1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ AGRIBANK

33 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động quản trị nhân lực tại công ty dịch vụ Agribank
Tác giả Chu Đỗ Hoàng Sơn
Người hướng dẫn TS. Trương Minh Đức, TS. Phạm Thị Hạnh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị rủi ro
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 711,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên vô cùng khốc liệt. Để tạo được những chỗ đứng trong thị trường, các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những lợi thế cạnh tranh của riêng mình. Cụ thể là trong thời đại kỷ nguyên số và cuộc cách mạng công nghệ 4.0, cuộc chạy đua về công nghệ, kỹ thuật, phần mềm và số hóa doanh nghiệp đang rất gay gắt. Để có thể phát huy tối đa nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần đòi hỏi công tác quản trị nhân sự phải thật tốt. Do đó việc sử dụng con người thế nào cho có hiệu quả và có thể khai thác hết khả năng của họ đóng vai trò hết sức quan trọng. Để thực hiện tốt quản trị nhân lực đòi hỏi các nhà quản trị phải có phương pháp tiếp cận khoa học, có cách thức nắm bắt năng khiếu, hiểu được tâm lý từng người. Từ những dữ liệu đó mới có thể bố trí sắp xếp họ vào những công việc thích hợp để triệt để tận dụng được khả năng sáng tạo của người lao động, phát huy được tinh thần say mê và lòng nhiệt tình của họ. Bên cạnh đó cần thực hiện tốt việc quản trị rủi ro trong quản trị nguồn nhân lực để có thể thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty. Dựa trên cơ sở đó mà doanh nghiệp có thể đưa ra được những chiến lược về nhân lực một cách hợp lý, khắc phục và phòng ngừa những rủi ro đã xảy ra và có thể xảy ra. Trong số những rủi ro tồn tại trong công tác quản trị nhân lực hiện nay có thể kể đến như rủi ro nhân viên nghỉ việc, rui ro nhân viên không làm việc đúng năng suất, không đạt được mục tiêu,…Nhận thấy những lỗ hổng và những điểm chưa được hoàn thiện trong công tác quản trị rui ro trong quản trị nhân lực tại Công ty Dịch vụ Agribank, tôi sẽ thực hiện phân tích và hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong quản trị nhân lực tại doanh nghiệp này.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KINH TẾ VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ RỦI RO – BSA3068 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ AGRIBANK

Giảng viên: TS Trương Minh Đức

Trang 2

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU: 5

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 6

3 Các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Kết cấu bài nghiên cứu 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 Các khái niệm cơ bản về quản trị rủi ro và vai trò của quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 8

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về quản trị rủi ro 8

1.1.2 Vai trò của quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 11 1.2 Những nội dung cơ bản của hoạt động quản trị rủi ro 12

1.2.1 Nhận dạng rủi ro 12

1.2.2 Phân tích và đánh giá rủi ro 13

1.2.3 Đo lường rủi ro và xác định mức độ ưu tiên về vấn đề xử lý rủi ro 16

1.2.4 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro 19

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÔNG TY TRONG VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC 21

1.1 Giới thiệu chung về hoạt động quản lý nhân lực của công ty Agribank 21

1.1.1 Giới thiệu chung về Công ty Dịch vụ Agribank 21

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 21

1.1.3 Nhân lực và cơ cấu tổ chức của công ty 22

1.2 Đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro trong lĩnh vực quản lý nhân lực tại công ty 24

1.2.1 Nhận dạng rủi ro trong lĩnh vực quản lý nhân lực 24

1.2.2 Phân tích và đánh giá các dạng rủi ro xuất hiện trong lĩnh vực quản trị nhân lực 24 1.2.3 Đo lường và xác định mức độ ưu tiên các rủi ro cần giải quyết 27

Trang 3

1.2.4 Đánh giá hệ thống kiểm soát rủi ro của công ty 29CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO 313.1 Tích hợp quản trị rủi ro vào quy trình quản trị nhân sự 313.2 Tích hợp quản trị rủi ro vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 313.3 Tích hợp quản trị rủi ro vào xây dựng văn hóa doanh nghiệp 33

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU:

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên vô cùng khốc liệt Để tạo được những chỗ đứng trong thị trường, các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những lợi thế cạnh tranh của riêng mình Cụ thể là trong thời đại kỷ nguyên

số và cuộc cách mạng công nghệ 4.0, cuộc chạy đua về công nghệ, kỹ thuật, phần mềm và

số hóa doanh nghiệp đang rất gay gắt Tuy nhiên trong mô hình quản trị tinh gọn Made in Vietnam của PGS.TS Nguyễn Đăng Minh, công nghệ được chia làm hai phần là công nghệ cứng và công nghệ mềm Trong đó công nghệ cứng là yếu tố công nghệ thường được mọi người biết đến như máy móc, thiết bị, hay các công cụ… Còn công nghệ mềm là những thuộc tính liên quan đến trí tuệ và kỹ năng của con người trong doanh nghiệp để sử dụng công nghệ cứng hiệu quả, ví dụ như tư duy, phương pháp, quy trình làm việc,…Để một doanh nghiệp phát triển công nghệ và tạo ra lợi thế cạnh tranh thì cần phải đầu tư phát triển đồng thời cả công nghệ cứng và công nghệ mềm Từ đó có thể khẳng định yếu tố con người luôn cần được chú trọng và phát triển song hành với sự phát triển của khoa học thiết bị và máy móc công nghệ trong doanh nghiệp

Để có thể phát huy tối đa nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần đòi hỏi công tác quản trị nhân sự phải thật tốt Do đó việc sử dụng con người thế nào cho có hiệu quả và có thể khai thác hết khả năng của họ đóng vai trò hết sức quan trọng Để thực hiện tốt quản trị nhân lực đòi hỏi các nhà quản trị phải có phương pháp tiếp cận khoa học, có cách thức nắm bắt năng khiếu, hiểu được tâm lý từng người Từ những dữ liệu đó mới có thể bố trí sắp xếp

họ vào những công việc thích hợp để triệt để tận dụng được khả năng sáng tạo của người lao động, phát huy được tinh thần say mê và lòng nhiệt tình của họ Bên cạnh đó cần thực hiện tốt việc quản trị rủi ro trong quản trị nguồn nhân lực để có thể thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty Dựa trên cơ sở đó mà doanh nghiệp có thể đưa ra được những chiến lược về nhân lực một cách hợp lý, khắc phục và phòng ngừa những rủi ro đã xảy ra và có thể xảy

ra

Trang 6

Trong số những rủi ro tồn tại trong công tác quản trị nhân lực hiện nay có thể kể đến như rủi ro nhân viên nghỉ việc, rui ro nhân viên không làm việc đúng năng suất, không đạt được mục tiêu,…Nhận thấy những lỗ hổng và những điểm chưa được hoàn thiện trong công tác quản trị rui ro trong quản trị nhân lực tại Công ty TNHH MTV Dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (Agribank), tôi sẽ thực hiện phân tích và hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong quản trị nhân lực tại doanh nghiệp này

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Bài tiểu luận này nhằm mục đích nêu ra những cở sở lý luận về quản trị rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động quản trị nhân lực tại doanh nghiệp Từ đó liên hệ và phân tích công tác quản trị rủi ro trong quản trị nhân lực tại Công ty TNHH MTV Dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (Agribank) Qua đó chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu, những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong công tác quản trị nguồn nhân lực tại công ty Dựa trên những dữ liệu phân tích, bài tiểu luận sẽ nêu ra những biện pháp khắc phục và phòng ngừa nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong quản trị nhân lực tại Agribank

3 Các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được

Bài tiểu luận cần đạt được những mục tiêu nghiên cứu sau để hoàn thành mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về rủi ro, quản trị rủi ro, quản trị rủi ro trong quản trị nhân lực trong doanh nghiệp

- Nhận dạng và đánh giá rủi ro nguồn nhân lực của Công ty TNHH MTV Dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (Agribank), phân tích thực trạng công tác quản trị nhân lực và quản trị rủi ro nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong thời gian qua

- Phân tích và nêu ra được những ưu điểm, nhược điểm, những hạn chế hay vấn đề còn tồn đọng trong công tác quản trị rủi ro nguồn nhân lực tại doanh nghiệp

- Từ những dữ liệu và kết quả phân tích, đề xuất những chiến lược và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nguồn nhân lực tại doanh nghiệp

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghuên cứu về hoạt động quản trị rủi ro trong công tác quản trị nhân lực tại Viện

Nghiên cứu Phát triển Lãnh đạo (Agribank)

Quản trị rủi ro trong quản trị nhân lực tại Công ty TNHH MTV Dịch vụ Ngân hàng

Nông nghiệp Việt Nam (Agribank)

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp định tính

- Phương pháp định lượng

- Thu thập dữ liệu thông tin (sơ cấp, thứ cấp → qua khảo sát, báo cáo doanh nghiệp,

tạp chí, )

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp,

6 Kết cấu bài nghiên cứu

Kết cấu bài nghiên cứu ngoài phần mở đầu gồm có 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Phân tích thực trạng quản trị rủi ro của công ty trong quản trị nguồn nhân

lực

Chương III: Các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát rủi ro

Trang 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm cơ bản về quản trị rủi ro và vai trò của quản trị rủi ro trong hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về quản trị rủi ro

1.1.1.1 Khái niệm chung về rủi ro

Tại thời điểm hiện nay đang tồn tại rất nhiều định nghĩa về rủi ro khác nhau trên thế giới và cả tại Việt Nam, các định nghĩa này có thể được tìm thấy qua nhiều nguồn tài liệu khác nhau, trong đó có một số được nêu ra như sau:

Theo từ điển tiếng Anh Oxford, rủi ro được định nghĩa như sau: “một cơ hội hay khả năng gặp nguy hiểm, mất mát, tổn thương hoặc các hậu quả xấu khác” và định nghĩa về rủi

ro là “tiệm cận với nguy hiểm” Trong bối cảnh này, rủi ro được biểu thị là những hậu quả tiêu cực Tuy nhiên, nắm bắt được rủi ro cũng có thể dẫn đến một kết quả tích cực Một khả năng thứ ba là rủi ro có liên quan đến sự không chắc chắn về kết quả (Từ điển Oxford,

2013, tr.421)

Theo Viện Quản trị rủi ro (IRM) thì rủi ro là sự kết hợp khả năng của một sự kiện và hậu quả của nó Hậu quả có thể từ tích cực đến tiêu cực Đây là một định nghĩa được áp dụng rộng rãi và thiết thực mà có thể dễ dàng áp dụng (Viện Quản trị rủi ro (IRM), 2001, tr.139)

Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO), “rủi ro là tác động ảnh hưởng của sự không chắc chắn và cũng như bất kỳ sự bất định nào cũng có thể có nhưng tác động tích cực hay tiêu cực” (ISO 9001:2015) Tiêu chuẩn ISO 31000:2009 định nghĩa “Rủi ro là tác động của sự không chắc chắn lên mục tiêu” Tác động là một sai lệch so với dự kiến – tích cực và hoặc tiêu cực Mục tiêu có thể có những khía cạnh khác nhau (mục tiêu tài chính, sức khỏe, an toàn và môi trường) và có thể áp dụng ở các cấp độ khác nhau (như chiến lược, toàn bộ tổ chức, dự án, sản phẩm và quá trình) Rủi ro thường thể hiện bằng sự dẫn chiếu các sự kiện và hệ quả tiềm ẩn hoặc sự kết hợp giữa chúng Rủi ro thường thể hiện bằng sự kết nối giữa các hệ quả của một sự kiện (bao gồm cả những thay đổi về hoàn cảnh)

và khả năng xảy ra kèm theo Sự không chắc là tình trạng, thậm chí là một phần, sự thiếu

Trang 9

hụt thông tin liên quan tới việc hiểu biết hoặc nhận thức về một sự kiện, hệ quả hoặc khả năng xảy ra của nó (TCVN ISO 31000:2011; ISO 31000:2009)

Dựa trên những định nghĩa đã nêu trên, có thể hiểu đơn giản rủi ro là tác động của sự không chắc chắn lên mục tiêu, tác động đó có thể là tác động tiêu cực hoặc tác động tích cực Các tác động tiêu cực có thể là thiệt hại, mất mát, nguy hiểm cho doanh nghiệp,… trong khi đó các tác động tích cực có thể đem lại cơ hội kinh doanh, lợi nhuận,… cho doanh nghiệp

1.1.1.2 Các cách phân loại rủi ro

Dựa theo tính chất của kết quả mà rủi ro đem lại, rủi ro có thể phân thành 2 loại đó là rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán, trong đó:

- Rủi ro thuần túy là loại rủi ro chỉ tiềm ẩn những kết quả tiêu cực, những tổn thất, thiệt hại cho đối tượng Khi xuất hiện rủi ro thuần túy, chủ thế chắn chắn sẽ gặp những kết quả bất lơi Ví dụ như: động đất, hỏa hoạn, tai nạn lao động,…

- Rủi ro suy đoán là loại rủi ro vừa tiềm ẩn những kết quả tiêu cực, tổn thất và thiệt hại những đồng thời vừa tiềm ẩn những kết quả tích cực, cơ hội ẩn để kiếm lời, gia tăng lợi ích cho chủ thể Ví dụ như: hoạt động chơi cổ phiếu, rủi ro hối đoái,… Bên cạnh cách phân chia theo tính chất của kết quả, theo Tác giả Trần Hùng, 2017, Giáo trình Quản trị rủi ro, Nhà xuất bản Hà Nội, các rủi ro còn được phân chia như sau:

- Rủi ro tài sản:

Rủi ro tài sản chính là các đối tượng có thể được lợi hoặc chịu tổn thất về vật chất, tài sản tài chính, tài sản vô hình (danh tiếng, quyền tác giả, hỗ trợ về chính trị) và các yếu tố này xảy ra do phải chịu các yếu tố mạo hiểm hoặc rủi ro Tài sản có thể bị hư hỏng, mất mát, tàn phá theo nhiều cách khác nhau Việc không thể sử dụng tài sản trong một thời gian (yếu tố thời gian của tổn thất) là ví dụ cho một loại tổn thất thường bị bỏ qua

- Rủi ro pháp lý:

Là các đối tượng cơ thể gây ra tổn thất vì các trách nhiệm pháp lý đã quy định Các luật dân sự và hình sự quy định chi tiết các trách nhiệm mà người dân phải thực hiện Nhà nước ban hành các hiến pháp, các luật và chỉ thị áp đặt các giới hạn theo luật cho một số hoạt động Người ta có thể cho rằng đối tượng của rủi ro pháp lý chỉ là một phần của rủi ro tài sản, vì các tổn thất do pháp lý rồi cũng sẽ làm giảm tài sản của tổ chức Thật ra đối tượng rủi ro về pháp lý có những đặc trưng khác hẳn như các hiểm họa và tổn thất phát sinh từ môi trường chính trị và luật pháp

- Rủi ro nguồn nhân lực:

Lả các đối tượng có liên quan đến “tài sản con người” của tổ chức Rủi ro có thể gây tổn thương cho các nhà quản lý, công nhân viên hay các đối tượng có liên quan đến tổ

Trang 10

chức như khách hàng, nhà cung cấp, người cho vay, người giữ cổ phiếu Về phương diện rủi ro suy đoán, một nhân viên có thể xem là một đối tượng về rủi ro nguồn nhân lực nhưng năng suất của họ có thể là kết quả tích cực Một thiết bị kĩ thuật cao có thể xem là nguồn tổn thất (do gây tai nạn lao động, đồng thời là nguồn lợi ích (làm tăng năng suất) Trong trường hợp này chiến lược quản trị rủi ro phải kết hợp với các yếu tố nhằm làm giảm thiểu tổn thất đồng thời cực đại được lợi ích (huấn luyện cho người lao động) Cuối cùng ta không nên nghĩ rủi ro về nguồn nhân lực luôn liên hệ với các thiệt hại về thể xác, sự bất ổn về kinh tế cũng là những tổn thất phổ biến như mất việc hay về hưu Vì vậy quản trị rủi ro về nguồn nhân lực phải quan tâm đến các lợi ích về kinh tế

và thể chất của con người

- Rủi ro hợp đồng:

Là rủi ro phát sinh trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng làm cho quá trình này gặp trở ngại không tiến hành được như đã dự định hoặc cam kết trong nhiều trường hợp dẫn đến tranh chấp phải đưa đến cơ quan pháp luật hoặc cơ quan trọng tài để giải quyết

- Rủi ro thiệt hại kinh doanh:

Là rủi ro gây tổn thất (giảm doanh thu, giảm lợi nhuận hoặc tăng chi phí) do việc ngưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định

1.1.1.3 Khái niệm chung về quản trị rủi ro

Cùng giống với khái niệm rủi ro, hiện nay trên thế giới cũng tồn tại nhiều khái niệm về quản trị rủi ro, sau đây tôi xin trình bày một số khái niệm như sau:

Theo tác giả Hoàng Đình Phi (2015), Quản trị rủi ro của tổ chức và doanh nghiệp là các quy trình mà những người có trách nhiệm tiến hành mọi hoạt động và sử dụng mọi công cụ

để nghiên cứu, dự báo, hoạch định và thực thi các chiến lược và các kế hoạch phòng ngừa rủi ro và ứng phó khủng hoảng để đảm bảo duy trì được khả năng cạnh tranh bền vững hay

sự phát triển bền vững của tổ chức hay doanh nghiệp

Theo TCVN ISO 31000:2018 (ISO 31000:2018), quản trị rủi ro là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về rủi ro

Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2013), Quản trị rủi ro và khủng hoảng, Nxb Lao động - Xã hội, cho rằng “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và

có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngửa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro”

Theo Uỷ ban giám sát các tổ chức của Hội đồng Trendway (COSO) quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp Quản trị rủi ro được thiết lập để nhận diện, đánh giá một cách có hệ thống các tác động và khả năng xảy ra rủi

ro có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp

Trang 11

Như vậy, có thể hiểu quản trị rủi ro là một quá trình bao gồm các hoạt động có phối hợp

để nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và định hướng rủi ro đối với hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp nhằm hạn chế những hậu quả tiêu cực về con người và kinh tế, phát huy những lợi thế tích cực về cơ hội kinh doanh, quản trị rủi ro không chỉ là các hoạt động thụ động và phòng ngừa mà còn là những hoạt động chủ động trong việc dự kiến những tổn thất hay cơ hội xảy ra và tìm cách giảm nhẹ hậu quả, phát huy lợi ích của chúng Vì vậy, quản trị rủi ro được xem là một vấn đề trọng tâm, cốt lõi của hệ thống quản trị trong doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ngày nay với sự biến động không ngừng của thị trường và công nghệ, các tổ chức và doanh nghiệp đang ngày càng quan tâm hơn tới công tác quản trị rủi ro Những nhà lãnh đạo hiểu rằng việc quản trị rủi ro mang lại những lợi ích rõ rệt và trở thành một phần không thể thiếu trong tất cả các quá trình của tổ chức Bằng cách thực hiện tốt chiến lược quản trị rủi ro và triển khai nó một cách hiệu quả, các doanh nghiệp và tổ chức có thể đạt được những lại ích sau:

- Quản trị rủi ro giúp cho hoạt động của doanh nghiệp trở nên hiệu quả hơn: Quản trị rủi ro tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể xác định trước những nguy cơ gây ra gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời đề ra những kế hoạch nhằm giảm thiểu tổn thất nếu xảy ra rủi ro, từ đó giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn

- Quản trị rủi ro là một phần của việc ra quyết định: Việc thực hiện tốt công tác sẽ giúp cho các nhà quản trị có thể ra quyết định một cách hiệu quả hơn dựa trên những dự đoán về rủi ro trong tương lai Từ đó có thể đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh

và chiến lược tốt nhất cho doanh nghiệp

- Hiểu rõ rủi ro và tác động tiềm ẩn của rủi ro tới các mục tiêu: Hiểu rõ rủi ro và tác động tiềm ẩn của rủi ro, để lựa chọn các phương án xử lý rủi ro tốt nhất

- Giúp nhà quản trị có cái nhìn hệ thống đối với các loại rủi ro: Việc quản trị rủi ro đòi hỏi nhà quản trị cần có một cái nhìn tổng quát và hệ thống để có thể xác định các loại rủi ro và đề ra phương án phòng tránh hoặc đối phó với chúng

- Giúp doanh nghiệp tận dụng các cơ hội trong kinh doanh: Quản trị rủi ro như đã phân tích ở trên không chỉ để đề phòng những tác động tiêu cực khi rủi ro xảy ra mà đồng thời sẽ phát huy tối đa những lợi ích của cơ hội kinh doanh đối với rủi ro suy đoán

Tóm lại, các hoạt động quản trị rủi ro là bảo vệ và đóng góp những giá trị tăng thêm cho

tổ chức và các đối tác liên quan của tổ chức Quản trị rủi ro giúp cho nhà quản trị trong việc tạo lập giá trị cho đơn vị và hỗ trợ tổ chức đạt được mục tiêu đề ra bằng cách xử lý hữu hiệu đối với những sự kiện không chắc chắn trong tương lai và cung cấp các cách thức phản ứng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp

Trang 12

1.2 Những nội dung cơ bản của hoạt động quản trị rủi ro

1.2.1 Nhận dạng rủi ro

Nhận dạng rui ro là bước đầu để các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro Nhận dạng rui ro được hiểu là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro nảy sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các hoạt động nhân dạng rủi ro được thực hiện nhằm mục đích thu thấp các thông tin về đối tượng có thể gặp rủi ro (con người, tài sản, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp), các nguồn phát sinh rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, các loại tổn thất mà rủi ro có thể gây ra cho doanh nghiệp

Để có thể thực hiện tốt nhận dạng rủi ro, doanh nghiệp cần tổ chức các hoạt theo dõi, nghiên cứu xem xét môi trường xung quanh và nội bộ doanh nghiệp, toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro đã và đang xảy

ra mà cả những rủi ro mới có thể xảy ra đối với doanh nghiệp Từ những dữ liệu mà doanh nghiệp đã thu thập được, nhà quản trị sẽ tiến hành phân tích rủi ro nhằm xác định nguyên nhân gây ra các rủi ro cũng như các nhân tố làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro cho doanh nghiệp

Phương pháp lưu đồ: Phương pháp này sử dụng một lưu đồ thể hiện các hoạt động của doanh nghiệp Dựa trên lưu đồ này, nhà quản trị sẽ xác định những vùng có nguy cơ xảy ra rủi ro và xác định rủi ro có có thể xảy ra ở những khâu nào? Từ lưu đồ, kết hợp với bảng ghi chép, doanh nghiệp có thể đánh giá và lập được kế hoạch Quản trị rủi ro

Phương pháp phân tích báo cáo tài chính: Dựa trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp, nhà quản trị có thể thu được các dữ liệu như tổng kết tài sản, các báo cáo hoạt động kinh doanh và các tài liệu hỗ trợ, từ đó có thể xác định mọi nguy cơ rủi ro của tổ chức về tài sản, trách nghiệm pháp lý, và nguồn lực Bằng cách kết hợp các báo cáo này và với các dự báo

về tài chính và dự toán ngân sách (theo từng tài khoản) ta có thể phát hiện các rủi ro trong tương lai

1.2.1.2 Bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp:

Bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố nội bộ như văn hóa tổ chức, phương pháp quản trị, mối quan hệ hợp đồng với khách hàng và các bên liên quan Bên

Trang 13

cạnh đó còn những yếu tố có liên quan đến văn hoá, niềm tin, giá trị hoặc nguyên tắc bên trong tổ chức, cũng như sự phức tạp của các quá trình và cơ cấu tổ chức

Cách xác định bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp:

- Kết quả đánh giá hệ thống, đánh giá nội bộ

- Phân tích dữ liệu chi phí chất lượng

- Xác định các thông tin kĩ thuật

- Kết quả của việc đánh giá, xem xét, phản hồi của khách hàng

- Báo cáo về hoạt động của doanh nghiệp

1.2.1.3 Đánh giá môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là những yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp

mà nhà quản trị khó có thể kiểm soát được, những yếu tố này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Đó có thể là các vấn đề phát sinh từ môi trường xã hội, công nghệ, môi trường, đạo đức, chính trị, pháp lý và kinh tế Sau đây là một số ví dụ về bối cảnh bên ngoài có thể bao gồm:

- Các quy định của chính phủ và những thay đổi trong luật pháp

- Thay đổi kinh tế trong thị trường của tổ chức

- Sự cạnh tranh của tổ chức

- Sự kiện có thể ảnh hưởng đến hình ảnh công ty

- Thay đổi trong công nghệ

- Yếu tố Marketing

- Khách hàng

- Đơn vị cung ứng

Để đánh giá được môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, nhà quản trị cần đánh giá

xu hướng sử dụng sản phẩm và tính cạnh tranh của dịch vụ và sản phẩm; xác định rõ các điều kiện thương mại quốc tế có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp; xác định các xu hướng kinh tế và môi trường; xác định rõ các xu hướng công nghệ đang sử dụng và trong tương lai; xác định các cơ hội và điều kiện liên quan đến gia công bên ngoài; xác định nguồn nguyên liệu và giá của chúng

1.2.2 Phân tích và đánh giá rủi ro

1.2.2.1 Các phương pháp phân tích rủi ro

Phân tích rủi ro được hiểu là quá trình xác định và đánh giá các vấn đề tiềm năng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh doanh của DOANH NGHIỆP để giúp cho các các DOANH NGHIỆP tránh được hoặc làm giảm nhẹ tác động của các rủi ro đó

Các phương pháp phân tích rủi ro được sử dụng trong DOANH NGHIỆP là:

Các phương pháp định tính: Các phương pháp định tính là những phương pháp thường được các nhà quản trị sử dụng nhiều nhất trong việc phân tích RỦI RO Đặc điểm của

Trang 14

phương pháp định tính đó là các nhà quản trị sẽ đưa ra quyết định dựa trên kinh nghiệm và trực giác của họ

Các phương pháp này thường được sử dụng khi:

- Mức độ các rủi ro thấp

- Không có đủ thời gian

- Không có đủ các dữ liệu cần thiết để phân tích đầy đủ

- Được sử dụng khi số liệu số cần thiết cho việc phân tích định lượng

Các phương pháp phân tích định tính:

- Braistorming

- Các câu hỏi điều tra và phỏng vấn theo cấu trúc

- Nhóm đánh giá

- Kỹ thuật chuyên gia

Phương pháp định lượng: Phương pháp này cho phép chúng ta gắn giá trị xảy ra cho các rủi ro khác nhau và cho phép tính toán được mức độ rủi ro Phương pháp định lượng bao gồm việc tính toán:

- Phân tích khả năng xảy ra (khả năng xuất hiện của rủi ro)

- Phân tích mức độ tổn thất

- Thiết lập việc tính toán

Có nhiều phương pháp phân tích định lượng, tuy nhiên trong số đó nổi bật là phương pháp Monte Carlo Phương pháp này có những đặc trưng như:

- Xem xét phạm vi rộng lớn để có thể chỉ ra các tình huống có khả năng xảy ra

- Đơn giản hoá các yếu tố đưa vào thực tế xem xét

- Phù hợp cho việc mô phỏng đưa vào tính toán

Phương pháp nửa định tính nửa định lượng: Giống như tên gọi, đây là phương pháp kết hợp cả định tính và định lượng Phương pháp này dựa trên kinh nghiệp và trực giác của nhà quản trị, kết hợp với việc khảo sát , tuy nhiên vẫn gắn các giá trị xảy ra cho các rủi ro và cho phép tính toán được mức độ rủi ro Phương pháp này sử dụng phân loại tương đối như: mức độ cao, trung bình, thấp hoặc mô tả chi tiết về khả năng và mức độ tổn thất của rủi ro

có thể xảy ra Cách phân loại này để xây dựng thang đo phù hợp với từng loại rủi ro phục

vụ cho việc tính toán mức độ rủi ro Để thực hiện tốt phương pháp nhà, nhà quản trị cần chú ý đến thang đo để tránh hiểu lầm hoặc giải thích sai về kết quả tính toán

1.2.2.2 Các nguyên tắc cơ bản trong phân tích rủi ro

Trong phân tích và đánh giá rủi ro, nhà quản trị cần tuân theo những nguyên tắc sau để

có thể triển khai tốt nhất việc thực hiện công tác quản trị rủi ro Dưới đây là một số

nguyên tắc cần có trong phân tích và đánh giá rủi ro

Trang 15

Nguyên tắc đánh giá phải rõ ràng, công khai: Nội dung đánh giá phải được công khai, đồng nhất hóa các tiêu chuẩn, các phương pháp để đạt tới sự công bằng, hợp lý trong đánh giá Thực hiện công tác đánh giá cần phải khách quan, minh bạch, dựa trên nhiều góc độ, nhiều tầng cấp, tổng hợp các nhân tố chủ quan, khách quan, chống chủ nghĩa cá nhân, phiến diện

Đối tượng được đánh giá phải cụ thể: Để đánh giá đúng đối tượng cần xem xét đầy đủ các tiêu chí đánh giá trong tính hệ thống Cách đánh giá phải thật sự khách quan, toàn diện

và lịch sử cụ thể, vừa định lượng, vừa định tính, lấy định lượng để định tính; xem xét toàn diện, tổng hợp tất cả các yếu tố có thể đo, định lượng được để định tính rõ ràng, đầy đủ chất lượng đội ngũ cán bộ Mỗi một tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá phải phù hợp với từng loại đối tượng khác nhau với nhiệm vụ và vai trò khác nhau Cần phải phân tích đánh giá một các công bằng, toàn diện mọi mặt của đối tượng, vấn đề đang đối mặt

Phạm vi đánh giá rủi ro phải liên quan phạm vi và các mục tiêu của tổ chức: Điều này thể hiện tính phù hợp, thống nhất giữa chiến lược, mục tiêu của doanh nghiệp và quản trị rủi ro trong công ty Nói cách khác, hệ thống phân tích, đánh giá rủi ro phải phù hợp với mục tiêu quản lý, phục vụ được mục tiêu quản lý Đồng thời, phải có sự liên quan rõ ràng giữa các yếu tố chủ yếu của rủi ro đã được xác định thông qua nhận dạng, phân tích với quy trình quản lý nhân lực tại doanh nghiệp

1.2.2.3 Các nguyên nhân gây ra rủi ro trong lĩnh vực quản lý nhân lực

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro trong lĩnh vực quản lý nhân lực Dưới đây tôi xin nêu ra một số nguyên nhân như:

Nguyên nhân từ con người: Rủi ro xuất phát từ nguyên nhân yếu tố con người có thể là

ý thức, đạo đức của người lao động hay những sai sót trong quá trình làm việc Ý thức hay đạo đức của người lao động là loại rủi ro vô hình không thể nhìn thấy và cũng khó đánh giá Vì thế, rủi ro liên quan đến ý thức, đạo đức sẽ dễ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả công việc, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Nguyên nhân từ môi trường làm việc: Rủi ro về môi trường làm việc có thể kể đến một trong những rủi ro sau, trong đó dễ thấy nhât là điều kiện làm việc (Nơi làm việc, âm thanh, ánh sáng, chất lượng không khí, độ ẩm, ) Khi điều kiện làm việc không đạt chất lượng sẽ dẫn đến suy giảm khả năng lao động hay thậm chí nguy hiểm tới sức khỏe và tính mạng của người lao động Ngoài ra đối với một số hoạt động lao động sản xuất việc sử dụng những nguyên vật liệu mang đặc tính gây độc, sinh chất gây ung thư,…sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người lao động và để lại hậu quả lâu dài Ngoài ra còn có yếu

tố liên quan tới tổ chức nơi làm việc Trong quá trình làm việc, khi người lao động bất cẩn, không chấp hành đúng quy định của doanh nghiệp gây ảnh sẽ gây ảnh hướng tới tiến độ và kết quả làm việc của cả tập thể

Nguyên nhân từ quan hệ lao động: Giữa người lao động với nhau, giữa quản lý với người lao động Khi nảy sinh bất đồng giữa những mối quan hệ lao động này sẽ dẫn đến

Trang 16

những rủi ro như gây gổ trong nội bộ doanh nghiệp, bạo lực lao động hay đình công Thuyên chuyển lao động: Sự di chuyển nhân sự từ vị trí này sang vị trí khác, hoặc sang công ty khác với sự cho phép của công ty Những rủi ro trong thuyên chuyển lao động có thể là: Nhân viên tự ý bỏ việc, doanh nghiệp cho nhân viên nghỉ chính thức do trình độ chuyên môn đối với vị trí thuyên chuyển không có nhiều Việc này dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực và có thể mất đi những nhân viên gắn bó lâu dài với doanh nghiệp

Ngoài một số nguyên nhân chính nêu trên, rủi ro nguồn nhân lực còn có thể bắt nguồn

từ một số nguyên nhân khác như: Việc hút thuốc tại nơi làm việc sẽ gây khó chịu với những người xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người lao động Làm việc quá thời gian (Overtime) cũng có thể gây ra những rủi ro nghiêm trọng, người lao động buồn ngủ, sao nhãng dẫn đến việc làm sai hoặc gây tai nạn

1.2.2.4 Phân tích khả năng tác động của rủi ro gây nên tổn thất cho doanh nghiệp nếu

nó xuất hiện

Khi những rủi ro nguồn nhân lực xuất hiện, nó chắc chắn sẽ gây ra những tổn thất đối với doanh nghiệp Đầu tiên là tổn thất mất đi nguồn lao động chủ chốt: Nguồn lao động chủ chốt ở đây là những nhân viên có kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm và kiến thức dày dặn Điều này có thể xảy ra trong trường hợp họ bị tai nạn như mất khả năng lao động hoặc nghiêm trọng hơn là tử vong Khi rủi ro này xảy ra, nó sẽ gây tổn thất lớn đối với doanh nghiệp như ảnh hưởng đến năng suất công việc của một bộ phận phòng ban, làm giảm doanh số bán hàng Rủi ro này luôn tiềm ẩn và rất khó để dự đoán, vì vậy doanh nghiệp cần chú trọng đến sự an toàn của nhân viên khi làm việc, đặc biệt là ở bộ phận sản xuất, cần kiểm tra định kỳ máy móc thiết bị để tránh xảy ra tai nạn đáng tiếc trong quá trình sử dụng Tổn thất thứ hai có thể xảy ra là tổn thất do hoạt động kinh doanh bị đình trệ: Nếu nhân viên nắm vai trò quan trọng trong doanh nghiệp như trưởng các phòng ban, người quản lý nghỉ hưu, ốm đau hay nghỉ việc giữa chừng sẽ khiến doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định không thể tìm kiếm được người thay thế Điều đó dẫn đến việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn và làm sụt giảm doanh thu

Tổn thất cuối cứng mà tôi muốn đề cập tới đó là tổn thất do phát sinh chi phí bồi thường Trong quá trình làm việc, người lao động có thể gặp những tai nạn ngoài ý muốn do thiết

bị, máy móc, hay sức khỏe bị ảnh hưởng do đặc tính của nguyên vật liệu đầu vào Khi đó, doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản chi phí để bồi thường cho nhân viên Điều này sẽ l;àm cho doanh nghiệp mất thêm một khoản chi phí, những bên cạnh đó là làm giảm mức độ uy tín của doanh nghiệp đối với người lao động và cả khách hàng

1.2.3 Đo lường rủi ro và xác định mức độ ưu tiên về vấn đề xử lý rủi ro

Đo lường rủi ro là quá trình xác định khả năng rủi ro xảy ra và hậu quả nó gây ra Các hậu quả đó bao gồm: Tổn thất về mặt tài chính; Tổn thất do mất cơ hội; Tổn thất về mặt thời gian; Tổn thất về uy tín, thương hiệu, mất khách hàng

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w