Thứ ba, nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh tế xã hội đòi hỏi phải sử dụng

những phương pháp phân tích hoàn toàn không đơn giản Những kiến thức về những phương pháp này thuộc loại những kiến thức cấp cao của những nhà kinh tế Điều đó có nghĩa là không phải ai cũng có thể hiểu và vận dụng được những kiến thức đó vào thực tiễn đánh giá dự án Đối với Việt Nam, tính khó khăn trong việc phân tích hiệu quả kinh tế xã hội còn tăng lên nhiều lần bởi vì tất cả là mới mẻ, từ khái niệm, phương pháp, thông tin và con người Nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh tế xã hội rất phức tạp đòi hỏi nhiều thông tin, nhiều kiến thức nhưng bù lại ý nghĩa của nó thật lớn lao Việc xác định đúng đắn hiệu quả kinh tế xã hội của các dự

án đầu tư giúp cho các nhà quản lý vĩ mô lựa chọn được những phương tiện hữu

Trang 28

hiệu nhất để thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định Vì vậy, hiệu quả kinh tế xã hội là căn cứ chủ yếu để Nhà nước xem xét và cho phép thực hiện các dự án đầu tư Nó cũng là căn cứ chủ yếu để xác định chế tài chính quốc tế ADB, IMF, WB tài trợ

Các nhà lập dự án không chỉ luận chứng được tính hiệu quả tài chính của một

dự án đầu tư được soạn thảo, mà quan trọng hơn là thảo luận chứng được hiệu quả kinh tế xã hội mà dự án mang lại Nếu không, cần phải điều chỉnh hoặc phải đi tìm những dự án khác

Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội được tiến hành không chỉ ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lập dự án đầu tư mà được tiến hành ở tất cả các giai đoạn của quá trình này

Tỷ suất chiết khấu xã hội:

Trong phân tích hiệu quả tài chính, chúng ta đã xem xét lãi suất tính toán (i

tt) hay suất thu lợi tối thiểu trên cơ sở quan điểm của nhà đầu tư, nhà doanh nghiệp Nếu lãi suất tính toán (i

tt) cần được xác định khi bước vào phân tích hiệu quả tài chính thì tỉ suất chiết khấu xã hội (I

am) cũng cần được xác định khi bước vào phân tích hiệu quả kinh tế xã hội

Thực chất của lãi suất tính toán hay tỉ suất chiết khấu xã hội là giá sử dụng vốn Nếu tỉ suất tính toán là giá sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tỉ suất chiết khấu

xã hội là giá sử dụng vốn của xã hội Chức năng kinh tế chủ yếu của tỉ suất chiết khấu xã hội là nhằm hỗ trợ cho việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào mục đích thiết yếu nhất Nếu tỉ suất tính toán là giá sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tỉ suất chiết khấu xã hội là nhằm hỗ trợ cho việc sử dụng các vốn đầu tư của Nhà nước vào mục đích thiết yếu nhất Nếu tỉ suất triết khấu xã hội được xác định quá thấp sẽ làm cho nhu cầu đối với vốn đầu tư Nhà nước vượt quá khả năng cung cấp vì quá nhiều dự án đáp ứng được hiệu quả định mức Ngược lại, nếu I

Trang 29

Tỉ suất chiết khấu xã hội về nguyên tắc được quy định thống nhất trong cả nước và được giữ không đổi theo thời gian

Điều đó không có nghĩa là tỉ suất chiết khấu xã hội được áp dụng một cách máy móc trong mọi ngành cũng như mọi dự án

1.2.5 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu tư

Việc xác định đúng đắn giá trị kinh tế phần nào đã góp phần vào việc đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế xã hôi và của dự án đầu tư Phần còn lại là áp dụng các phương pháp phân tích hiệu quả cho phù hợp để lựa chọn được những dự án có những đóng góp lớn nhất vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đặt ra 1.2.5.1 Đặt vấn đề

Cơ sở ra quyết định đầu tư trong phân tích kinh tế xã hội là đánh giá các tác động của dự án đối với nền kinh tê quốc dân, cân nhắc đầy đủ chi phí và lợi ích của

dự án xét trên quan điểm toàn bộ nền kinh tế, ở đây dự án sẽ được đánh giá tuỳ theo

sự đóng góp của nó cho mục tiêu phát triển khác nhau của đất nước

Gia tăng thu nhập quốc dân luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia, do đó đánh giá đóng góp của dự án vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của phân tích kinh tế Nhiệm vụ này được thực hiện thông qua việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư, trong đó chỉ tiêu cơ bản để đánh giá là giá trị giá tăng Bên cạnh các mục tiêu tăng trưởng, mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển bao giờ cũng có các mục tiêu khác, chẳng hạn công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm, cân bằng cán cân thanh toán, bảo vệ môi trường sinh thái Mỗi dự án đầu

tư được đề xuất có thể có những tác đông khác nhau đối với các mục tiêu này Những tác động đó của dự án cần được xác định và được thể hiện thông qua các chỉ tiêu bổ sung hay các xem xét bổ sung

Việc đánh giá tác động toàn diện của dự án tới nền kinh tế quốc dân là khó khăn và cho tới nay chưa có một phương pháp giải quyết triệt để nhiệm vụ này Cách tiếp cận trình bày ở đây trước tiên xem xét tác động của dự án tới mục tiêu tăng trưởng cũng như các mục tiêu khác, sau đó sẽ sử dụng phương pháp phân tích

đa mục tiêu để đánh giá tổng hợp đóng góp của dự án cho nền kinh tế

Trang 30

1.2.5.2 Đánh giá sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế

Khái niệm

Đánh giá hiệu quả kinh tế dự án tức là đánh giá đóng góp của dự án vào sự gia tăng thu nhập quốc dân hay sự tăng trưởng của nên kinh tế Việc đánh giá này về cơ bản cũng dựa vào những phương pháp như trong phân tích tài chính như giá trị hiện tại thuần, tỉ suất hoàn vốn nội bộ, tỉ lệ lợi ích/chi phí Việc sử dụng những tiêu chuẩn này chấp nhận, bác bỏ hay so sánh và lựa chọn các dự án đầu tư cũng được thực hiện tương tự như phân tích tài chính

Tuy vậy có những điểm khác nhau quan trọng khi đánh giá hiệu quả trên các phương diện tài chính và kinh tế Đó là:

+ Thứ nhất, cơ sở đánh giá khác nhau: trong phân tích tài chính lấy lợi nhuận làm tiêu chuẩn cơ bản, phân tích kinh tế lấy giá trị gia tăng làm tiêu chuẩn cơ bản + Thứ hai, giá cả khác nhau: trong phân tích tài chính dùng giá thị trường, trong phân tích kinh tế dùng giá kinh tế, kể cả tỉ giá hối đoái

+ Thứ ba, lãi suất sử dụng: trong phân tích tài chính là lãi suất tính toán (i

tt) được xác định trên cơ sở chi phí sử dụng vốn từ các nguồn vốn khác nhau, còn trong phân tích kinh tế, lãi suất được sử dụng là lãi suất kinh tế (I

am) được xác định trên cơ sở lãi vay trên thị trường vay vốn dài hạn thực tế của đất nước và khả năng tiếp nhận và cho vay trong nước cũng như một số chính sách phát triển của Nhà nước

Giá trị gia tăng

Giá trị gia tăng là tiêu chuẩn cơ bản biểu thị cho toàn bộ các ảnh hưởng của dự

án đối với nền kinh tế Dưới dạng tổng quát nhất, giá trị gia tăng là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào mua từ các đơn vị khác (mua ngoài)

Việc đánh giá dự án đầu tư dựa vài giá trị gia tăng thuần Giá trị gia tăng thuần

do dự án tạo ra bằng giá trị đầu ra trừ giá trị vật chất thường xuyên và các dịch vụ bên ngoài, trừ tổng chi phí đầu tư

NVA = D - (MI + I)

Trong đó:

NVA: giá trị gia tăng thuần dự kiến do dự án mạng lại

Trang 31

D: giá trị đầu ra dự kiến của dự án (thường là doanh thu bán hàng)

MI: Giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và các dịch mua ngoài

I: Tổng vốn đầu tư

Chú ý: Các giá trị đầu ra và đầu vào được tính toán trên cơ sở giá kinh tế đã

được xác định phần trên

Giá trị gia tăng gián tiếp

Một dự án đầu tư có thể dẫn đến việc xây dựng những dự án đầu tư mới khác, hiện đại hoá hoặc mở rộng các đơn vị sản xuất đang hoạt động Cũng như hỗ trợ cho khai thác công suất ở những cơ sở khác Giá trị gia tăng nhận được những dự án này được gọi là giá trị gia tăng gián tiếp

Việc xác định giá trị gia tăng gián tiếp chỉ đặt ra khi mối quan hệ nhân quả giữ

dự án đang xem xét và những dự án liên quan là rõ ràng và nhất quán Giá trị gia tăng gián tiếp chỉ nên giải thích khi sự phát sinh của chúng thực sự là do dự án đang xem xét gây ra Hơn nữa, dự án đầu tư có thể đem lại những lợi ích gián tiếp khác (như các lợi ích của khu vực được thừa hưởng những công trình kết cấu hạ tầng của

dự án, những lợi ích của các xí nghiệp đang sử dụng lao động có được trong nghề nhờ vào dự án đang xem xét ) hoặc gây ra những chi phí gián tiếp khác (như ô nhiễm ), những ảnh hưởng gián tiếp không thể lượng hoá được nên được xem xét dưới những tác động khác - tác đông bổ sung

Dưới đây chỉ xem xét phương pháp xác định giá trị gia tăng gián tiếp của một

số dự án liên quan có thể lượng hoá được Để xác định được giá trị giá tăng gián tiếp trước tiên cần xác định rõ những dự án khác hoặc những đơn vị đang hoạt động chịu ảnh hưởng trực tiếp của dự án đang xem xét, bao gồm việc thành lập các dự án đầu tư mới cung cấp các đầu vào hoặc tiếp nhận các đầu ra cho quá trình chế biến tiếp theo, các dự án hoặc các đơn vị đòi hỏi phải hiện đại hoá hoặc mở rộng; các đơn vị sản xuất có thể phát huy công suất hiện có bỏ không mà không cần vốn đầu

tư bổ sung hoặc cần rất ít Tiếp theo tính toán giá trị gia tăng cho từng năm của các

dự án có liên quan đã được xác định

+ Nếu các dự án có liên quan là dự án đầu tư mới thì lấy tổng giá trị gia tăng

dự án đã được tạo ra

Trang 32

+ Nếu các dự án có liên quan là dự án hiện đại hoá hoặc mở rộng, chỉ lấy phần giá trị gia tăng bổ sung bằng hiệu số giữa giá trị gia tăng sau và trước khi hiện đại hoá

+ Nếu là những đơn vị sản xuất có những năng lực chưa sử dụng, chỉ lấy phần giá trị gia tăng thêm do kết quả sử dụng tốt hơn năng lực sẵn có

1.2.5.3 Đánh giá các đóng góp của dự án đối với các mục tiêu khác

Đánh giá sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu tăng thu nhập quốc dân (mục tiêu phát triển) đã được xem thông qua tiêu chuẩn cơ bản giá trị gia tăng tuyệt đối và tương đối Ngoài mục tiêu tăng thu nhập quốc dân, chiến lược phát triển kinh tế xã hội còn đặt ra nhiều mục tiêu khác vì vậy cần phải xem xét một cách toàn diện sự đóng góp của dự án Thông thường người ta quan tâm đến những đóng góp sau đây của dự án đầu tư:

+ Đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu giải quyết công ăn việc làm;

+ Đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu phân phối thu nhập

+ Đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu cải thiện cán cân thanh toán

Phân tích sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu giải quyết công ăn việc làm

Mục tiêu giải quyết công ăn việc làm là một mục tiêu phát triển kinh tế trong chiến lược phát triển của đất nước Một phần đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu này đã được xem xét thông qua chỉ tiêu cơ bản giá trị gia tăng trong phần phân tích hiệu quả sự đóng góp của dự án cần được phân tích một cách chu đáo để khả khẳng định hiệu quả kinh tế xã hội của dự án

Khi đánh giá dự án đầu tư từ giác độ công ăn việc làm, phái xem xét sự tác động của nó đối với cả lao động lành nghề và không lành nghề, cũng như đối với số lao động làm việc trực tiếp và số lao đông làm việc gián tiếp là những chỗ làm việc mới được tạo ra trong các dự án khác có liên quan tới dự án đang xem xét Cần chú

ý là khi đánh giá tác động việc làm của dự án sẽ không tính lao động dự án thuê từ nước ngoài

Đánh giá sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu phân phối thu nhập

Trang 33

Ngoài các công cụ tài chính là chủ yếu, các dự án đầu tư cũng là những công

cụ quan trọng thực hiện mục tiêu phân phối Đánh giá sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu phân phối là xác định những tác động của dự án đến quá trình điều tiết thu nhập theo những nhóm dân cư và theo vùng lãnh thổ

Giá trị gia tăng được tạo ra trong các dự án khác nhau được phân phối khác nhau giữa các nhóm dân cư trong xã hội cũng như giữa các vùng lãnh thổ của đất nước Sự phân phối nào được đánh giá có ý nghĩa tuỳ thuộc vào chính sách kinh tế

xã hội trong từng giai đoạn nhất định

Phân tích ảnh hưởng của dự án đối với môi trường

Bảo vệ môi trường nói chung và môi trường sinh thái nói riêng không chỉ là mục tiêu trong phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia ma còn là mục tiêu lớn của toàn thế giới

Đã đến lúc mọi người đều hiểu rằng không thể tách biệt mục tiêu phát triển kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường Đứng trên quan điểm kinh tế quốc dân và lợi ích lâu dài, hai mục tiêu này là một Vì vậy, vấn đề không phải là lựa chọn phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường mà là tìm cách phát triển kinh tế một cách phù hợp, hài hoà để đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường, có như vậy nền kinh tế mới phát triển lâu bền, đảm bảo thống nhất giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích toàn thể, giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội

Phân tích ảnh hưởng của dự án đối với môi trường là nhằm mục đích đó Tác động của dự án đến môi trường có thể là tác động tích cực hoặc tác đọng tiêu cực, tác động đến môi trường sinh thái và môi trường văn hoá xã hội, tác động trực tiếp và tác động gián tiếp, tác động trước mắt và tác động lâu dài, tác động có thể lượng hoá được và tác động không thể lượng hoá được

Điều đặc biệt quan tâm đối với các nhà phân tích dự án là những tác động tiêu cực hay những hậu quả đối với môi trường mà dự án sẽ tạo ra Những tác động tiêu cực đối với môi trường có thể là:

Trang 34

+ Làm thay đổi điều kiện sinh thái, mất cân bằng sinh thái, thậm chí có thể gây

ra những tai biến như lũ lụt (do khai thác rừng không phù hợp), làm khô cạn nguồn nước (nhất là nước ngầm), tiêu diệt các sinh vật (dùng thuốc trừ sâu )

+ Gây ô nhiễm môi trường: đây là ảnh hưởng tiêu cực thường gặp nhất, đặc biệt với các dự án công nghiệp: làm bẩn nhiễm độc không khí, các nguồn nước, đất đai, tiếng ồn, bụi Mức độ ô nhiễm môi trường được đo bằng các thiết bị chuyên dùng và Nhà nước quy định mức độ cho phép Những dự án nào vi phạm quy định này bị loại bỏ

+ Gây ảnh hưởng đến các cảnh quan môi trường thiên nhiên, làm giảm tiềm năng của ngành du lịch cũng như việc mở rộng các khu nghỉ ngơi an dưỡng

+ Ảnh hưởng đến những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp

Quá trình phân tích ảnh hưởng của dự án đến môi trường bao gồm:

+ Nhận dạng mọi tác động có thể có của dự án đến môi trường trong mọi giai đoạn của dự án và dưới bát kỳ hình thức tác động nào Dù đó là hình thức trực tiếp hay thứ sinh

+ Xác định rõ nguyên nhân dẫn đến những tác động tiêu cực có thể dẫn đến loại bỏ dự án (vượt quá mức xã hội có thể chấp nhận được)

+ Đề xuất các giải pháp khắc phục chú ý đến giải pháp công nghệ Tính toán các chi phí cho việc thực hiện các giải pháp đó Những chi phí này được gọi là chi phí bảo vệ môi trường Chúng được tính đến khi phân tích hiệu quả tài chính hoặc hiệu quả kinh tế quốc dân Nếu chi phí này quá lớn cần nghiên cứu lại địa điểm xây dựng dự án Trong trường hợp dự án chỉ có hiệu quả khi không tính đến những chi phí bảo vệ môi trường thì loại bỏ dự án hoặc đề nghị Nhà nước hỗ trợ cho việc bảo

Trang 35

không cần đánh giá tác động của dự án đến kết cấu hạ tầng vì nó được thừa hưởng kết cấu hạ tầng có sẵn Đối với dự án được xây dựng tại địa điểm không có kết cấu

hạ tầng hoặc năng lực của kết cấu hạ tầng hiện tại không đáp ứng được cho dự án thì dự án cần bổ sung vốn đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng Những kết cấu

hạ tầng mà dự án bỏ vốn xây dựng không chỉ dùng riêng cho dự án mà có thể có những dự án khác được dùng Trường hợp này cần xem xét ảnh hưởng của dự án đến kết cấu hạ tầng Để đánh giá ảnh hưởng của dự án đến kết cấu hạ tầng trong trường hợp này được ta sử dụng phương pháp tổ hợp công nghiệp

Nếu kết cấu hạ tầng được dùng riêng cho dự án thì những công trình kết cấu

hạ tầng được tính toán như một bộ phận của dự án Chi phí và thu nhập của chúng hợp thanh một phần của nội dung phân tích cơ bản như đã trình bày

Phân tích ảnh hưởng của dự án đến chính sách cơ cấu kinh tế

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế luôn là một trong những vấn đề chiến lược trong phát triển kinh tế đất nước Xây dựng và thực hiện các dự án có nhiệm vụ thực hiện chiến lược này

Phân tích ảnh hưởng của dự án đến chính sách cơ cấu kinh tế là xác định ngành mà dự án hoạt động, trình độ kỹ thuật mà dự án sử dụng, loại hình sở hữu cũng như vùng hoặc địa phương mà dự án xây dựng

Những dự án nào được xây dựng tại vùng được xác định là vùng chiến lược thì được đánh giá cao hơn những dự án đặt tại vùng khác

Những dự án nào tham gia vào các ngành được xác định là ngành mũi nhọn hoặc ngành mà Nhà nước đang khuyến khích thì được đánh giá cao hơn trong những ngành khác

Những dự án nào mà sử dụng kỹ thuật tiên tiến và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngành khác thì được đánh giá cao hơn

Trang 36

1.3 Quan điểm của tác giả về đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư

1.3.1 Khái niệm về hạch toán bền vững

1.3.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một quá trình toàn diện, bao gồm những biến đổi về kinh tế, cũng như những biến đổi về xã hội, về văn hóa và giáo dục, khoa học và công nghệ, về môi trường và sự phát triển của con người Phát triển bền vững đang

là thách thức cho mọi quốc gia, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh

tế quốc tế Việc lựa chọn con đường, biện pháp và thể chế, chính sách bảo đảm phát triển bền vững luôn là mối quan tâm hàng đầu của mội quốc gia trong con đường

phát triển Vậy phát triển bền vững có nghĩa là gì: “Phát triển bền vững là quá trình động mà trong sự phân bổ tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng công nghệ, luật pháp và thể chế, và cơ chế ra quyết định được chỉ rõ không chỉ đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn đảm bảo khả năng đáp ứng như cầu của thế hệ tương lai”

Viện Quốc tế về Môi Trường và Phát Triển (International Institute for Environment and Development) cho rằng phát triển bền vững ba hệ thống phụ thuộc lẫn nhau

Hình 1.4 Mô hình Phát triển bền vững kinh tế xã hội

Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên

Trang 37

nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất

Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và

có điều kiện sống chấp nhận được

Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững

Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng

Như vậy, cơ sở lý thuyết để xác định hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư

là dựa trên mô hình phát triển bền vững và được đánh giá định lượng dựa trên cơ sở phương pháp hạch toán bề vững, bao gồm xác định hiệu quả kinh tế, môi trường và

xã hội của dự án đầu tư

1.3.1.2 Khái niệm về hạch toán bền vững

Kế toán tài chính hiện tại và quy ước đo lường kinh tế không giành được kết quả cao từ những hoạt động kinh tế Chi phí bên ngoài và những lợi ích thì không được tích lũy ngay trong các công ty- nó không bao gồm trong hạch toán tài chính

Hạch toán bền vững tạo ra nhiều phương pháp tiếp cận thông tin về tiềm năng chi phí, lợi ích và thay đổi giá Các thông tin được tạo ra là những tác động tài chính đã được phát sinh nếu tổ chức đó bền vững Mục đích của hạch toán bền vững

là tạo ra những hạch toán báo trước cái mà chấp nhận cho vị trí bền vững của tổ chức được miêu tả Chúng chỉ ra chi phí và lợi ích của việc đầu tư bền vững và tiềm năng xã hội, môi trường và những rủi ro trong kinh tế liên quan đến các tác động bên ngoài

Theo định nghĩa, “có ba phương diện chính của phát triển bền vững: kinh tế,

xã hội và môi trường Kết quả là phát triển bền vững có thể được đo bằng 3 yếu tố trên

Trang 38

Tác động kinh tế có thể là có hiệu lực vào việc làm của địa phương và sinh kế bằng các tổ chức kinh doanh

Các tác động xã hội có thể bao gồm các điều khoản và điều kiện nhân viên, dự án trong cộng đồng

Các tác động môi trường có thể bao gồm chất lượng nước thải hoặc khí thải nhà kính phát ra từ các hoạt động”

Theo mục đích nghiên cứu của Sigmas thì hạch toán bền vững được định

nghĩa “là sự phát sinh, phân tích và sử dụng phương pháp phân tích môi trường và

xã hội có liên quan đến thông tin trong sự cải thiện môi trường chung, xã hội và hiệu quả kinh tế”

Ứng dụng phương pháp hạch toán bền vững trong đánh giá hiệu quả dự án đầu tư, đảm bảo mục tiêu hiệu quả dự án bao gồm hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường Đây chính là cơ sở khoa học hình thành khái niệm đầu tư bền vững 1.3.1.3 Khái niệm đầu tư bền vững

Đầu tư hiện nay là một chi tiêu cho một tương lai hoặc là đạt được lợi nhuận hoặc lợi ích khác (sinh thái, xã hội, kỹ thuật, kỹ năng…) như đã đề cập ở trước

Như một kết luận, chúng ta thuật lại đầu tư với tương lai trong tất cả những cái liên quan Bởi vậy, chúng ta sẽ sử dụng một cách tiếp cận khác với cách tiếp cận cổ điển là cách tiếp cận trong đó chỉ thu được lợi nhuận kinh tế chiếm ưu thế như là một chỉ số cơ bản Các phương pháp tiếp cận mới liên quan đến đầu tư là các khái niệm về sinh thái bền vững và phát triển nền kinh tế mới dựa trên khái niệm xã hội thông tin Điều đó có nghĩa là chăm sóc về tương lai và để thích ứng với thay đổi và

để làm cho đầu tư bền vững

Từ kết quả của các định nghĩa về sự phát triển bền vững là sản xuất bền vững

có thể được định nghĩa là một hoạt động công nghiệp, kết quả là sản phẩm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của xã hội hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu mong muốn của tương lai Như một hệ quả của định nghĩa này, một quá trình sản xuất bền vững sẽ giảm thiểu ô nhiễm môi trường toàn cầu cũng như là việc sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên và năng lượng Có thể nói để đạt được những yêu cầu này là do một cải tiến liên tục của hoạt động công nghiệp đối với:

Trang 39

Giảm việc sử dụng nguồn năng lượng không thể tái tạo được

Sử dụng lại những hàng hóa được thu hồi lại, các bộ phận và các nguyên liệu hàng hóa bị thải bỏ

Bền vững chất lượng sản phẩm

Một sản phẩm bền vững bao gồm tất cả các giai đoạn của sản phẩm

từ việc khai thác nguồn nguyên liệu và năng lượng cho đến việc thu hồi tài nguyên

Để đạt đến sự bền vững cho chuỗi hoàn chỉnh thì mỗi hoạt động của chuỗi phải bền vững, nghĩa là 3 hoạt động chính của chuỗi được tối ưu hóa: thiết kế sản phẩm, chuyển đổi và phục hồi

1.3.2 Mô hình hạch toán bền vững trong dự án đầu tư

Theo định nghĩa hạch toán bền vững cần đảm bảo ba khía cạnh đó là: Khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường Như một hệ quả, tính bền vững có thể được đo bởi các phần còn lạ của các tác động của kinh tế, xã hội và môi trường Ví dụ:

Hiệu quả dự án tác động nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế địa phương bao gồm tăng trưởng GDP, các nguồn ngân sách và việc làm, cải thiện sinh

Trang 40

Hình 1.5 Mô hình hạch toán bền vững trong đánh giá dự án đầu tư

1.3.3 Các bước thực hiện hạch toán bền vững

1.3.3.1 Hạch toán trực tiếp

Hạch toán này chỉ ra các thông tin tài chính bền vững, có nghĩa là nó ẩn trong bảng hạch toán truyền thống Hạch toán trực tiếp cung cấp sự trình bày trở lại của thông tin tài chính truyền thống một cách rõ ràng để chỉ mức chi tiêu hiện hành về các hoạt động xã hội, môi trường và nắm bắt tất cả các vấn đề liên quan đến lợi ích tài chính (chẳng hạn như tạo ra các khoản thu, chi phí lưu, tránh các loại thuế) Hạch toán trực tiếp cho thấy những khoản chi gì đã được thực hiện để cải tiến xã hội và môi trường, và xác định bất cứ lợi ích tài chính nào liên quan (ví dụ trong các hình thức tiết kiệm hiệu quả sinh thái, tránh thuế,…)

* Hạch toán trực tiếp liên quan đến môi trường

Báo cáo này cho thấy chi phí liên quan đến môi trường và liên kết chúng với các lợi ích liên quan và chi phí tiết kiệm Những chi tiêu bao gồm cả vốn đầu tư (ví

dụ thiết bị để xử lý chất thải) và chi phí cho điều hành (ví dụ như chi phí nhân viên, nguyên liệu và dịch vụ, thuế môi trường và cấp giấy phép) Liên quan đến lợi ích tài chính bao gồm thêm nguồn thu nhập được tạo ra (ví dụ như các khoản thu từ tái chế chất thải), chi phí tiết kiệm (như giảm chi phí do tuần hoàn lại chất thải), chi phí

Ngày đăng: 24/05/2021, 08:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w