1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quy hoạch và đề xuất phương án cải tạo lưới điện trung áp huyện nho quan, ninh bình phù hợp với xu thế phát triển của khu vực

180 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 9,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng, là một tỉnh trọng điểm về kinh tế của khu vực nói riêng cũng

Trang 1

***

LƯỜNG TÚ NGUYÊN

NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN CẢI TẠO LƯỚI ĐIỆN TRUNG ÁP HUYỆN NHO QUAN, NINH BÌNH PHÙ HỢP VỚI XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA

KHU VỰC GIAI ĐOẠN 2012 – 2025

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ-ĐỊA CHẤT

LƯỜNG TÚ NGUYÊN

NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN CẢI TẠO LƯỚI ĐIỆN TRUNG ÁP HUYỆN NHO QUAN, NINH BÌNH PHÙ HỢP VỚI XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA

KHU VỰC GIAI ĐOẠN 2012 – 2025

Chuyên ngành: Điện khí hoá mỏ

Mã số : 60.52.52

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS: Nguyễn Ngọc Vĩnh

HÀ NỘI – 2013

***

Trang 3

và các kết quả nghiên cứu chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà nội, ngày 10 tháng 10 năm 2012

Tác giả luận văn

Lường Tú Nguyên

Trang 4

1.1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan 5 1.2 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Nho Quan năm 2012 và

1.3 Đánh giá hiện trạng nguồn cung cấp điện và lưới điện của huyện 30 1.4 Kiểm tra các lộ dây theo điều kiện tổn hao điện áp cho phép và điều

Nho Quan trong giai đoạn 2012 – 2025 phù hợp với xu thế phát

triển của khu vực

52

3.3 Đánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của lưới điện sau cải tạo bằng

Trang 5

TBXH: Thương binh xã hội

TTCN: Tiểu thủ công nghiệp

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.3 Thống kê hiện trạng diện tích, dân số và mật độ dân số 31/12/2011 21 1.4 Tổng hợp chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Nho Quan đến

năm 2025

24

1.5 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Nho Quan đến năm 2025 26 1.6 Các chỉ tiêu phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn huyện Nho Quan 28 1.7 Ước tính quy mô dân số trên địa bàn huyện thời kỳ 2006-2012 và

đến 2025

29

1.10 Thống kê chiều dài, mã hiệu dây, công suất các lộ đường dây 33

1.12 Tổng tổn thất điện năng các lộ dây của huyện Nho Quan 36 2.1 Kết quả tính toán nhu cầu điện của các khu và cụm công nghiệp 59 2.2 Điện năng tiêu thụ của huyện Nho Quan trong ba năm gần đây nhất 60 2.3 Nhu cầu điện của nhóm phụ tải công nghiệp khác và xây dựng 61 2.4 Công suất yêu cầu cho lĩnh vực phụ tải công nghiệp và xây dựng 61 2.5 Nhu cầu điện năng của nhóm các phụ tải thương mại và dịch vụ 62

2.8 Nhu cầu điện năng cho lĩnh vực phụ tải nông - lâm - thủy hải sản 64

2.11 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu của huyện Nho Quan 66

2.13 Dự báo phụ tải điện đến năm 2025 theo phương pháp gián tiếp 67

3.4 Tổn thất điện áp các lộ đường dây trong chế độ sự cố 78

Trang 7

1.1 Biểu đồ khí hậu huyện Nho Quan 9

1.3 Sơ đồ một sợi lưới điện trung thế huyện Nho Quan trước cải tạo 39 1.4 Sơ đồ mặt bằng lưới điện trước cải tạo huyện Nho Quan 40

2.1 Biểu đồ So sánh dự báo nhu cầu điện theo 2 phương pháp (trực

tiếp và gián tiếp)

66

3.9 Sơ đồ một sợi lưới điện trung thế huyện Nho Quan sau quy

hoạch

81

3.10 Sơ đồ mặt bằng lưới điện sau cải tạo huyện Nho Quan 82

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Vùng đất này từng là kinh đô của Việt Nam ở thế kỷ X, là địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời kỳ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Tây Sơn Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng, là một tỉnh trọng điểm về kinh tế của khu vực nói riêng cũng như cả nước nói chung, trong đó huyện Nho Quan đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của toàn tỉnh Hiện tại trên địa bàn huyện có rất nhiều dự án công nghiệp đã và đang được triển khai xây lắp, trong khi đó lưới điện hiện tại của huyện không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của huyện đặc biệt là trong thời gian tới

Hiện tại trên lưới điện trung áp của huyện Nho Quan đang tồn tại nhiều cấp điện áp khác nhau 10kV, 22kV, 35kV Việc này gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý và vận hành lưới điện Trong khi đó theo quy hoạch của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thì đến năm 2015 tất cả các lưới điện 6kV, 10kV đều phải nâng lên cấp điện áp 22kV, riêng cấp điện áp 35kV được giữ nguyên để cung cấp cho phụ tải công nghiệp Vì vậy việc nghiên cứu quy hoạch, cải tạo mạng lưới trung áp của huyện Nho Quan là vấn đề cấp bách

2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đối tƣợng nghiên cứu: Hệ thống lưới điện trung áp huyện Nho Quan,

Ninh Bình

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quy hoạch và đề xuất phương án cải tạo

lưới điện trung áp huyện Nho Quan, Ninh Bình phù hợp với xu thế

phát triển của khu vực giai đoạn 2012 - 2025

Trang 9

sau:

- Đánh giá hiện trạng sử dụng điện năng cũng như hiện trạng lưới điện trung

áp huyện Nho Quan

- Nghiên cứu, đề xuất các phương pháp dự báo phụ tải điện, trên cơ sở đó đề xuất ra các phương án quy hoạch lưới điện phù hợp xu thế phát triển của huyện

- Tính toán lựa chọn phương án quy hoạch và cải tạo lưới điện trung áp phù hợp

- Tính toán và kiểm tra các thông số của lưới, chứng thực tính ưu việt và đảm bảo chất lượng điện năng của lưới điện sau khi cải tạo

5 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

- Tổng quan hiện trạng hệ thống điện trung áp và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan giai đoạn 2012 - 2025

- Nghiên cứu chọn phương pháp dự báo phụ tải điện thích hợp, xác định phụ tải điện đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan giai đoạn

2012 - 2025

- Nghiên cứu quy hoạch và đề xuất phương án cải tạo lưới điện trung áp huyện Nho Quan, Ninh Bình phù hợp với xu thế phát triển của khu vực giai đoạn

2012 - 2025

- Kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật của lưới điện sau cải tạo

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp sau:

- Thống kê, đo lường xác định phụ tải điện trong giai đoạn từ năm 2012 đến

2025 khu vực huyện Nho Quan

- Nghiên cứu lý thuyết chung về quy hoạch và phát triển hệ thống điện nói chung và lưới điện trung áp nói riêng

Trang 10

3

- Phân tích tính đúng đắn của mô hình lưới điện trung áp sau cải tạo thông qua các chỉ tiêu cơ bản, bằng phần mềm PSS/ADEPT để đánh giá chất lượng điện năng và độ tin cây cung cấp điện của lưới điện

7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Đánh giá hiện trạng tiêu thụ điện năng của lưới điện trung áp huyện Nho Quan, Ninh Bình, dự báo nhu cầu tiêu thụ điện năng của huyện đến năm 2025, lựa chọn mô hình lưới điện phù hợp với sự phát triển của huyện, đề xuất các phương

án cải tạo lưới điện trung áp hợp lý nhằm đảm bảo chất lượng cung cấp điện và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện Vì vậy đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

8 CƠ SỞ TÀI LIỆU

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các tài liệu sau:

- Quyết Định của UBND tỉnh Ninh Bình về việc quy hoạch huyện Nho Quan đến năm 2025

- Căn cứ vào “Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Ninh Bình giai đoạn

2010-2015 có xét đến 2020”, bản quy hoạch đã được hiệu chỉnh bổ sung do Viện Năng

lượng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam lập tháng 12 năm 2009 đã được Chính phủ phê duyệt

- Các số liệu khảo sát về tình hình phát triển kinh tế chính trị xã hội của huyện Nho Quan năm 2011

- Các số liệu cụ thể về lưới điện trung áp huyện Nho Quan do Công ty Điện lực Nho Quan cung cấp

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Nho Quan đến năm

2025

- Quy hoạch tổng thể các cụm công nghiệp của huyện Nho Quan đến năm

2025

9 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn được trình bày toàn bộ gồm 3 chương, phần mở đầu và kết luận với tổng cộng: 86 trang, 40 bảng biểu, hình vẽ, hình chụp và danh mục của 20 tài

Trang 11

và Dầu khí, trường Đại học Mỏ - Địa chất dưới sự hướng dẫn khoa học của:

TS NGUYỄN NGỌC VĨNH

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ chân thành và nhiệt tình của các thầy cô trong Bộ môn Điện khí hóa xí nghiệp Mỏ và Dầu khí, Phòng Đại học và Sau đại học trường Đại học Mỏ-Địa chất, Viện năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Công ty điện lực Nho Quan

Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Nguyễn

Ngọc Vĩnh, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, các tập thể, cá nhân, các nhà

khoa học và các đồng nghiệp về những đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 12

5

CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG LƯỚI ĐIỆN TRUNG ÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN NHO QUAN, NINH BÌNH

GIAI ĐOẠN 2012 - 2025 1.1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan

1.1.1 Giới thiệu sơ lược về huyện Nho Quan

Tỉnh Ninh Bình được thành lập ngày 01/4/1992, trên cơ sở tách tỉnh Hà Nam Ninh

Ninh Bình cổ xưa thuộc đất Nam giao, thời kỳ Bắc thuộc là Tượng quận, huyện Vô Công quận Cửu Chân, huyện Câu Lậu quận Giao Chỉ rồi huyện Văn Dương thuộc Trường Châu Thời Đinh -Lê (986-1010), Ninh Bình là kinh đô của nước Đại Cồ Việt Thời Trần, thuộc phủ Trường An, thời Lê Sơ Ninh Bình có 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan, thời Lê Trung Hưng gọi là Thanh Hoa ngoại trấn Năm 1806 đổi là đạo Thanh Bình Năm 1821 đổi là đạo Ninh Bình Năm

1829 đổi là trấn Ninh Bình Từ thời Nguyễn, sử sách ghi chép được đầy đủ và chi tiết về quá trình thay đổi và tên các đơn vị hành chính từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở ở một số thời điểm cụ thể

Năm Minh Mạng 12 (1831), tỉnh Ninh Bình chính thức ra đời, sau khi có thêm huyện Kim Sơn (1829) Đến năm 1937, Ninh Bình có 2 phủ 4 huyện 48 tổng

và 375 xã thôn (phủ tương đương huyện và độc lập với nhau)

Năm 1945, thị xã Ninh Bình ra đời Tháng 12/1949, tỉnh Ninh Bình thuộc Liên khu 3 Ngày 27/1/51, tái lập tỉnh Ninh Bình Ngày 27/12/1975, sáp nhập với tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định thành tỉnh Hà Nam Ninh

Ngày 26/12/1991, tái lập tỉnh Ninh Bình trên cơ sở chia tách tỉnh Hà Nam Ninh, có 7 đơn vị hành chính: thị xã Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, huyện Hoa Lư, huyện Tam Điệp, huyện Gia Viễn, huyện Hoàng Long, huyện Kim Sơn Diện tích 1386,77 km2, dân số 787.877 người

Trang 13

Khánh, Ninh Bình có 2 thị xã, 6 huyện với 125 xã và 11 phường, thị trấn Thị xã Ninh Bình là tỉnh lị, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh, nằm trên trục quóc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam, cách thủ đô Hà Nôi 90 km

Đến tháng 7/2007 tỉnh Ninh Bình có 1 Thành phố Ninh Bình (thành lập trên cơ sở thị xã Ninh Bình từ 1/4/2007), 1 thị xã Tam Điệp, 6 huyện: Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan, Yên Mô, Yên Khánh và Kim Sơn với 147 xã, phường và thị trấn

Nho Quan là một huyện lâu đời thuộc tỉnh Ninh Bình Thời kỳ 1975-1991, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Ngày 27/4/1977 huyện Nho Quan hợp nhất với huyện Gia Viễn thành huyện Hoàng Long, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Ngày 9/4/1981, tách huyện Gia Viễn khỏi huyện Hoàng Long Ngày 23/11/1993, đổi tên huyện Hoàng Long thành huyện Nho Quan

1.1.2 Vị trí địa lý

Huyện Nho Quan ở một vị trí không mấy thuận lợi do địa bàn chủ yếu là miền núi Huyện Nho Quan có 3 loại địa hình chính: vùng núi, vùng bán sơn địa

và vùng đồng chiêm trũng:

Tổng diện tích tự nhiên là 445,1 Km2 trên tổng số 1.372,2575 Km2 diện tích

tự nhiên của tỉnh Ninh Bình Trong đó có tát cả 27 đơn vị hành chính trong toạ độ địa lý:

Từ 20010’ đến 20028’ độ Vĩ Bắc

Từ 1050

32'30 đến 1050 52'30độ Kinh Đông,

- Phía đông giáp huyện huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư

- Phía tây giáp huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá

- Phía bắc giáp các huyện Yên Thủy và Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình

- Phía nam giáp Thị xã Tam Điệp

Huyện Nho Quan bao gồm 26 xã và 01 thị trấn với diện tích 445,1 km2

Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính huyện Nho Quan

Trang 15

1.1.3 Đặc điểm tự nhiên

a Khí hậu, thủy văn

Huyện Nho Quan là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu được chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hoà, mùa hạ nóng và mùa đông lạnh

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình khoảng 230C, mùa hè (29-34)0C, mùa đông dưới 180C, có ngày dưới 100C Nhiệt độ trong năm cao nhất vào tháng 6, 7, 8, lượng mưa trong 3 tháng này chiếm trên 50% lượng mưa cả năm, thường gây ra hiện tượng ngập úng cục bộ tại một số nơi

- Nắng: Số giờ nắng trung bình 1.600 giờ, số giờ nắng giữa các tháng lại chênh lệch nhau rất nhiều

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình 82,5% và chênh lệch không nhiều qua các tháng trong năm, độ ẩm cao vào mùa mưa và thấp vào mùa đông

Trang 16

0 5 10 15 20 25 30

35 L-ơng m-a tb

Nhiệt độ tb

- Chế độ giú: Hướng giú thịnh hành là giú Đụng Nam thổi từ thỏng 4 đến thỏng 9 Giú Đụng Bắc thổi từ thỏng 10 đến thỏng 3 năm sau kốm theo sương muối, ảnh hưởng đến sản xuất nụng nghiệp

Nhìn chung Khớ hậu, thời tiết Nho Quan chịu ảnh hưởng khỏ lớn khớ hậu và thời tiết vựng rừng nỳi Thanh Hoỏ và Hoà Bỡnh Đú là khớ hậu của cảnh quan rừng nhiệt đới: mựa hố, mựa thu cú mưa; mựa đụng lạnh và khụ Song cũng mang tớnh chất khớ hậu tiểu vựng, mựa đụng hay xuất hiện sương muối, với cỏc đặc điểm khớ hậu núng, ẩm, lượng bức xạ cao, thuận lợi cho sản xuất nụng nghiệp, lõm nghiệp

và sinh hoạt của nhõn dõn Tuy nhiờn, lượng mưa tập trung theo mựa, kết hợp với điều kiện địa hỡnh thấp trũng gõy ngập ỳng vào mựa mưa ở vựng trũng

Về thủy văn, huyện Nho Quan cú dũng sụng Bụi nối với sụng Hoàng Long

ra sụng Đỏy Ngoài ra cũn cú sụng Lạng, sụng Rịa và sụng Bến Đang

Hỡnh 1.1: Biểu đồ khớ hậu huyện Nho Quan

(Nguồn: Niờn giỏm thống kờ Ninh Bỡnh năm 2010) Nho Quan là một huyện cú nhiều hồ nước tự nhiờn và nhõn tạo nhất ở Ninh Bỡnh, cỏc hồ lớn cú tờn gọi gồm:

Trang 17

thành trang trại với đồi cây công nghiệp, cây lương thực và khu trại

Hồ Đồng Liều thuộc xã Quỳnh Lưu, gần hồ Đá Lải

Hồ Đá Lải thuộc xã Phú Long, có trữ lượng 2,5 triệu mét khối nước Trên diện tích 400m 2 mặt nước nuôi cá lồng tại hồ Đá Lải mỗi năm cho sản lượng 15-

18 tấn cá thịt

Hồ Đồng Chương là hồ nước nằm giữa đồi thông có chu vi hơn 8,0km, nơi đây đã được xây dựng thành khu du lịch nghỉ dưỡng

Hồ Thường Sung nằm gần khu du lịch nghỉ dưỡng Cúc Phương Villa

Hồ Yên Quang gồm 4 hồ nước được ngăn bởi các con đập

Hồ Thác Lá là một hồ thiên nhiên dài thuộc thác nước thôn Đầm Bông

Hồ Trổ Lưới nằm ở thôn Vệ Đình xã Thạch Bình

Hồ Đầm Đống thuộc xóm Ngọc xã Thạch Bình

Với nhiều hồ ao như vậy là nguồn dự trữ và điều tiết nước quan trọng, tuy nhiên khả năng tiêu úng chậm đã gây ngập úng cục bộ cho các vùng thấp trũng

b Tài nguyên đất và khoáng sản

Đất đai khá đa dạng có cả các loại đất của đồng bằng và đất của miền đồi núi cùng với hệ thống sông ngòi khá dày đặc là điều kiện thuận lợi để Nho Quan phát triển một nền nông nghiệp với cơ cấu cây trồng đa dạng Bên cạnh đó, huyện còn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, một số loại có trữ lượng tương đối lớn; đây là điều kiện để Nho Quan thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa Là nguồn tài nguyên quan trọng, là tiền đề cơ bản để phát triển kinh tế-xã hội của huyện Nho Quan Căn cứ vào tính chất nông hoá thổ nhưỡng, đất đai huyện được phân chia thành các nhóm chính sau:

- Nhóm đất phù sa: là nhóm có diện tích lớn nhất, chiếm 50% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở hầu hết các xã Đất phù sa còn có ở các thung lũng hẹp và dọc theo các con suối Đất phù sa của Nho Quan được hình thành chủ yếu

do quá trình lắng đọng phù sa của hệ thống sông Hồng và các sông nhỏ khác trong

Trang 18

- Nhóm đất glây: chiếm diện tích 1242 ha (3,5% diện tích tự nhiên), chủ yếu ở khu vực có địa hình trũng Do địa hình trũng, đất thường bị ngập nước trong năm tương đối dài, nên quá trình glây hoá mạnh mẽ Đất có khả năng trồng lúa là chủ yếu

Nhóm này có 2 loại: đất glây trung tính ít chua và đất glây chua

- Nhóm đất than bùn: có diện tích nhỏ (66ha, chiếm 0,05% diện tích tự nhiên) Đất được hình thành ở vùng trũng ngập nước quanh năm hoặc hầu như quanh năm, nằm trong các thung lũng hẹp, không có chỗ thoát nước Xác thực vật tích đọng trong điều kiện yếm khí tạo thành lớp than bùn, bên dưới có thể gặp lớp sét bị glây hoá mạnh

- Nhóm đất đen: có diện tích 1608ha (4,5% diện tích đất tự nhiên) Đất này

có đất đen kết von và đất nâu thẫm phát triển trên đá vôi và đá sét vôi, thường gặp

ở các thung lũng rìa chân núi đá vôi hoặc sườn thoải trên đá sét vôi Đất đen có độ dốc nhỏ, tầng dày thuận lợi cho sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả

- Nhóm đất xám: có diện tích 7973ha, chiếm 17,3% diện tích tự nhiên của huyện Đất được hình thành trên các loại đá phiến sét, cát kết, sét vôi, đá vôi, thềm phù sa cổ, do quá trình phong hoá, tích luỹ sắt, nhôm Chia thành 2 loại chính: đất xám feralit và đất xám kết von Những nơi có độ dốc cao (>250) nên phát triển sản xuất lâm nghiệp, độ dốc thấp hơn (<250) có thể phát triển sản xuất nông nghiệp

- Nhóm đất tầng mỏng: nhóm này có diện tích nhỏ (335,4 ha (chiếm 0,24% diện tích đất tự nhiên) Đất được hình thành do xói mòn mạnh, trơ sỏi đá Loại đất này có nhiều tính chất kém, không phù hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp

Trang 19

và Tây Nam và phía Bắc huyện, bên cạnh đó còn có một số xã thuộc bán sơn địa

và đồng chiêm trũng Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, độ cao so với mặt nước biển từ +3 đến +5 độ Rừng Nho Quan chiếm 20% diện tích

tự nhiên, có nhiều cây cối và cầm thú có giá trị Đặc biệt, Nho Quan có khu rừng nguyên sinh Cúc Phương với các thảm thực vật, động vật khá phong phú Địa hình

và cảnh trí của huyện rất đa dạng, phong phú…núi đá trập trùng, có nhiều hang động nổi tiếng Thiên nhiên ban tặng cho Nho Quan nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú với mỏ đá vôi, đá đôlômít, than bùn, mỏ sét, nước khoáng nóng trữ lượng lớn; rừng nguyên sinh Cúc Phương với diện tích 22.200 ha lưu giữ một hệ sinh thái rừng đa dạng, nhiều động thực vật quý hiếm và những hang động, hồ đập độc đáo chứa đựng tiềm năng phát triển du lịch sinh thái thu hút du khách thập phương đến tham quan, nghỉ dưỡng

c Tài nguyên nước

Tài nguyên nước của huyện gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm:

- Nguồn nước mặt chủ yếu được khai thác, sử dụng từ các đầm, ao, hồ có trên địa bàn và nước mưa Trữ lượng nước mặt của huyện khá dồi dào, chất lượng nước nhìn chung còn tốt, đang được khai thác cho sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ở một số khu vực, nhất là khu đô thị, khu dân cư nông thôn đã bị nhiễm bẩn do chịu ảnh hưởng của chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học

- Nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn Tại Rịa đạt 361.391m3/ngày

d Tài nguyên khoáng sản

- Tài nguyên đá vôi:

Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của huyện Với những dãy núi đá vôi khá lớn, chạy từ Hoà Bình, theo hướng tây bắc – đông nam, qua Nho Quan, dài hơn 40 km, diện tích trên 5000ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối đá

Trang 20

- Tài nguyên nước khoáng:

Nước khoáng của huyện Nho Quan chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượng lớn Đặc biệt nước khoáng Kênh Gà có độ mặn, thường xuyên ở độ nóng 53÷540C Nước khoáng Cúc Phương có thành phần Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh

- Tài nguyên than bùn:

Trữ lượng nhỏ, khoảng trên 2 triệu tấn, phân bố ở các xã Gia Sơn, Sơn Hà,

có thể sử dụng để sản xuất phân vi sinh, phục vụ sản xuất nông nghiệp

Rừng trồng: Diện tích đạt 5.387ha với các cây trồng chủ yếu là thông nhựa, keo, bạch đàn, cây ngập mặn (vẹt và sậy)

1.1.4 Kinh tế xã hội

Kinh tế - xã hội của huyện trong những năm gần đây đã có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm trở lại đây đạt 10,7% Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 30%, nông nghiệp đạt gần 42%, thương mại dịch

Trang 21

toán HĐND huyện giao, tăng 22 % so với năm trước; trong đó thu từ thuế, phí được 37 tỷ 864 triệu đồng, đạt 111 % dự toán HĐND huyện giao, tăng 31 %; thu tiền sử dụng đất được 50 tỷ đồng Văn hoá giáo dục, y tế có nhiều tiến bộ; quốc phòng, an ninh được tăng cường, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao Đến nay, toàn huyện có 242 khu dân cư tiên tiến và tiên tiến xuất sắc, đạt gần 85%, số hộ gia đình văn hoá chiếm 83%, 48 trường đạt chuẩn quốc gia, 24

xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Năm 2002 huyện được Bộ GD-ĐT công nhận đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS

Huyện Nho Quan có quá trình hình thành và phát triển cơ sở kinh tế kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh theo cơ cấu kinh tế công nông nghiệp trong thời kỳ bao cấp và đang chuyển hóa trong thời kỳ cơ chế đổi mới Cho đến nay thực trạng

cơ sở kinh tế xã hội chính của huyện Nho Quan như sau:

- Nông nghiệp: Năm 2011 giá trị bình quân trên 1 ha canh tác đạt 68,6

triệu đồng, tăng gấp 4,9 lần so với năm 1995; thu nhập bình quân đầu người năm

2011 đạt 16 triệu đồng, tăng gấp 6 lần so với năm 1995

Huyện đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như thuỷ lợi, đường giao thông, công trình điện và tăng cường đưa khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng diện tích cây có giá trị hàng hoá cao như: lúa nước, rau xanh, đậu tương, lạc

Tuy nhiên, do diện tích đất canh tác nông nghiệp giảm do chuyển mục đích

sử nên đã ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển của ngành nông nghiệp Vì vậy giá trị sản xuất nông nghiệp có nhịp độ tăng bình quân đạt thấp

- Về chăn nuôi: mặc dù có lợi thế về đất đai để phát triển các khu chăn

nuôi quy mô công nghiệp nhưng ở đây mới chỉ hình thành 41 trang trại với diện tích chưa đầy 244 ha

Trang 22

15

Về phương thức chăn nuôi thì chăn nuôi quảng canh, tận dụng trong nông

hộ với quy mô nhỏ vẫn là phương thức chủ đạo, chăn nuôi bán công nghiệp quy

mô vừa và chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, tập trung chỉ chiếm khoảng 8-9%

số hộ chăn nuôi lợn và 20-25% số hộ nuôi gia cầm

Hệ quả của chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, đặc biệt là chăn nuôi thả rông là khó khăn trong công tác quản lý, tiêm phòng dịch bệnh, tiêu độc, khử trùng và bảo

vệ môi trường

Bên cạnh khó khăn trong kiểm soát dịch bệnh thì chăn nuôi nông hộ quy

mô nhỏ thường có năng suất, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa thấp, dẫn đến hiệu quả kinh

tế không cao

Hiện toàn huyện có 2 trại giống trâu, bò, 6 trại giống lợn và các trại giống

dê, hươu, thỏ ở Nho Quan với số lượng con giống vào khoảng 12.312 con Còn lại phần lớn con giống là do nhân dân tự nhân, tự tìm Việc chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh, khai thác giống không đúng theo quy trình kỹ thuật nên chất lượng truyền giống kém

Thức ăn chăn nuôi chiếm 65-70% chi phí giá thành sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên hiện nay nguồn cung thức ăn đang thiếu, giá thành ở mức khá cao và không được kiểm soát triệt để đang làm khó người chăn nuôi

Ngoài các vấn đề nêu trên thì nạn ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, thiếu các khu giết mổ tập trung, yếu kém trong khâu kiểm soát vận chuyển gia súc, gia cầm, trình độ hiểu biết hạn chế về kỹ thuật, giống, thức ăn, thuốc thú y, thị trường của một số người chăn nuôi, đặc biệt là việc thiếu vốn, thiếu đất đai là những yếu tố làm cản trở sự phát triển của ngành chăn nuôi tỉnh ta

Trước thực trạng kém phát triển của ngành chăn nuôi, vừa qua, Sở Nông nghiệp & PTNT đã có đề án quy hoạch tổng thể phát triển chăn nuôi tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Theo đó phấn đấu giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2015 sẽ đạt 3.086 tỷ đồng, năm 2020 là 4.512 tỷ đồng, đưa tỷ trọng của ngành chăn nuôi lên mức trên 41% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Tuy

Trang 23

quyết hàng loạt những khó khăn, vướng mắc

Trước mắt, từ nay đến năm 2015 cần quy hoạch 5-7 khu chăn nuôi tập trung với quy mô 5-300 ha/khu tại huyện Nho Quan Bên cạnh chăn nuôi theo hướng công nghiệp thì chăn nuôi nông hộ vẫn đóng một vai trò quan trọng, do vậy cần có giải pháp để sắp xếp và nâng cao hiệu quả của hình thức chăn nuôi này Theo đó nên tạo điều kiện về giống, vốn để các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nâng quy mô lên Đồng thời bố trí các diện tích đất hoang hóa, đất đồi rừng, đất trồng kém hiệu quả để các hộ này đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư và phát triển theo mô hình chăn nuôi gia trại Tăng cường tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình để các hộ chăn nuôi tiếp cận được với các thông tin thị trường, kỹ thuật và quản lý sản xuất tiên tiến

Riêng thức ăn, đến năm 2020, quy hoạch diện tích trồng cỏ chuyên canh lên trên 500 ha, diện tích trồng cỏ xen canh là 675 ha Bên cạnh đó bố trí lại cơ cấu cây trồng, chuyển một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng ngô Tập trung thâm canh tăng năng suất, mở rộng cây vụ đông lấy thức ăn cho chăn nuôi Khuyến khích các trang trại lớn đầu tư trang thiết bị máy móc và mua nguyên liệu về tự chế biến thức ăn để đảm bảo cung cấp ổn định về số lượng, chất lượng với giá cả hợp lý

- Công nghiệp: Thực hiện chương trình phát triển công nghiệp của tỉnh

cũng như chương trình phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh của huyện, các qui định về ưu đãi đầu tư trên địa bàn đã góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp huyện phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế huyện Công nghiệp và xây dựng trên địa bàn phát triển nhanh đã tạo vị thế mới cao hơn cho huyện Nho Quan góp phần tăng thêm của cải vật chất, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho huyện; góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp - Dịch vụ - Du lịch - Nông lâm nghiệp Vai trò của công nghiệp và xây dựng trong kinh tế huyện đã nhanh chóng được tăng cường Đặc

Trang 24

+ Khu công nghiệp Sơn Hà với tổng diện tích 300ha là khu công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm; Thức ăn gia súc; May mặc; Sản xuất vật liệu xây dựng

+ Cụm công nghiệp Đồng Phong với tổng diện tích là 150 ha Dự kiến bố trí: Chế biến nông lâm sản, cơ sở sửa chữa cơ khí; Chế biến lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc; may v.v

Bên cạnh sự phát triển mạnh của khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công nghiệp tư nhân trong nước của huyện cũng phát triển khá, hiện

đã chiếm hơn 10% cơ cấu công nghiệp toàn huyện

Cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, huyện đã tập trung phát triển tiểu thủ công nghiệp theo cụm, khuyến khích các hộ đầu tư phát triển như mục tiêu Nghị quyết số 14/2011/NQ-HĐND ngày 12/8/2011 của tỉnh ủy đề ra, đã thực hiện khá tốt mục tiêu huy động nguồn lực ưu tiên phát triển công nghiệp theo hướng tập trung vào những sản phẩm có ưu thế cạnh tranh, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trở thành mũi nhọn và xi măng, thép là sản phẩm chủ yếu

Nhìn chung, với sự cố gắng của các cấp, các ngành và đặc biệt là sự năng động, nhạy bén của các thành phần kinh tế cùng vào cuộc đã thúc đẩy ngành công nghiệp huyện phát triển với tốc độ nhanh

- Các ngành dịch vụ: Huyện đã tập trung vào đẩy mạnh phát triển các hoạt

động kinh doanh thương mại - dịch vụ bằng việc thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển thương mại - du lịch - dịch vụ: Nhìn chung hoạt động dịch vụ của huyện trong những năm qua phát triển đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu phục

Trang 25

nhạy bén của các đơn vị và hộ kinh doanh, huyện còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, từ các thành phần kinh tế, tạo tiền đề cho sự phát triển, như việc đầu tư xây dựng, cải tạo các chợ trung tâm như: Chợ Đế - xã Gia Tường, Chợ Đồng Phong - xã Đồng Phong, Chợ Lạc - xã Xích Thổ, Chợ Lam - xã Sơn Thành, Chợ Na - xã Gia Lâm, Chợ Ngã Ba Anh Trỗi - xã Quỳnh Lưu, Chợ Nho Quan - Thị Trấn Nho Quan, Chợ Rịa - xã Phú Lộc, Chợ Vĩnh Khương - xã Quảng Lạc, đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư

Nho Quan có nhiều danh thắng để phát triển và khai thác du lịch như: Hiện

có 7 khu, điểm du lịch bao gồm: Vườn Quốc gia Cúc Phương; Tắm ngâm nước khoáng Cúc Phương; Khu du lịch nghỉ dưỡng Cucphuong Orion Resort; Khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chương; Hang động Vân Trình, xã Thượng Hòa; Khu du lịch hang Bụt, xã Sơn Hà; Khu du lịch tâm linh Phủ Đồi Ngang, xã Phú Long

Hồ Đồng Chương nằm ở 2 xã Phú Lộc và Phú Long Đây là một hồ nước rộng với chu vi đường bao hơn 8 km Xung quanh hồ là những vạt đồi thông soi bóng xuống mặt nước Hồ Đồng Chương đã được đầu tư để trở thành điểm du lịch sinh thái, giải trí cuối tuần

Vườn quốc gia Cúc Phương là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam Trong khu vực rừng có động Người Xưa, suối nước nóng, cây Chò trên 1.000 năm tuổi

và các trung tâm nghiên cứu, bảo tồn động vật v.v

Động Vân Trình thuộc xã Thượng Hoà là một động lớn nằm trong núi Mõ, được coi là “Nam thiên đệ tam Động” Động được đưa vào khai thác du lịch theo tour cùng với suối Kênh Gà

Cùng với các kết quả trên, các ngành dịch vụ kinh doanh vận tải, tín dụng, ngân hàng, điện lực, bưu chính viễn thông phát triển nhanh đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Hiện nay huyện đã đảm bảo cung cấp 100% hộ dân có điện

- Các chỉ số tình hình kinh tế xã hội huyện:

Trang 26

19

+ Thu ngân sách nhà nước năm 2011: 87 tỷ 884 triệu đồng

+ Xuất khẩu hàng hóa: 70.0 triệu USD

+ Nhập khẩu hàng hóa: 96.0 triệu USD

+ Thu nhập bình quân đầu người: 16 triệu đồng

Nhận xét chung: huyện Nho Quan nằm nằm trong vùng có nhiều khu công nghiệp và danh lam thắng cảnh nên thuận lợi cho việc xây dựng, phát triển nền kinh tế hiện đại của huyện trong tương lai

1.1.5 Giao thông vận tải

Ngoài 3 tuyến quốc lộ là quốc lộ 12B, quốc lộ 45, quốc lộ 38B chạy qua làm đối ngoại về vận tải rất thuận lợi giao lưu với các tỉnh trong vùng và 1 mạng lưới đường bộ, đường thủy hoàn chỉnh nối liền các tỉnh lân cận và các huyện Cụ thể như sau:

* Về đường bộ:

Huyện có 3 là quốc lộ 12B, quốc lộ 45, quốc lộ 38B và các tỉnh lộ 438,

477, 492 chạy qua

- Quốc lộ 12B: chạy qua địa bàn huyện dài 24km

- Quốc lộ 45: chạy qua địa bàn huyện dài 19km

- Quốc lộ 38B: chạy qua địa bàn huyện dài 20,8km

- Giao thông đô thị: 45,467km

- Đường chính - Đường liên khu vực: 149,02km

Trang 27

Huyện Nho Quan có hệ thống giao thông thuỷ rất thuận lợi do có nhiều con sông lớn như: sông Bôi nối với sông Hoàng Long ra sông Đáy Ngoài ra còn có sông Lạng, sông Rịa và sông Bến Đang

Theo Quyết định số: 2179/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2007 của UBND tỉnh Ninh Bình V/v phê duyệt Quy hoạch giao thông đường thuỷ nội địa tỉnh Ninh Bình đến năm 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020 thì Nho Quan có các cảng và các bến đò đường thủy sau:

Cảng Nho Quan: thuộc xóm 4, xã Lạc Vân, huyện Nho Quan

Cảng Núi Hốt: thuộc xã Lạc Vân, huyện Nho Quan

Danh sách các bến đò ở Nho Quan được quy hoạch và được tổng hợp trong bảng 1.2:

Bảng 1.2: Danh sách các bến đò huyện Nho Quan

1.1.6 Dân số

Trang 28

21

Theo thống kê dân số toàn huyện là 144.436 người (tính đến 31/12/2011), trong đó:

+ Nam: 69.013 người, nữ: 75.423 người

+ Mật độ dân số trung bình: 324 người/km2

+ Số người trong độ tuổi lao động: 72.218 người

Nguồn lao động khá về cả số lượng, chất lượng và đang ở thời kỳ đầu với tổng lao động năm 2011 chiếm 51,2% dân số Do vậy, đây là một nhân tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động

Bảng 1.3 Thống kê hiện trạng diện tích, dân số và mật độ dân số 31/12/2011

nhiên, (km2)

Dân số, (người)

Mật độ dân số, (người/km2)

Trang 30

Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Nho Quan

Trang 31

cao độ nội lực của huyện, sự ủng hộ của các cấp, các ngành, kết hợp với việc mở rộng hợp tác thu hút vốn đầu tư, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội của huyện

- Phát triển kinh tế huyện với tốc độ nhanh gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, làm cho mọi người dân đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và nhờ

đó mà được sẻ chia những thành quả của phát triển, cải thiện và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân

- Phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo trật tự xã hội và an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn và tiến bộ xã hội; xây dựng đô thị văn minh, hiện đại

1.2.2 Các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội

- Căn cứ vào tình hình thực tế, vào yêu cầu và triển vọng phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Đồng bằng Sông Hồng, trong khi tỉnh Ninh Bình sớm trở thành một tỉnh công nghiệp với cơ cấu kinh tế nghiêng nhiều hơn về khu vực sản xuất công nghiệp, thì kinh tế của huyện Nho Quan thời kỳ đến năm 2025 sẽ nghiêng hẳn về phát triển khu vực du lịch - dịch vụ, trong đó những lĩnh vực dịch vụ hiện đại, chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn đóng vai trò động lực chính trong tăng trưởng kinh tế của huyện

- Mức GDP/người cao hơn mức bình quân chung của cả nước Theo dự tính, mức GDP/người của cả nước năm 2025 có thể đạt mức khoảng 6000 USD, riêng Nho Quan phải đạt mức khoảng 6200 USD, cao hơn mức bình quân chung cả nước

Bảng 1.4 Tổng hợp chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Nho Quan đến năm 2025

Trang 32

25

- Cơ cấu GDP và cơ cấu lao động phản ánh tốc độ công nghiệp hóa đã phát triển cao: dịch vụ (60 – 70)%, công nghiệp: dưới 30% đến dưới 40%; nông nghiệp chỉ còn (1-2)%

- Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng trên địa bàn huyện đến năm 2015 chiếm từ (47 - 52)% tổng giá trị gia tăng trên địa bàn huyện

- Tiếp tục đẩy mạnh ngành xây dựng phát triển

- Tăng cường thực hiện các biện pháp giảm chi phí trung gian trong sản xuất công nghiệp, nâng dần tỷ trọng giá trị gia tăng trong sản xuất lên khoảng 30-31% năm 2015 và khoảng (32 – 33)% giai đoạn 2016-2025

Bảng 1.5 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Nho Quan đến năm 2025 (đơn vị

tính: %, theo giá hiện hành)

Trang 33

Giá trị sản xuất 100,0 100,0 100,0

1.2.3 Các định hướng phát triển không gian đô thị của huyện

Những năm tới, tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng Cuối năm 2012, huyện đang tiếp tục mở mang theo hướng “đô thị hóa, hiện tại hóa”, đã quy hoạch tổng thể bước 1, xử lý các quy hoạch chi tiết như hệ thống đường, cống rãnh, khu thương mại dịch vụ, khu thể thao, khu du lịch, các khu dân cư, hệ thống nước sạch, đường điện, v.v đã quy hoạch và được thông qua để đề nghị chính phủ:

a Không gian công nghiệp

- Xây dựng và mở rộng khu công nghiệp Xích Thổ tập trung sản xuất vật liệu xây dựng bao gồm sản xuất phụ gia công nghiệp; Vật liệu xây dựng; Chế biến

đồ gỗ; Cơ khí chế tạo lắp máy

- Xây dựng và mở rộng khu công nghiệp Sơn Hà với tổng diện tích 300ha là khu công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm; Thức ăn gia súc; May mặc; Sản xuất vật liệu xây dựng

- Tăng cường đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp Đồng Phong

với tổng diện tích là 150 ha Dự kiến bố trí: Chế biến nông lâm sản, cơ sở sửa chữa

cơ khí; Chế biến lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc; may v.v

Trang 34

- Các cơ quan hành chính: Từng bước cải tạo nâng cấp và xây dựng mới đặc

biệt là trung tâm hành chính huyện theo hướng hiện đại nhằm mục đích nâng cao khả năng quản lý hành chính của các cơ quan này

- Các cơ quan chuyên ngành kinh tế xã hội: Các cơ quan này đều phải xây dựng cao tầng liên kết để tạo bộ mặt kiến trúc đô thị mới

c Các khu trung tâm dịch vụ công cộng, dịch vụ đô thị

- Trung tâm thương mại, dịch vụ: chợ trung tâm huyện được bố trí mở rộng thành trung tâm thương mại lớn phục vụ nhân dân và toàn huyện với diện tích 1 ha Bên cạnh đó cần triển khai đầu tư, xây dựng và mở rộng các chợ như: Chợ Đế - xã Gia Tường, Chợ Đồng Phong - xã Đồng Phong, Chợ Lạc - xã Xích Thổ, Chợ Lam -

xã Sơn Thành, Chợ Na - xã Gia Lâm, Chợ Ngã Ba Anh Trỗi - xã Quỳnh Lưu, Chợ Rịa - xã Phú Lộc, Chợ Vĩnh Khương - xã Quảng Lạc đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của nhân dân và khách thập phương

- Hệ thống bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh: Xây dựng mới và nâng cấp các

cơ sở hiện có theo quy hoạch chung của tỉnh và huyện: bệnh viện Đa khoa Nho Quan, bệnh viện điều dưỡng,

- Hệ thống các trường, cơ sở giáo dục - đào tạo: Xây dựng mới và nâng cấp các cơ sở giáo dục, đào tạo hiện có; đảm bảo 100% số cơ sở đạt chuẩn quốc gia

Trang 35

đồng nhằm góp phần xây dựng xã hội học tập

Bảng 1.6 Các chỉ tiêu phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn huyện Nho Quan

Giá trị sản xuất (giá ss 1994)

Triệu USD Triệu USD Triệu USD

d Phát triển khu trung tâm của huyện

Dự kiến đến năm 2015 phát triển huyện thành thị xã Nho Quan và trở thành trung tâm vùng núi phía Tây

+ Khu trung tâm chính trị, các phòng ban ngành của huyện được xây dựng nâng cấp và được bố trí ở vị trí hiện nay tại thị trấn Nho Quan

+ Các công trình hạ tầng công cộng đã xây dựng hiện tại cần được chỉnh trang, nâng cấp cho phù hợp với tính chất chức năng và không gian

e Các khu dân cư

Dự báo phát triển dân số huyện: Để ước lượng quy mô dân số, giả sử mức tăng tự nhiên của dân số thường trú vẫn duy trì ở mức khoảng 1%/năm như hiện nay (cho giai đoạn 2010-2015 và cả thời kỳ đến 2025); mức tăng cơ học của dân số không thường trú là khoảng 1,4% bình quân giai đoạn 2010-2015 và khoảng 0,9%/năm giai đoạn 2015-2025 (Mức dự tính này được suy từ thực tế giai đoạn 2005-2010 và tính tới việc hoàn thành và đưa vào sử dụng các khu đô thị mới đang

Trang 36

29

và sẽ được triển khai trong thời gian tới, và về cơ bản cũng khớp với dự tính được nêu trong bản “Thuyết minh tổng hợp điều chỉnh quy hoạch chung huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình” của viện quy hoạch đô thị nông thôn, Bộ xây dựng, 8/2004;

tr 53) Dựa trên dự tính này, quy mô dân số trên địa bàn huyện Nho Quan được dự tính như bảng 1.7

Bảng 1.7 Ước tính quy mô dân số trên địa bàn huyện thời kỳ 2010-2015 và đến

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%) 1,2 1,1 1,1 1,1 1,1 0,9 0,9

f Phát triển không gian du lịch, cây xanh

Nho Quan có nhiều danh thắng để phát triển và khai thác du lịch như: động Vân Trình, hồ Yên Quang, hồ Đồng Chương và đặc biệt là vườn quốc gia Cúc Phương:

Hồ Đồng Chương nằm ở 2 xã Phú Lộc và Phú Long Đây là một hồ nước rộng, chu vi đường bao hơn 8 km Xung quanh hồ là những vạt đồi thông soi bóng xuống mặt nước Hồ Đồng Chương đã được đầu tư để trở thành điểm du lịch sinh thái

Hồ Yên Quang nằm gần thị trấn Nho Quan, là một hồ câu cá và thủy lợi lớn Vườn quốc gia Cúc Phương là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam Trong khu vực rừng có động Người Xưa, suối nước nóng, cây chò trên 1.000 năm tuổi và các trung tâm nghiên cứu, bảo tồn động vật v.v

Động Vân Trình thuộc xã Thượng Hoà là một động lớn nằm trong núi Mõ Động được đưa vào khai thác du lịch theo tour cùng với suối Kênh Gà

Động Thiên Hà - hang Bụt: động Thiên Hà nằm trong núi Tướng thuộc xã Sơn Hà, thuộc quần thể danh thắng Tràng An Động đã được đưa vào khai thác du

Trang 37

cách thành phố Ninh Bình 18 km, trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư thuộc thôn Đồng Tâm, xã Sơn Hà Hang Bụt hiện dài gần 500 m, lòng hang rất rộng và có nhiều nhũ đá với hình thù kỳ lạ

Công viên động vật hoang dã quốc gia Việt Nam là dự án được xây dựng trên địa bàn 2 xã Kỳ Phú và Phú Long với tổng diện tích khoảng 1.488 ha Đây là công viên bảo tồn động vật hoang dã Quốc gia đầu tiên tại Việt Nam và được xây dựng, phát triển, hoạt động đạt tiêu chuẩn Quốc tế

hướng quy hoạch tổng thể đã được xây dựng trong giai đoạn năm 2010 – 2025

1.3 Đánh giá hiện trạng nguồn cung cấp điện và lưới điện của huyện

1.3.1 Nguồn điện

Hiện nay huyện Nho Quan được cấp điện từ trạm 110kV Nho Quan với 2 máy biến áp là T1 (E23.13) công suất 25MVA - 110/35/22kV và T2 (E23.2) công suất 25MVA - 110/35/22kV

Thực trạng mang tải của MBA trạm được thống kê trong bảng 1.8:

Bảng 1.8 Thực trạng mang tải của các máy biến áp trạm 110kV

STT

Tên

MBA

Điện áp, (kV) Công suất, (MVA)

Pmax/Pmin

(MW)

Tình trạng vận hành

Trang 38

31

Hiện tại trạm biến áp 110kV Nho Quan cấp điện cho huyện Nho Quan qua

04 lộ 35kV: 373E23.2, 373E23.13, 371E23.2, 371E23.13; 02 lộ 22kV: 471, 473

và 04 lộ 10kV: 971LV, 972LV, 971RIA, 972RIA Số liệu thống kê phụ tải của các

lộ đường dây trong các giờ cao điểm và thấp điểm của các ngày được ghi trong bảng 1.9 (số liệu điều tra từ ngày 6/8/2012 đến 8/8/2012):

Bảng 1.9 Phụ tải các lộ dây trong giờ cao điểm và thấp điểm

Trang 39

1.3.2 Lưới điện trung áp

Hiện nay huyện Nho Quan đang được cấp điện qua 04 lộ 35kV, 02 lộ 22kV, 04 lộ 10kV Chiều dài, mã hiệu dây và tổng công suất của các lộ được thống kê chi tiết trong bảng 1.10:

Bảng 1.10 Thống kê chiều dài, mã hiệu dây, công suất các lộ đường dây

dài, (km)

Công suất, (kVA) Đơn vi quản lý

Ngày đăng: 24/05/2021, 08:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w