1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa nam bộ qua tác phẩm của hồ biểu chánh

126 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khối lượng tác phẩm của Hồ Biểu Chánh khá đồ sộ với 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 2 truyện dịch, 12 tác phẩm hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu -

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

-

Học viên: Lê Thị Thanh Tâm

VĂN HÓA NAM BỘ QUA TÁC PHẨM

CỦA HỒ BIỂU CHÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Văn Hiệu

Tp Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DẪN LUẬN 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Lịch sử vấn đề 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11

6.1 Phương pháp nghiên cứu 11

6.2 Nguồn tư liệu 12

7 Bố cục luận văn 12

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa 14

1.1.2 Vai trò của văn học trong việc nhận thức và phản ánh đời sống 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Truyền thống bám sát vào thực tế đời sống của văn học Nam Bộ 22

1.2.2 Hồ Biểu Chánh – nhà văn hiện thực Nam Bộ 27

CHƯƠNG II VĂN HÓA NAM BỘ QUA “HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ” HỒ BIỂU CHÁNH 35

2.1 Giới thuyết về khái niệm “hình tượng tác giả” 35

2.1.1 Về tác giả văn học 35

2.1.2 Về hình tượng tác giả 36

2.2 Các biểu hiện của văn hóa Nam Bộ qua “hình tượng tác giả” Hồ Biểu Chánh 38

2.2.1 Ý thức sáng tác 38

2.2.2 Chọn mảng đề tài 43

2.2.3 Xây dựng nhân vật 48

2.2.4 Ngôn ngữ - Văn phong 53

CHƯƠNG III VĂN HÓA NAM BỘ QUA NỘI DUNG TÁC PHẨM 62

3.1 Cảnh sắc Nam Bộ 62

Trang 3

3.2 Con người Nam Bộ 76

3.2.1 Con người cần cù, chất phác 76

3.2.2 Con người trọng nghĩa khinh tài 79

3.2.3 Con người bộc trực, thẳng thắn 80

3.3 Phong tục tập quán 82

3.3.1 Phong tục 82

3.2.2 Tập quán ăn, mặc, ở, đi lại 92

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU KHẢO SÁT 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 4

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Với người Việt, Nam Bộ là vùng đất mới với lịch sử hình thành và phát triển khoảng ba trăm năm Quãng thời gian thăng trầm và đầy biến động song cũng đủ độ dài rộng để nơi đây hình thành bản sắc văn hoá riêng trong dòng chảy văn hoá dân tộc Tất nhiên vì mới, nên văn hoá Nam Bộ chưa được nghiên cứu nhiều và nghiên cứu kĩ so với văn hoá các vùng khác Nghiên cứu văn hoá Nam Bộ với những đặc điểm riêng, chung so với đặc trưng văn hoá của các vùng khác và văn hoá dân tộc là một điều có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Có nhiều cách để tiếp cận văn hoá Nam Bộ Đã có nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận từ góc độ địa lý, lịch sử, nhân học Đề tài này chúng tôi chọn tiếp cận văn hóa Nam Bộ từ một loại tư liệu cũng rất đặc biệt đó là văn học viết Văn học và văn hóa

có một mối quan hệ đặc biệt, văn học phản ánh văn hóa theo cách riêng của mình Chúng tôi nghiên cứu trên nguồn tư liệu này kết hợp sự so sánh, đối chiếu với các dạng tư liệu khác để khẳng định, làm rõ một số luận điểm về văn hóa Nam Bộ

Hồ Biểu Chánh (1884 – 1958) là nhà văn lớn được sinh ra, trưởng thành và gắn bó với vùng đất Nam Bộ Tác phẩm của ông đậm chất Nam Bộ Khối lượng tác phẩm của Hồ Biểu Chánh khá đồ sộ với 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 2 truyện dịch, 12 tác phẩm hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu - phê bình, 64 tiểu thuyết, tái hiện sinh động con người và cuộc sống Nam Bộ

từ nông thôn đến thành thị trong những năm đầu thế kỉ XX trong bối cảnh tiếp xúc

và giao lưu với văn hoá phương Tây

So với các thể loại khác như thi ca, truyện ngắn, ký , tiểu thuyết có nhiều ưu điểm hơn trong phản ánh hiện thực, đời sống văn hóa xã hội Hồ Biểu Chánh với một ngòi bút đầy sức sống, với khả năng cảm nhận và phản ánh đời sống thực tại một cách rộng lớn và sâu sắc, ông đã để lại cho hậu thế 64 cuốn tiểu thuyết

Trang 5

Chúng tôi chọn đề tài: “Văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của Hồ Biểu Chánh”, khảo sát chủ yếu tập trung trên các tiểu thuyết với mong muốn tìm ra những đặc trưng văn hoá Nam Bộ từ những trang viết của nhà văn

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua chính “hình tượng tác giả” – Hồ Biểu Chánh với những biểu hiện chính về ý thức sáng tác, chọn đề tài, ngôn ngữ, cách xây dựng hình tượng, phong cách…

- Đi sâu tìm hiểu một số đặc trưng văn hóa Nam Bộ thể hiện qua nội dung tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, đồng thời góp phần phân tích đặc điểm giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và phương Tây phản ánh trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

3 Lịch sử vấn đề

Từ trước tới nay, vấn đề văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với các nội dung liên quan trực tiếp hay gián tiếp

Từ năm 1933, trong tập Phê bình và cảo luận, Thiếu Sơn viết: “Tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh đủ sức hấp dẫn để lôi cuốn độc giả Việt Nam ham đọc truyện Tàu trở về đọc truyện ta để nhớ tới thân phận con người Việt Nam đương sống trong xã hội Việt Nam và đương là nạn nhân của chế độ, một chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến mà bọn người được ưu đãi là những ông quận, những ông làng, những ông cử con quan và những ông nhà giàu địa chủ, đặc biệt nhất là tác giả lại về phe

những người nghèo hèn, yếu thế, những tá điền và nông dân” [Dẫn theo Lê Quang

Hưng 2004: 40] Đây là được xem là một trong những công trình đầu tiên nhìn nhận, đánh giá các giá trị của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Đến năm 1942, trong Nhà văn hiện đại, Hồ Biểu Chánh được Vũ Ngọc Phan giới thiệu sơ bộ về cuộc đời và một số tác phẩm như Cha con nghĩa nặng, Vì nghĩa

vì tình, Khóc thầm … bước đầu khẳng định giá trị của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

trong sự so sánh với tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách: “Tiểu thuyết của họ Hoàng

Trang 6

(Hoàng Ngọc Phách, quyển Tố tâm) chuyên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ uỷ

mị, cầu kỳ, không tự nhiên, còn tiểu thuyết của họ Hồ (Hồ Biểu Chánh) chuyên về

tả việc và lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều chỗ như lời nói thường” [Vũ Ngọc Phan 1994: 336 ]

Một trong những tài liệu nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh khá sớm là bài viết

“Tiểu thuyết miền Nam: Hồ Biểu Chánh” của tác giả Phạm Thế Ngũ in trong Việt

Nam Văn học giản ước tân biên, NXB Quốc học tùng thư, năm 1965 Bài viết đưa

ra các so sánh và công nhận thể tiểu thuyết đã đi bước trước ở miền Nam, trong khi các văn gia miền Bắc còn đang dè dặt tập tành thì Hồ Biểu Chánh đã cho ra đời những tác phẩm tuy không đạt tới một trình độ cao về nghệ thuật song đã có tất cả dáng dấp của một tiểu thuyết mới Đặc biệt, tác giả bước đầu đi vào nghiên cứu bức tranh văn hóa xã hội miền Nam qua tác phẩm của Hồ Biều Chánh

Trong Những mảnh vụn văn học (1974), NXB Chân Lưu - SG, Bằng Giang

nói về kỹ thuật viết tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh mà nhà văn từng tâm sự với ông

“Bí quyết” của Hồ Biểu Chánh là dẫn câu chuyện từ nông thôn ra thành thị, hoặc ngược lại, người nông thôn muốn biết việc thành thị còn người thị dân hiếu kỳ muốn biết hình ảnh đời sống nông thôn

Trong thời gian này (1974), một công trình có giá trị là Chân dung Hồ Biểu

Chánh của Nguyễn Khuê Tác giả đã tập hợp khá đầy đủ danh mục sáng tác của Hồ

Biểu Chánh, giúp người đọc hiểu được cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn đồng thời

đã tập trung nghiên cứu 14/64 tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu vượt trội so với những nhà nghiên cứu trước đó Tuy nhiên, văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chưa được công trình này quan tâm nhiều

Còn trong tác phẩm Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả đã

khẳng định: “Mấy chục quyển tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng tựa như một cuốn phim xã hội Nam Kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, một thứ sách tiểu bách khoa ghi chép vô số những điều có thực mà người sau cần biết” [Trần Văn

Giàu và nnk 1988: 240] và “Cái độc giả miền Nam lúc nào cũng thích thú là văn

Trang 7

chương giản dị, tả thực, phản ánh được nhiều đặc điểm xã hội và con người ở miền Nam trong một thời kỳ, thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới Và giá trị của Hồ Biểu Chánh như một nhà tiểu thuyết và giá trị sự nghiệp văn chương của ông trước

hết là ở đó” [Trần Văn Giàu nnk 1988: 241]

Trong “Mấy suy nghĩ về Hồ Biểu Chánh” - Lời tựa của tiểu thuyết Tân

Phong nữ sĩ, NXB Tiền Giang in năm 1988, Nguyễn Văn Y cảm nhận đọc văn Hồ

Biểu Chánh có cảm tưởng như nghe ông già bà cả ở thôn quê kể lại những điều hằng xảy ra trong cuộc đời thực tế, chủ ý truyền bá kinh nghiệm sống cho mọi người, để khuyến thiện trừng ác, bằng giọng nói từ tốn thật thà, không một chút khoa trương giả dối Những tình, những cảnh, những con người cùng bao nhiêu sự việc trong tiểu thuyết của ông phần lớn rất gần gũi quen thuộc với quần chúng, giúp người đọc hình dung lại cả một bối cảnh sinh hoạt đầy hiện thực sống động mà dường như chính mình mắt thấy tai nghe hoặc từng đóng một vai tham dự Cho nên,

dù văn của Hồ Biểu Chánh có xưa, có lỗi thời, có nôm na, truyện của ông vẫn cứ còn là những bức tranh “truyền thần” khá chính xác về xã hội miền Nam trong một giai đoạn lịch sử đã qua

Nguyễn Huệ Chi trong “Lời tựa” viết cho tiểu thuyết Tiền bạc bạc tiền, do

NXB Tổng hợp Tiền Giang in năm 1988, đã chỉ ra một trong những yếu tố quan trọng làm nên giá trị của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đấy là chất văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm của ông Ông cho rằng, Hồ Biểu Chánh đã làm được những điều có

lẽ chính nhà văn cũng không ngờ tới Lần đầu tiên Hồ Biểu Chánh đem vào văn học dân tộc một mảng đề tài mà trước ông còn tương đối trống vắng: cuộc sống trên mảnh đất Lục tỉnh với những nét riêng về phong tục tập quán, cung cách sinh hoạt, đặc điểm thiên nhiên, tính cách con người Không chỉ có thế, Hồ Biểu Chánh còn cung cấp cho người đời sau hình ảnh cuộc sống người dân Nam Bộ trong cái bối cảnh chuyển động gấp rút của những thập kỷ đầu thế kỷ XX, là giai đoạn thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa, thời kỳ diễn ra nhiều xáo trộn làm đổi thay mọi

nề nếp cổ truyền; xuất hiện những lối sống mới, những cung cách ứng xử và quan

hệ đạo lý khác trước, những tâm lý xã hội thích hợp và những mẫu người thời đại

Trang 8

Ở bài viết này, tác giả Nguyễn Huệ Chi đã phác họa đôi nét về thần thái cốt yếu của

xã hội Nam Bộ phản ánh qua tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

Các tác giả Hoài Anh, Nguyễn Tý có bài viết “Hồ Biểu Chánh – Cây cầu nối

những giá trị cổ truyền với con người hiện đại” in trong Phê bình, bình luận văn

học, NXB Tp.Hồ Chí Minh, năm 1998 đề cập đến hệ thống nhân vật phong phú như

một viện bảo tàng nhân học; không gian Nam Bộ xưa; các kiểu y phục, tính cách, tâm lý nhân vật Tuy nhiên bài viết chỉ dừng lại ở thao tác liệt kê một số vấn đề được đề cập trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Các tác giả Cù Đình Tú (2001), Huỳnh Thị Lan Phương và Nguyễn Văn Nở (2006), Nguyễn Vy Khanh (2006) có các bài viết nghiên cứu về tác phẩm của Hồ Biểu Chánh từ phương diện ngôn ngữ - văn hóa Nam Bộ Tác giả Huỳnh Thị Lan Phương và Nguyễn Văn Nở đi sâu nghiên cứu các nét đặc sắc riêng của ngôn ngữ Nam Bộ qua tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ở các phương diện khẩu ngữ, thành ngữ, từ láy Nguyễn Vy Khanh nghiên cứu lối dùng chữ, cá tính ngôn ngữ địa phương Từ việc nghiên cứu ngôn ngữ, các tác giả phần nào đã làm toát lên được sắc thái văn hóa Nam Bộ trong tác phầm của Hồ Biểu Chánh Luận án tiến sĩ Ngữ

văn (2006) của Huỳnh Thị Lành nghiên cứu về Vị trí của Hồ Biểu Chánh trong văn

xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỉ XX (1900 – 1930) bảo vệ tại trường ĐH Sư

phạm TP Hồ Chí Minh Ngoài ra, Phan Thị Ngọc Lan (1991) nghiên cứu “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trước năm 1932”; Trần Xuân Phong (1997) nghiên cứu “Những đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong lĩnh vực tiểu thuyết giai đoạn 1912 - 1931”; Nguyễn Quỳnh Trang (2001) tìm hiểu “Ảnh hưởng của tiểu thuyết Pháp đối với tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh”; bài viết của Trần Hữu Tá (tạp chí Kiến thức ngày nay, số 309, 1999) về “Tiểu thuyết Nam bộ trong chặng đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam”

Hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh được tổ chức lần đầu tiên tại Tiền Giang vào hai ngày 17 và 18 -11-1988 với 30 bài tham luận của các giáo sư, nhà

Trang 9

văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học đề cập nhiều khía cạnh về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Biểu Chánh chủ yếu từ góc độ phê bình văn học

Đi sâu tìm hiểu về văn hóa Nam Bộ hơn có bài viết “Đời sống văn hóa ở nông thôn Nam Bộ trong một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” in trong tạp chí

Nghiên cứu văn học số 7, năm 2006 của tác giả Huỳnh Thị Lan Phương Ở bài viết

này, tác giả đề cập đến văn hóa Nam Bộ thể hiện qua trang phục, ăn uống, nhà ở, một vài phong tục, truyền thống gia đình, trình độ dân trí tuy nhiên còn khá sơ lược Ngoài ra, tác giả còn có bài viết “Tính cách người nông dân Nam bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” đăng trên tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, số 12/2009, trang 153- 161 và “Cái nhìn của Hồ Biểu Chánh về người nông dân Nam

Bộ” in trong Bình luận văn học của Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Thành

phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn, năm 2005 Ở hai bài viết này tác giả triển khai vấn đề người nông dân Nam Bộ từ góc độ tính cách nhân vật văn học chứ không phải từ chủ thể của vùng văn hóa Nam Bộ, tức từ góc nhìn văn hóa học Trên website http://www.hobieuchanh.com, có đăng bài “Xã hội văn hóa Việt Nam trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh” của tác giả Nguyễn Thanh Liêm Ở bài viết này, tác giả chỉ đơn thuần đề cập đến các tầng lớp nhân dân Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX, liệt kê một cách sơ lược các phương tiện di chuyển, cách ăn chơi, các loại hình nghệ thuật, sự xung đột cũ và mới trong vấn đề hôn nhân gia đình, tư tưởng, đạo đức luân lý, tín ngưỡng của người Nam Bộ thể hiện qua tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

Tác giả Trần Vĩnh Anh trong Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần số 97, năm

2005 có bài viết “Sài gòn xưa dưới ngòi bút của nhà văn Hồ Biểu Chánh” phần nào

cho người đọc thấy được những dấu vết của đô thị Nam Bộ những năm đầu thế kỉ

XX trong thành phố Sài Gòn hiện đại ngày nay

Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước về

Hồ Biểu Chánh đăng trên website: http://www.hobieuchanh.com, một số nhiều bài viết đăng tải rải rác trên các tạp chí, internet

Trang 10

Ở nước ngoài, tại Mỹ cuối thập niên 80 Giáo sư John C.Schaffer đã có nhiều bài viết về tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XX trong đó có bài nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh “Hồ Biểu Chánh and the early development of the Vietnamese novel” đăng trên tạp chí Vietnam Forum N012 Sumerfall 1989 Đến năm 1994 John C.Schaffer và Thế Uyên đăng tiếp bài “Tiểu thuyết xuất hiện tại Nam kỳ” (bài này

được Như Quỳnh và Thế Uyên dịch đăng trên Tạp chí Văn học số 8/1994), trong đó

các tác giả đã nhận định như sau: “Hồ Biểu Chánh, Trần Chánh Chiếu và Trương Duy Toản rất xứng đáng được tuyên dương là những tiểu thuyết gia đầu tiên của Việt Nam Họ đã đi từ thể loại truyện thơ từ chữ nôm sang truyện dài văn xuôi quốc ngữ, thay thế các nhân vật cổ điển bằng những nhân vật hiện đại với đầy đủ những ham mê dục vọng của con người, từ lòng tham tiền bạc, yêu thương và hận thù, cho đến cả vấn đề tình dục nữa Họ cũng từ bỏ lối kể chuyện đường thẳng, thay thế bằng những bút pháp bao gồm nhiều miêu tả cảnh vật và biến đổi tâm lý của nhân vật”

[Tạp chí Văn học 8/1994: 6]

Như vậy, có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm Hồ Biểu Chánh Nhìn chung, các công trình đã cung cấp một cách khái quát các giá trị của tác phẩm Hồ Biểu Chánh từ góc nhìn ngữ văn học Một số bài viết đã bước đầu nghiên cứu tác phẩm Hồ Biểu Chánh từ góc độ văn hóa học nhưng còn khá mờ nhạt Xét một cách tổng thể, văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là

đề tài chưa có những nghiên cứu chuyên sâu Luận văn của chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu diện mạo, đặc trưng văn hóa Nam Bộ các tác phẩm văn học của Hồ Biểu Chánh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hóa Nam Bộ thể hiện qua “hình tượng tác giả” Hồ Biểu Chánh và một vài đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua nội dung của tác phẩm

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung vào một số vấn đề chi tiết về văn hóa Nam Bộ qua “hình tượng tác giả” như: ý thức sáng tác, chọn mảng đề tài, hệ

Trang 11

thống nhân vật, ngôn ngữ - văn phong; tìm hiểu văn hoá Nam Bộ qua nội dung tác phẩm của Hồ Biểu Chánh như cảnh sắc, con người, phong tục tập quán Nam Bộ

5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Về khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về văn hoá Nam Bộ, văn hoá vùng, bản sắc văn hóa; làm nổi rõ sự độc đáo của văn hóa Nam Bộ qua lăng kính của Hồ Biểu Chánh trong sự so sánh với một số tác giả khác

và với các loại tư liệu khác; cho thấy được giá trị của tư liệu văn học trong việc phản ánh văn hóa Nam Bộ

- Về thực tiễn, góp phần lý giải những hiện tượng văn hóa hiện nay trên vùng Nam Bộ, góp phần nhỏ trong việc quản lý văn hóa, cung cấp cách khai thác nguồn

tư liệu liên ngành

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành trong văn hóa học để nghiên cứu đối tượng (sử dụng kết quả nghiên cứu của văn học, ngôn ngữ học)

- Vận dụng phương pháp cấu trúc hệ thống-loại hình của văn hóa học để nghiên cứu văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của Hồ Biểu Chánh một cách thấu đáo, tòan diện

- Sử dụng phương pháp lịch sử nhằm cung cấp cái nhìn lịch đại và đồng đại

về sự vận động của văn hoá Nam Bộ trong tiến trình lịch sử, tập trung nghiên cứu văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khi sự giao lưu tiếp biến với văn hoá phương Tây diễn ra mạnh mẽ, từ đó rút ra được các giá trị văn hóa truyền thống ổn định và các giá trị văn hóa hiện đại đang hình thành

- Vận dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để xử lý các dữ liệu từ tác

phẩm của Hồ Biểu Chánh, từ đó rút ra các luận điểm

Trang 12

6.2 Nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi tiến hành tập hợp tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau

Về tài liệu tham khảo, chúng tôi đã đọc, tìm hiểu các tài liệu lý luận chuyên ngành văn hóa học, các nguồn tài liệu của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến văn hóa Nam Bộ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã công bố, có trích dẫn rõ ràng (đã nêu cơ bản ở phần lịch sử nghiên cứu vấn đề và phần tài liệu tham khảo) Các tài liệu (sách, báo) liên quan đến đề tài từ các thư viện, các thông tin qua Internet được chúng tôi tập hợp, tiến hành tổng hợp, phân loại ra thành từng vấn đề, phân tích và rút ra những dữ liệu cần thiết cho đề tài

Về tư liệu khảo sát, chúng tôi khảo sát các vấn đề trên các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã được xuất bản, công bố Khối lượng tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh khá đồ sộ (64 tiểu thuyết), các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh lại được tái bản thành từng đợt với thời gian cách nhau khá xa (hai đợt gần đây nhất là NXB Tổng hợp Tiền Giang năm 1988 và NXB Văn hóa Sài Gòn năm 2005, 2006) và mỗi đợt thường chọn xuất bản một số tác phẩm, vì thế để sưu tầm và khảo sát đầy đủ tất cả các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là một việc làm khó khăn Chúng tôi đã chọn khảo sát những tác phẩm tiểu biểu bao gồm 29 tiểu thuyết đã được in thành sách và

14 tiểu thuyết ở dạng bản Adobe được công bố trên trang web http://www.hobieuchanh.com (xem thêm phần Tài liệu khảo sát)

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần dẫn luận, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Đây là chương mang tính lý luận, là nền tảng lý thuyết cho các chương tiếp theo

Chương 2: Văn hóa Nam Bộ qua “hình tượng tác giả” Hồ Biểu Chánh

Trang 13

Chương này đi vào giới thuyết về khái niệm “hình tượng tác giả”; nghiên cứu các biểu hiện của văn hóa Nam Bộ qua hình tượng tác giả Hồ Biểu Chánh như

ý thức sáng tác, chọn mảng đề tài, hệ thống nhân vật, văn phong - ngôn ngữ

Chương 3: Văn hóa Nam Bộ qua nội dung tác phẩm

Chương này đi sâu nghiên cứu một vài nét đặc trưng của văn hoá Nam Bộ qua nội dung tác phẩm của Hồ Biểu Chánh như cảnh sắc, con người, phong tục tập quán Nam Bộ

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa

Mikhail Bakhtin trong những suy ngẫm về nghiên cứu văn học, luôn cho rằng “văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa và không thể hiểu nó bên ngoài bối cảnh của văn hóa tổng thể của một thời đại cụ thể ”; ông cũng nhấn mạnh rằng “đời sống năng động và mạnh mẽ của văn hóa diễn ra ngay trên những đường biên của những lĩnh vực riêng của nó chứ không phải ở những nơi tập trung những đặc trưng riêng của từng lĩnh vực” [Nguyễn Văn Hiệu (dịch) 2007: 20] Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy nhận định rằng trước đây, quan hệ văn hóa và văn học được coi là quan hệ tương hỗ Thứ quan hệ ngang bằng của hai hình thái ý thức xã hội cùng thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng phản ánh một cơ sở hạ tầng Bởi thế, nghiên cứu văn hóa thì văn học được coi như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu Như vậy, văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau Gần đây, theo ông, nhờ UNESCO phát động những thập kỷ phát triển văn hóa, nhờ thức nhận văn hóa

là động lực của phát triển, nên quan hệ văn hóa và văn học được chú ý nhiều hơn, văn hóa bắt đầu được coi là nhân tố chi phối văn học và ngày nay, hẳn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố trong đó có văn học [Đỗ Lai Thúy 2009: 57-59] Văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Do vậy, nhiều giá trị văn học được hình thành trên cơ sở các giá trị của văn hóa

Nói đến vị trí của văn học trong văn hóa là nói đến hai mặt của một vấn đề Thứ nhất, bản thân văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa Thứ hai là nói đến tính đại diện cho văn

Trang 15

hóa của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa [Đỗ Thị Minh Thúy 1997: 100]

Đặt văn học vào ngữ cảnh của văn hóa để nghiên cứu, tác giả Cao Kim Lan viết: “Theo tôi một phương pháp phê bình thống nhất những yếu tố khả thủ của hai

xu hướng này, nghĩa là phải đặt tác phẩm văn học vào ngữ cảnh văn hóa đồng thời vẫn phải thừa nhận/tìm kiếm trong bản thân nó “một cái gì đó” sẽ là một hướng đi

có khả năng tạo ra những cách nhìn mới” [Cao Kim Lan: Văn học và ngữ cảnh văn

hóa,http://vanhocquenha.vn] Người viết minh chứng bằng một ví dụ của văn học Việt Nam, một trường hợp liên quan đến “các hiện tượng văn hóa phổ biến”: Vấn

đề dâm hay không dâm trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng Những cuộc tranh luận xung quanh chủ đề này đã có nhiều tài liệu, tác giả đã xét vấn đề dâm hay không dâm từ ba góc độ: Từ ý đồ của Vũ Trọng Phụng và hiện thực trong tác phẩm của ông; Từ ngữ cảnh văn hóa đương thời: cuộc tranh luận về vấn đề này những năm 1936-1939 và từ điểm nhìn: ngữ cảnh văn hóa những năm đầu thế kỷ XXI

Như vậy, các quan niệm có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm đó

là khẳng định mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết giữa văn học và văn hóa Nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa, và ngược lại, nghiên cứu văn hóa trong mối quan hệ với văn học đều đưa lại những kết quả thú vị mà ở đó các giá trị văn hóa hay văn học đều được làm nổi bật trong sự thống nhất với nhau Người ta có thể nghiên cứu văn hóa từ văn học: trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, nghệ thuật gấp giấy Nhật Bản qua tác phẩm của Kawabata Zasunari; nghiên cứu tửu đạo, âm nhạc ở chưởng Kim Dung, nghiên cứu văn hóa ẩm thực Việt qua những trang văn của Nguyễn Tuân, văn hóa vườn qua tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tín ngưỡng phồn thực qua thơ Hồ Xuân Hương… Ngược lại, cũng có thể phê bình văn học từ văn hóa Đây là một phương pháp có nhiều thuận lợi bởi người ta đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, cái biết nhiều đến cái biết ít, cái toàn thể đến cái bộ phận bằng

con đường loại suy Đỗ Lai Thúy đã sử dụng thao tác này trong công trình Con mắt

thơ Ông coi Thơ Mới là sản phẩm của văn hóa đô thị và đi tìm đặc điểm của văn

hóa đô thị qua các phạm vi không gian, thời gian, con người… một mặt để khu biệt

Trang 16

với văn hóa nông thôn, mặt khác để làm nền cho bức tranh văn học bấy giờ Thơ Mới rõ ràng chịu ảnh hưởng của những đặc điểm này Và mỗi nhà Thơ Mới cũng

vậy… Phan Ngọc trong Một cách tiếp cận văn hóa khi nghiên cứu văn học giai

đoạn 1975-1985 viết: “Nếu ta chấp nhận văn học là một thành tố của văn hóa, thì muốn xét văn học Việt Nam, phải xét nó trên một nền tảng vững chắc hơn là văn hóa Việt Nam” [Phan Ngọc 1999: 301, 306]

Giữa văn học và văn hóa học rõ ràng có mối quan hệ tương tác rất lớn Rất nhiều nhà nghiên cứu dựa vào văn học truyền miệng để đi tìm lịch sử văn hóa qua huyền thoại Từ văn học dân gian, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra ký ức văn hóa của dân tộc, diện mạo văn hóa dân tộc một thời đã qua Đối với văn học viết, độ tin cậy, chính xác trong phản ánh đời sống, văn hóa cao hơn nhiều Dù ở bộ phận nào, văn học và văn hóa đều có sự tương tác chặt chẽ với nhau Bàn về mối quan hệ tương tác giữa văn hóa học và khoa học ngữ văn, có nhà nghiên cứu cho rằng: “Văn học hiện thân như là một phương diện trung tâm của những mặt vật chất của văn hoá hoặc là của những hình thức biểu đạt trung gian mà qua đó văn hoá trở nên có thể quan sát được” [Nguyễn Tri Nguyên 2010: 115]

Huỳnh Như Phương trong bài nghiên cứu Văn học và văn hóa truyền thống

cho rằng văn học biểu hiện văn hoá, văn học phản ánh văn hóa Ông chứng minh rằng trong tác phẩm văn học, người đọc có thể tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua

sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Ví dụ như bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố tục giảng thanh, trò chơi…), ví dụ như những tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…), ví dụ như tác phẩm văn học còn dẫn người đọc đi đến những nguồn mạch sâu xa của văn hoá qua việc lý giải tấn bi kịch lịch sử trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay cốt cách người nông dân được đào luyện qua những biến thiên cách mạng trong các truyện ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu Ngược lại, theo tác giả, văn hoá cũng tác động mạnh mẽ đến văn học Sự tác

Trang 17

động ấy không chỉ thể hiện ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá Chính không gian văn hoá này chi phối cách xử lý

đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác [Huỳnh Như Phương 2009: 20-28]

Như vậy, rõ ràng nghiên cứu văn hóa từ văn học là một việc làm có cơ sở khoa học Văn học là một bộ phận của văn hóa và văn học thể hiện các giá trị của bản sắc văn hóa Văn học phản ánh hầu hết các lĩnh vực của đời sống trên nền bản sắc văn hóa dân tộc và như thế tiếp cận văn học là một cách để giúp ta hiểu thấu đáo

và sâu sắc văn hóa của đời sống đó

1.1.2 Vai trò của văn học trong việc nhận thức và phản ánh đời sống

Văn học nhận thức và thể hiện cuộc sống Đời sống là nơi xuất phát của văn học, là nguồn tài liệu phong phú và vô tận của văn học Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận vai trò của văn học trong việc phản ánh đời sống Văn học cũng như các loại hình nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội Stanhdal khẳng định văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội Còn Balzac thì cho rằng nhà văn là thư kí trung thành của thời đại Văn học phản ánh hiện thực trên một phạm vi hết sức rộng lớn và đa dạng Trong việc phản ánh cuộc sống, khả năng của văn học là hết sức to lớn và phong phú Đối tượng của nó bao gồm toàn bộ thế giới thiên nhiên, đời sống xã hội và cuộc sống của từng con người Nhà văn bằng tài năng của mình, trong hoàn cảnh sống của riêng mình, trước nhu cầu sáng tạo của bản thân và yêu cầu của thời đại, với vốn sống, vốn văn hóa, lịch sử, chính trị… đã cho ra đời những tác phẩm luôn có bóng dáng, dấu ấn của cuộc sống ở thời đại, không gian mình đang sống Hiện thực đời sống con người từ không gian sinh hoạt, thiên nhiên đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng, cách ăn, mặc, ở, đi lại, ngôn ngữ, giao tiếp… đều là những chất liệu quý báu để nhà văn xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật, những điển hình nhân vật chân thực, sống động như trong đời

Trang 18

sống hằng ngày Ngoài tài năng, nhà văn phải là những người có vốn sống, vốn văn hóa nhiều, trải nghiệm thực tế nhiều Tác phẩm văn học là sản phẩm của một quá trình tổng hợp những tài liệu từ đời sống để xây dựng nên một chỉnh thể nghệ thuật

Đó là quá trình kết tinh trong tâm trí nhà văn những ấn tượng, những biểu tượng, những chi tiết từ đời sống mà lí luận văn học hiện nay thường gọi là kiến tạo tác phẩm Phản ánh hiện thực và sáng tạo thông nhất với nhau Kiến tạo tác phẩm văn học là tạo nên một “văn bản” có khả năng sinh nghĩa, người đọc qua hệ thống các biểu tượng, kí hiệu, kết cấu sẽ lại kiến tạo ý nghĩa của nó Các nhân vật, chi tiết, hình ảnh thực chất đều là những kí hiệu được tổ chức vào hệ thống, có mở đầu, có kết thúc, có tương phản, đối chiếu Hình tượng nghệ thuật, giai điệu trong tác phẩm văn học là kết tinh chất liệu hiện thực được khúc xạ qua lăng kính thẩm mĩ của nhà văn Phản ánh hiện thực đời sống là một trong những vai trò quan trọng của văn học và đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên giá trị cho tác phẩm văn học Chính vì thế, tác phẩm văn học trong rất nhiều trường hợp là tư liệu nghiên cứu tin cậy cho nhiều ngành khoa học khác như lịch sử, địa lý, triết học…

Mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” từng bị hiểu đơn giản thành sao chép các sự kiện của thời đại, tôn sùng nguyên mẫu, miêu tả người thật việc thật, phản ánh các mâu thuẫn bản chất của xã hội, thời đại Tuy bị hiểu sơ lược và cách hiểu

này từng bị phê phán mạnh mẽ, nhưng bản thân mệnh đề đó vẫn có cơ sở Bởi đó là

mệnh đề xác định một cách tổng quát nhất mối quan hệ giữa văn học với hiện thực

và thời đại Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định, văn học phản ánh hiện thực là một trong những quan hệ cơ bản, một nguyên lí quan trọng không thể thiếu nhưng ông nhấn mạnh phản ánh, theo nghĩa khoa học là sản phẩm của “tác động qua lại”,

do đó nó không phải chỉ là “tái hiện”, “mô phỏng” như thường hiểu, mà nó còn là phản ứng, đáp trả, phủ nhận cho nên những người phát biểu văn học không mô phỏng (hay phản ánh) hiện thực, mà chỉ phát hiện, biểu hiện thực tại, thậm chí phủ nhận hiện thực, phê phán hiện thực, bóc trần các mặt nạ của hiện thực, vượt lên hiện thực, thì cũng vẫn là nằm trong phạm trù “phản ánh” hiện thực, bởi họ đã hiểu phản ánh rộng hơn, bao quát hơn Tác giả cũng dẫn ý của

Trang 19

R Jakobson cho rằng các phương pháp sáng tạo phản ánh hiện thực là rất đa dạng ví như ngôn ngữ của chủ nghĩa hiện thực là kiến tạo văn bản theo nguyên tắc tương cận, đặt các sự vật bên nhau theo sự liên tục, liên tiếp để chúng bộc lộ ý nghĩa như thật, còn ngôn ngữ của chủ nghĩa lãng mạn là thay thế cái này bằng cái khác, tạo thành những ẩn dụ về hiện thực.Cho dù quan niệm phương Đông xưa xem văn học

là dùng để nói chí, hoặc chủ nghĩa lãng mạn phương Tây xem văn học là biểu hiện tình cảm, khát vọng chủ quan của con người thì cái chí ấy, tình cảm ấy cũng đều là

phản ánh đời sống xã hội [Trần Đình Sử: Văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện

đại, http://lythuyetvanhoc.wordpress.com]

Văn học dù hướng đến điều gì, chọn thủ pháp nào cũng mang dấu ấn thời đại

và bối cảnh của nó, nhất là văn học theo chủ nghĩa hiện thực Đối với các bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, phản ánh hiện thực có nghĩa là tìm kiếm các giá trị văn hóa, nhận thức, đạo đức, thẩm mĩ của đời sống, lột trần các dối trá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọi mặt nạ, là dấn thân vào tiến trình tiến bộ của xã hội Các tư tưởng

đó đã diễn đạt khá đúng và hay về mối quan hệ giữa văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô, nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhân vật, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học nghệ thuật đều là sự phản ánh của đời sống xã hội Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm văn học hiện thực sẽ dễ nhận ra những phản ánh của thời đại, bối cảnh văn hoá Ngoài ra, chính tác giả của nó qua tác phẩm, tạm gọi là “hình tượng tác giả”

cũng thường phản ánh rõ nét văn hoá của vùng đất, của thời đại tác giả đó đang sống Trong nhiều trường hợp, một nhà văn sinh ra, lớn lên ở vùng miền này sẽ rất khác một nhà văn sinh ra ở vùng miền kia trong việc chọn lựa đề tài sáng tác, xây dựng hệ thống nhân vật, rất khác trong văn phong, ngôn ngữ sử dụng Đôi lúc cùng một đề tài nhưng giữa hai nhà văn ở hai “vùng văn hóa” ở những thời điểm khác nhau lại có cách tiếp cận khác nhau

Hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa do thực tiễn gợi ra Xét từ góc độ

kí hiệu học, nếu hiện thực là thế giới ý nghĩa thì toàn bộ các sự vật cụ thể, cảm tính

- những yếu tố mang nghĩa xung quanh con người lại đều là những kí hiệu tự nhiên

ai cũng thấy, nhớ và hiểu [Trần Đình Sử: Văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện

Trang 20

đại, http://lythuyetvanhoc.wordpress.com] Các hiện tượng, sự vật, con người - các

yếu tố mang nghĩa, do lặp đi lặp lại, cho nên chúng trở thành kí hiệu, biểu tượng của cuộc sống Nếu nhà văn biết nắm bắt, lựa chọn cái nổi bật, cái lặp lại, cái đặc trưng và sử dụng chúng thì sáng tác đó dễ được công chúng đồng cảm, hiểu, chính

vì thế, ngôn ngữ hiện thực, sự miêu tả các hình tượng như thật từ lâu đã được nghệ thuật sử dụng và sáng tạo

Như vậy, nếu ở những tài liệu văn hóa học, nhân học, lịch sử các giá trị văn hóa được phản ánh như thực tế vốn có của nó thì ở tài liệu văn học, không chỉ có thế, văn hóa dường như được khắc họa, đặc tả và ở đây ta nhận thấy hệ thống các biểu tượng, kí hiệu văn hóa một cách dễ dàng hơn Không gian văn hóa đậm đặc hơn, thời gian rõ nét đến từng giai đoạn, thời điểm thậm chí là khoảnh khắc, và chủ thể của nền văn hóa hiện lên rõ mồn một với đầy đủ tính cách và diện mạo của mình Điều này khiến cho hiện thực trong tác phẩm văn học nhiều khi còn đáng tin cậy hơn cả tài liệu ghi chép, biên khảo Vì vậy, tác phẩm văn học là một loại tư liệu

để các nhà nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề về văn hóa, xã hội, lịch sử…

Trong các loại thể văn học thì tiểu thuyết có những khả năng riêng đặc biệt trong việc tái hiện một quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con người, của lịch

sử, đạo đức, phong tục, tập quán… Là một hình thức tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết có năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động theo hướng tiếp cận trên cả bể rộng lẫn chiều sâu của nó So với các thể loại khác, tiểu thuyết không bị giới hạn trong khả năng phản ánh hiện thực về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài thời gian Tiểu thuyết có khả năng phản ánh cả giai đoạn lịch sử với nhiều

sự kiện tiêu biểu với sức khái quát rộng rãi bộ mặt xã hội qua nhiều hoàn cảnh và nhân vật Tiểu thuyết có thể miêu tả tất cả mọi sự vật lớn nhất hoặc nhỏ nhất trong tự nhiên và trong xã hội Nhiều tiểu thuyết được xem là những pho “bách khoa toàn thư” về đời sống xã hội Bức tranh hiện thực toàn cảnh mà tiểu thuyết mang lại cũng bộn bề, phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tầng như chính bản thân sự tồn tại của đời sống con người Nhưng thực ra đặc trưng phản ánh của tiểu thuyết cũng không chỉ ở

Trang 21

vấn đề sức chứa và dung lượng của hiện thực được phản ánh trong tác phẩm mà chủ yếu là ở “tính toàn vẹn và sinh động của cuộc sống” [Hà Minh Đức 1984: 380] Trong tiểu thuyết, hiện thực được miêu tả gần gũi với cuộc sống hàng ngày qua nhiều màu vẻ sinh động Nguyễn Đình Thi khẳng định: “Người viết tiểu thuyết phải làm sao những sự việc, những nhân vật của mình có sức sống như thực” [Dẫn theo

Hà Minh Đức 1984: 381] Ngay với những tác giả không thuộc hẳn khuynh hướng hiện thực như nhà văn Thạch Lam cũng có lúc thấy rõ yêu cầu phải miêu tả hiện thực trong tiểu thuyết một cách sinh động, gần gũi như chính cuộc đời thật: “Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bấy giờ là hết sức gần sự sống để được linh hoạt và thật như cuộc đời” [Dẫn theo Hà Minh Đức 1984: 381] Tính chất toàn vẹn và sinh động của cuộc sống trong tiểu thuyết là một phẩm chất thẩm mỹ mà không một loại thể văn học nào có thể đạt được Tiểu thuyết chân thực và sinh động như cuộc sống Trong nội dung một cuốn tiểu thuyết, người đọc có thể bắt gặp nhiều dạng vẻ phong phú của hiện thực: những tình huống xung đột giàu kịch tính, những cảm xúc tâm trạng, những mảng sống thực tế đang vận động, đổi thay như trong thể loại ký, rồi những bức tranh nhiều vẻ của thiên nhiên… Tiểu thuyết còn cho phép dung nạp các loại kiến thức khác nhau của các hình thái nhận thức và các khoa học khác Trong nhiều cuốn tiểu thuyết người đọc có thể bắt gặp những hiện tượng về thiên nhiên và cách giải thích những hiện tượng đó theo phương pháp khoa học, hoặc bắt gặp những luận điểm triết học, những sự kiện lịch sử, những kiến thức về văn hóa Người viết tiểu thuyết đòi hỏi phải biết rất nhiều, phải hiểu rất sâu, rất kỹ thực tế đời sống, đặc biệt là ở lĩnh vực mình miêu tả Người ta thường nói tới những vùng đất, những miền quê, những mảng sống quen thuộc của những nhà tiểu thuyết Chất liệu thực tế, vốn hiểu biết thực tế là cơ sở rất quan trọng để tạo thành nội dung trực tiếp của tác phẩm Người viết tiểu thuyết không thể chỉ lấy sự nhạy bén và thông minh của mình để thay thế cho sự hiểu biết về đời sống Nếu người viết không có một vốn hiểu biết phong phú về cuộc sống thì tất cả mọi suy nghĩ, tưởng tượng sẽ trở thành giả tạo, thiếu cơ sở thuyết phục Thiếu vốn sống thực tế, người viết tiểu thuyết không

có năng lực tái hiện chân thực, sinh động những bức tranh văn hóa, xã hội phong

Trang 22

phú, những trang viết sẽ trở nên nghèo nàn, vá víu Những nhà tiểu thuyết có tài năng đều là những người có vốn hiểu biết và sự từng trải, có khả năng quan sát đời sống một cách tinh tế, đặc biệt là phạm vi mình miêu tả Chính khả năng tái hiện một cách chân thực và sinh động những bức tranh rộng rãi về đời sống hiện thực phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc là một trong những thước đo thành công của tiểu thuyết và là một trong những tiêu chuẩn xác định đặc điểm riêng của thể loại này Chính vì thế, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng có thể là một nguồn tư liệu đáng tin cậy để nghiên cứu văn hóa

Điểm qua những tên tuổi của nền văn học Quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỉ XIX như Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), Huỳnh Tịnh Của (1830 – 1907), Trương Minh Ký (1855 – 1900), Nguyễn Trọng Quản (1865 – 1911) Nguyễn Văn Hiệu trong bài nghiên cứu “Văn chương quốc ngữ Nam Bộ nhìn từ quá trình xã hội hóa chữ quốc ngữ ”cho thấy trong các công trình sưu tầm, dịch thuật, sáng tác tiêu biểu của mình, các cây bút này đều nêu rõ mục đích góp phần phổ biến chữ Quốc ngữ

(Latin) Trong một lần in lại cuốn Chuyện đời xưa (xuất bản lần đầu năm 1866),

Trương Vĩnh Ký viết: “Góp nhóp trộn trạo chuyện kia chuyện nọ, in ra để cho con nít tập đọc chữ Quốc ngữ, cùng là có ý cho người ngoại quốc học tiếng Annam, coi

mà tập hiểu cho quen” và “nay ta in sách này lại nữa: vì đã hết đi, cũng vì người ta

dùng sách nầy mà học tiếng, thì lấy làm có ích” Trên trang bìa Thông loại khoá

trình (Miscellanées, 1888) - một tập san tư nhân, Trương Vĩnh Ký chua thêm tiếng

Pháp: “Ou lectures instructives pour les elèves des écoles primaries, communales &

Trang 23

cantonales” (Hay là độc bản bổ ích cho học sinh trường tiểu học, trường làng và trường tổng) và viết trong lời Bảo: “Coi sách dạy lắm, nó cũng nhàm; nên phải có cái chi vui pha vào một hai khi, nó mới thú Vậy ta tính làm ra một tháng đôi ba kì, một tập mỏng mỏng nói chuyện sang đàng, chuyện tam hoàng cuốc chí, pha phách

lộn lạo xào bán để cho học trò coi chơi cho vui…” Trong Chuyện giải buồn, theo

bản in lần thứ 5 năm 1911 (xuất bản lần đầu năm 1885), Huỳnh Tịnh Của ghi: “Rút trong các sách hay để giúp trong các trường học cùng những người học tiếng

Annam” Trong Chuyện giải buồn cuốn sau , theo bản in lần thứ 3 năm 1895 (xuất

bản lần đầu năm 1886), Huỳnh Tịnh Của cũng ghi: “Dịch rút trong các sách hay, lại phụ các án tấu, án đoán quan Annam làm, lập lời nói trang nhã, lịch sự, để giúp trong các trường học cùng giúp cho các người học tiếng Annam” Nguyễn Trọng

Quản viết Truyện Thầy Lazaro Phiền (xuất bản lần đầu năm 1887), trong nhiều mục

đích có mục đích “trước là làm cho trẻ con ham vui mà tập đọc” và “kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì cho đặng giải buồn một giây” Và gắn với truyền thống phong cách ngôn ngữ Nam Bộ kế thừa trong văn hóa dân gian, trong văn học viết trước đó cùng với yêu cầu xã hội hóa chữ quốc ngữ, các tác giả, học giả, nhà văn đều chủ trương và thể hiện khá rõ trong các công trình, tác phẩm của mình cách viết giản dị,

dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân Trương Vĩnh Ký chủ trương viết theo “cách nói tiếng Annam ròng”; Nguyễn Trọng Quản chủ trương

“lấy tiếng mọi người hằng nói mà làm ra một chuyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay”1 Nguyễn Huệ Chi nhận định truyện của Trương Vĩnh Ký hay của Huỳnh Tịnh Của, dù có là “chuyện đời xưa” hoặc có là “chuyện

giải buồn” góp nhặt và dịch từ bộ sách cổ Liêu trai chí dị, nhưng thông qua lời trần

thuật mộc mạc, đơn giản và ngữ khí của người kể, đều trở thành những câu chuyện đang hiện diện đâu đó trong cuộc sống, đang hướng tới người đọc như lớp người chứng nhân cho các câu chuyện ấy” [Nguyễn Huệ Chi 2002: 13,14]

1 Nguyễn Văn Hiệu 2002:“Văn chương quốc ngữ Nam Bộ nhìn từ quá trình xã hội hóa chữ quốc ngữ”, Tạp

chí Văn học số 5-2002, tr.21-28

Trang 24

Không dừng lại ở cách viết giản dị, dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân Văn chương thời kỳ này bắt đầu hướng đến những vấn đề của đời sống thực tại với những con người đời thường Đây là một trong những đặc điểm nổi bật trong quan niệm văn học của các tác giả văn xuôi quốc ngữ giai đoạn cuối thế kỷ XIX Vấn đề phản ánh hiện thực, đời sống thực tại là một trong những tiêu chí để khu biệt văn xuôi hiện đại với cổ điển Bakhtin đã dùng tiêu chí hướng đến hiện tại của tiểu thuyết để khu biệt nó với thể loại sử thi vốn chỉ hướng đến quá khứ và lịch

sử Tác giả Cao Thị Hảo đã đưa ra nhiều dẫn chứng và khẳng định xu hướng chú ý đến thực tại với những con người đời thường mang tính hiện thực của các nhà văn

thời kỳ này [Cao Thị Hảo 14/03/2008: Quan niệm của một số cây bút văn xuôi cuối

thế kỷ XIX] Trong công việc sưu tầm, “góp nhóp trộn trạo” chuyện dân gian, các

tác giả Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của (Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài,

Chuyện giải buồn) ưu tiên số lượng cho các tác phẩm phản ánh những quan hệ

trong cuộc sống đời thường hàng ngày của những con người bình thường Chuyện

giải buồn của Huỳnh Tịnh Của gồm 112 truyện thì có tới 70 truyện được dịch từ Liêu trai chí dị, nhưng tác giả lại chủ tâm chọn dịch những chuyện phản ánh con

người đời thường và các mối quan hệ của họ trong cuộc sống trần tục (Chuyện voi,

Chuyện tên Ất, Chuyện tên Giáp, Địa ngục miền dương gian ) chứ không phải

những chuyện hồ ly, thư sinh, mộng mị mang nhiều yếu tố kỳ lạ chiếm phần lớn

trong kho truyện Liêu trai chí dị Không chỉ chọn lọc những truyện dân gian,

Trương Vĩnh Ký bắt đầu có khái niệm về sự quan sát thực tế và ghi chép thực tế

được biểu hiện qua tập du kí Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876 (1881) Ở đây tác

giả đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong dịp ra Bắc hơn một tháng trời Tuy còn khá đơn sơ, những trang du kí này đã phơi bày một hiện thực nhiều màu sắc

qua sự quan sát mô tả thực tế của tác giả Trong tác phẩm Kiếp phong trần (1882)

Trương Vĩnh Ký đã để nhân vật tự do bộc lộ những cảm xúc cá nhân của mình Những câu hỏi đầy tính tò mò của nhân vật Lê Hảo Học và suy nghĩ rút ra từ trải nghiệm cuộc sống thực tế của nhân vật Trương Chí Đại tạo cho người đọc hứng thú mới, cảm xúc mới, suy nghĩ mới về kiếp người, cuộc sống, thực tế xã hội khác hẳn

Trang 25

với quan niệm trước đây Những ghi chép và sáng tác bằng văn xuôi quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của cũng bắt đầu quan tâm đến vấn đề nhận thức,

mô tả, phản ánh hiện thực Cách lựa chọn đề tài cũng khác trước, không đề cao những nhân vật phi thường anh hùng liệt nữ hay ca ngợi những gương trung hiếu tiết liệt mà thiết thực gần gũi với đời sống hơn, có khi chỉ là những câu chuyện đơn

sơ dí dỏm thường có trước mắt ta; có khi được lượm lặt trong những truyện dân gian của Việt Nam hoặc Trung Quốc thường được kể trong đám bình dân để giải trí hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe ở xứ người trong những dịp du ngoạn được tác giả kể lại mua vui cho độc giả hay đơn giản chỉ là muốn bày tỏ một thái độ của

cá nhân trước cuộc đời Tóm lại đó là những vấn đề có ý nghĩa đời sống thường

ngày Trong Truyện thầy Lazarô Phiền vấn đề phản ánh hiện thực mô tả cuộc sống

bình thường với những con người đời thường đã được Nguyễn Trọng Quản quan tâm một cách đặc biệt Tác giả không chỉ dụng ý đặt nhân vật người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, xưng tôi nhằm tạo cho người đọc cảm giác như đang được tiếp xúc với người thực, việc thực mà còn quan tâm tới cách tạo dựng tình tiết cốt truyện để tăng tính hiện thực của tác phẩm Đặc biệt, Nguyễn Trọng Quản đã sử dụng nhiều mốc thời gian rất cụ thể chi tiết Chính việc kê khai ngày tháng một cách cụ thể chi tiết như “một bản khai lí lịch” này, nhất là là thời điểm câu chuyện kết thúc (năm 1885) chỉ trước thời điểm tác giả viết (năm 1886) một năm tạo cho người đọc cảm giác như đang được chứng kiến một câu chuyện có thật vừa mới xảy ra trong cuộc sống Đồng thời sức nặng của việc phản ánh hiện thực càng được thuyết phục khi tác giả đưa ra hai chú thích rất cụ thể Chú thích thứ nhất nói về ngôi nhà thờ của những kẻ tử đạo được dựng lên ở Bà Rịa khiến người đọc có cảm giác câu chuyện xảy ra ở thời hiện tại rất gần với mình vì được tiếp xúc với một địa điểm có thật trong thực tế, ai cũng biết Chú thích thứ hai, khi nghe thầy Phiền kể về sự kiện cấm đạo tại Biên Hòa, nhân vật người kể chuyện cũng xen cảm nghĩ của mình vào như xác nhận thêm một lần nữa sự chính xác trong lời kể của nhân vật Ở đây chú thích

là một dụng ý nghệ thuật của tác giả Nguyễn Trọng Quản khi xây dựng cốt truyện

là muốn cho người đọc cảm nhận đây là một “truyện có thực”, “xảy ra trước mắt”

Trang 26

với những nhân vật, sự kiện của thời hiện tại chứ không phải là những truyện xưa tích cũ được đem ra kể lại Có thể nói tính hiện thực, thời sự của tác phẩm được đẩy lên mức cao Đây là một minh chứng thuyết phục cho quan niệm sáng tác văn chương hướng về đời sống thực, với những con người thực mà Nguyễn Trọng Quản

đã tuyên bố trong lời Tựa mở đầu thiên truyện: “Đã biết rằng xưa nay dân ta chẳng thiếu chi thơ, văn, phú, truyện nói về những đứng anh hùng hào kiệt tài cao chí cả;

mà những đứng ấy thuộc về đời xưa, nay chẳng còn nữa Bởi đó tôi mới dám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước mắt ta luôn” [Dẫn theo Hoàng Dũng 2003: 302, 303]

Đến Hồ Biểu Chánh Hồ Biểu Chánh được xem là nhà văn kế thừa, tiếp thu những thành quả của các nhà văn, học giả đi trước nhưng ông lại có những bước đột phá mới Ai cũng biết, trong sáng tác đầu tay của Hồ Biểu Chánh có dấu ấn của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của ở cách hành văn, ở ngôn ngữ là “cách nói tiếng Annam ròng” Đặc biệt, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ quan điểm văn học phản ánh hiện thực đời sống của Nguyễn Trọng Quản, dấu ấn

này thể ở đề tài và cả ở thể loại Chính ấn tượng mạnh mẽ từ Truyện thầy Lazaro

Phiền làm cho Hồ Biểu Chánh dứt khoát chuyển từ truyện thơ sang viết truyện văn

xuôi, chuyên tâm phản ánh hiện thực qua thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh đã không kế tục Nguyễn Trọng Quản một cách đơn giản mà đạt tới một tầm vóc khác: “Ấy là trong tư cách một ngòi bút khắc họa diện mạo cuộc sống hiện thực

bề bộn ở miền Nam trước Cách mạng tháng Tám, với vô số không gian nghệ thuật đặc thù sinh động, và với đủ các loại nhân vật phức tạp, đa dạng, có tính cách đặc biệt Nam Bộ và có vận mệnh không chút giống nhau, trong vòng quay của chế độ thuộc địa Pháp trên đà khai thác và đô thị hóa ào ạt mảnh đất miền Nam hồi nửa đầu thế kỷ trước, và trong sự va xiết của đồng tiền” [Nguyễn Huệ Chi 2002: 14] Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh phản ánh nhiều mảng hiện thực khác nhau trong xã hội Nam

Bộ ở những năm đầu thế kỉ XX Ðược đi nhiều nơi, có dịp tiếp xúc nhiều hạng người trong xã hội cho nên Hồ Biểu Chánh có một vốn sống phong phú Ðây là một trong những yếu tố giúp tác giả thành công trong vấn đề phản ánh hiện thực xã hội

Trang 27

Hiện thực cuộc sống được đưa vào trong tác phẩm của ông thể hiện rõ tính chất chân thật, cụ thể và đa dạng Ông không chỉ viết về thành thị mà còn đi sâu vào cuộc sống ở nông thôn Ông không chỉ đề cập đến những người thuộc tầng lớp trên trong xã hội mà còn bao quát cả cuộc sống của những con người nghèo khổ trong

xã hội Không chỉ tái hiện những biến động của xã hội Nam Bộ khoảng thời gian cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ông đặc tả những thời gian cụ thể đến từng năm, tháng, thậm chí từng khoảnh khắc

1.2.2 Hồ Biểu Chánh – nhà văn hiện thực Nam Bộ

1.2.2.1 Hồ Biểu Chánh - nhà văn Nam Bộ

Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên Khi viết văn, ông lấy bút danh là Hồ Biểu Chánh ghép từ tên tự và họ Ông sinh năm 1884 (trong khai sanh ghi ngày 01/10/1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công Địa danh này đã nhiều lần trở đi trở lại trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh với đầy đủ các đặc trưng của không gian văn hóa vùng Nam Bộ Theo lời của Hồ Văn Kỳ Trân, con trưởng của Hồ Biểu Chánh, thì nhà văn vốn sinh trưởng trong một gia đình nghèo, nhưng nội tổ hồi trước lập làng nên có bảng vị Tiền hiền thờ trong đình thần, thân phụ được tham dự trong ban Hội hương chánh tới chức Hương

chủ và Chánh bái [Dẫn theo Thanh Lãng: Hồ Biểu Chánh (1885-1958),

http://www.hobieuchanh.com]

Lúc còn nhỏ Hồ Biểu Chánh đã theo học chữ Nho tại trường làng, sau đó ông chuyển sang học chữ quốc ngữ và chữ Pháp tại trường Vĩnh Lợi rồi xuống trường tỉnh Gò Công Nơi đây, ông được cấp học bổng để lên học trường trung học Chasseluop-Laubat ở Sài Gòn Cuối năm 1905, ông thi đậu bằng Thành chung (Diplôme de fin déludé) Những năm đầu thế kỉ XX, trong buổi giao thời giữa cái

cũ và cái mới, truyền thống và hiện đại, văn hóa phương Đông và phương Tây, Hồ Biểu Chánh được xem là cây cầu nối những giá trị cổ truyền với con người hiện đại Ảnh hưởng, tiếp thu văn hóa phương Tây nhưng ở quan niệm đạo đức của ông lại

Trang 28

không khác nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, ông giống Nguyễn Đình Chiểu ở nếp sống thanh bạch, có lẽ đó là sự hun đúc của tinh thần đạo nghĩa phương Đông

Từ năm 1906 đến năm 1941 ông làm việc cho Chính phủ Pháp, bắt đầu từ chức ký lục, thông ngôn rồi thăng dần đến chức Ðốc phủ sứ, từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi, vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ Cuộc đời công chức vì công vụ buộc ông phải luân chuyển khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ, đó là dịp rất tốt để ông quan sát và thu thập tài liệu viết về miền đất này Từ năm 1906 đến 1912, Hồ Biểu Chánh làm việc tại dinh Hiệp Lý; từ năm 1912 đến 1914 làm việc tại Bạc Liêu, Cà Mau; năm 1914 tại Long Xuyên; năm 1919 tại Gia Định; năm 1920, làm việc tại văn phòng Thống đốc Nam Kỳ Cuối năm 1921 Hồ Biểu Chánh thi đậu tri huyện Năm 1927 ông được thăng tri phủ quận Càng Long (Trà Vinh) Năm 1932, ông làm chủ Quận Ô Môn (Cần Thơ) đến năm 1934, đổi đi Phụng Hiệp Năm 1935, Hồ Biểu Chánh về Sài Gòn làm kiểm soát ngân sách các tỉnh và thành phố đến năm 1936 thì thăng Đốc phủ sứ Cũng vào năm 1935, tròn ba mươi năm sống đời công chức, Hồ Biểu Chánh

đệ đơn xin về hưu trí Ông được chính phủ Pháp cho về hưu kể từ đầu tháng giêng

1937 nhưng vì chưa có người thay thế, ông phải ở tại chức cho đến năm 1941 Chỉ được tự do ít bữa, mồng 4 tháng 8 năm 1941, Pháp lại cử ông làm Nghị viên Hội đồng liên bang Đông Dương, rồi sau đó lại kiêm cả nghị viên Thành phố Sài Gòn với chức phó Đốc lý Cuối năm 1941, Sài Gòn và Chợ Lớn được sát nhập làm một,

Hồ Biểu Chánh làm Nghị viên trong ban Quản trị Sài Gòn, Chợ Lớn cho đến 1945 Cuối năm 1946 ông mới thật sự được sống cuộc đời hưu nhàn, giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương

Hồ Biểu Chánh là một trí thức xuất sắc của Nam Bộ Không chỉ giỏi chữ Nho, ông còn rất giỏi tiếng Pháp và có biệt tài trong việc viết văn bằng chữ quốc ngữ Là người sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, được tắm bầu không khí văn hóa Nam

Bộ từ thuở bé, lại là một trí thức văn chương có tài, Hồ Biểu Chánh đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác đồ sộ có giá trị lớn về mặt văn hóa, văn học, đặc biệt là trong việc phản ánh diện mạo văn hóa, văn học Nam Bộ Tác phẩm của Hồ Biểu

Trang 29

Chánh thể hiện một cách chân thực, gần gũi, sâu sắc đời sống văn hóa Nam Bộ Người ta thấy có đầy đủ muôn mặt đời sống của người dân Nam Bộ dù có tác phẩm được phóng tác từ các truyện nước ngoài Sơn Nam khi viết về diện mạo văn học Nam Bộ đã trích dẫn nhiều tác phẩm văn học của Hồ Biểu Chánh mà ông xem là tiêu biểu cho giai đoạn văn học miền Nam trước 1945 Đây là giai đoạn mà văn xuôi chủ yếu là phóng tác theo các tác phẩm nước ngoài và theo ông, Hồ Biểu Chánh làm việc này rất khéo léo: “Nói chung, ông giỏi tài phóng tác tiểu thuyết Pháp đến mức đọc qua ai cũng tưởng là chuyện xảy ra ở miền Nam” [Sơn Nam 2005: 201] Nhưng trên hết, ông viết văn bằng tất cả tâm hồn mộc mạc của một con

người miền Nam Trong các tác phẩm của mình Hồ Biểu Chánh dẫn dắt người đọc

và gợi lại cho họ những cảnh nước đọng, bùn lầy ở nông thôn miền Tây Nam Bộ cũng như cảnh rừng rú còn hoang dã với đầy rẫy hùm beo, muông thú buổi sơ khai Ông đã diễn tả trung thực phong cảnh từng vùng đất ông có dịp đi qua Ông thể hiện rành rọt phong tục tập quán cũng như ngôn ngữ địa phương một cách chính xác Đọc ông, người ta như thấy lại bối cảnh xã hội xa xưa của cả một vùng đất Nam Bộ

từ thành thị đến thôn quê với âm vang tiếng còi tàu súp-lê, tiếng chèo khua nước, tiếng chim kêu vượn hú, tiếng xe ngựa chạy lộc cộc, tiếng xe bò lạch cạch, tiếng muỗi mòng vo ve từ Cà Mau, Châu Đốc, Vĩnh Long, Cần Thơ đến Sài Gòn, Thủ Đức, Biên Hòa Người đọc cũng bắt gặp ở tác phẩm ông sự chất phác, nhân hậu của nông dân Nam Bộ ở nông thôn; cái mới mẻ, ồn ào, náo nhiệt của thành thị Nam

Bộ trong sự chuyển mình giao lưu với văn hóa phương Tây những năm đầu thế kỉ

XX

1.2.2.2 Hồ Biểu Chánh - nhà văn hiện thực

Một trong những yếu tố tạo nên giá trị tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đó là chất hiện thực Hồ Biểu Chánh được xem là nhà văn kế thừa, tiếp thu những thành quả của các nhà văn, học giả đi trước trong vấn đề phản ánh hiện thực nhưng ông lại

có những bước đột phá mới, có nhiều đóng góp trên con đường hiện đại hóa văn học Việt Nam Có người từng ví von Hồ Biểu Chánh là Balzac của Nam Bộ Nhà

Trang 30

nghiên cứu Lê Ngọc Trà cho rằng: “Cái độc đáo nhất và giá trị nhất của tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh nhằm chủ yếu không phải ở chỗ nó mô tả phong tục hay tuyên truyền đạo lý, mà ở chỗ nó thông qua mô tả phong tục, kết hợp tư tưởng là chủ nghĩa hiện thực Chỉ riêng mô tả phong tục không thôi, văn học dễ biến thành dân tộc học Còn chỉ tuyên truyền đạo đức không thôi, văn học sẽ thành luân lý ( ) cái mới và cái hay của Hồ Biểu Chánh là ông nói đạo lý đi kèm với chuyện đời, kể lại những cảnh đời khác nhau có thể là không gắn gì với các biến động chính trị, kinh

tế của xã hội nhưng lại gắn chặt với đời người, lại là nội dung của đời sống hàng

ngày” [Lê Ngọc Trà 2007: 122]

Khẳng định giá trị hiện thực của tác phẩm Hồ Biểu Chánh, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thạch viết: “Hồ Biểu Chánh đã phác họa được bức tranh hiện thực về kiếp sống người bần cố nông dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, ở một vùng đồng bằng sông Cửu Long Hồ Biểu Chánh đã dựng lại cảnh sống vất vả, cực nhọc đói cơm, rách áo, bị đàn áp nhục mạ của người nông dân nghèo” [Dẫn theo Hoài

Anh: Hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh, http://www.hobieuchanh.com]

Nguyễn Quang Thắng trong Tiến trình văn nghệ miền Nam, NXB An Giang,

1990 nhận xét: “Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh một thời đã làm mưa làm gió, không những ở các thành phố mà người đọc ở các thôn ấp xa xôi vẫn say mê đọc không biết chán Ðây là một bức tranh hiện thực đa dạng giúp bạn đọc toàn quốc thấy rõ

bộ mặt thực của xã hội “miệt vườn” Nam Bộ Ðó là tính cách đa dạng, phong phú không những về chất lượng mà nghệ thuật, ngôn từ, tình cảm tâm lý của mỗi nhân

vật trong sáng tác phẩm của ông” [Dẫn theo Lê Trường Xuân: Các tác giả viết về

Hồ Biểu Chánh, http://www.hobieuchanh.com]

Thụy Khê trong quá trình so sánh tác phẩm của Hồ Biểu Chánh và Hector Malot nhận thấy, khác với thế giới trữ tình, lãng mạn, tĩnh trong tác phẩm của Hector Malot, thế giới trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là thế giới hiện tại, sống động, đầy âm thanh và động tác Hồ Biểu Chánh mở ra một khung trời hiện thực, tả chân Ông tận dụng triệt để những âm thanh trầm bổng của tiếng Việt, đặc biệt tiếng Việt miền Nam, giàu từ láy, nhiều âm sắc khiến cho tác phẩm “diễn ra như trong

Trang 31

một cuốn phim đầy âm thanh và màu sắc” Tác giả khẳng định: “Hồ Biểu Chánh đã xác định một hình thức tả chân sống động chưa từng có từ năm 1912 cho đến ngày nay trong văn chương Việt Nam Trong số những người đi sau, rất lâu sau ông, mới

có một Vũ Trọng Phụng, cũng tài tình, bằng một phương pháp khác, đã đạt được tầm cỡ hiện thực tả chân xã hội như Hồ Biểu Chánh” [Thụy Khê 22/11/2008: Hồ Biểu Chánh và Hector Malot,http://www.rfi.fr]

Trong lời giới thiệu tiểu thuyết “Tiền bạc bạc tiền” Nguyễn Huệ Chi nhận định: “Đặt trong tình hình 30 năm đầu thế kỷ XX, rõ ràng không có một nhà văn nào có khả năng bao quát hiện thực rộng rãi đến như vậy Đằng sau cái vỏ đạo lý, truyện của Hồ Biểu Chánh, dù không tỉa tót tỉ mỉ nhưng thực đã dựng lên toàn cảnh

bức tranh xã hội” [Nguyễn Huệ Chi: Lời tựa tiểu thuyết Tiền bạc bạc tiền,

http://www.hobieuchanh.com]

Hồ Biểu Chánh là người rất say mê với sự nghiệp sáng tác văn chương Ông viết nhiều và viết liên tục, gần như từ buổi đầu của tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng, của văn chương quốc ngữ Nam Bộ nói chung, với số lượng tác phẩm rất đồ sộ, phong phú về thể loại bao gồm: truyện ngắn, thơ, tuồng, cải lương, hát bội, văn tế, tác phẩm dịch Nhưng Hồ Biểu Chánh nổi tiếng và thành công nhất với thể loại tiểu thuyết Ông đã có những đóng góp to lớn vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai Hầu hết các tác phẩm của ông, nhất là tiểu thuyết đều gắn với hiện thực Nam Bộ Ông để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ với 64,5

quyển tiểu thuyết (tiểu thuyết Hy sinh đang viết dở dang thì ông mất), 12 tập truyện

ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu - phê bình Ngoài ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch

Cụ thể như sau:

- Dịch thuật có Tân soạn cổ tích (cổ văn Trung Quốc, Sài Gòn 1910), Lửa

ngún thình lình (dịch tiếng Pháp, Sài Gòn 1922)

- Thơ có U tình lục (Sài Gòn 1910), Vậy mới phải (Long Xuyên 1913), Biểu

Chánh thi văn (Tập i,ii, iii bản thảo)

Trang 32

- Tùy bút Phê bình có Chưởng Hậu quân Võ Tánh (Sài Gòn 1926), Chánh

trị giáo dục (Gò Công 1948), Tùy bút thời đàm (Gò Công 1948)

- Tuồng hát có Hài kịch: Tình anh em (Sài Gòn 1922), Toại chí bình sinh

(Sài Gòn 1922), Đại nghĩa diệt thân (Bến Súc 1945), Hát bội: Thanh Lệ kỳ duyên (Sài Gòn 1926/1941), Công chúa kén chồng (Bình Xuân 1945), Xả sanh thủ nghĩa (Bình Xuân 1945), Trương Công Định qui thần (Bình Xuân 1945), Cải lương: Hai

khối tình (Sài Gòn 1943), Nguyệt Nga cống Hồ (Sài Gòn 1943), Vì nước vì dân (Gò

Công 1947)

- Biên khảo có các tác phẩm: Pétain cách ngôn Á đông triết lý hiệp giải (Sài

Gòn 1942), Gia Long khai quốc văn thần (Sài Gòn 1944), Gia Định Tổng trấn (Sài Gòn), Chấn hưng văn học Việt Nam (Sài Gòn 1944), Trung Hoa tiểu thuyết lược

khảo (Sài Gòn 1944), Ðông Châu liệt quốc chí bình nghị (Bến Súc 1945), Tu dưỡng chỉ nam (Bến Súc 1945), Pháp quốc tiểu thuyết lược khảo (Bình Xuân 1945), Một lằn chánh khí: Văn Thiên Tường (BX 1945), Nhơn quần tấn hóa sử lược (Gò Công

1947), Âu Mỹ cách mạng sử (Gò Công 1948), Việt ngữ bổn nguyên (Gò Công 1948), Thành ngữ tạp lục (Gò Công 1948), Phật tử tu tri (Gò Công), Nho học danh

thơ (Gò Công), Thiền môn chư Phật (Gò Công 1949), Ðịa dư đại cương (Gò Công), Hoàng cầu thông chí (Gò Công ), Phật giáo cảm hóa Trung Hoa (1950), Phật giáo Việt Nam (1950), Trung Hoa cao sĩ, ẩn sĩ, xứ sĩ (1951), Nho giáo tinh thần (1951)

- Hồi ký có Ký ức cuộc đi Bắc Kỳ (1941), Mấy ngày ở Bến Súc (1944), Đời

của tôi: 1 Về quan trường; 2 Về Văn nghệ; 3 Về phong trào cách mạng (chưa rõ

năm sáng tác - NV), Một thiên ký ức: Nam Kỳ cộng hòa tự trị (Gò Công 1948), Tâm

hồn tôi (Gò Công 1949), Nhàn trung tạp kỷ (tập i, ii, iii Gò Công 1949)

- Truyện ngắn có Chuyện trào phúng, tập i, ii (Sài Gòn 1935), Chuyện lạ

trên rừng (Bến Súc 1945), Truyền kỳ lục (Gò Công 1948)

- Đoản thiên có Chị Hai tôi (Vĩnh Hội 1944), Thầy Chung trúng số (Vĩnh

Hội 1944), Ngập ngừng (Vĩnh Hội), Một đóa hoa rừng (Vĩnh Hội 1944), Hai Thà

cưới vợ (Vĩnh Hội), Hai chồng (Vĩnh Hội ), Hai vợ (Sài Gòn 1955), Lòng dạ đàn bà

(Sài Gòn 1955)

Trang 33

-Tiểu thuyết có các tác phẩm Ai làm được (Cà Mau 1912), Chúa tàu Kim

Qui (Sài Gòn 1923), Cay đắng mùi đời (Sài Gòn 1923), Tỉnh mộng (Sài Gòn 1923), Một chữ tình (Sài Gòn 1923), Nam cực tinh huy (Sài Gòn 1924), Nhơn tình ấm lạnh

(Sài Gòn 1925), Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn 1925), Thầy Thông ngôn (Sài Gòn 1926), Ngọn cỏ gió đùa (Sài Gòn 1926), Chút phận linh đinh (Càn Long 1928), Kẻ

làm người chịu (Càn Long 1928), Vì nghĩa vì tình (Càn Long 1929), Cha con nghĩa nặng (Càn Long 1929), Khóc thầm (Càn Long 1929), Nặng gánh cang thường (Càn

Long 1930), Con nhà nghèo (Càn Long 1930), Con nhà giàu (Càn Long 1931), Ở

theo thời (Sài Gòn 1935), Ông Cử (Sài Gòn 1935), Một đời tài sắc (Sài Gòn 1935), Cười gượng (Sài Gòn 1935), Dây oan (Sài Gòn 1935), Thiệt giả, giả thiệt (Sài Gòn

1935), Nợ đời (Vĩnh Hội 1936), Đoá hoa tàn (Vĩnh Hội 1936), Lạc đường (Vĩnh Hội 1937), Từ hôn (Vĩnh Hội 1937), Tân Phong nữ sĩ (Vĩnh Hội 1937), Lời thề

trước miễu (Vĩnh Hội 1938), Tại tôi (Vĩnh Hội 1938), Bỏ chồng (Vĩnh Hội 1938),

Bỏ vợ (Vĩnh Hội 1938), Ý và tình (Vĩnh Hội 1938/1942), Người thất chí (Vĩnh Hội

1938), Tìm đường (Vĩnh Hội 1939), Hai khối tình (Vĩnh Hội 1939), Đoạn tình (Vĩnh Hội 1940), Ái tình miếu (Vĩnh Hội 1941), Cư Kính (Vĩnh Hội 1941), Mẹ ghẻ

con ghẻ (Vĩnh Hội 1943), Bức thơ hối hận (Gò Công 1953), Trọn nghĩa vẹn tình

(Gò Công 1953), Nặng bầu ân oán (Gò Công 1954), Đỗ Nương Nương báo oán (Sài Gòn 1954), Hai chồng (Sài Gòn 1955), Hai vợ (Sài Gòn 1955), Lá rụng hoa

rơi (Sài Gòn 1955), Tơ hồng vương vấn (1955), Đại nghĩa diệt thân (Sài Gòn

1955), Trả nợ cho cha (Sài Gòn 1956), Những điều nghe thấy (Sài Gòn 1956), Ông

Cả Bình Lạc (Sài Gòn 1956), Một duyên hai nợ (Sài Gòn 1956), Vợ già chồng trẻ

(Phú Nhuận 1957), Trong đám cỏ hoang (Phú Nhuận 1957), Hạnh phúc lối nào (Phú Nhuận 1957), Sống thác với tình (Phú Nhuận 1957), Nợ tình (Phú Nhuận 1957), Đón gió mới, nhắc chuyện xưa (Phú Nhuận 1957), Nợ trái oan (Phú Nhuận 1957), Chị Đào, Chị Lý (Phú Nhuận 1957), Tắt lửa lòng (Phú Nhuận 1957), Lẫy

lừng hào khí (Phú Nhuận 1958)

* *

*

Trang 34

Như chúng ta đã biết, văn học và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tương tác với nhau Văn học nhận thức và phản ánh hầu hết các lĩnh vực của đời sống trên nền bản sắc văn hóa dân tộc Trong các loại thể văn học thì tiểu thuyết có những khả năng riêng đặc biệt trong việc tái hiện một quy mô lớn bức tranh hiện thực đời sống chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của xã hội, của số phận con người, lịch sử, đạo đức, phong tục, tập quán Tiếp cận tác phẩm văn học là một cách để giúp ta hiểu thấu đáo và sâu sắc văn hóa của đời sống được tái hiện trong đó

Văn học Nam Bộ có truyền thống bám sát vào thực tế đời sống và Hồ Biểu Chánh là một nhà văn Nam Bộ kế thừa truyền thống đó một cách xuất sắc Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đó là chất hiện thực Không chủ ý đi sâu viết về văn hóa của người Nam Bộ nhưng tác phẩm của ông lại tái hiện một cách sinh động, tỉ mỉ, chân thực các phương diện văn hóa của người Việt Nam Bộ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX

Hầu hết các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đều viết trước thập niên 1950 nên sắc thái Nam Bộ trong các tác phẩm càng rõ nét, nhất là ở thể loại tiểu thuyết Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu văn hóa Nam Bộ qua các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

Trang 35

CHƯƠNG II VĂN HÓA NAM BỘ QUA

“HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ” HỒ BIỂU CHÁNH

2.1 Giới thuyết về khái niệm “hình tượng tác giả”

2.1.1 Về tác giả văn học

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa tác giả văn học như sau: “Nhìn bề

ngoài, tác giả làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học

Về thực chất tác giả văn học làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới Sự bắt buộc mô phỏng, theo đuôi thời thượng hoặc sáng tác không có bản sắc không làm nên tác giả văn học đích thực” [Lê Bá Hán và nnk 1997: 235] Như vậy, tác giả là người làm ra tác phẩm Đó là người có ý kiến riêng, có quan niệm mới về đời sống và thời cuộc; là người xây dựng thành công các hình tượng nghệ thuật, có ngôn ngữ nghệ thuật mới, có văn phong riêng

Trần Đình Sử định nghĩa: “Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang cảm quan thế giới đặc thù

và là trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật Do vậy, hình tượng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù của thi pháp học hiện đại” [Trần Đình Sử 1998: 126] Rõ ràng, tác giả là người kiến tạo, sáng tạo đồng thời là người tham gia

sự kiện nghệ thuật qua tác phẩm Tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có dáng dấp, dấu ấn của tác giả Tìm hiểu tác giả trong nghiên cứu văn học như là một khái niệm của thi pháp học là nghiên cứu “người xây dựng được ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách, có giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tượng, đặc trưng riêng” [Lê Bá Hán và nnk 1997: 242] Tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến tác giả như hoàn cảnh xuất thân, quê quán, đến thời đại sống, quá trình sáng tác của nhà văn góp phần giải mã các hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm Ngược lại, tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến hình tượng tác

Trang 36

giả trong tác phẩm là một việc làm cần thiết để từ đó có thể hiểu văn hóa, xã hội, thời đại nhà văn đang sống

2.1.2 Về hình tượng tác giả

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì hình tượng tác giả là: “Phạm trù thể hiện

cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi ( ) Hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học gắn với ý thức của tác giả về vai trò xã hội, tư thế văn học rất đa dạng của mình” [Lê Bá Hán và nnk 1997: 32] Cơ sở nghệ thuật của hình tượng tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tượng người phát ngôn văn bản Các vấn đề nhà văn muốn phản ánh về hiện thực đời sống, về văn hóa, xã hội đều thông qua hình tượng người phát ngôn này Đề tài, hệ thống nhân vật, ngôn ngữ, văn phong tác phẩm đều phản ánh hình tượng tác giả

Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo ra trong tác phẩm như hình tượng nhân vật nhưng theo một nguyên tắc khác: “Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật

về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối với thế giới nhân vật” [Trần Đình Sử 1998: 127]

L.Tônxtôi đã từng nói: “Khi ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm nghệ thuật của một tác giả mới, thì câu hỏi chủ yếu nảy sinh trong lòng chúng ta bao giờ cũng

là như sau: Nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ Anh ta có khác gì với tất cả những người tôi đã biết, và anh ta có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới mẻ về việc cần phải nhìn cuộc sống chúng ta như thế nào” [Dẫn theo Phương Lựu và nnk 1997: 204] Theo L.Tônxtôi, khi đọc tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu chính là tính cách của tác giả thể hiện trong đó Một nhà văn không có gì mới, không có sự sáng tạo nghệ thuật, không có nét riêng, cái mới thì tác phẩm không gây được sự

Trang 37

chú ý của người đọc Chính vì thế, điều mà một nghệ sĩ cũng như độc giả trông đợi

là cái riêng, cái mới, cái độc đáo mà nhà văn đem đến trong mỗi tác phẩm

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hình tượng tác giả là yếu tố quyết định nên phong cách nhà văn Hình tượng tác giả trong văn học là cái được biểu hiện trong tác phẩm một cách đặc biệt, không giống với nhân vật Ai đó đã nói rằng, mỗi nhà văn bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt Có nghĩa là trong tác phẩm văn học, cái tôi nghệ sĩ của nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó quyết định cách thức tổ chức tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm, và đó cũng là sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học

Tác giả A.Chichêrin trong Nhịp điệu của hình tượng cũng cho rằng: “Hình

tượng tác giả được sáng tạo ra như hình tượng nhân vật Đây cũng là sự chân thật nghệ thuật, không phải là chân lý của sự kiện, mà là chân lý của ý nghĩa, tư duy, như chân lý của thi ca” [Dẫn theo Trần Đình Sử 1996: 107,108] Như vậy, việc tìm hiểu hình tượng tác giả phải bắt nguồn từ chính tác phẩm nghệ thuật M.Bakhtin cũng cho rằng, không có hình tượng tác giả ngoài tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật nhà văn chỉ tồn tại trong tác phẩm, ông còn khẳng định tác giả hiện diện như một điểm nhìn, cái nhìn thể hiện qua tác phẩm [M.Bakhtin 1993: 78] Khi nghiên cứu tác giả trong thơ trữ tình, nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy nhà thơ thường xuyên tự giới thiệu, hình dung về mình trong tác phẩm Nhiều nhà nghiên cứu xem đó là hình tượng tác giả, là cái tôi thứ hai của tác giả hiện diện trong tác phẩm

Trong nghiên cứu văn học, hình tượng tác giả biểu hiện qua nhiều phương diện của tác phẩm nghệ thuật: “Có người xem hình tượng tác giả biểu hiện ở phương diện ngôn ngữ, có người xem hình tượng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong lập trường đời sống, đến giọng điệu lời văn Trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệu người trần thuật mà cả trong giọng điệu nhân vật” [Trần Đình Sử 1998: 129] Nhìn chung, hình tượng tác giả được tạo thành bởi những yếu tố cơ bản sau: ý

Trang 38

thức sáng tác của nhà văn, cách chọn đề tài, hệ thống nhân vật, ngôn ngữ, văn phong

Bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào cũng mang dấu ấn của chủ thể sáng tạo, dù

có thể mức độ đậm nhạt khác nhau Với trí tưởng tượng phong phú, khả năng lựa chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng khéo léo các thủ pháp nghệ thuật và ngôn từ, người nghệ sĩ đã sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật để thể hiện những tư tưởng tình cảm của mình “Tác phẩm là sự kết tinh quá trình tư duy nghệ thuật của tác giả, biến những biểu tượng, ý nghĩ, cảm xúc bên trong của nhà văn thành một sự thực văn hoá, xã hội khách quan cho mọi người soi ngắm, suy nghĩ” [Phương Lựu và nnk 1997: 241] Tìm hiểu hình tượng tác giả trong văn học là một cách để chúng ta nhìn ngắm, suy ngẫm, nghiên cứu về cái “sự thực văn hóa” đó, cũng là một cách tiếp cận văn hóa từ văn học

2.2 Các biểu hiện của văn hóa Nam Bộ qua “hình tượng tác giả” Hồ Biểu Chánh

Đọc tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, một cách gián tiếp ta thấy hiện lên cuộc đời, con người của chính ông Đó là những nơi bước chân ông đã đi qua, là mảnh đất mà ông gắn bó suốt đời, là những mối quan hệ đặc biệt trong công việc, là những vấn đề lịch sử xã hội mà ông trăn trở, là những ấn tượng sâu đậm, những vang động của cuộc sống thường nhật quanh ông… Dưới đây chúng tôi khảo sát một số bình diện chính

2.2.1 Ý thức sáng tác

2.2.1.1 Ý thức viết về phong tục, tập quán

Trong Đời của tôi về văn nghệ, Hồ Biểu Chánh cho biết ngay từ lúc mới bắt

đầu viết tiểu thuyết ông đã cố tâm viết loại tả chân về phong tục Theo cái nhìn của

chính tác giả, Ai làm được là tiểu thuyết nửa diễm tình nửa phong tục; Cay đắng

mùi đời là truyện phong tục và phiêu lưu; Tỉnh mộng, Tiền bạc bạc tiền, Thầy thông ngôn, Chút phận linh đinh, Kẻ làm người chịu, Vì nghĩa vì tình, Cha con nghĩa nặng, Khóc thầm, Con nhà nghèo, Con nhà giàu đều là những truyện phong tục đến

Trang 39

trăm phần trăm Ông quan sát và mô tả phong tục tập quán, nếp sống của nhiều giới

trong xã hội miền Nam thời Pháp thuộc [Nguyễn Khuê: Ý hướng chủ yếu trong tiểu

thuyết Hồ Biểu Chánh http://www.hobieuchanh.com] Trong Lời nói đầu tiểu thuyết

Ăn theo thuở Ở theo thời, nhà văn Hồ Biểu Chánh viết: “Quan sát phong tục rồi lần

lượt viết ra tiểu thuyết để cho bạn đồng thời xem giải muộn, ấy là một cách chơi mà tôi ưa, tôi thích hơn hết trong đời tôi” [Hồ Biểu Chánh 2006n: 5]

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX, do sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây, văn hóa Việt Nam có sự thay đổi và chuyển biến mạnh mẽ Nam Bộ là nơi diễn ra sự tiếp xúc và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Thói quen sinh hoạt, phong tục không chỉ biến đổi mạnh mẽ ở chốn thị thành mà ngay cả ở những làng quê yên bình sau rặng dừa, lũy tre Hồ Biểu Chánh không đả phá những giá trị cũ, hô hào mọi người theo cái mới như rất nhiều nhà văn lúc bấy giờ Ngược lại, ngòi bút ông tỉ mẫn, kiên trì đi vào mọi ngõ ngách của nông thôn, hang cùng ngõ hẻm của thị thành Nam Bộ

để ghi lại diện mạo văn hóa Nam Bộ lúc bấy giờ Muôn mặt của đời sống con người

từ cưới xin đến tang ma, các thói quen ăn, mặc, ở, đi lại của con người ở phía Nam

Tổ quốc được ông cẩn thận ghi lại Những chất liệu quý báu từ đời sống này giúp cho tác phẩm của ông trở nên chân thực, sinh động như ở ngoài đời thường

Có nhà nghiên cứu cho rằng: “Điều Hồ Biểu Chánh quan tâm sâu xa và thể hiện đậm nét trong tác phẩm của mình là: làm thế nào cho xã hội có được phong hóa lành mạnh Vốn là người bản chất nhân hậu, ông chưa bao giờ đứng về phía cái mới để đả kích cái cũ, hay ngược lại đứng về phía cái cũ để đả kích cái mới Thái độ của ông là tìm cách dung hòa cái mới và cái cũ, theo ông cái mới và cái cũ đều có những ưu điểm riêng của nó Hồ Biểu Chánh ý thức được một thực tế là cách sống mới trước sau cũng sẽ tấn công vào cách sống, phong tục gia đình cổ xưa mà ông cho là ưu việt, nên dường như một phần quan trọng trong sáng tác của ông là nhằm chứng minh cái phong tục gia đình của ta ấy là ưu việt, không cần thay đổi, không

nên thay đổi” [Dẫn theo Hoài Anh: Hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh, http://www.hobieuchanh.com] Người đọc dễ dàng bắt gặp quan niệm này trong rất nhiều tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Trong tác phẩm Bỏ chồng, nhà văn để cho

Trang 40

nhân vật thầy Thiện phát biểu suy nghĩ của mình: “Phong tục là gì? Ấy là những thói người ta quen làm Người đời nào thì có phong tục riêng theo đời nấy Đời dời đổi, người tấn hoá, thì phong tục cũng dời đổi tấn hoá theo vậy Ấy vậy mình chẳng nên coi phong tục xưa là xấu, còn phong tục nay là tốt, hay phong tục xưa là tốt, còn phong tục nay là xấu Song có một điều nầy là vạn vật hễ có bề mặt tự nhiên phải có bề trái Phong tục cũng vậy, có lợi tự nhiên có hại, có phải tự nhiên có quấy Cầm viết mà bình phẩm phong tục thì cần phải chỉ trích chỗ hại, chỗ quấy đó cho

người đồng thời thấy mà sửa hoặc tránh đi vậy thôi” [Hồ Biểu Chánh 2005e: 21]

Viết về phong tục hay các tập quán sinh hoạt của người Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh đều có sự so sánh những giá trị truyền thống với sự biến đổi hiện tại, qua đó gửi gắm suy nghĩ của mình đến với người đọc Giá trị về mặt văn hóa của tác phẩm của

Hồ Biểu Chánh là ở điểm này Người đọc có thể hình dung thấy sự vận động của

các giá trị văn hóa trong quá trình chuyển giao giữa cái cũ và cái mới

Hồ Biểu Chánh ý thức ghi lại phong tục, tập quán nhưng không chỉ dừng lại

ở đó Sau mỗi câu chuyện về phong tục là quan điểm của nhà văn Trong nhiều tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh chỉ cho người đọc thấy thái độ khắt khe tàn nhẫn hoặc sự tính toán vụ lợi của cha mẹ trong việc định vợ gả chồng cho con cái, rồi ở đoạn kết ông đặt vào miệng họ những lời hối hận muộn màng, sau khi con cái của họ hoặc đã phải chịu biết bao ê chề đau khổ, hoặc đã chết một cách thảm thương Ông Hương

sư Sắc, sau cái chết của Phong, ăn năn bảo vợ: “Thôi, bà đừng có buồn nữa Cũng tại nơi mình bắt chước thói đời, có con lại dạy dỗ nó lại tập cho nó quen tánh ham giàu ham sang, bội tình bội nghĩa, nên bây giờ nó phải chết về tánh ấy, nghĩ chẳng

lạ gì….” [Hồ Biểu Chánh 2006b: 146] Ông Hội đồng Đạt khi nhìn nhận Thu Vân là

dâu, đã buột miệng: “Thiệt là dâu hiền! Đáng quá! Vậy mà thuở nay tôi ghét vợ chồng nó chớ! ” [Hồ Biểu Chánh 2005d: 189] Bà Cả Kim khi biết Thanh Nguyên chính là cháu nội của mình và vợ chồng Như Thạch đã chết vì sự cố chấp của bà, hay đúng hơn vì chế độ gia đình hep hòi và thành kiến xã hội nghiêm khắc, đã thở

dài thốt ra: “Tại tôi hết thảy!” [Hồ Biểu Chánh 2005a: 218] Hồ Biểu Chánh chủ

trương trai gái phải được tự do kết hôn Tình yêu mới là yếu tố quan trọng của hôn

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w