Qua những nỗ lực của nhóm nghiên cứu, chúng tôi đã tìm hiểu được những vấn đề cụ thể mà nhóm cảm thấy cần thiết để bổ sung vào vốn tư liệu về “xu hướng hôn nhân nữ giới ở thành phố Hồ Ch
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
LẦN THỨ 11 NĂM 2009
TÊN CÔNG TRÌNH :
XU HƯỚNG KẾT HÔN CỦA NỮ GIỚI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU Ở KHU VỰC THỦ ĐỨC)
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI CHUYÊN NGÀNH : NHÂN HỌC
Mã số công trình : ………
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 19
KHÁT QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TỀ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ VỀ TÌNH HÌNH KẾT HÔN CỦA NỮ GIỚI TỪ SAU ĐỔI MỚI (NĂM 1986) ĐẾN NAY 19
1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới (năm 1986) đến nay 19
1.2 Số liệu thống kê về tình hình kết hôn của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm sau đổi mới kinh tế (1986) đến nay 24
CHƯƠNG 2 31
QUAN ĐIỂM CỦA NỮ GIỚI VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 31
2.1 Quan niệm của nữ giới hiện nay về độ tuổi kết hôn lý tưởng 31
2.2 Quan niệm của nữ giới hiện nay về độ tuổi không nên kết hôn 35
2.3 Quan niệm của nữ giới hiện nay về những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kết hôn của họ 39
2.4 Quan niệm của nữ giới hiện nay về người có vai trò quyết định khi họ kết hôn 47
CHƯƠNG 3 52
YẾU TỐ HỌC VẤN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ CÁ NHÂN TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN THỜI ĐIỂM KẾT HÔN CỦA NỮ GIỚI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 52
3.1 Yếu tố trình độ học vấn tác động đến việc lựa chọn thời điểm kết hôn của nữ giới đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh 53
3.2 Yếu tố điều kiện kinh tế cá nhân tác động đến việc lựa chọn thời điểm kết hôn của nữ giới đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh 57
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 66
Trang 3TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiến hành chuyển đổi từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường sớm nhất cả nước, là nơi tiến hành công cuộc công nghiệp hóa – đô thị hóa với qui mô lớn nhất, tốc độ nhanh nhất và cũng là nơi luôn mở rộng cánh cửa hướng ra thế giới bên ngoài Nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành để phục vụ các chương trình định hướng phát triển cho thành phố, trong đó có những nghiên cứu nhằm trợ giúp phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Từ các kết quả khảo sát cho thấy phụ nữ hiện nay ngày càng
có trình độ học vấn cao hơn và một sự nghiệp cá nhân vững vàng hơn Tuy nhiên, vấn đề chúng tôi quan tâm là 10 năm sau lần nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, xu hướng kết hôn của nữ giới có tiếp tục muộn hơn hay không? Tuổi kết hôn trung bình của nữ giới sẽ càng ngày càng tăng hay sẽ dừng lại ở độ tuổi nào đó? Và những yếu tố nào đã tác động đến quyết định thời điểm kết hôn của nữ giới, có phải do nữ giới tự lựa chọn cho mình hay không?
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp điển hình được thực hiện trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói chung và khoa nhân học nói riêng như nghiên cứu tư liệu thư tịch, phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân, v.v
Qua những nỗ lực của nhóm nghiên cứu, chúng tôi đã tìm hiểu được những vấn đề cụ thể mà nhóm cảm thấy cần thiết để bổ sung vào vốn tư liệu về “xu hướng hôn nhân nữ giới ở thành phố Hồ Chí Minh”, đó là chúng ta có thể khẳng định rằng ngày nay đang diễn ra xu hướng kết hôn ngày càng chậm hơn phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh; tuổi kết hôn trung bình của nữ giới thành phố Hố Chí Minh hiện nay là 25 tuổi, trễ hơn so với ở nông thôn Tuy nhiên, sự gia tăng này chỉ là tương đối, khó có thể vượt qua tuổi 30, nhất là qua 35 tuổi vì ở lứa tuổi này được xem là sẽ bị hạn chế về con cái sau này
Trang 4Nữ giới ngày càng chủ động hơn trong hôn nhân của mình, họ thường là người có ý kiến quyết định về việc kết hôn, tuy vẫn còn có sự góp ý của người thân nhưng không có sự ép buộc nào cả
Trình độ học vấn và nhận thức khác nhau của mỗi người sẽ dẫn đến quyết định thời điểm kết hôn khác nhau.Tuy nhiên họ vẫn có những suy nghĩ giống nhau như quan niệm cho rằng kết hôn sớm dẫn đến nhiều điều không tốt; đồng thời họ cũng thấy không nên kết hôn quá trễ ảnh hưởng đến con cái sau này, trừ những trường hợp bắt buộc không thể kết hôn sớm hơn được
Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế cá nhân của nữ giới có tác động đến quyết định kết hôn của họ Chúng ta có thể thấy kinh tế là nền tảng để họ có những suy nghĩ khác nhau Không ít thì nhiều, quyền tự chủ của họ chính là do điều kiện kinh
tế của bản thân họ mang lại
Chúng tôi hy vọng rằng kết quả thực hiện của đề tài này sẽ góp phần xác định lại xu hướng kết hôn của nữ giới hiện nay so với những dự báo của các nghiên cứu trước đã đưa ra, từ đó nắm được các phản ứng và biến đổi chung của
xã hội, mà cụ thể của nữ giới, dưới tác động của sự điều kiện mới của xã hội
Nhóm mong muốn những kết quả mà nhóm có được sẽ cung cấp thêm những thông tin có giá trị để các nhà quản lý xã hội tham khảo, xem xét khi đưa ra
và triễn khai các chính sách dành riêng cho nữ giới liên quan đến hôn nhân của họ, nhằm đảm bảo tính khả thi của các dự án định hướng cho nữ giới trong tương lai
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm lớn của cả nước về kinh tế - chính trị, văn hóa và cũng là nơi đi đầu trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiến hành chuyển đổi từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường sớm nhất cả nước, là nơi tiến hành công cuộc công nghiệp hóa – đô thị hóa với qui mô lớn nhất, tốc độ nhanh nhất và cũng là nơi luôn mở rộng cánh cửa hướng ra thế giới bên ngoài Để có đủ năng lực và tự tin để hòa mình vào sự phát triển chung của thành phố, chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cần thiết trong cuộc sống để có hành trang tốt nhất cho bản thân bao gồm vốn hiểu biết, tri thức xã hội
và tinh thần tốt
Trước tình hình đó, nhiều công trình nghiên cứu về nữ giới để phục vụ các chương trình định hướng và trợ giúp phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực cũng đã được quan tâm rất nhiều Từ các kết quả khảo sát đấy cho thấy phụ nữ hiện nay ngày càng có trình độ học vấn cao hơn và một sự nghiệp cá nhân vững vàng hơn Tuy nhiên, một sự quan tâm khác về nữ giới đó là phụ nữ ngày càng xao lãng về hôn nhân của mình Một báo cáo chung về tình hình kết hôn ở Việt Nam của giáo sư
Lê Thi thực hiện có đề cập: “Nhìn chung, xu hướng kết hôn chậm hay không muốn lập gia đình đang phát triển trong nam nữ thanh niên, đặc biệt ở thành phố,
do ảnh hưởng của những quan niệm mới về tự do cá nhân và tâm trạng muốn sống thoải mái chưa thích đi đến hôn nhân và gia đình … Họ muốn có cuộc sống cá nhân độc lập, không bận bịu về công việc gia đình, không bị phụ thuộc vào các quan hệ vợ chồng, cha mẹ, con cái, để tập trung làm việc cho kết quả! Có người chủ trương sống độc thân suốt đời và rất khó chịu khi thấy mọi người có vẻ ái ngại
Trang 6về tình cảnh đặc biệt của họ”1 Còn ở thành phố Hồ Chí Minh, Phó giáo sư Nguyễn Minh Hòa đã đưa ra nhận định và dự đoán: “34% các cặp vợ chồng trẻ cho rằng tuổi kết hôn của mình lần đầu là sớm … và nếu làm lại thì họ sẽ kết hôn muộn hơn một chút … Sự lựa chọn của các gia đình trẻ và các bạn trẻ cho thấy có
sự tương quan giữa nghề nghiệp và hôn nhân Việc kết hôn muộn chủ yếu là do nghề nghiệp quy định … Xu hướng phát triển trong những năm tới là nam nữ thanh niên kết hôn muộn hơn”2
Vậy, vấn đề chúng tôi quan tâm là 10 năm sau lần nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, xu hướng kết hôn của nữ giới có tiếp tục muộn hơn hay không? Tuổi kết hôn trung bình của nữ giới sẽ càng ngày càng tăng hay sẽ dừng lại ở độ tuổi nào đó? Và những yếu tố nào đã tác động đến quyết định thời điểm kết hôn của nữ giới, có phải do nữ giới tự lựa chọn cho mình hay không?
Để trả lời cho những vấn đề trên, giúp chúng ta khẳng định được việc việc kết của nữ giới đang dần trở nên như thế hay không, chúng ta cần có một cuộc nghiên cứu khoa học cụ thể để đánh giá về vấn đề này, từ đó có một cái nhìn chính xác hơn về phụ nữ với xu hướng kết hôn của họ trong bối cảnh kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh
Chúng tôi đã lấy từ kết luận của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, “nữ giới ở thành phố Hồ Chí Minh ngày càng kết hôn muộn hơn, do mong có được một nghề nghiệp đàng hoàng, một nơi làm việc ổn định và cố nhiên theo đó là thu nhập không tồi” để làm mục đích nghiên cứu cho nhóm Tuy nhiên, chúng tôi còn muốn tìm hiểu thêm một giả thuyết khác nữa đó là “nữ giới hiện nay chủ động kết hôn muộn hơn nhưng sẽ không tiếp tục theo xu hướng này mãi mà sẽ tự giới hạn cho
1
GS Lê Thi, “Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững”, NXB Viện
Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2004, trang 125
2
Phó giáo sư Nguyễn Minh Hòa, “Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh (nhận diện và dự
báo)”, NXB thành phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 95
Trang 7mình ở một độ tuổi nào đó không thể trễ hơn, điều này bắt nguồn từ sự nhận thức của nữ giới về điều kiện cuộc sống hiện tại của mình”3
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu các kết quả của các công trình nghiên cứu đã đã tiến hành ở các khu vực khác nhau trên cả nước trong những năm qua, để có cái nhìn tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu
Tài liệu giai đoạn trước đây có thể kể đến là của Phan Kế Bính trích trong Đông Dương tạp chí từ số 24 – 49 năm 1913 – 1914 : “tuổi đính hôn: con trai con gái độ mươi lăm, mươi sáu tuổi trở lên, đã là tuần sắp sửa lấy chồng lấy vợ Hai mươi tuổi mới gọi là muộn Cũng có nhà cưới cho con từ năm 12, 13 tuổi; có nhà ước hôn với nhau từ trong thai Trạc vợ chống cứ kém nhau 1,2 tuổi là vừa đôi” 4
Còn đối với những nghiên cứu gần đây, chúng tôi đã tham khảo qua tài liệu
của Viện Khoa học xã hội Việt Nam do giáo sư Lê Thi thực hiện là “Gia đình, phụ
nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững” năm 2004, trong đó
có nói đến vấn đề kết hôn như sau: “Xu hướng kết hôn chậm đang gia tăng, các vụ
ly dị, ly thân cũng đang phát triển … đặc biệt ở thành phố Có một số nam nữ, đặc biệt là trong công nhân viên chức, tri thức và ở thành phố, do quan niệm tự do
cá nhân cao, không muốn lập gia đình sớm Họ muốn có cuộc sống cá nhân độc lập, không bận bịu về công việc gia đình, không bị phụ thuộc vào các quan hệ vợ chồng, cha mẹ, con cái, để tập trung làm việc cho kết quả!”. 5
Một nghiên cứu khác của cùng tác giả năm 2006, trong “Cuộc sống và biến
động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay” đã nhận xét “Lập gia đình chậm,
tuổi kết hôn lần đầu cao có thể giúp các cặp nam nữ bước vào cuộc hôn nhân và đời sống gia đình có sự chín chắn cần thiết, cũng như có sự ổn định về nghề
G.S Lê Thi, “Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững”, Viện khoa học
xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 2004, trang 123
Trang 8nghiệp, về thu nhập, tạo thuận lợi cho việc đảm bảo cuộc sống gia đình ấm no, bền vững Đồng thời, cũng có những vấn đề đặt ra cần suy nghĩ, lý giải Ví dụ, xu hướng sinh con đầu lòng chậm hay không sinh con của một số cặp vợ chồng hiện nay Việc sinh con đầu lòng chậm, đặc biệt với những phụ nữ quá 30 tuổi trở lên,
tỷ lệ mang thai có kết quả thành công xác suất thấp hơn ở tuổi trẻ và lúc sinh nở lại hay gặp khó khăn, trở ngại”6
Công trình nghiên cứu mà chúng tôi chú ý nhất đó là “Hôn nhân và gia
đình ở thành phố Hồ Chí Minh (nhận diện và dự báo)” của Phó giáo sư Nguyễn
Minh Hòa đã đưa ra vần đề rất gần với nội dung mà chúng tôi nghiên cứu Công trình này được hoàn thành 1998, cách đây tròn 10 năm, và mặc dù phạm vi đề tài của chúng tôi chỉ chiếm một phần nhỏ trong các vấn đề của công trình nghiên cứu này, công trình đã trở thành cơ sở chính để chúng tôi so sánh kết quả nghiên cứu thu được của nhóm Trong bài, tác giả có đưa ra những kết luận sau: “Sự lựa chọn của các gia đình trẻ và các bạn trẻ cho thấy có sự tương quan giữa nghề nghiệp và hôn nhân Việc kết hôn muộn chủ yếu là do nghề nghiệp quy định Họ kết hôn muộn để mong có được một nghề nghiệp đàng hoàng, một nơi làm việc ổn định và
cố nhiên theo đó là thu nhập không tồi”7
Nhìn chung, những tài liệu trên đã giúp chúng tôi nắm được tình hình biến đổi xu hướng hôn nhân ở nhiều nơi trên cả nước, vì thế những thông tin này có giá trị định hướng rất nhiều đối với đề tài của chúng tôi Qua những tài liệu trên, chúng tôi đã có thêm những nguồn tư liệu quý giá để nhóm thực hiện đề tài, và cũng để so sánh mối tương quan kết quả nghiên cứu của chúng tôi với những kết quả nghiên cứu trước
6
G.S Lê Thi, “Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay”, Viện khoa học xã hội
Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 2006, trang 286, 287
7
Phó giáo sư Nguyễn Minh Hòa, “Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh (nhận diện và dự báo)”,
NXB thành phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 95
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Trong khả năng nghiên cứu của mình và những hạn chế về thời gian, kinh phí, chúng tôi đã tìm hiểu thêm về ba vấn đề cụ thể để bổ sung vào vốn tư liệu về
“xu hướng hôn nhân nữ giới ở thành phố Hồ Chí Minh” mà các công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây chưa đề cập đến nhiều, đó là thứ nhất, có phải việc kết hôn hiện nay của nữ giới ở thành phố Hồ Chí Minh đang có xu hướng chậm hơn (tuổi kết hôn cao hơn) so với những giai đoạn trước đây và chậm hơn so với khu vực nông thôn hay không? Thứ hai, kết hôn chậm hơn là chậm hơn bao nhiêu và
nó có ngày càng chậm đi đến vô hạn hay sẽ ngưng lại ở một mức tuổi nào đó? Thứ
ba, nếu kết hôn chậm hơn, vậy yếu tố nào đã tác động lên nữ giới dẫn đến xu hướng đó?
Với phạm vi công trình nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng tìm câu trả lời tốt nhất cho những câu hỏi trên, thông qua thu thập thông tin và ý kiến cụ thể của những đối tượng nữ giới đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh và so sánh với các kết quả có được với những nghiên cứu trước mà chúng tôi có được trong khi thu thập tư liệu
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Kết hôn là một vấn đề của từng cá nhân, nhưng lại là một hiện tượng mang tính xã hội cao, thường phản ánh sâu sắc bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội của mỗi dân tộc, mỗi vùng đất, vì vậy, khi nghiên cứu về hôn nhân, mà ở đây là về vấn
đề kết hôn của nữ giới, chúng tôi đã dựa trên những lý thuyết cơ bản như:
- Lý thuyết về hành động xã hội của Parsons 8
Lý thuyết tổng quát về các hệ thống hành động: Ông định nghĩa “hành động” là một quá trình trong một hệ thống tác nhân – tình huống mà hệ thống đó có ý nghĩa động cơ đối với
8
Lê Ngọc Hùng, “Lịch sử và lý thuyết xã hội học”, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, trang 228
Trang 10tác nhân cá nhân, hay trong trường hợp của một tập thể, các
cá nhân thành viên của tập thể Ông chỉ ra thuộc tính cơ bản của hành động là cá nhân không những “phản ứng” đối với một “kích thích” nhất định của tình huống mà còn phát triển một hệ thống các “kỳ vọng” đối với các đối tượng khác nhau của tình huống xã hội Cấu trúc của hành động gồm các yếu
tố được phân hóa và kết hợp của một hệ thống tác nhân – tình huống Theo Parsons, một đơn vị hành động được cấu trúc bởi năm yếu tố vật chất và tinh thần, khách quan và chủ quan là: mục đích của hành động, phương tiện để thực hiện hành động, điều kiện diễn ra hành động, các chuẩn mực để lựa chọn mục đích và phương tiện hành động cho phù hợp; sự nổ lực bao gồm những thao tác, công việc cần làm để thực hiện hành động Cấu trúc của hành động được quy chiếu, triển khai trên các cấp độ hệ thống khác nhau, trong đó hệ thống xã hội chỉ là một trong các hệ thống của nó
Các biến định hình hành động: con người hành động không tùy tiện hoặc không hoàn toàn theo ý muốn chủ quan mà luôn hành động trong một tình huống xác định đòi hỏi phải lựa chọn Khi xét hệ thống của hành động từ góc độ của các tác nhân, tức là của những người tương tác với nhau và với môi trường thì có thể thấy hệ thống của hành động là hệ thống của các sự lựa chọn mà các tác nhân đó thực hiện khi đối mặt với các khả năng, các tiêu chuẩn hay các đối tượng của tình huống Hành động được định hình thành các kiểu, loại hay dạng thức khác nhau là do tác động của những yếu tố định hướng mà Parsons gọi là các biến khuôn mẫu Việc hành động rơi vào cực này hay cực khác hoặc nằm ở một điểm nhất
Trang 11định trên từng mối tương quan nêu trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như xã hội hóa, thiết chế hóa, sự kiểm soát xã hội
Tóm lại, thuyết này nhấn mạnh khía cạnh cảm tính của các hệ thống hành động khi cho rằng việc nghiên cứu hành động phải xuất phát từ quan điểm của người hành động – “tác nhân” Thuyết này nhấn mạnh tính xu hướng của các hệ thống hành động khi chỉ ra các khuôn mẫu văn hóa, các định hướng giá trị, các biến khuôn mẫu của sự định hướng vai trò và các điều kiện tiên quyết của hành động Thuyết về các hệ thống hành động của Parsons là một lý thuyết tổng quát, phức tạp gồm các thuyết về văn hóa, thuyết về hệ thống xã hội, thuyết
về nhân cách và thuyết về hành vi đòi hỏi sự nghiên cứu tiếp theo về lý luận và thực nghiệm
Trong đề tài nghiên cứu này, áp dụng lý thuyết của Parsons
về hành động xã hội mà cụ thể là việc kết hôn của nữ giới, chúng ta cần tìm hiểu hành động của từng đối tượng thông qua việc tìm hiểu quan điểm của đối tượng đó, một khi các đối tượng cùng hành động theo một hệ thống hành động nhất định sẽ tạo ra khuôn mẫu văn hóa mới mà cụ thể là khung tuổi kết hôn mới của xã hội Khung tuổi này sẽ trở thành một giá trị mới định hướng cho hành động của các đối tượng khác sau này
- Thuyết lựa chọn duy lý9 (hay thuyết hành động lựa chọn duy lý):
Thuyết lựa chọn duy lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ 18 – 19 Thuyết này dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có
9
Sách đã dẫn, trang 353
Trang 12chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối
thiểu Theo Marx viết: “Cuối quá trình lao động, người lao
động thu được cái kết quả mà họ đã hình dung ngay từ đầu quá trình ấy, tức là đã có trong ý niệm rồi Con người không chỉ làm biến đổi hình thái của những cái do tự nhiên cung cấp; trong những cái do tự nhiên cung cấp mà con người cũng đồng thời thực hiện cái mục đích tự giác của mình, mục đích
ấy quyết định phương thức hành động của họ giống như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó”10 Sau này, các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu, ngoài lợi ích kinh tế, bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần Học thuyết kinh tế học tân cổ điển cho rằng cá nhân hành động để đạt được lợi ích kinh tế tối đa Từ đó nảy sinh vấn đề lợi ích xã hội và câu hỏi cơ bản của xã hội học kinh tế là:
“làm thế nào mà các cá nhân vừa theo đuổi lợi ích của mình lại vừa tạo ra được tối đa lợi ích cho xã hội?”
Thuyết hành vi lựa chọn của George Homans: Ông cho rằng
“mô hình lựa chọn – duy lý” của hành vi người tương thích một phần nào đó với các định đề của tâm lý học hành vi11 Sự trao đổi xã hội và mối quan hệ giữa các cá nhân thực chất là
sự trao đổi lặp đi lặp lại giữa họ với nhau Homans đưa ra một
số định đề cơ bản về hành vi người như sau: Định đề phần thưởng – định đề kích thích – định đề giá trị – định đề duy lý – định đề giá trị suy giảm – định đề mong đợi Con người
Trang 13luôn có xu hướng nhân bội giá trị của kết quả hành động với khả năng hiện thực hóa hành động đó – có nghĩa là con người
sẽ quyết định lựa chọn một hành động nào đấy ngay cả khi giá trị của nó thấp nhưng được bù lại, họ chọn hành động đó
vì tính khả thi của nó rất cao Tuy nhiên, một mặt, cần thấy rằng sự lựa chọn chỉ hợp lý trên cơ sở đánh giá các yếu tố, điều kiện khách quan của hành động từ phía bản thân chủ thể,
từ góc độ chủ quan của người ra quyết định chứ khó có thể dựa vào những tính toán chính xác; mặt khác, cần chú ý rằng giá trị của kết quả, giá trị của phần thưởng và cả sự mong đợi của mỗi cá nhân bắt nguồn từ hệ chuẩn mực xã hội, từ phong tục, tập quán, truyền thống Do vậy, thuyết trao đổi xã hội của Homans có khả năng vượt qua được sự hạn chế của sự duy lý kinh tế khi cho rằng hành vi xã hội còn bị quy định bởi những yếu tố tinh thần, văn hóa
Tóm lại, lựa chọn duy lý trong hành động của con người bắt nguồn từ nhiều yếu tố như chuẩn mực xã hội, tập quán truyền thống, điều kiện kinh tế, đặc biệt nó phụ thuộc theo suy nghĩ chủ quan của đối tượng cho rằng đó là hành động mang lại giá trị cao nhất cho họ Điều này dễ nhận thấy trong những yếu tố tác động đến quyết định kết hôn của nữ giới hiện nay
Các phương pháp được chúng tôi sử dụng để nghiên cứu là những phương pháp điển hình được thực hiện trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói chung và khoa nhân học nói riêng như nghiên cứu tư liệu thư tịch, phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân, v.v Cụ thể, các phương pháp được triển khai trong quá trình thu thập dữ liệu cho đề tài nghiên cứu như sau:
Trang 14- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thư tịch, đây là bước quan
trọng của đề tài, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu các nghiên cứu đã thực hiện trước đây và các số liệu thống kê qua các năm về tình hình kết hôn của nữ giới, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và để so sánh thông tin có được khi đi nghiên cứu thực tế Trong khi thu thập tài liệu, chúng tôi đã gặp một
số khó khăn nhất định:
Thứ nhất, hầu hết những tài liệu mà chúng tôi tìm hiểu thường kết hợp vấn đề kết hôn và độ tuổi kết hôn vào những nghiên cứu chính thức về gia đình và các loại hình gia đình Điều đó làm cho tài liệu thường không tập trung và cũng không đi sâu vào vấn đề mà nhóm đang quan tâm, khiến chúng tôi cảm thấy khó khăn khi tìm hiểu Bên cạnh đó, tài liệu thống kê về kết hôn không nói
rõ những người kết hôn đó đã kết hôn bao nhiêu lần, vì thế số liệu thống kê qua các năm có thể có sự trùng lấp nếu người nào đó kết hôn từ 2 lần trở lên Tuy nhiên, do
đề tài đang tìm hiểu về tuổi kết hôn trung bình và quan niệm kết hôn chung của thành phố nên chúng tôi quyết định vẫn tiếp tục sử dụng số liệu thống kê tốt nhất ở hiện tại mà mình có được
Thứ hai, khi liên hệ với chính quyền địa phương để xin tài liệu nghiên cứu chúng tôi đã phải tốn rất nhiều thời gian do cơ chế quản lý của từng nơi tương đối khác nhau Cũng vì hạn chế này mà chúng tôi đã phải bỏ qua địa bàn quận 1 vì thời gian xin phép quá dài, không còn
đủ thời gian để tiến hành phỏng vấn thực tế Chúng tôi
hy vọng là sau này nếu chúng tôi có cơ hội nghiên cứu
Trang 15lại đề tài này, chúng tôi sẽ có nhiều thời gian hơn để thực hiện khảo sát thực tế trên nhiều địa bàn hơn
- Phỏng vấn sâu cá nhân: đây là phương pháp nghiên cứu chính của
nhóm, vì khi trao đổi trực tiếp với các đối tượng cần khảo sát, nhóm
có thể thu thập những dữ liệu thông tin cụ thể, chi tiết cho đề tài Trong quá trình đi thực tế, chúng tôi đã nhận được sự trợ giúp rất nhiều từ phía những người được phỏng vấn, nhất là sau khi nghe chúng tôi tự giới thiệu mình là những sinh viên vẫn còn đang ngồi ghế nhà trường, mọi người có vẻ giành nhiều sự ưu ái hơn cho chúng tôi Trong lúc phỏng vấn, không ít lần chúng tôi trở nên lúng túng, vấp váp, nhưng họ vẫn vui vẻ trả lời, có khi còn cho chúng tôi uống nước, ăn bánh, điều đó đã khích lệ tinh thần chúng tôi rất nhiều Tuy nhiên, cũng có những lần chúng tôi gặp khó khăn từ sự không hợp tác của những đối tượng đó Có lẽ do chúng tôi là sinh viên đi thực hiện đề tài, không phải là người của chính quyền địa phương nên họ không muốn “tốn thời gian” với chúng tôi khi chúng tôi không thể đáp ứng bất kỳ yêu cầu về lợi ích gì cho họ cả Chúng tôi nghĩ rằng, nếu nhóm có điều kiện kinh tế nhiều hơn để đáp ứng yêu cầu của họ thì chúng tôi đã có thể thuyết phục họ giành thời gian để chúng tôi phỏng vấn Trên thực tế, những người cần phỏng vấn đã từ chối trả lời phỏng vấn với lý do là không có thời gian, hay họ trả lời rằng vấn đề nhóm cần phỏng vấn không có liên quan gì đến họ Dù chúng tôi đã trở lại đến lần 2, lần 3 để thuyết phục họ cho phỏng vấn nhưng chỉ có 1, 2 người thay đổi quyết định Tuy cảm thấy rất khó khăn nhưng mà nhờ thế, chúng tôi thấy những ý kiến do nhóm thu được có giá trị hơn
Cuối cùng, sau những nổ lực chung của nhóm, chúng tôi đã thực hiện được tất cả 23 cuộc phỏng vấn từ tháng 1/2009 đến tháng
Trang 163/2009, trong đó các đối tượng có độ tuổi từ 30 đến 36 tuổi, ở nhiều trình độ học vấn khác nhau Lựa chọn những đối tượng này vì nhóm nhận định rằng họ có thời gian trải nghiệm cuộc sống nhiều hơn và thường có cơ hội lựa chọn thời điểm kết hôn cho mình trong một khoảng thời gian dài hơn so với những người ở độ tuổi từ 30 trở lại Trong số 23 cuộc phỏng vấn, chúng tôi quyết định chỉ sử dụng nội dung của 21 cuộc phỏng vấn để phục vụ cho đề tài và đành phải loại
bỏ 2 trường hợp còn lại do không thể đáp ứng được yêu cầu của một bảng phỏng vấn có giá trị cho khoa học
Trong 21 trường hợp được chọn, đối tượng có tuổi kết hôn lần đầu sớm nhất là 18 tuổi, đối tượng có tuổi kết hôn lần đầu trễ nhất là 33 tuổi, và có 2 trường hợp chưa kết hôn Có 11 đối tượng đã sinh sống
ở thành phố Hồ Chí Minh từ lúc sinh ra đến nay và 10 trường hợp đến lập nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh từ các vùng khác như Hải Phòng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Ninh Bình, Lâm Đồng, Bà Rịa, Đồng Nai, Vĩnh Long Những đối tượng này đang làm những công việc khác nhau như công nhân, thợ may, buôn bán, nhân viên, nội trợ và
2 trường hợp không có việc làm Ngoài ra, hai trường hợp nhóm phải loại bỏ là:
Trường hợp thứ nhất là một đối tượng trả lời phỏng vấn khi có mẹ của cô ấy ngồi bên cạnh, hầu hết những câu hỏi phỏng vấn đều được mẹ của đối tượng trả lời thay cho cô Chúng tôi đã tỏ ý mời đối tượng ra một góc riêng
để phỏng vấn, tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà đối tượng từ chối trả lời riêng Cuối cùng, chúng tôi đành hỏi qua một lượt câu hỏi đã định sẵn, rồi xin phép ra về Chúng tôi có trở lại lần thứ 2 thì không gặp được đối tượng vì cô ấy đi công việc không có ở nhà Do thời gian
Trang 17không còn nhiều, chúng tôi đành thống nhất bỏ qua trường hợp này, dù vẫn còn mong muốn thực hiện phỏng vấn đối với đối tượng
Trường hợp thứ hai là một đối tượng đã trải qua một lần
ly hôn, vì thế, khi chúng tôi cố gắng hỏi về quyết định kết hôn, cũng như hoàn cảnh kết hôn của cuộc hôn nhân trước thì đối tượng trả lời ngập ngừng, thường là lấy hoàn cảnh hiện tại ra trả lời thay cho hoàn cảnh cũ, bộc
lộ thái độ như là mình chưa từng li hôn, có lúc, đối tượng
từ chối trả lời khi những câu hỏi buộc phải đưa ra những thông tin của lần hôn nhân trước Kết quả là thông tin của cuộc phỏng vấn mà nhóm có được rất mơ hồ, nên chúng tôi quyết định bỏ qua trường hợp này Nhóm tự nhìn nhận đây là do khả năng và kinh nghiệm hạn chế của nhóm, không thể thuyết phục đối tượng đưa ra những thông tin chính xác mà nhóm đang quan tâm
5 Đối tượng, phạm vi và giới hạn của đề tài:
Đối tượng của đề tài là nữ giới đang trong độ tuổi từ 30 – 35 tuổi, đây là độ tuổi đã trải qua nhiều biến động của cuộc sống trong suốt hơn 10 năm, và là nhóm
có thời gian nằm trong độ tuổi kết hôn lâu nhất Những cơ hội, suy nghĩ và lựa chọn của họ về việc kết hôn, những thuận lợi và trở ngại mà họ đã và đang trải qua
sẽ là kết quả tốt nhất cho đề tài nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định về mặt không gian là tại thành phố Hồ Chí Minh, vì đây là nơi đi đầu trong quá trình hội nhập và phát triển, thường có sự thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ hơn các nơi khác bởi tính hiện đại
Trang 18của nó Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu
xu hướng kết hôn trong vòng 10 năm từ năm 1998 đến 2008, và cố gắng so sánh kết quả đó với kết quả của những mốc thời gian trước đây theo tiêu chí 10 năm
Do hạn chế về điều kiện tài chính và khả năng của nhóm, và quan trọng hơn
là hạn chế về mặt thời gian cho nên chúng tôi chỉ hướng tập trung nghiên cứu chủ yếu vào nữ giới đang sinh sống ở khu vực Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Nhóm chọn khu vực này vì nó ở gần với khu vực mà nhóm đang học tập nên có nhiều thuận lợi hơn trong việc đi lại so với những nơi khác Trong quá trình phỏng vấn, nhóm có thể đi lại trên địa bàn nhiều lần hơn bởi những cuộc phỏng vấn thường chỉ thực hiện được từ 18 giờ tối đến 21 giờ khi những đối tượng phỏng vấn
đi làm về đến nhà; sẽ rất khó khăn nếu nhóm chọn khu vực quá xa, mất nhiều thời gian di chuyển; tuy nhiên nhóm cho rằng những đối tượng này vẫn đảm bảo tính đại diện cho nữ giới ở thành phố Hồ Chí Minh vì họ có trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, mức sống khác nhau và đặc biệt là có thời gian sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh khác nhau; kể cả những đối tượng đã sinh ra và lớn lên ở thành phố Hồ Chí Minh và những đối tượng từ nơi khác chuyển đến
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả thực hiện của đề tài sẽ góp phần xác định lại xu hướng kết hôn của
nữ giới hiện nay so với những dự báo của các nghiên cứu trước đã đưa ra, từ đó nắm được các phản ứng và biến đổi chung của xã hội, mà cụ thể của nữ giới, dưới tác động của sự điều kiện mới của xã hội Đưa ra một số dự đoán về xu hướng kết hôn của nữ giới trong tương lai
Qua kết quả của đề tài, các nhà quản lý xã hội sẽ có thêm thông tin khoa học và thực tiễn để tham khảo, xem xét khi đưa ra và triễn khai các chương trình,
Trang 19chính sách dành riêng cho nữ giới liên quan đến hôn nhân của họ, đảm bảo tính khả thi của các dự án định hướng trong tương lai
7 Bố cục của đề tài:
DẪN LUẬN
CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TỀ - XÃ HỘI VÀ CÁC SỐ
LIỆU THỐNG KÊ VỀ TÌNH HÌNH KẾT HÔN CỦA NỮ GIỚI Ở THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TỪ SAU ĐỔI MỚI (NĂM 1986) ĐẾN NAY
1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới năm 1986 đến nay
1.1.1 Đặc điểm kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới
năm 1986 đến nay 1.1.2 Đặc điểm xã hội của thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới
năm 1986 đến nay 1.2 Số liệu thống kê về tình hình kết hôn của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm sau đổi mới kinh tế (1986) đến nay
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA NỮ GIỚI VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Quan niệm của nữ giới hiện nay về độ tuổi kết hôn lý tưởng
2.1.1 Quan niệm của những đối tượng sinh sống từ nhỏ đến lớn tại
thành phố Hồ Chí Minh 2.1.2 Quan niệm của những đối tượng từ nơi khác đến sinh sống tại
thành phố Hồ Chí Minh trước khi lập gia đình 2.1.3 Quan niệm của những đối tượng từ nơi khác đến sinh sống tại
thành phố Hồ Chí Minh sau khi lập gia đình 2.2 Quan niệm của nữ giới hiện nay về độ tuổi không nên kết hôn
Trang 202.2.1 Nhóm kết hôn trước 20 tuổi 2.2.2 Nhóm kết hôn sau 30 tuổi 2.3 Quan niệm của nữ giới hiện nay về những yếu tố ảnh hưởng đến quyết
CHƯƠNG 3: YẾU TỐ HỌC VẤN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ CÁ NHÂN TÁC
ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN THỜI ĐIỂM KẾT HÔN CỦA NỮ GIỚI TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1 Yếu tố trình độ học vấn tác động đến việc lựa chọn thời điểm kết hôn
của nữ giới đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Yếu tố điều kiện kinh tế cá nhân tác động đến việc lựa chọn thời điểm
kết hôn của nữ giới đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh
KẾT LUẬN
Trang 21CHƯƠNG 1 KHÁT QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TỀ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ VỀ TÌNH HÌNH KẾT HÔN
CỦA NỮ GIỚI TỪ SAU ĐỔI MỚI (NĂM 1986) ĐẾN NAY
1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới (năm 1986) đến nay
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây,
là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông
50 km đường chim bay Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và
là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km
Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 6,6% dân số so với cả nước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của cả nước, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
1.1.1 Đặc điểm xã hội của thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới
(năm 1986) đến nay 12
Dân số
Theo kết quả điều tra dân số trên địa bàn TP HCM ngày 1/10/2004, dân số thường trú trên địa bàn thành phố là 6.117.251 người chiếm 7% dân số cả nước Trong đó dân số của 19 quận là 5.140.412 người chiếm 84,03% dân số thành phố
và dân số của 5 huyện ngoại thành là 976.839 người, chiếm 15,97% Mật độ dân
số của thành phố hiện nay 2.920 người/km2; tăng 21,4% so với mật độ dân số thành phố năm 1999 Trung bình từ năm 1999 đến năm 2004 tốc độ tăng dân số
12
www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/gioi_thieu_chung
Trang 22bình quân tại thành phố là 3,6% Tốc độ tăng dân số lần này cao hơn hẳn so với các kỳ điều tra trước Mức tăng dân số thời kỳ 1999 - 2004 bằng mức tăng dân số trong 10 năm từ 1989 đến 1999 và xấp xỉ bằng 2 lần mức tăng dân số trong 10 năm từ 1979 -1989
Theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định 123/1998/QĐ-TTg) đến năm 2010 và lâu dài, quy mô dân số thành phố khoảng
10 triệu người, trong đó khu vực nội thành khoảng 6 triệu người
Vào năm 2007, thành phố Hồ Chí Minh có dân số 6.650.942 người13 Không chỉ là thành phố đông dân nhất Việt Nam, quy mô dân số của Thành phố
Hồ Chí Minh còn hơn phần lớn các thủ đô ở châu Âu như Berlin hay Roma Theo
số liệu thống kê năm 2004, 85,24% dân cư sống trong khu vực thành thị và thành phố Hồ Chí Minh cũng có gần một phần năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer Những người Hoa ở thành phố
Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận
5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố
Sự phân bố dân cư ở thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận nội ô Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 tới 6.000 người/km² Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 96 người/km² Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9% Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại thành phố Hồ Chí Minh Đến năm 2010, con số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu14
Mặc dù thành phố Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn
Trang 23do những tác động của nền kinh tế thị trường Những người hoạt động trong lĩnh vực thương mại cao hơn nhiều so với ngành sản xuất Sự khác biệt xã hội vẫn còn thể hiện rõ giữa các quận nội ô so với các huyện ở ngoại thành
1.1.2 Đặc điểm kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh từ sau đổi mới
(năm 1986) đến nay
Thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm kinh tế của cả nước 15
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Nếu như năm 2001 tốc độ tăng GDP của thành phố là 7,4% thì đến năm 2005 tăng lên 12,2% Phát triển kinh tế với tốc
độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước
Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
và trung tâm đối với vùng Nam Bộ Với mức đóng góp GDP là 66,1% trong vùng
và đạt mức 30% trong tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ
Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ Năm 2005, năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế thành phố đạt 63,63 triệu đ/người/năm, năng suất lao động công nghiệp-xây dựng đạt 67,05 triệu đồng (bằng 105,4% năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế), năng suất lao động dịch vụ đạt 66,12 triệu đồng (bằng 103,12%), năng suất lao động nông nghiệp đạt 13,66 triệu đồng (bằng 21,5%)
Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ khi Luật đầu tư được ban hành Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên cả nước Năm 2005, đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng khá so với năm 2004, 258 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốn 577 triệu USD, tăng 4,5% về số dự án và 43,7% về vốn đầu tư
Có 145 dự án tăng vốn với số vốn điều chỉnh tăng 330 triệu USD Tính chung
15
www.hochiminhcity.gov.vn
Trang 24tổng vốn đầu tư kể cả tăng vốn là 907 triệu USD, tăng 7,7% Bên cạnh đó, có 5
dự án đầu tư ra nước ngoài có tổng vốn là 29,1 triệu USD
Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của nhà nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn song thu ngân sách của thành phố vẫn không ngừng tăng Năm 2005, tổng thu ngân sách trên địa bàn 58.850,32 tỷ đồng, tăng 22,21% so với năm 2004, đạt 108,27% dự toán cả năm
Về thương mại, dịch vụ, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất
nước Kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 12,4 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2004 (nếu không tính dầu thô, kim ngạch xuất khẩu tăng 17%) Trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 28,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,5% Tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 21,1%, nếu loại trừ yếu tố biến động giá, tăng 11,4% Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại, 3 chợ đầu mối Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt
kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất - kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư Giá trị gia tăng các ngành dịch vụ tăng 12,2% so với năm 2004 Năng suất lao động của các ngành dịch vụ nói chung là 66,12 triệu đồng/người/năm (giá trị gia tăng) trong đó năng suất lao động của Thương mại là 51,6 triệu đồng/người/năm (bằng 78% năng suất lao động ngành dịch vụ)
Hoạt động du lịch của thành phố phát triển mạnh, chưa bao giờ thành phố
Hồ Chí Minh đón nhiều du khách như năm 2005 Lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố trên 2 triệu lượt, tăng 27% so với năm 2004 Công suất sử dụng phòng của các khách sạn 3 đến 5 sao đạt 75%, tăng 9,5% Doanh thu ngành du lịch đạt 13.250 tỷ đồng, tăng 23% Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng chuyên mục du lịch trên các báo lớn, truyền hình, tăng cường và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên nghiệp khu vực và các thị trường trọng điểm Triển khai
Trang 25chương trình xét chọn và công nhận 100 điểm mua sắm đạt chuẩn du lịch Đến nay, có 142 khách sạn được xếp hạng, trong đó 35 khách sạn 3 đến 5 sao với
5.740 phòng và 346 doanh nghiệp lữ hành đủ điều kiện kinh doanh
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính - tín dụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc Năm 2005, các hoạt động tín dụng - ngân hàng tiếp tục phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh Nguồn vốn huy động qua ngân hàng đạt 170.890 tỷ đồng, tăng 23,1% so với năm 2004 Dư nợ tín dụng 164.600 tỷ đồng, tăng 32,3%; nhiều dịch vụ tín dụng hiện đại được đưa vào ứng dụng, mạng lưới thanh toán thông qua thẻ ATM được mở rộng Về thị trường chứng khoán, đã có 30 công ty cổ phần, 01 công ty quản lý quỹ niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh; tổng vốn cổ phần niêm yết trên 1.600 tỷ đồng; trong đó có 17 công ty cổ phần đã niêm yết có trụ sở tại thành phố, chiếm 55% về số công ty niêm yết và 75% về vốn của các công ty niêm yết Có 14 công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, doanh số giao dịch đạt 31.000 tỷ đồng, trong đó giao dịch cổ phiếu 8.000 tỷ đồng; giao dịch trái phiếu 23.000 tỷ đồng
Trong tương lai thành phố phát triển các ngành kinh tế chủ lực, là địa phương đầu tiên tập trung phát triển các ngành cơ khí gia dụng, sản xuất phương tiện vận tải, chế tạo máy, các ngành công nghệ cao … vẫn là đầu mối xuất nhập khẩu, du lịch của cả nước với hệ thống cảng biển phát triển Việc hình thành các
hệ thống giao thông như đường Xuyên Á, đường Đông Tây … sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thành phố tăng trưởng mạnh mẽ
Trong quá trình phát triển và hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò là một trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong ba vùng kinh
tế trọng điểm lớn nhất nước và cũng là vùng động lực cho công cuộc phát triển
Trang 26kinh tế - xã hội ở địa bàn Nam Bộ và cả nước theo chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá16
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao
su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn17
Những biến động của nền kinh tế liên tục tác động đến cuộc sống của từng gia đình, và từng cá nhân Mối nguy cơ mất việc làm khi khủng hoảng kinh tế, thu nhập không đủ chi tiêu do vật giá gia tăng, đã làm cho con người ngày càng phải lo nghĩ về tương lai nhiều hơn, tính toán cho cuộc sống của mình ổn định hơn Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm lớn của đất nước nên sức ép về dân số rất nặng nề, những người sống trong thành phố phải phấn đấu rất cao để có thể đứng vững trong cuộc sống Do đó, mỗi người cần chọn lựa cho mình những điều kiện sống tốt nhất và chuẩn bị tốt nhất cho gia đình của riêng mình
1.2 Số liệu thống kê về tình hình kết hôn của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm sau đổi mới kinh tế (1986) đến nay
Gia đình là một trong những giá trị xã hội quan trọng bậc nhất trong của người Á Đông, trong đó có Việt Nam Xây dựng gia đình được xem là việc trọng đại trong cuộc đời của mỗi người và cũng là việc lớn của dòng họ Với ý nghĩa quan trọng đó, việc “thành gia lập thất” luôn cần phải xem xét hết sức thận trọng,
và nó gắn liền với hoàn cảnh kinh tế - xã hội tại từng thời điểm nhất định Tuy nhiên, dù vào thời điểm nào đi chăng nữa, việc kết hôn luôn cần có sự ủng hộ của
Trang 27xã hội, sự đồng ý của gia đình và nhất là sự tự nguyện từ phía người kết hôn, điều này đã được xác định rõ ràng căn cứ theo Luật hôn nhân và gia đình do Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/12/198618 Cũng trên tinh thần đó, trong báo cáo này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những trường hợp kết hôn có đầy đủ những điều kiện ở trên
Chúng tôi đã tìm hiểu qua các tài liệu từ Tổng cục thống kê gồm “Số liệu thống kê dân số và kinh tế - xã hội Việt Nam 1975 – 2001”19 đưa số liệu tổng kết tuổi kết hôn trung bình lần đầu tại thời điểm 1/4/1999 cả nước là 24,1 tuổi, về nữ giới là 22,8 tuổi; tỉ lệ độc thân cả nước từ 25 – 29 tuổi trở lên trên cả nước là 17,8%, từ 30 – 34 tuổi là 9,8%; Ở thành phố Hồ Chí Minh, tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 26,6 tuổi, trong đó tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nữ giới là 25,1 tuổi Tài liệu nghiên cứu chung khác ở Việt Nam là “Phân tích kết quả điều tra cơ bản tình hình trẻ em – phụ nữ tại 10 huyện trọng điểm”20 hoàn thành năm 2002 đã đưa ra số liệu về việc kết hôn “ Kết quả có 68,94% có chồng; 27,15% chưa kết hôn; 2,18% góa; 1,73% ly dị Trong những trường hợp đã kết hôn, tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 20 tuổi; ở thành thị là 22 tuổi; ở nông thôn là 19,6 tuổi Những người có trình độ học vấn thấp kết hôn sớm hơn những người có trình độ học vấn cao hơn”21
Công trình nghiên cứu mà chúng tôi chú ý nhất đó là “Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh (nhận diện và dự báo)” của Phó giáo sư Nguyễn Minh Hòa đã đưa ra vần đề rất gần với nội dung mà chúng tôi nghiên cứu:
Tổng cục thống kê, “Phân tích kết quả điều tra cơ bản tình hình trẻ em – phụ nữ tại 10 huyện trọng
điểm”, NXB thống kê, Hà Nội, 2002
Điều tra tại 10 địa điểm bao gồm các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Kontum, Trà Vinh
21
Sách đã dẫn, trang 65,67
Trang 28MÔ TẢ QUI MÔ
THẾ HỆ
TỪ 55 TUỔI TRỞ LÊN
THỂ HỆ
TỪ 30 TUỔI TRỞ XUỐNG
ĐỘC THÂN
TỪ 25 TUỔI TRỞ XUỐNG (chỉ là ý nguyện) Na
m
22 tuổi 8 tháng 25 tuổi 6 tháng 27 tuổi 6 tháng
Công trình này được hoàn thành 1998, cách đây tròn 10 năm, tác giả đã nêu: “Các phương án mà các cặp vợ chồng trẻ và nam nữ thanh niên độc thân lựa chọn cho các nội dung: cần phải kết hôn sớm để cùng nhau tạo dựng cơ nghiệp ở
vợ chồng trẻ là 7,67%; thanh niên độc thân là 1% Nên kết hôn muộn để có thời gian hoàn tất nghề nghiệp, nơi làm việc, có thu nhập ổn định ở vợ chồng trẻ là 82,67%; thanh niên độc thân là 90% Nên kết hôn muộn để trước khi cưới mỗi người đã có được một số cơ sở vật chất tối thiểu (xe cộ, tiền bạc) ở vợ chồng trẻ là 40%; thanh niên độc thân là 44,6% Kết hôn muộn, cả hai đã trưởng thành về nhận thức, có các mối quan hệ rộng và thể chất hoàn thiện, ở vợ chồng trẻ là 52%; thanh niên độc thân là 56,4%” “Sự lựa chọn của các gia đình trẻ và các bạn trẻ cho thấy
có sự tương quan giữa nghề nghiệp và hôn nhân Việc kết hôn muộn chủ yếu là do nghề nghiệp quy định Họ kết hôn muộn để mong có được một nghề nghiệp đàng hoàng, một nơi làm việc ổn định và cố nhiên theo đó là thu nhập không tồi” Ông đưa ra kết luận: “Xu hướng phát triển trong những năm tới là nam nữ thanh niên kết hôn muộn hơn.” 22
22
Phó giáo sư Nguyễn Minh Hòa, “Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh (nhận diện và dự
báo)”, NXB thành phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 95.
Trang 29Qua công trình nghiên cứu trước, chúng ta có thể biết một phần tình hình
kết hôn của nữ giới ở thành phố Hồ Chí Minh, song chúng tôi cũng đã tiến hành
tìm hiểu các số liệu kết hôn của nữ giới để có thể khẳng định lại tình hình đó một
cách chính xác hơn, và để trả lời cho vấn đề mà nhóm quan tâm “có phải nữ giới
thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng kết hôn muộn đi so với giai đoạn trước thật
hay không” Những con số thống kê về nữ giới 23và số nữ kết hôn theo độ tuổi đã
được chúng tôi trích ra từ báo cáo số liệu của Cục thống kê thành phố Hồ Chí
Minh24 qua các giai đoạn, đặc biệt là từ sau đổi mới đến nay
Qua bảng biểu bên dưới ta thấy, trong các năm 1985 đến 2005 thì tỉ lệ phụ
nữ kết hôn trên tổng số nữ của thành phố Hồ Chí Minh luôn ở trong khoảng trên
dưới mức 1,3% Điều này có thể chứng minh rằng không có sự đột biến nào về
việc hạn chế hay gia tăng tỉ lệ những trường hợp kết hôn trong những năm đó
Nhìn vào tổng thể, phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh vẫn có xu hướng lập gia đình
Trang 31Trong bảng này, ta có thể thấy:
Từ năm 1985 đến năm 1997: tuổi kết hôn nhiều nhất là từ 20 – 24 tuổi, còn nhóm tuổi từ 25 – 29 chỉ bằng 2/3 so với nhóm tuổi 20 –
24 Đặc biệt, trường hợp kết hôn sau tuổi 30 trở lên chỉ chiếm 9,13% năm 1985 và năm 1991 là 15% trên tổng số kết hôn là một con số tỉ lệ tương đối thấp
Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, tình hình đã có nhiều thay đổi, nhóm tuổi kết hôn từ 25 – 29 tuổi trở thành nhóm tuổi có số lượng kết hôn tương đương hoặc nhiều hơn nhóm 20 – 24 tuổi, năm 2000, tỉ lệ kết hôn sau tuổi 30 đã tăng lên 27,13%, và năm
2005 là 29,6%; đây là một tỉ lệ đáng chú ý thể hiện xu hướng ngày càng tăng những trường hợp kết hôn sau tuổi 30
Ngoài tỉ lệ đó, ta còn tính ra một tỉ lệ khác đó là nhóm tuổi từ 30 –
35 tuổi có số lượng kết hôn bằng ½ nhóm tuổi 20 – 24 và 25 – 29,
và ngày càng vượt cao hơn tỉ lệ đó Dù cho kết hôn chậm có nhiều vấn đề của riêng nó nhưng có thể nhận thấy rằng xã hội đang dần chấp nhận một thực tế là kết hôn chậm không còn quá xa lạ mà trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội
Tuổi trung bình kết hôn đang có sự dịch chuyển về nhóm tuổi, tỉ lệ kết hôn giữa các nhóm tuổi cũng có sự thay đổi, nhóm tuổi kết hôn sau 30 đang ngày càng chiếm tỉ lệ đáng kể, tất cả những số liệu này đã giúp ta khẳng định nhận định phụ
nữ thành phố Hồ Chí Minh đang trở nên kết hôn chậm hơn Đây cũng là cơ sở để kết luận những dự đoán trong nghiên cứu của GS Nguyễn Minh Hòa trong công trình nghiên cứu năm 1998 đã được chứng minh trong thực tế
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng xin nói đến một yếu tố khác, tuy không phải là mục tiêu đề tài của chúng tôi nhưng nó có thể là một vấn đề cần quan tâm trong giai đoạn tới, đó là sự xuất hiện của nhóm tuổi kết hôn nhỏ hơn 18 tuổi từ năm
Trang 322000 Có những yếu tố mới dẫn đến hiện tượng đó, nhưng do phạm vi giới hạn của
đề tài, chúng tôi tạm thời không đề cập sâu đến nó
Như vậy, xu hướng kết hôn muộn hơn của nữ giới trong những năm qua cho thấy, các đối tượng nữ giới ở thành phố Hồ Chí Minh đang cùng hành động theo một hệ thống hành động nhất định; nếu tiếp tục sẽ tạo thành một khuôn mẫu văn hóa mới, mà cụ thể là khung tuổi kết hôn mới cho xã hội Khung tuổi này sẽ trở thành một giá trị mới để định hướng cho hành động của các đối tượng khác sau này Trong những năm tới, khái niệm “kết hôn muộn” có thể không còn được dành
để nói đến những người kết hôn sau tuổi 25 giống như những thế hệ trước nữa; mà thay vào đó là khái niệm “kết hôn sớm” sẽ được sử dụng nếu đối tượng kết hôn trước tuổi 25, và “kết hôn muộn” được dùng cho những đối tượng kết hôn trễ hơn nhiều so với tuổi 25
Xu hướng này tương ứng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế và bối cảnh
xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, có sự khác biệt với điều kiện kinh tế xã hội của thành phố trong các giai đoạn trước Trong chương tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày những yếu tố ảnh hưởng mà chúng tôi nghiên cứu được đang tác động vào quyết định kết hôn của nữ giới
Trang 33
CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM CỦA NỮ GIỚI VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Quan niệm của nữ giới hiện nay về độ tuổi kết hôn lý tưởng
Theo quan niệm từ xa xưa “trai khôn cưới vợ, gái lớn gả chồng”, thế hệ cha ông chúng ta thường hay thúc giục con cái lập gia đình sớm để ổn định cuộc sống, đồng thời mau chóng có thế hệ nối tiếp cho dòng họ Theo nghiên cứu của Phan
Kế Bính từ những năm đầu thế kỷ 20, “tuổi đính hôn: con trai con gái độ mươi lăm, mươi sáu tuổi trở lên, đã là tuần sắp sửa lấy chồng lấy vợ Hai mươi tuổi mới gọi là muộn Cũng có nhà cưới cho con từ năm 12, 13 tuổi; có nhà ước hôn với nhau từ trong thai Trạc vợ chồng cứ kém nhau 1,2 tuổi là vừa đôi”25 Ông Toan Ánh cũng đã viết về tuổi thành hôn là: “Xưa kia trai gái lấy nhau rất sớm Nữ thập tam, nam thập lục là tuổi trai gái đã hiểu sự đời”26 Trong thời kỳ đó, trai gái đến tuổi cập kê thì người lớn bắt đầu nghĩ đến việc tiến hành mai mối, cưới gả, do quan niệm rằng ở tuổi đó, con người đã phát triển đầy đủ về mặt thể chất, có sức khỏe tốt và có khả năng lao động nuôi sống bản thân và gia đình
Tuy nhiên, quan niệm về tuổi kết hôn trong những năm cuối thế kỷ 20 đã thay đổi nhiều so với giai đoạn trước, những cặp kết hôn sau 20 tuổi thường được khuyến khích nhiều hơn vì có thể gánh vác trách nhiệm với gia đình tốt hơn trước những biến đổi trong cuộc sống Riêng nữ giới, cuối thế kỷ 20 là giai đoạn cách mạng về giải phóng phụ nữ, khẳng định vai trò của họ đối với xã hội, hàng loạt những hành động đấu tranh trong cho quyền nữ giới diễn ra ở trong và ngoài nước, nhằm giúp nữ giới có thể bước ra khỏi khuôn khổ gia đình mà tiến vào những lĩnh vực đa dạng của xã hội Tạo điều kiện cho họ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn cho
Trang 34cuộc sống của bản thân Một trong những quyền lựa chọn đó mà chúng ta có thể thấy rõ nhất là nữ giới hầu hết được lựa chọn đối tượng và thời điểm kết hôn cho mình khi cảm thấy phù hợp
Hiện nay, những năm đầu của thế kỷ 21, tiếp tục theo xu thế chung đó, chỉ tính ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta đã kết luận được rằng xu hướng kết hôn của nữ giới ngày càng chậm đi, độ tuổi kết hôn lý tưởng mà nữ giới hướng đến đã có thay đổi rõ rệt Trên địa bàn mà nhóm khảo sát, trong khi chúng tôi đưa
ra cho những đối tượng được phỏng vấn trả lời các câu hỏi về “Độ tuổi kết hôn trung bình ở nơi các đối tượng sinh sống là bao nhiêu? Và đối tượng cảm thấy độ tuổi kết hôn đó có phù hợp hay không?”, chúng tôi đã thu được những câu trả lời tương tự nhau, dù là từ những người đã lập gia đình trong độ tuổi 18, 20 hay trễ hơn tuổi 30 và dù là họ từ các vùng miền khác nhau đến sinh sống tại thành phố
Hồ Chí Minh Ở đây chúng tôi sẽ trình bày lần lượt ý kiến của những nhóm tiêu biểu mà nhóm đã phỏng vấn
2.1.1 Nhóm những người đã sinh sống ở thành phố từ nhỏ đến lớn: họ có
sự thống nhất rằng, những người sống ở thành phố thường có độ tuổi kết hôn là từ
22 tuổi cho đến 30 tuổi, điều này thể hiện mối tương đồng đối với kết quả trên bảng thống kê mà chúng ta đã có Bản thân họ cũng kết hôn khoảng tuổi 25
Trong 11 mẫu phỏng vấn, trên thực tế không có trường hợp nào kết hôn trước tuổi 23 Nhưng trong số những đối tượng đó, có 7 trường hợp kết hôn sau tuổi 25, chỉ có 4 trường hợp kết hôn trước tuổi 25
Đặc biệt có đến 9 đối tượng cho rằng nên kết hôn sau tuổi 25, trong đó có 5 đối tượng cho rằng nên kết hôn sau tuổi 27
Có nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến vấn đề này:
Chị T – 35 tuổi, kết hôn năm 2007 khi 33 tuổi – “Chị thấy phụ nữ nên kết hôn vào tuổi nào nhất? – 23 tuổi em à”
Trang 35 Chị V – 34 tuổi, kết hôn năm 2002 khi 27 tuổi – “Chắc khoảng 22 tuổi; 20,21 tuổi thì nhỏ quá chưa lo lắng được
và điều kiện chưa ổn định”
Chị M – 33 tuổi, kết hôn năm 2002 khi 26 tuổi – “Nên kết hôn trễ hơn 22 tuổi”
Chị K – 31 tuổi, kết hôn năm 2003 khi 25 tuổi – “Cỡ 28,29 tuổi mới nên lập gia đình”
Chị T – 32 tuổi, kết hôn năm 2005 khi 28 tuổi – “Ở nhà chị
ai cũng kết hôn trễ, cỡ gần 30”
Chị D – 36 tuổi, vẫn còn độc thân – “Khoảng 27 tuổi”
Chị N – 34 tuổi, kết hôn năm 2004 khi 29 tuổi – “Tốt nhất
Chị H – 36 tuổi, kết hôn năm 2006 khi 33 tuổi – “Kết hôn thì khoảng 25 tuổi, … theo chị tốt nhất nên kết hôn ở 27-28 tuổi để học xong”
Chị N – 34 tuổi, kết hôn năm 1998 khi 23 tuổi – “Ở thành phố Hồ Chí Minh là 23 tuổi” – “Lứa tuổi đó ở nông thôn
Trang 36có trễ không? – Trễ, vì quê mình là 19, 20 tuổi đã lấy chồng”
Chị H – 34 tuổi, kết hôn năm 1997 khi 22 tuổi – “Ở thành phố thì 28 tuổi”
Chị H – 35 tuổi, kết hôn năm 2000 khi 26 tuổi – “Có thể kết hôn sớm hơn 25-26 một chút”
2.1.3 Nhóm ở vùng khác đến sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh sau khi lập gia đình: Nhóm này xuất phát chủ yếu từ nông thôn, họ có tuổi kết hôn
khá sớm, tuy nhiên đối với họ thì tuổi kết hôn từ 25 tuổi trở đi vẫn tốt hơn, nhất là đối với cuộc sống ở thành phố hiện nay Họ cho rằng mình kết hôn trước 25 tuổi là
do lúc trước xã hội không có xu hướng kết hôn muộn như bây giờ
Trong 5 trường hợp mà nhóm phỏng vấn được, có 3 trường hợp kết hôn trước tuổi 25, có người kết hôn lúc 18 tuổi; nhưng lại có đến 4 đối tượng cho rằng nên kết hôn sau tuổi 25 Điều này thể hiện một suy nghĩ khác với suy nghĩ ngay tại thời điểm quyết định kết hôn của những đối tượng này
Chị T – 34 tuổi, kết hôn năm 1994 khi 19 tuổi – “Lúc đó, tuổi trung bình cho việc kết hôn ở nơi chị sống là bao nhiêu ạ? – 18,19 tuổi là người ta kết hôn rồi”
Chị T – 34 tuổi, kết hôn năm 1999 khi 24 tuổi – “ Nên kết hôn vào độ tuổi 26”
Chị V – 35 tuổi, kết hôn năm 1994 khi 20 tuổi – “Chị sống dưới quê, ở đó dưới 20 tuổi là người ta kết hôn rồi, giờ thì thay đổi nhiều, khoảng 25 – 28 tuổi”
Tóm lại, những đối tượng được phỏng vấn dù có những hoàn cảnh khác
biệt, do họ đã sinh sống ở những khu vực khác nhau, kể cả vùng nông thôn và thành thị; trong cuộc sống, họ đã đưa ra quyết định kết hôn vào những thời điểm
Trang 37khác nhau, bởi nhiều yếu tố tác động vào bản thân, tuy nhiên trong cuộc khảo sát này, họ đều thống nhất với nhau ở những điểm chính sau đây, xuất phát từ điều kiện sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh:
Thứ nhất, tuổi kết hôn thích hợp nhất là từ 22 đến 30 tuổi
Thứ hai, tuổi kết hôn lý tưởng là 25 tuổi, nếu sớm hơn cũng được nhưng tốt nhất là cần có việc làm ổn định rồi mới kết hôn
Thứ ba, tuổi kết hôn ở thành phố Hồ Chí Minh trễ hơn so với ở nông thôn (quê của họ), khi sống ở thành phố thì tốt hơn là kết hôn trễ một chút, khoảng từ 25 tuổi
2.2 Quan niệm của nữ giới hiện nay về độ tuổi không nên kết hôn
Theo quan niệm cách đây 100 năm, ở Việt Nam chúng ta “tuổi đính hôn: con trai con gái độ mươi lăm, mươi sáu tuổi trở lên, đã là tuần sắp sửa lấy chồng lấy vợ Hai, ba mươi tuổi mới gọi là muộn”27, thường con gái bước qua tuổi 20 được xem là ế, hay có nguy cơ ế, không thể lập gia đình, đó là chuyện rất xấu Sau
20 tuổi thì gần như là tuổi không còn tốt cho việc kết hôn, ai cũng tránh kết hôn vào độ tuổi như thế Cứ lớn lên là lập gia đình, đó là sự kiện quan trọng của đời người và liên quan đến gia đình, con cái
Nhưng hiện nay, khi cả thế giới đang tiến vào thế kỷ 21, đã có sự thay đổi quan niệm về tuổi không nên kết hôn Theo kết quả phỏng vấn, chúng ta có thể chia thành 2 nhóm tuổi chính, mà nữ giới đang sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh cho rằng không nên kết hôn đó là nhóm tuổi nhỏ hơn 20 tuổi và nhóm tuổi lớn hơn 30, họ đưa ra những lý do liên quan đến điều kiện kinh tế và kinh nghiệm sống đã tác động đến suy nghĩ của họ, xuất phát từ thực tế cuộc sống ở thành phố
27
Phan Kế Bính, “Việt Nam Phong tục”, NXB Khai Trí, 1973 (trích trong Đông Dương tạp chí từ số 24 –
49 năm 1913 – 1914), trang 56
Trang 382.2.1 Nhóm tuổi kết hôn trước 20 tuổi: những người được phỏng vấn cho
rằng lứa tuổi đó có thể phù hợp cho việc kết hôn ở nông thôn nhưng hoàn toàn không phù hợp với điều kiện ở thành phố Những lý do chính họ nhắc đến là:
Học hành chưa xong
Chưa có việc làm để nuôi sống bản thân, vì thế kinh tế chưa vững vàng
Sống phụ thuộc vào gia đình cha mẹ hai bên
Sinh con không an toàn, vì cơ thể còn chưa phát triển toàn diện
Suy nghĩ còn non nớt, chưa chín chắn, không thể lo được gia đình và chăm lo cho con cái
Dễ ly hôn
Những lý do này được lý giải theo nhiều cách khác nhau, và có ý kiến cho rằng nó liên quan đến môi trường xung quanh, “thấy mọi người ai cũng thế”, và
“cũng do ham vui, chưa biết chuyện”, “cũng do học vấn thấp thôi”:
Chị K – 35 tuổi, kết hôn năm 1992 khi 18 tuổi – “Chị thấy tuổi kết hôn trung bình ở nơi mình sống là bao nhiêu? - ở thành thị thì 20 tuổi, trước đó thì sớm, còn ở nông thôn thì
16 tuổi kết hôn cũng là bình thường”
Chị H – 33 tuổi, kết hôn năm 2003 khi 27 tuổi – “Học xong
ra trường, có sự nghiệp, việc làm ổn định thì kết hôn kết hôn sớm chưa chững chạc dễ dẫn đến ly hôn”
Chị T – 33 tuổi, kết hôn năm 1994 khi 18 tuổi – “kết hôn sớm sẽ vất vả”
Trang 39 Chị V – 35 tuổi, kết hôn năm 1994 khi 20 tuổi – “kết hôn
20 tuổi thì quá sớm, chưa biết gì, chỉ là ham vui, chưa biết khổ, còn non nớt lắm”
Chị P – 32 tuổi, kết hôn năm 2001 khi 24 tuổi – “tại dưới quê … đa số làm nghề nông với nghề rẫy, nên khoảng từ
18 đến 20 là người ta lo lập gia đình rồi”
2.2.2 Nhóm tuổi kết hôn sau 30 tuổi: Dù cho chúng ta xem xét ở bất kỳ
thời điểm nào trong tiến trình phát triển của xã hội, và dù cho xã hội đó có đang phát triển đến trình độ nào đi chăng nữa thì những người kết hôn sau 30 tuổi thường không được mọi người ủng hộ, và họ thường chịu sự thúc ép khá nhiều từ phía người thân do lo sợ việc kết hôn quá trễ Điều đó cũng đúng cho cả khu vực nông thôn và thành thị, khi mà có những lý do quan trọng buộc người ta phải hạn chế kết hôn trong độ tuổi này:
Khó lựa chọn đối tượng kết hôn thích hợp cho mình
Dễ trở thành độc thân suốt đời
Sinh con khó do tuổi quá lớn và con sinh ra không được thông minh
Có con trễ sẽ rất cực, khi về già thì con còn nhỏ
Gia đình gây sức ép lớn, do sợ bị mang tiếng
Những suy nghĩ trên xuất phát từ thực tế là xã hội ta còn quan niệm kết hôn
là để xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái; chứ không thể kết hôn mà không có con Với lại, cần đảm bảo thế hệ tiếp theo được chăm sóc tốt, khỏe mạnh, có thể phát triền toàn diện Sau đây là một số ý kiến của người được phỏng vấn:
Chị T – 34 tuổi, kết hôn năm 1999 khi 24 tuổi – “không hiểu sao ngày nay có nhiều người lại kết hôn trễ, do họ không tìm được đối tượng phù hợp với mình nên kết hôn
Trang 40quá trễ, chứ thấy không nên kết hôn quá trễ … Ở quê thì bị coi là trễ có thể bị ế, gia đình thúc giục lập gia đình.”
Chị H – 33 tuổi, kết hôn năm 2003 khi 27 tuổi – “không nên sớm hay trễ quá, chỉ từ 25 đến 30 tuổi, sớm hơn chưa chững chạc dễ dẫn đến ly hôn, trễ quá con cái không tốt.”
Chị T – 32 tuổi, kết hôn năm 2003 khi 26 tuổi – “Chị nghĩ sao nếu phụ nữ kết hôn chậm hơn tuổi đó? – cũng tốt, càng trễ càng tốt vì người ta chín chắn; nhưng 29, 30 tuổi thì quá trễ; khoảng 26, 28 tuổi là phù hợp.”
Chị V – 35 tuổi, kết hôn năm 1994 khi 20 tuổi – “Chị nghĩ phụ nữ có nên kết hôn chậm hơn 25, 28 tuổi không? – Chậm quá không nên đâu, vì mình nhiều tuổi rồi mà con còn nhỏ cực lắm.”
Chị H – 36 tuổi, kết hôn năm 2006 khi 33 tuổi – “Nhưng
mà cũng không nên lớn tuổi quá để sinh con dễ dàng hơn,
… vốn người ta cũng không thích mình vì mình lớn tuổi.”
Chị N – 34 tuổi, kết hôn năm 1998 khi 23 tuổi – “Chị nghĩ phụ nữ có nên kết hôn chậm hơn tuổi đó không? – không nên lắm, trễ lắm là 27, 28 tuổi”
Chị H – 34 tuổi, kết hôn năm 1997 khi 22 tuổi – “Không nên kết hôn muộn quá”
Chị H – 36 tuổi, kết hôn năm 2000 khi 27 tuổi – “Vậy giờ theo chị, phụ nữ có nên kết hôn muộn không ạ? – nói chung thì đừng quá muộn, ở thành phố 25, 26 là được rồi, kết hôn muộn thì không tốt lắm”