1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

MOT SO PHUONG PHAP GAY HUNG THU KICH THICH HOC SINHHOC TOT MON VAT LI 9

7 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 14,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên Vật lí cho nên tôi cần phải có những phương pháp giảng dạy sao cho sinh động và đa dạng để học sinh nắm được các hiện tượng Vật lí từ đó mới yêu thích và hứng thú học tố[r]

Trang 1

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GÂY HỨNG THÚ,

KÍCH THÍCH HỌC SINH HỌC TỐT MÔN VẬT

LÍ 9.

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Xuất phát từ đường lối đổi mới phương pháp dạy và học cho nên tất cả các giáo viên đều có những phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đặc trưng của bộ môn mình giảng dạy Là một giáo viên Vật lí cho nên tôi cần phải có những phương pháp giảng dạy sao cho sinh động và đa dạng để học sinh nắm được các hiện tượng Vật lí từ đó mới yêu thích và hứng thú học tốt Đó là nguyên nhân mà tôi chọn đề tài này

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1.Đặc điểm tình hình:

Năm học 2006 – 2007, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy môn Vật lí lớp 9 Nhà trường hiện có 22 lớp với TSHS là: 732, Trường THCS Long Phú đóng trên địa bàn xã Long Phú với hai điểm lẻ thuộc hai ấp Bưng Thum

và Phú Đức Tuy nhà trường với hai điểm lẻ nhưng sức học của các em đều như nhau Đó là nhờ vào sự quan tâm nhiệt ti2nh của Ban giám hiệu, giáo viên bộ môn, các cấp lãnh đạo của ngành, của địa phương nên tình hình học tập của học sinh có nhiều thuận lợi Đối với học sinh lớp 9 là lớp kết thúc cấp học THCS cho nên các

em đã trưởng thành về mặt nhận thức cũng như kỹ năng lĩnh hội kiến thức Vì vậy

ở chương trình Vật lí 9 yêu cầu kỹ năng phân tích, tổng hợp thông tin và dữ liệu thu thập được để hình thành khái niệm, rút ra các quy tắc, quy luật và định luật vật lí Nhưng qua thực tế giảng dạy bốn lớp 9, tôi nhận thấy đa số các em chưa thực hiện được các yêu cầu của mục tiêu bài học đã đề ra Sau đây là số liệu thống kê về học lực của các em học sinh khối 9 môn V t lí tôi đang gi ng d y n m h c 2006-ậ ả ạ ă ọ 2007:

STT Lớp TSHS Điểm trên 5 TL(%) Điểm dưới 5 TL(%)

Trang 2

2

3

4

9A 1

9A 2

9A 3

9A 4

32 34 25 22

9 12 19 15

28,13 35,29 76 68,18

23 22 6 7

71,87 64,71 24 31,82

Qua bản điều tra cho thấy vẫn còn một tỷ lệ khá cao học sinh dưới trung bìmh Đây là điều trăn trở không phải của riêng tôi mà đây cũng là những bức xúc của toàn giáo viên nhà trường gặp phải đó là:

* Đối với học sinh:

Như chúng ta đã biết nguyên nhân dẫn đến học sinh không hứng thú học tập

là do các em không thể tiếp thu được kiến thức mà thầy cô truyền đạt Có thể do các em đã mất căn bản nhiều ở các lớp dưới Chính vì vậy dẫn đến học sinh lơi là, bất mãn, không thích học Từ đó kết quả học tập bị hạn chế

Khả năng tìm tòi, tự học của các em còn chưa tự giác, chưa thật sự chủ động nắm bắt kiến thức trong sách giáo khoa cũng như ngoài thực tiễn Các em chưa xác định đúng đắn việc học tập của mình, một số em còn chưa coi viêc học tập là quan trọng giúp ích cho các em sau này Đó là một số khó khăn mà học sinh thường gặp phải Bên cạnh những khó khăn đó giáo viên cũng gặp những vướn mắc sau:

* Đối với giáo viên:

Một trong những khó khăn mà giáo viên gặp phải đó là khả năng tiếp thu kiến thức của các em, các em chưa chủ động nắm bắt kiến thức của nội dung bài học Từ đó giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong truyền đạt kiến thức đến với các em

Trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy còn thiếu hoặc có nhưng mức độ chính xác không cao Tài liệu tham khảo phục vụ cho chuyên môn còn hạn chế Từ đó làm cho tiết học sinh động là điều không thể dễ dàng

Trang 3

Như vậy để khắc phục những khó khăn trên, để đưa học vào nề nếp học tập, giáo cần có những phương pháp cụ thể Sau đây là một số phương pháp giúp học sinh kích thích, hứng thú trong học tập để đạt kết quả cao hơn

Đối với giáo viên khi lên lớp bước đầu tiên để đi vào bài mới đó là khâu tổ chức tình huống học tập Hoạt động này nhằm giúp các em tò mò tìm hiểu nội dung của bài học Kích thích các em tư duy, độc lập sáng tạo trong quá trình nắm bắt kiến thức Bằng những câu hỏi mở bài, học sinh có thể trả lời, hoặc dự đoán kết quả của hịên tượng Vật lý đó là như thế nào?

Bên cạnh đó dụng cụ trực quan cũng góp phần quan trọng cho một tiết dạy Dụng cụ trực quan phải yêu cầu về mặt thẩm mỹ, độ chính xác cao Từ đó mới lôi cuốn các em vào quá trình thí nghiệm tìm ra kiến thức trọng tâm của bài học Khi tiến hành thí nghiệm giáo viên vần nêu rõ mục đích của thí nghiệm để học sinh nắm bắt, định hướng được yêu cầu của thí nghiệm đề ra Trong quá trình thực hành thí nghiệm giáo viên cần có sự uốn nắn, hướng dẫn từng nhóm thực hiện thí nghiệm một cách nghiêm túc sao cho các thành viên của nhóm cùng hoạt động

Ngoài ra giáo viên còn có thể đưa ra mộ số “bài toán chạy” để học sinh thực

hiện và lấy điểm Đây là một hoạt động rất tích cực và nhạy cảm, kích thích các em tính ham muốn, chứng tỏ mình trước lớp, trước bạn bè Chính vì vậy kỹ năng truyền dạt kiến thức của giáo viên mới đạt được hiệu quả cao hơn Tuy nhiên đối với hương pháp này giáo viên cần chú ý cho học sinh tính tỉ mỉ, cẩn thận trong quá trình làm bài tập Vì dạng bài tập này đòi hỏi sự nhạy bén của các em, đồng thời phải đảm được thời gian theo yêu cầu Chính vì vậy học sinh dễ bị sai sót, thiếu chính xác trong khi hoàn thành bài giải Bên cạnh đó giáo viên cần chú ý về ngôn ngữ diễn đạt, giọng nói phải rõ ràng, dễ hiểu, lôi cuốn các em vào hoàn cảnh có vấn

đề để các em giải quyết

Ngoài sử dụng một số phương pháp trên, giáo viên cần chú ý đến hoạt động dạy của mình đó là liên hệ thực tế của kiến thức Giáo viên làm sao cho các em thấy được xung quanh các em hằng ngày đều xảy ra hiện tượng vật lí Tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể học sinh sẽ hiểu được và cảm thấy yêu thích bộ môn hơn

Trên đây là m t s ph ng pháp tôi đã áp d ng vào th c ti n và th y đ c hi uộ ố ươ ụ ự ễ ấ ượ ệ

qu khá cao Bi u hi n thông qua b ng sau:ả ể ệ ả

STT Lớp TSHS Điểm trên 5 TL(%) Điểm dưới 5 TL(%)

Trang 4

2

3

4

9A 1

9A 2

9A 3

9A 4

32 34 25 22

22 23 19 17

68,8 67,6 76 77,2

10 11 6 5

31,2 32,4 24 22,8

Qua bảng trên cho thấy một số em có nhận thức đúng đắn trong quá trình học tập Các em có sự tiến bộ rõ rệt về mặt nhận thức lẫn thái độ học tập của mình Chính vì vậy các em cảm thấy yêu thích, say mê hơn trong quá trình học tập của mình

III ÁP DỤNG CỤ THỂ:

Bài 21: NAM CHÂM VĨNH CỬU.

I MỤC TIÊU:

1 Kiến thức:

Mô tả dược từ tính của nam châm; mô tả dược cấu tạo và giải thích được hoạt động của la bàn

2 Kỹ năng:

Biết cách xác định các từ cực Bắc, Nam của nam châm

3 Tư tưởng:

Kích thích óc tò mò, thích khám phá

II ĐỒ DÙNG DẠY VÀ HỌC:

-GV: nam châm, la bàn

Trang 5

-HS: Xem bài trước.

III TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC.

1 Ổn định lớp: Kiểm tra sỉ số

2 Kiểm tra bài cũ:

Phát biểu và viết công thức của định luật Jun-len-xơ?

3. Bài m i:ớ

HOẠT ĐỘNG GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG HỌC SINH NỘI DUNG

HĐ1: Tìm hiểu đặc tính từ của

nam châm.

? Để biết thanh kim loại có phải là

nam châm không ta làm cách nào?

- Yêu cầu học sinh nhận xét

- Làm thí nghiệm cho học sinh quan

sát

? Khi đứng cân bằng, kim nam

châm nằm dọc theo hướng nào?

GV: xoay cho kim nam châm lệch

khỏi hướng ban đầu

? Quan sát và nhận xét hướng chỉ

của kim nam châm?

GV: giới thiệu các cực từ của nam

châm

- Đưa thanh kim loại lại gần các vật bằng sắt hay thép

- Đúng

- Hướng Bắc, hướng Nam

Màu xanh

- Vẫn chỉ hướng Bắc – Nam

I Từ tính của nam châm.

1.Thí nghiệm: SGK.

2 Kết luận:

Nam châm nào cũng có hai từ cực Khi

để tự do, một cực luôn chỉ hướng Bắc, còn một cực chỉ hướng Nam gọi là cực Nam.

Trang 6

? Đặc tính từ của nam châm là gì?

HĐ2: Tìm hiểu sự tương tác giữa

hai nam châm.

- Yêu cầu học sinh trả lời câu C3,

C4 trong SGK

- GV: phát dụng cụ cho các nhóm

làm thí nghiệm để kiểm tra xem dự

đoán của bạn

? Qua TN ta rút ra được kết luận gì?

- Nhận xét đánh giá

HĐ3: Vận dụng

- Yêu cầu HS trả lời câu C5, C6,

C7, C8

- Giáo viên nhận xét đánh giá

- Hút được sắt, thép

- Cùng loại thì đẩy nhau, khác loại thì hút nhau

- Nội dung SGK

II Tương tác giữa hai nam châm.

1 TN: SGK.

2 Kết luận:

Khi đặt hai nam châm gần nhau, các từ cực cùng tên thì đẩy nhau Các từ cực khác tên hì hút nhau.

4 Kết luận toàn bài:

? Nêu đặc tính từ của nam châm?

? Sự tương tác giữa hai nam châm?

5 Hoạt động nối tiếp: Về nhà học bài, làm bài tập và xem bài trước

Trang 7

IV KẾT LUẬN

Trong quá trình giảng dạy đối tượng cần được quan tâm nhiều nhất là học sinh yếu kém Chính vì vậy, để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi giáo viên cần phải có những phương pháp dạy học cho phù hợp để nâng cao dần kết quả học tập của học sinh Từ kết quả đó học sinh mới tích cực hứng thú, chủ động trong học tập, tiếp thu được kiến thức của mục tiêu bài học đã đề ra

Long Phú, ngày 25 tháng 11 năm 2006.

Người thực hiện

Phan Thị Mỹ Hương

Ngày đăng: 24/05/2021, 04:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w