bình của trẻ em, tỷ lệ người được học nghề…; y tế- sức khỏe tuổi thọ, tỷ lệ tử vong, bệnh tật, bạo lực…; tư liệu sản xuất đất đai, thông tin, công nghệ, vốn, tài chính – tín dụng; việc l
ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một số vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ven đô Nam bộ.
Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu bao gồm những cá nhân và hộ gia đình đang sinh sống và làm việc tại xã Trung An, thành phố Mỹ Tho – tỉnh Tiền Giang.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung
Mục tiêu chính của luận văn là xác định thực trạng bình đẳng giới,trong gia đình nông thôn ven đô Nam bộ.
Mục tiêu cụ thể
Phân tích sự phân công lao động theo giới trong gia đình từ đó nhận diện vai trò giới của nam và nữ trong gia đình cư dân ven đô thành phố Mỹ Tho bối cảnh hiện nay
Phân tích trên cơ sở giới những nguồn lực cơ bản mà phụ nữ và nam giới ở vùng nông thôn ven đô được tiếp cận: giáo dục (tỉ lệ học sinh đi học, số năm đi học trung bình của trẻ em, tỷ lệ người được học nghề…); y tế- sức khỏe (tuổi thọ, tỷ lệ tử vong, bệnh tật, bạo lực…); tư liệu sản xuất (đất đai, thông tin, công nghệ, vốn, tài chính – tín dụng); việc làm và thu nhập (tỉ lệ có công ăn việc làm, ngành nghề, tính chất công việc, lương, phụ cấp…)
Xác định mức độ bình đẳng giới trong quyền ra quyết định các vấn đề trong gia đình bao gồm quyền phân bổ nguồn lực và quyền quyết định đầu tư nguồn lực, quyền quyết định về các lĩnh vực khác nhau trong gia đình (công việc cá nhân, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng trong gia đình và những công việc quan trọng khác)
Mô tả vai trò giới trong hoạt động cộng đồng bao gồm sự tham gia của phụ nữ và nam giới vào hoạt động chính trị và quyết định trong cộng đồng (bầu cử ứng cử, bàn luận, chính trị, đóng góp ý kiến cho sự phát triển của cộng đồng…)
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học
Đề tài này là một sự đóng góp vào hệ thống lý luận và phương pháp luận nghiên cứu gia đình và giới
Góp phần hoàn thiện hệ thống khái niệm xã hội học trong bối cảnh mới.
Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cao học này sẽ giúp tác giả và một số người quan tâm hiểu rõ hơn về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ven đô Nam bộ trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay
Đồng thời giúp tác giả vận dụng các kiến thức Xã hội học đã được tiếp thu, rèn luyện và nâng cao kỹ năng nghiên cứu khoa học.
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
Thuận lợi
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài gặp những thuận lợi như sau:
- Được sự hỗ trợ của các cán bộ xã Trung An và cán bộ các ấp trong mẫu nghiên cứu
- Sự tích cực tham gia và hỗ trợ nhiệt tình của các cán bộ xã, hội phụ nữ, cán bộ tư pháp trong quá trình điều tra tại thực địa, đặc biệt là trong việc liên hệ với địa phương và tạo điều kiện cho điều tra viên thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
- Sự hỗ trợ nhiệt tình của người dân địa phương.
Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi, nhóm nghiên cứu cũng gặp phải một số khó khăn trong quá trình thực hiện Những khó khăn này, dù mang tính khách quan hay chủ quan, cũng gây ảnh hưởng nhất định tới cuộc nghiên cứu Đặc điểm địa hình: Do địa bàn các ấp của xã Trung An cũng khá rộng nên việc di chuyển từ ấp này qua ấp khác, từ hộ gia đình này qua hộ gia đình khác cũng khá khó khăn
Tính nhạy cảm của chủ đề nghiên cứu: Trước hết, đề tài có đề cập đến một số vấn đề tế nhị và nhạy cảm như tình trạng bạo lực gia đình, vấn đề ngoại tình… Người trả lời nếu đã từng rơi và tình huống này thì rất e ngại trả lời những câu hỏi trực tiếp trong bảng hỏi Do vậy, nhóm nghiên đã bổ sung thêm bằng những thông tin định tính Thực tế cho thấy, người dân chỉ trả lời dễ dàng những vấn đề này hơn trong quá trình trò chuyện phỏng vấn sâu
Tính di động của đối tượng nghiên cứu: Phần đông người trả lời là những người lao động trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp trong địa bàn xã Trung An và một số xã lân cận nên họ thường đi làm vào giờ hành chính Để thu thập thông tin nhóm nghiên cứu đã phải đi đến hộ gia đình nhiều lần mới có thể gặp gỡ được đối tượng Ngoài ra, trong một số trường hợp còn phải đi phỏng vấn vào buổi tối
Sai số trong điều tra và hạn chế của số liệu thể xảy ra do nhiều lý do khác nhau như:
- Do tính di động cao của người dân nên một số hộ gia đình được chọn không tham gia trả lời
- Người được hỏi cung cấp thông tin không chính xác đối với các chủ đề có liên quan đến vấn đề bạo lực trong gia đình…
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CƠ SỞ LÝ LUẬN
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Quan điểm giới có nguồn gốc từ các lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển rất phát triển ở các xã hội phương Tây, bắt đầu từ giữa thế kỷ XX Lý thuyết nữ quyền tạo nên các phong trào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị của nam giới, phê phán quyết liệt chế độ áp bức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ, tạo lập bình đẳng giới Mặc dù có chung mục đích là vì sự phát triển của phụ nữ chống lại chế độ nam trị, nhưng lý thuyết nữ quyền có nhiều trường phái khác nhau; thậm chí, có những trường phái mâu thuẫn nhau gay gắt Có thể nêu một số lý thuyết nữ quyền có ảnh hưởng mạnh đến xã hội phương Tây thời gian qua là: Nữ quyền tự do, Nữ quyền mác-xit, Nữ quyền xã hội chủ nghĩa, Nữ quyền phúc lợi, Nữ quyền triệt để, Nữ quyền hiện sinh, Nữ quyền phân tâm;… và gần đây xuất hiện một số lý thuyết nữ quyền mới, như: Nữ quyền hậu hiện đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụ nữ thế giới thứ ba…
Chính các lý thuyết nữ quyền này đã tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội và đã tạo nên những quan điểm lý luận và làn sóng nữ quyền đấu tranh giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới rất sôi động ở các xã hội này hơn một nửa thế kỷ qua Đó là làn sóng Phụ nữ trong phát triển (WID) xuất hiện vào đầu những năm 70, Phụ nữ và phát triển (WAD) xuất hiện vào cuối những năm 70, Giới và sự phát triển (GAD) xuất hiện vào những năm 80 của thế kỷ trước và ngày càng được điều chỉnh, bổ sung và tiếp tục phát triển Trong 3 quan điểm tạo nên những cuộc tranh luận nữ quyền và phong trào xã hội ở các nước phát triển phương Tây thì WAD và GAD được hình thành trên cơ sở lý luận mác-xit và xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, quan điểm GAD, sau khi xuất hiện đã tạo nên phong trào xã hội rộng lớn và có đóng góp tích cực đến sự phát triển không chỉ của phụ nữ mà của cả xã hội, không chỉ ảnh hưởng mạnh ở xã hội phương Tây phát triển mà còn ở nhiều xã hội đang phát triển, nhất là châu Á, châu Phi và Nam Mỹ
Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, qua giao lưu và hội nhập, các lý thuyết nữ quyền từng bước được truyền bá vào Việt Nam và sự truyền bá này ngày càng mạnh mẽ và đa dạng Quan điểm Nữ quyền trong thời gian qua đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các công trình nghiên cứu và triển khai ứng dụng những chính sách bình đẳng Giới Hệ thống các quan điểm của lý thuyết Nữ quyền bao gồm sự mô tả, phân tích, giải thích nguyên nhân cũng như hậu quả của tình trạng bị áp bức của phụ nữ và đưa ra những chiến lược giải phóng phụ nữ Ann Oakey, người đưa thuật ngữ “giới” vào xã hội học, là một tác giả theo thuyết nữ quyền (Marshall, 1994:197) Và chính các tác giả nữ quyền là những người đã khẳng định quan điểm giới trong xã hội học Tầm quan trọng của giới với tư cách là hệ thống phân tầng trong đó nữ giới bị xếp hạng và đánh giá thấp hơn nam giới chủ yếu được nhấn mạnh bởi các nhà xã hội học chịu ảnh hưởng thuyết nữ quyền (Jarry et al.,1991:194-5) Ở Việt Nam tuy chưa có các giáo trình chính thức về Giớ và một số nội dung khái niệm, một số lý thuyết về Giới, về phương pháp tiếp cận Giới,… cũng đã có một số tác giả là các chuyện gia Việt Nam trong lĩnh vực Khoa học về gia đình và phụ nữ như Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng, Trần Thị Quế, Đỗ Thị Bình quan tâm nghiên cứu và biên soạn tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo Vào năm 1999, tác giả Nguyễn Linh Khiếu đã cho bản cuốn sách có nhan đề “Nghiên c ứu và đào tạo Giới ở Việt Nam” trong đó trình bày một lọat những vấn đề như: lý thuyết Giới và phát triển, công tác giảng dạy, đào tạo và tập huấn về Giới, đánh giá tác động của quan điểm Giới với thực tiễn xã hội, gia đình và dự báo một số tác động trong tương lai Hay như tài liệu nghiên cứu “Tìm hiểu Xã hội học về Giới” của tác giả Trần Hồng Vân (2001) Trong đó trình bày những quan điểm về giới trên thế giới và ở Việt Nam dưới góc độ Xã hội học, đồng thời trình bày phương pháp xã hội học và vấn đề ứng dụng trong nghiên cứu thực nghiệm về giới Tiếp theo, phải kể đến cuốn sách “Lý thuy ết nữ quyền nghi ên c ứu gia đ ình quan điểm Giới” của tác giả Lê Ngọc Văn (2006)
Trong tác phẩm đó, tác giả đã giới thiệu lịch sử hình thành tư tưởng nữ quyền, một số quan điểm cơ bản, các trường phái lý thuyết, những cống hiến và những hạn chế của lý thuyết nữ quyền trong nghiên cứu gia đình, những điểm cần lưu ý trong quá trình vận dụng lý thuyết nữ quyền, lý thuyết giới vào nghiên cứu gia đình ở Việt Nam.
1.1.2 Tài liệu lồng ghép Giới
Lồng ghép giới là phương pháp tiếp cận và là một biện pháp mang tính chiến lược nhằm đạt được bình đẳng giới trên diện rộng trong xã hội bằng cách đưa yếu tố giới vào mọi thiết chế cũng như các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Phương pháp lồng ghép giới không chỉ chú trọng tới phụ nữ mà còn đề cập đến các biện pháp khắc phục nguyên nhân sâu xa của sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, tìm cách đáp ứng tối đa những nhu cầu, nguyện vọng khác nhau của họ thông qua các dụng trong các nghiên cứu cũng như trong các chương trình hành động của nhiều quốc gia nhằm thúc đẩy bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ Chẳng hạn, như tài liệu “L ồng ghép gi ới: chiến lược phát huy b ình đẳng giới” của Ủy ban tư vấn đặc biệt về các vấn đề Giới và tiến bộ phụ nữ của Liên Hợp Quốc Tài liệu này cho rằng lồng ghép giới là một chiến lược đã được toàn cầu chấp nhận nhằm phát huy bình đẳng giới Ngoài ra, phương pháp lồng ghép giới cũng được vận dụng vào các chương trình nghiên cứu giảm nghèo Cụ thể như nghiên cứu “L ồng ghép giới trong phân tích ngh èo khó” của
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm được triển khai tại các quốc gia với sự tài trợ của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á và một số tổ chức phi chính phủ (NGO) Những nghiên cứu này tập trung vào một số vấn đề sau: thực trạng vấn đề bình đẳng giới, đề xuất các chiến lược ưu tiên nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, khác biệt giới trong nền kinh tế chuyển đổi hiện nay… Cụ thể như báo cáo tóm tắt “Đưa giới v ào phát tri ển” của UNDP đã chỉ ra rằng bình đẳng giới là vấn đề trung tâm của phát triển Báo cáo này sử dụng nhiều số liệu và phân tích khác nhau để bàn về các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới ở các nước đang phát triển Đồng thời, báo cáo đề xuất một chiến lược để nâng cao sự bình đẳng giới, mang lại quyền hạn và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới Hay như báo cáo “Tóm t ắt t ình hình gi ới” được thực hiện với sự tài trợ của Liên Hiệp Quốc Báo cáo trình bày những phát hiện gần đây về kết quả bình đẳng giới đối với cả phụ nữ và nam giới trên các lĩnh vực như giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, tình trạng bạo lực trong gia đình, buôn bán phụ nữ… Trên cơ sở đó, báo cáo đã so sánh vai trò, nhu cầu, ưu tiên khác nhau giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội và tìm hiểu mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng vẫn còn tồn tại giữa nam và nữ Báo cáo “Chu ẩn bị cho tương lai: Các chiến lược ưu tiên nhằm thúc đẩy b ình đẳng gi ới ở Việt Nam” do Ngân hàng thế giới thực hiện đã phân tích thực trạng giới và việc làm trong nền kinh tế chuyển đổi hiện nay ở Việt Nam Trên cơ sở đó, báo cáo đã xác định những lĩnh vực ưu tiên nhằm phát huy quyền bình đẳng giới Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giới như báo cáo “Khác bi ệt giới trong nền kinh t ế chuyển đổi ở Việt Nam” do Văn phòng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Tổ chức Nông nghiệp - Lương thực Liên Hiệp Quốc biên soạn với sự hỗ trợ của UNDP cho xây dựng chương trình và chính sách (2002), báo cáo “L ồng ghép giới trong quản lý ngu ồn lợi ven biển ở Việt Nam” được tiến hành bởi tổ chức phi chính phủ MCD… Ở Việt Nam, những nghiên cứu thực nghiệm về Giới bắt đầu được tiến hành vào những năm 90 của thế kỷ XX 2 Những nghiên cứu trong thời kỳ đầu chủ yếu tập trung phân tích về đời sống của các nhóm phụ nữ theo quan điểm giới Cụ thể, như nghiên cứu
“Địa vị phụ nữ ngư dân ở một số làng đánh cá miền Trung” của tác giả Mai Huy Bích và Lê Thị Kim Lan được tiến hành tại Thừa Thiên – Huế năm 1999 Tác giả đã gợi ra nhiều vấn đề lý thuyết về mối quan hệ giữa đóng góp kinh tế của phụ nữ vào thu nhập gia đình với địa vị của họ Có thể đánh giá việc nghiên cứu giới ở những năm đầu cơ bản vẫn hướng về mục tiêu học tập, phổ biến và truyền bá quan điểm giới là chính
Tiếp theo đó, những nghiên cứu về Giới ở nước ta được thực hiện trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được Đây là thời kỳ các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và thực tiễn theo quan điểm giới được triển khai một cách vừa sâu sắc vừa quy mô Quan điểm giới thực sự đã thấm nhuần trong việc triển khai các hướng nghiên cứu nhằm xây dựng chính sách, chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; nghiên cứu điều tra cơ bản về gia đình, phụ nữ và vai trò của người phụ nữ, nghiên cứu những tiềm năng và nguồn lực của gia đình trong phát triển kinh tế hộ; nghiên cứu chuyên sâu về sản xuất, tái sản xuất và phúc lợi gia đình; triển khai các dự án, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội có lồng ghép giới Cụ thể, dự án "Thúc đẩy b ì nh đẳng giới v à nâng cao quy ền năng kinh tế cho phụ nữ" do tổ chức Sida tài trợ tại 3 tỉnh Ninh Bình, Kiên Giang và
Quảng Ngãi Nghiên cứu “Nh ững cản trở đối với sự phát triển của em gái trong gia đ ình Vi ệt Nam – Xưa và Nay” của Giáo sư Lê Thi Bài viết nêu ra những quan niệm về vai trò, địa vị của các em gái từ khi mới sinh đến khi lập gia đình, qua đó, chỉ ra những biểu hiện của bình đẳng và bất bình đẳng về giới trong gia đình, có so sánh xưa và nay Thời kỳ thứ ba của nghiên cứu về Giới ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XXI Quan điểm giới đã thực sự làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của nhiều người Việt Nam đối với các vấn đề phụ nữ, bình đẳng, hội nhập và phát triển Các nghiên cứu khoa học thời kỳ này tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành, hệ thống an sinh và bảo trợ xã hội, việc thực hiện chính sách xã hội, địa vị của người phụ nữ trong xã hội, quyền của phụ nữ, phụ nữ tham gia công tác quản lý và lãnh đạo, hệ thống dịch vụ xã hội hỗ trợ gia đình, giới và công tác xóa đói giảm nghèo, vấn đề buôn bán phụ nữ và trẻ em, bạo hành chống phụ nữ trong gia đình và xã hội Trên cơ sở những kết quả thu được, các nghiên cứu đã góp phần nhận diện thực trạng quan hệ giới và bất bình đẳng giới, những sự vi phạm quyền của phụ nữ, sự bất bình đẳng giới của hệ thống pháp luật, những cản trở sự tham gia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ, những thế mạnh và tiềm năng của mỗi giới trong điều kiện kinh tế thị trường ; đồng thời, đã đề xuất những giải pháp thực tiễn nhằm phát huy tiềm năng, nâng cao địa vị của người phụ nữ Việt Nam giai đoạn hiện nay
Chẳng hạn, đề tài “Nghiên c ứu vấn đề b ình đẳng giới trong tổ chức cuộc sống gia đ ình ở B ình Định - Th ực trạng v à gi ải pháp” của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thụy, Hội
Liên hiệp Phụ nữ Bình Định thực hiện trong năm 2002-2003 đã phản ánh thực trạng về bình đẳng giới, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện bình đẳng giới trong gia đình Hay đề tài nghiên cứu “Vai trò ng ười phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá tr ình phát tri ển kinh tế - xã h ội v ùng đồng b ào dân t ộc thiểu số tỉnh B ình Thu ận” do Trung tâm nghiên cứu Giới và Gia đình – Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ thực hiện năm 2003 - 2004 Việc phân tích sự phân công lao động theo giới cũng như tác động của nó đến phân chia quyền lực trong gia đình ở người Raglai và Cơ ho cho thấy quyền lực ở hai cộng đồng này thực tế do những người chồng nắm giữ, hoặc có xu thế chuyển sang người chồng Dự án “Điều tra cơ bản về thực trạng b ình đẳng giới và đánh giá tác động của chính sách đối với phụ nữ v à nam gi ới nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì, Viện Gia đình và
Giới thực hiện năm 2004 – 2006, cho thấy vẫn còn nhiều khía cạnh bất bình đẳng giữa nam và nữ, cụ thể là tình trạng việc làm có thu nhập thường xuyên của nam cao hơn nữ Nam giới có nhiều lợi thế trong việc tìm kiếm và lựa chọn ngành nghề cũng như cơ hội tuyển dụng Trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khuôn mẫu giới truyền thống trong phân công lao động vẫn chưa thay đổi nhiều Nguyên nhân của tình trạng trên một phần là do việc thực hiện các chính sách đối với lao động nữ còn nhiều bất cập, nhưng nguyên nhân bao trùm vẫn là định kiến giới hiện còn tồn tại trong tư tưởng của nhiều người trong xã hội
Ngoài ra còn rất nhiều dự án nghiên cứu, bài viết của các tác giả là những người đã có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới Những nội dung mà các tác giả quan tâm xoay quanh một số vấn đề sau: sự phân công lao động, quan hệ quyền lực giữa các thành viên trong gia đình, sự tham gia của phụ nữ vào công việc xã hội, nâng cao nhận thức của người dân về bình đẳng giới…
Về phương pháp luận, càng ngày các nhà nghiên cứu càng chú ý đi sâu nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trên cơ sở thực nghiệm Các phương pháp áp dụng vào nghiên cứu vấn đề giới càng hoàn hảo hơn, chẳng hạn như phương pháp quan sát, phỏng vấn, khai thác và phân tích tư liệu thứ cấp và sơ cấp Ngoài ra, phương pháp chuyên khảo cũng được chú ý hơn (phương pháp nghiên cứu trường hợp) Những nghiên cứu thực nghiệm này dựa trên hệ thống lý luận và phương pháp luận xã hội học và được thực hiện trong bối cảnh kinh tế – xã hội ở từng địa phương cụ thể.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
2.1 Giới: là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia các nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể
2.2 Bình đẳng giới: là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống một cách bình đẳng, được hưởng thành quả một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam và nữ từ thái cực này sang thái cực khác
Và khái niệm này cũng không phải là sự tuyệt đối hoá bằng con số hay tỷ lệ ngang nhau mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt Đồng thời khái niệm này còn đề cập đến việc tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại
2.3 Gia đ ình: là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về quyền lợi và trách nhiệm, giữa họ có những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ Đồng thời có những quy định rõ ràng
2.4 Vai trò giới: là những công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ và nam giới thực tế đang làm Thông thường đây cũng là những công việc mà xã hội trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hoặc đàn bà
Trên thực tế, phụ nữ thường làm ba nhóm công việc sau: lao động kiếm sống (làm việc tại công sở, nhà máy, lao động sản xuất trên đồng ruộng), lao động nuôi dưỡng (nội trợ gia đình và chăm sóc người già, trẻ em v.v…), công việc cộng đồng (dọn vệ sinh ngõ xóm, đường phố v.v ) Nam giới chủ yếu làm hai nhóm công việc sau: lao động kiếm sống (làm việc tại công sở, nhà máy, lao động sản xuất trên đồng ruộng, Công việc cộng đồng (họp xóm thôn, tổ dân phố, đi dự các đám hiếu, hỉ, tổ chức các lễ hội…) Nam giới thường ít làm các công việc nuôi dưỡng vì xã hội hầu như không trông chờ người đàn ông tham gia các công việc ấy
Quan niệm về quyền hạn, trách nhiệm, công việc của đàn ông và đàn bà có thể khác nhau tuỳ theo vùng miền, dân tộc và thời gian Tóm lại, khi nói đến vai trò giới chúng ta cần lưu ý là phụ nữ được trông chờ cùng một lúc làm nhiều công việc khác nhau như sản xuất, tái sản xuất và các công việc cộng đồng Nam giới được trông chờ đưa ra các quyết định, còn phụ nữ thì thừa hành công việc Tạo thêm việc làm cho phụ nữ mà không có sự chia sẻ của nam giới và sự hỗ trợ của xã hội thì đều là không tốt
Theo Từ điển Xã hội học (Nxb Thế giới, 2002), khái niệm “vai trò giới” chỉ những kỳ vọng văn hóa chủ đạo và chuẩn mực xã hội về phương diện năng lực, đặc điểm nhân cách, thái độ, động cơ và phương thức hành vi đặc trưng và thích hợp đối với nữ giới và nam giới
2.5 S ự phân công lao động: là sự phân chia toàn bộ quá trình lao động thành những phần việc nhỏ và trao cho những cá nhân hoặc nhóm lao động có nghề nghiệp và trình độ phù hợp để thực hiện
Sự phân công lao động theo giới đề cập đến công việc khác nhau của nam giới và phụ nữ trong gia đình, trong sản xuất và trong cộng đồng Sự khác nhau này có liên quan đến vị trí quyền lực của mỗi giới và che giấu sự tồn tại đáng kể của sự bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, nó ảnh hưởng và khẳng định vị trí phụ thuộc của phụ nữ Một số nhiệm vụ có truyền thống là “công việc của phụ nữ” trong khi đó, các công việc khác có truyền thống là “công việc của nam giới” Công việc của phụ nữ thường được trả lương thấp và bị coi thường, trong khi nam giới được giao công việc có tầm quan trọng về mặt xã hội tương đối cao hơn ( Nguy ễn Thị Nghĩa v à Bùi Th ị An, 2002 ) Ở nông thôn, có sự khác biệt về thời gian làm việc giữa phụ nữ và nam giới, tuy thời gian dành cho công việc tạo thu nhập là như nhau, nhưng so với nam giới, phụ nữ phải mất thời gian gấp hai lần cho việc nhà không được thù lao Vì vậy phụ nữ lúc nào cũng mất thời gian làm việc nhiều hơn đáng kể so với nam giới dù ở thời điểm nào trong cuộc đời mình dẫn đến thời gian giành cho nghỉ ngơi của họ ít hơn khá nhiều so với nam giới và cũng không có thời gian cho các hoạt động xã hội và học tập trao đổi kinh nghiệm
2.6 Quy ền hạn: Quyền hạn là quyền tự chủ trong quá trình quyết định và quyền đòi hỏi sự tuân thủ quyết định gắn liền với một vị trí nhất định trong cơ cấu tổ chức Quyền hạn bao gồm quyền độc lập trong việc sở hữu đất đai, quản lý tài sản, tham gia hoạt động tạo thu nhập, phân công lao động, vui chơi giải trí, hôn nhân và quan hệ gia đình
2.7 Ngu ồn lực: Trong đề tài này được hiểu như là những yếu tố làm tăng khả năng tham gia và thụ hưởng của phụ nữ Nguồn lực bao gồm giáo dục, y tế, sức khỏe, việc làm, thu nhập
2.8 Ti ếng nói: thể hiện vị trí, địa vị kinh tế của người phụ nữ trong gia đình Người phụ nữ trong gia đình cố gắng thể hiện tiếng nói trong việc quyết định và phân bổ và đầu tư nguồn lực
2.9 Vùng ven đô: phần đất đai và dân cư nằm sát phía ngoài các đô thị.
HƯỚNG TIẾP CẬN KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trong các lý thuyết giới đã trình bày, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, không phải lý thuyết nào cũng dễ thao tác về mặt thực nghiệm và có thể ứng dụng trong bối cảnh ở Việt Nam Với tư cách là người đang học hỏi, tác giả luận văn sẽ chọn những hướng tiếp cận có thể giúp mình nhận diện được những vấn đề thực tế tốt hơn cả Một trong những hướng tiếp cận đó là hướng tiếp cận giới Cách tiếp cận giới dựa theo khung phân tích giới của Caroline Moser Khung Moser được xây dựng theo phương pháp tiếp cận "Phụ nữ trong phát triển" và không xem các vấn đề của phụ nữ là các vấn đề riêng biệt Khung Moser được xây dựng trên 3 khái niệm chính: vai trò ba mặt của phụ nữ, các nhu cầu giới thực tế và lợi ích chiến lược, các phương pháp tiếp cận chính sách
"Phụ nữ trong phát triển " và "Giới và phát triển"
Khung có các công cụ có thể sử dụng để lập kế hoạch ở tất cả các cấp độ từ cấp dự án đến cấp vùng, khu vực:
Thứ nhất, xác định vai trò giới (vai trò ba mặt) bao gồm vai trò sản xuất: tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập như Ví dụ trồng trọt, chăn nuôi…; vai trò tái sản xuất: sinh sản và nuôi dưỡng, đảm bảo việc duy trì và tái tạo của lực lượng sản xuất cho hiện tại và tương lai Ví dụ, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa…); vai trò cộng đồng (Công tác hỗ trợ tiêu thụ tập thể và duy trì các nguồn lực cộng đồng Ví dụ: chính quyền địa phương, hệ thống quản lý thủy lợi, giáo dục, vv)
Thứ hai, xác định và đánh giá nhu cầu giới tính, phân biệt giữa nhu cầu thực tế (điều kiện sống không đầy đủ) và nhu cầu chiến lược (quyền lực và kiểm soát để đạt được bình đẳng giới)
Thứ ba, tìm hiểu việc tiếp cận và kiểm nguồn lực bên trong hộ gia đình theo giới tính, ra quyết định về việc sử dụng các tài sản khác nhau
Thứ tư tìm hiểu việc phụ nữ quản lý các vai trò khác nhau của họ, và tìm cách lập kế hoạch can thiệp hỗ trợ phụ nữ trong phát triển
Thứ năm, đánh giá các chính sách và các phương pháp tiếp cận khác nhau (phúc lợi, công bằng, chống đói nghèo, hiệu quả, và trao quyền) trong đó đề cập vai trò ba mặt, nhu cầu chiến lược và thực hành của phụ nữ
Trong luận văn này, tác giả sẽ vận dụng cách tiếp cận giới là cơ bản Các cách tiếp cận khác chỉ mang tính hỗ trợ nhằm lý giải nguyên nhân của vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nông thôn Đồng thời giúp chỉ ra những khả năng chuyển tải tiếp tục sự bất bình đẳng giới cho các thế hệ tiếp theo
3.2 Cách tiếp cận chức năng – cấu trúc
Theo lý thuyết chức năng luận (functionalism), xã hội được quan niệm như một tổng thể trong đó bao gồm nhiều bộ phận có liên hệ với nhau, mỗi bộ phận đều có chức năng riêng của mình nhằm duy trì sự ổn định của xã hội Gia đình được coi là một đơn vị quan trọng và thực hiện những chức năng cơ bản và then chốt đối với xã hội Các thành viên trong gia đình cũng thực hiện những chức năng của mình để duy trì sự ổn định và phát triển của gia đình
Theo T.Parsons để gia đình hoạt động có hiệu quả thì phải có sự phân công lao động theo giới Trong gia đình, chồng là người đi làm kiếm sống, tạo ra thu nhập và vợ ở nhà chăm sóc con cái, lo việc nhà Như vậy, người chồng đóng vai trò mà T.Parsons gọi là “công cụ”, anh ta suốt ngày đi làm trong một xã hội cạnh tranh và hướng tới sự thành đạt Điều đó, dẫn anh ta tới chỗ căng thẳng và lo lắng Người vợ đóng vai trò tình cảm theo nghĩa chị chăm sóc, hỗ trợ về tình cảm và tạo ra sự an toàn không chỉ cho con mà cả cho chồng Chị giảm bớt sự căng thẳng của chồng bằng cách yêu thương, hiểu thấu và chu đáo với chồng Theo nghĩa này, vai trò công cụ và tình cảm của chồng và vợ bổ sung cho nhau, thúc đẩy sự cố kết trong gia đình
Quan điểm của ông đã đẩy phụ nữ về vai trò trong nhà, và hợp pháp hóa việc chỉ nam giới đi làm kiếm thu nhập để chiếm giữ uy thế với phụ nữ Parsons nói rằng sự phân công lao động trong đó nam giới có ưu thế và phụ nữ thì lệ thuộc là có lợi cho xã hội Đó là sự phản chức năng Và điều này sẽ làm cản trở sự phát triển của người phụ nữ nói riêng và xã hội nói chung Áp dụng lý thuyết này vào đề tài sẽ giúp lý giải những nguyên nhân của sự bất bình đẳng giới trong các gia đình nông thôn, nơi mà yếu tố định kiến giới vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng khá sâu sắc đến cuộc sống của người dân
3.3 Cách tiếp cận xung đột
Khác với lý thuyết chức năng cấu trúc, lý thuyết xung đột coi xã hội về cơ bản không mang tính hợp tác mà chia rẽ Dưới cách tiếp cận xung đột, gia đình ngoài việc đóng góp cho sự ổn định xã hội còn là nơi diễn ra sự bất bình đẳng về của cải, nguồn lực và tiếng nói trong xã hội Quan điểm này cho rằng, giữa các thành viên trong gia đình không phải lúc nào cũng có thể hòa hợp với nhau, giữa họ luôn có bất đồng và người chiến thắng thường là những người có quyền hơn Với cách tiếp cận này, gia đình là một đơn vị góp phần cho sự bất công xã hội, vì nó là nơi chuyển giao quyền lực, của cải, đặc quyền đặc lợi từ thế hệ này qua thế hệ khác Như vậy, vị thế xã hội của cha mẹ, cùng với nó là những lợi thế về kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến cơ hội đạt được vị thế cao hay thấp của thế hệ sau Vì lẽ đó, gia đình duy trì sự bất bình đẳng
Từ góc nhìn xung đột, chúng tôi cố gắng chỉ ra và phân tích những lực lượng cạnh tranh, xung đột lẫn nhau trong gia đình ở vùng nông thôn ven đô đang chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi quá trình đô thị hoá ở vùng ven đô Nam Bộ
3.4 Cách tiếp cận dưới góc độ lối sống
Hoạt động sống của con người chịu ảnh hưởng bởi những điều kiện khách quan và chủ quan Điều kiện chủ quan có thể là các điều kiện về tâm lý xã hội, tình trạng chung của ý thức con người, thái độ đối với môi trường xung quanh… Điều kiện khách quan có thể là điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, các điều kiện môi trường tự nhiên… Nói cách động, chi phối và ảnh hưởng đến các hoạt động sống của người này hay người khác Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong những gia đình nông thôn ven đô cũng cần đặt nó trong mối tương quan với điều kiện chủ quan và điều kiện khách quan có tác động đến lối sống của họ một cách cụ thể để phân tích những nguyên nhân văn hóa – xã hội, những nguyên nhân mang tính thể chế, góp phần tạo sự bình đẳng cho cả nam và nữ trong gia đình và ngoài xã hội
Với cách tiếp cận lối sống, không những giúp thực hiện nghiên cứu định lượng bằng cách phân tích mối tương quan giữa các yếu tố biến đổi điều kiện sống với các hoạt động sống của gia đình, mà còn giúp phân tích những yếu tố về tình cảm, thái độ và những động cơ của các nhóm gia đình khác nhau.
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Luận văn đưa ra các giả thuyết xung quanh vấn đề bình đẳng giới trong những gia đình nông thôn ven đô như sau:
1) Những biến đổi về những chính sách kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa làm biến đổi về cơ cấu chức năng gia đình, làm thay đổi về vai trò giới
2) Trình độ học vấn và nghề nghiệp chuyên môn của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là của thế hệ con cái, dần dần làm thay đổi trật tự quyền lực trong gia đình truyền thống theo hướng giảm dần vai trò của người đàn ông, tăng cường tính độc lập và xu hướng bình đẳng, tự do cá nhân giữa các thành viên trong gia đình
3) Gia đình ngoài việc đóng góp cho sự ổn định xã hội còn là nơi diễn ra sự bất bình đẳng về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói trong xã hội Bối cảnh của những gia đình nghèo làm giảm cơ hội tiếp cận với nguồn lực của trẻ em gái, làm cho họ trở thành những người bị lệ thuộc nhiều hơn trong tương lai.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguồn dữ liệu mà tác giả sử dụng trong luận văn là một phần trong một đề tài nghiên cứu “Những biến đổi của gia đình nông thôn ven đô Nam Bộ trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóá” Đề tài này được thực hiện tại ba tỉnh, nhưng tác giả chỉ chọn những dữ liệu định tính và định lượng của xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang để làm dữ liệu cho luận văn này Đồng thời, tác giả cũng tiến hành thêm một số cuộc phỏng vấn sâu để thu thập những thông tin về quan hệ giới trong gia đình Trên cơ sở đó, tác giả có thể đưa ra những nhận định về mức độ bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ven đô thành phố Mỹ Tho hiện nay
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu xã hội học Đề tài kết hợp cả phương pháp luận nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định lượng là những nghiên cứu hướng vào việc thiết kế những quan sát định lượng các biến, phương pháp đo lường phân tích mẫu và kiến giải mối quan hệ giữa các biến bằng các quan hệ định lượng Việc lý giải các hiện tượng là dựa trên việc thu thập và phân tích những số liệu trước đó Nghiên cứu định tính là những nghiên cứu đề cập nhiều hơn vào sự đa dạng, kết cấu và cảm giác từ những biểu hiện của số liệu bởi vì việc nhận định và giải thích các hiện tượng là dựa trên sự nhìn nhận và khả năng tổng hợp của nhà nghiên cứu qua quá trình phát triển của những hiện tượng
5.2.1 Nghiên cứu thông tin thứ cấp Đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin sẵn có nhằm tìm hiểu những ý tưởng, kết quả, kinh nghiệm nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình, cụ thể là trong các gia đình nông thôn ven đô
5.2.2 Nghiên cứu thông tin sơ cấp Đề tài thực hiện song đôi các nhóm phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Đối với thông tin định tính, đề tài sử dụng các công cụ như quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm Đối với thông tin định lượng, đề tài sử dụng công cụ điều tra bản câu hỏi Dữ liệu định lượng được xử lý thông qua phần mềm ứng dụng chuyên ngành của xã hội học SPSS Dữ liệu định tính sẽ được phân tích nội dung và được dùng để minh họa thêm cho những dữ liệu định lượng Định tính
Phương pháp quan sát Đề tài sử dụng phương pháp quan sát tham dự nhằm kiểm tra lại các tư liệu thu thập được bằng các phương pháp khác Trên có sở đó sẽ cung cấp thêm những thông tin về việc sinh hoạt gia đình, sự phân công lao động, quan hệ quyền lực giữa các thành viên trong gia đình… Địa điểm quan sát: Cộng đồng, các hộ gia đình
Các tiêu chí quan sát c ộng đồ ng
- Các công trình hạ tầng tại địa phương
- Kiểu cư trú cộng đồng
- Các cơ sơ kinh tế tại địa phương
Các tiêu chí quan sát h ộ gia đ ình
- Nhà ở (quang cảnh xung quanh và bên trong căn nhà)
- Các hoạt động hàng ngày, bữa cơm gia đình…
- Tài sản và đồ vật
- Tín ngưỡng, phong tục tập quán
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu: 15 cặp vợ/chồng (có ghi âm và gỡ băng) Đề tài đã sthực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với cả hai vợ chồng chủ hộ Tuy nhiên trong trường hợp không có đủ cả hai người thì sẽ thực hiện phỏng vấn sâu vợ/ chồng chủ hộ
Các hộ gia đình được chọn để nghiên cứu theo nguyên tắc chọn mẫu phi xác suất theo chỉ tiêu (chủ yếu theo cơ cấu lứa tuổi, cơ cấu nghề nghiệp và quy mô gia đình) Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu là những cặp vợ chồng kết hôn dưới 10 năm, dưới 20 năm và trên dưới 30 năm Ngoài ra, để có thêm thông tin mang tính tổng quát về tình hình hôn nhân, kinh tế - xã hội tại địa phương, đối tượng phỏng vấn sâu còn mở rộng ra bao gồm: phó chủ xã phụ trách xã hội, đại diện hội phụ nữ xã, đại diện ban tư pháp xã
Những dữ liệu định lượng thu thập được từ phương pháp phỏng vấn sâu được phân loại và khái quát nhằm làm rõ những số liệu định lượng và tìm ra những đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu
Phương pháp thảo luận nhóm Đề tài tiến hành thảo luận 05 nhóm (có ghi băng và gỡ băng), mỗi nhóm bao gồm từ 8 - 12 người Đối tượng tham gia vào cuộc thảo luận nhóm được lựa chọn theo nhóm sau: Nam thanh niên đã có gia đình, nữ thanh niên đã có gia đình, nam trung niên đã có gia đình, nữ trung niên đã có gia đình, nam nữ cao niên Mục đích là để thu thập được những thông tin định tính từ dư luận xã hội về những vấn đề có liên quan đến hôn nhân gia đình, quan niệm về bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ven đô hiện nay Định lượng
Phương pháp điều tra bản câu hỏi Đây là phương pháp đặc thù của điều tra xã hội học mà đề tài sử dụng chủ yếu để thu thập thông tin trong cuộc nghiên cứu này Bản câu hỏi bao gồm cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở, các câu hỏi này liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, việc làm, gia đình, văn hoá xã hội Phương pháp điều tra bằng bản hỏi sẽ có dung lượng là 270 đơn vị mẫu được chọn theo nguyên tắc chọn mẫu phân tầng hệ thống
Bản hỏi bao gồm 52 câu hỏi, chia làm 5 phần Phần đầu là thông tin chung về hộ gia đình, phần hai là quan niệm về hôn nhân gia đình, phần ba là quan hệ giới trong gia đình, phần bốn là quan hệ giữa cha mẹ và con cái, phần năm là chăm sóc sức khỏe Một số câu hỏi được thiết kế để đo lường một chỉ báo của đối tượng nghiên cứu Các câu hỏi bao gồm các dạng khác nhau với mục đích khai thác thông tin một cách đầy đủ, chính xác như: câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi kiểm tra Đồng thời các câu hỏi cũng được thiết kế bằng các thang đo khác nhau phù hợp với các loại thông tin khác nhau như: thang đo danh nghĩa, thang đo thứ bậc, thang đo tỷ lệ
Sau khi có được tất cả các dữ liệu, tiến hành mã hóa, nhập dữ liệu vào máy tính, hệ thống hóa các kết quả thu được thành thông tin tổng thể, để từ đó tìm ra những nét đặc trưng nhất của đối tượng nghiên cứu Thông tin được xử lý bằng phần mềm tin học ứng dụng SPSS trong nghiên cứu khoa học xã hội (Statistic Pakage for Social Sciences), phiên bản 11.5 Những thông tin thu thập được bởi các câu hỏi mở trong bản hỏi sẽ được mã hóa và xử lý như thông tin định lượng.
KHUNG PHÂN TÍCH
Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của khu vực nông thôn ven đô
Giá trị, chuẩn mực giới
Tiếp cận với nguồn lực
Sự đóng góp và thụ hưởng Quyền ra quyết định
VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VEN ĐÔ THÀNH PHỐ MỸ THO
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu
Xã Trung An nằm về phía Tây của thành phố Mỹ Tho và cách trung tâm thành phố Mỹ Tho 4,5km, phía Đông giáp phường 10, phường 5, phường 6; phía Tây giáp xã Phước Thạnh, Thạnh Phú, Bình Đức (huyện Châu Thành); phía Nam giáp sông Tiền; phía Bắc giáp xã Long An (huyện Châu Thành) Địa bàn xã có tuyến quốc lộ 1 đi ngang qua là tuyến giao thông huyết mạch nối liền khu vực phía Tây với các khu vực khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa trong khu vực
Trước kia địa bàn xã Trung An bao gồm 8 ấp Đến năm 2005, xã được cơ cấu lại và chỉ còn 6 ấp bao gồm: ấp 1, ấp 2, ấp 3, ấp 4, ấp 5 và ấp Bình Tạo Tổng diện tích khoảng hơn 900 ha Dân số của xã năm 2005 là 8113 nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số trung bình của xã Trung An năm 2005 là 1,86%, cao hơn so với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố ở mức 1,04% 3
Xã Trung An là một xã thuần nông với hơn 90% dân số làm nghề nông nghiệp Trước năm 1975, phần lớn người dân lảm ruộng là chính Từ năm 90, do việc làm ruộng gặp nhiều khó khăn như sâu bênh, giá cả phân bón, thuốc trừ sâu gia tăng… các hộ dân tại đây chuyển sang trồng rẫy và làm vườn Trong khoảng 5 năm trở lại đây, việc xây dựng cụm công nghiệp Trung An đã làm thay đổi diện mạo kinh tế xã hội tại địa phương Các ngành công nghiệp chế biến thủy sản, thức ăn gia súc và các sản phẩm may mặc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu rất phát triển Hàng loạt nhà máy, xí nghiệp vừa và nhỏ ra đời đã thu hút một lượng lớn lao động nông thôn Cơ cấu nghề nghiệp tại địa phương đã có nhiều thay đổi Những ngành nghề sản xuất nông nghiệp truyền thống thu hẹp dần, thay vào đó là những ngành nghề buôn bán, dịch vụ rất phát triển Số người trong độ tuổi lao động được đào tạo nghề và tham gia vào lực lượng sản xuất ngày càng tăng
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa cũng dẫn đến nhiều thay đổi trong quy mô gia đình Những gia đình mở rộng giảm dần thay vào đó là những gia đình hạt nhân Quy mô gia đình thay đổi kéo theo những thay đổi trong quan niệm và hành vi của các thành viên trong gia đình tại vùng nông thôn ven đô
Do địa bàn xã Trung An nằm ở vùng ven đô thành phố Mỹ Tho nên tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra rất nhanh chóng Chỉ trong vòng khoảng năm 5 phát triển, xã đã đạt được nhiều bước tiến vượt bậc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương
Hệ thống giáo dục và y tế của xã rất phát triển Toàn xã hiện có 1 trường mẫu giáo, 4 trường tiểu học và 1 trường Trung học cơ sở mới được đầu tư xây dựng hoàn thành năm 2002 với 31 phòng đảm bảo huy động số học sinh THCS trên địa bàn xã và các xã lân cận Bên cạnh đó, trên địa bàn xã có 1 trạm y tế với 6 giường bệnh, phục vụ tại trạm có 1 bác sĩ và 4 y sĩ Nhìn chung hoạt động y tế của xã đã tổ chức tốt công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh cho người dân địa phương
1.2 Khái quát chung về mẫu nghiên cứu
1.2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu định lượng
Tổng số người được tham gia trả lời bản câu hỏi là 270 đơn vị mẫu, trong đó có
109 người là nam (40,4%) và 161 người là nữ (59,6%) Như vậy, tỷ lệ nam giới trong cơ cấu mẫu là thấp hơn nữ giới
Bảng 1: Giới tính của người trả lời (%)
Giới tính của người trả lời
Mẫu được phân bố tại các ấp là: Ấp 1 - 50 đơn vị mẫu; Ấp 2 - 50 đơn vị mẫu; Ấp
3 - 50 đơn vị mẫu; Ấp 4 - 50 đơn vị mẫu Ấp 5 - 50 đơn vị mẫu và Ấp Bình Tạo - 20 đơn vị mẫu Đây là những ấp có tốc độ đô thị hóa cao tại xã Trung An
Về tình trạng hôn nhân, hầu hết người trả lời đều đang có gia đình (94,4%); tỷ lệ người độc thân rất thấp (1,9%); và chiếm tỷ lệ không đáng kể là những người đã ly hôn hoặc góa (tỷ lệ tương ứng là 0,4% và 3,3%)
Bảng 2: Tình trạng hôn nhân của người trả lời (%)
Tiêu chí Phân loại N % Độc thân 5 1.9
Tình trạng hôn nhân của người trả lời
Về trình độ học vấn, chiếm số đông là những người có trình độ tiều học và THCS (tỷ lệ tương ứng là 27,8% và 36,3%); thấp nhất là nhóm mù chữ chiếm tỷ lệ 1,5% và nhóm biết đọc biết viết (2,6%) – một tỷ lệ gần như không đáng kể là số người có trình độ học vấn trung cấp/ cao đẳng (3,7%) và đại học (4,1%); còn lại là nhóm có trình độ học vấn THPT với tỷ lệ là 24,1%
Bảng 3: Trình độ học vấn của người trả lời (%)
Trung cấp/cao đẳng 10 3.7 Đại học hoặc cao hơn đại học 11 4.1
Trình độ học vấn của người trả lời
Về nghề nghiệp chính của người trả lời, chiếm tỷ lệ cao nhất là lĩnh vực nông nghiệp (28,9%) Đây là những công việc nặng nhọc và đòi hỏi sức khỏe tốt nên tỷ lệ nam giới tham gia làm nông nghiệp cao hơn so với nữ giới (52,6% so với 47,4%) Chiếm tỷ lệ thứ hai là lĩnh vực buôn bán, dịch vụ (20,4%) Xét theo tương quan giới của người trả lời, có thể nhận thấy sự chênh lệch nhiều đối với công việc trên Nữ giới làm buôn bán, dịch vụ chiếm 63,6% trong khi nam giới chỉ chiếm 36,4% Ngoài ra, tỷ lệ người trả lời tham gia làm cán bộ viên chức, công nhân, tiểu thủ công nghiệp khá thấp (tỷ lệ tương ứng là 5,2% - 3,3% và 6,3%); tỷ lệ người trả lời đã về hưu hay già yếu và thất nghiệp cũng
Bảng 4: Tương quan giữa nghề nghiệp và giới tính của người trả lời (%)
Nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) 41 52.6 37 47.4 78 28.9
Cán bộ, công nhân viên chức 3 21.4 11 78.6 14 5.2
Về hưu/ già yếu không làm việc 13 65.0 7 35.0 20 7.4
Nghề nghiệp chính của người trả lời
Tóm lại, dựa vào các thông tin định lượng có thể nhận thấy có sự chênh lệch nhiều về từng loại nghề nghiệp xét theo tương quan giới Nam giới chủ yếu làm những công việc đòi hỏi sức lực và có trình độ chuyên môn kỹ thuật, phụ nữ lại thiên về những công việc đòi hỏi ít sức lực và gần giống với công việc nhà
1.2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu định tính
Trong suốt quá trình thu thập thông tin tại xã Trung An – thành phố Mỹ Tho – tỉnh Tiền Giang, nhìn chung những người trả lời có thái độ nghiêm túc, nhiệt tình và có trách nhiệm khi cung cấp thông tin Tuy nhiên, họ dễ dàng cung cấp những thông tin về tình hình sản xuất, về công việc và những sinh hoạt trong cuộc sống đời thường hơn là khi nói tới những vấn đề mang tính nhạy cảm đối với họ chẳng hạn như những thông tin về quan niệm và hành vi liên quan đến vấn đề bạo hành trong gia đình Vì vậy, để khai thác được những thông tin chi tiết, nhóm nghiên cứu đã dành nhiều thời gian làm quen, tiếp xúc và tạo sự thân thiện để người trả lời có thể cung cấp các thông tin mang tính nhạy cảm Thông qua thông tin trong bản hỏi và quan sát tham dự, 15 hộ gia đình được chọn để nghiên cứu theo nguyên tắc chọn mẫu phi xác suất theo chỉ tiêu (chủ yếu theo cơ cấu lứa tuổi, cơ cấu nghề nghiệp và quy mô gia đình) Các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện đối với cả hai cặp vợ chồng chủ hộ hoặc chỉ một người chồng hoặc người vợ Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu là những cặp vợ chồng kết hôn dưới 10 năm, dưới 20 năm và trên dưới 30 năm Ngoài ra, để có thêm thông tin mang tính tổng quát về tình hình hôn nhân, kinh tế - xã hội tại địa phương, đối tượng phỏng vấn sâu còn mở rộng ra bao gồm: phó chủ xã phụ trách xã hội, đại diện hội phụ nữ xã, đại diện ban tư pháp xã Thông qua những thông tin do cán bộ xã cung cấp, nghiên cứu đã có một cuộc phỏng vấn sâu đối với đối tượng bị bạo hành Do tính chất nhạy cảm nên việc tiếp cận và phỏng vấn đối tượng bị bạo hành rất khó khăn Để thu thập được những thông tin định tính từ dư luận xã hội về những vấn đề có liên quan đến hôn nhân gia đình, quan niệm về bình đẳng giới sẽ có 5 cuộc thảo luận nhóm được thực hiện Đối tượng tham gia vào cuộc thảo luận nhóm được lựa chọn theo nhóm sau: Nam thanh niên đã có gia đình, nữ thanh niên đã có gia đình, nam trung niên đã có gia đình, nữ trung niên đã có gia đình, nam nữ cao niên
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đều tập trung vào việc tìm hiểu đặc điểm xã hội tại địa phương, tình hình hôn nhân, quan hệ gia đình và các chuẩn mực, tình trạng việc làm, thu nhập, phân công lao động trong gia đình, những mâu thuẫn xung đột Trên cơ sở đó lý giải các yếu tố tác động đến vấn đề bình đẳng giới.
ĐẶC ĐIỂM HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VEN ĐÔ
Trong thời gian qua, có nhiều công trình nghiên cứu và số liệu thống kê về tuổi kết hôn thông qua các cuộc điều tra dân số Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh (2000) về các yếu tố tác động đến khuôn mẫu tuổi kết hôn của cư dân đồng bằng sông Hồng Theo tác giả, trên thế giới, các nghiên cứu thực nghiệm đã xác nhận giả thuyết của Goode (1963) về ảnh hưởng của các yếu tố hiện đại đến khuôn mẫu tuổi kết hôn Theo đó, những cá nhân có trình độ học vấn cao, có nghề nghiệp hiện đại, sống trong môi trường đô thị hóa, có xu hướng kết hôn muộn hơn những người khác mang đặc trưng kém hiện đại hơn
Các kết quả nghiên cứu về tuổi kết hôn ở khu vực nông thôn ven đô Mỹ Tho cũng cho thấy tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nam và nữ đều có chiều hướng được nâng cao Đồng thời, tuổi kết hôn lần đầu của nữ thấp hơn nam Cụ thể, tuổi kết hôn trung bình của nữ là 22,26 tuổi, trong khi đó tuổi kết hôn trung bình của nam là 25,34
Bảng 5: Tuổi kết hôn trung bình của người trả lời theo giới tính của người trả lời
(%) Giới tính của người trả lời Tuổi kết hôn trung bình
Qua phân tích thấy rằng, yếu tố học vấn cũng có tác động đến tuổi kết hôn của cả phụ nữ và nam giới tại khu vực vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho Cụ thể những người có học vấn cao, có tuổi kết hôn trung bình cao hơn những người có học vấn thấp (Xem bảng
Bảng 6: Tuổi kết hôn trung bình theo học vấn của người trả lời (%)
Học vấn của người trả lời Tuổi kết hôn trung bình
Trung cấp/ cao đẳng 24.21 Đại học hoặc sau đại học 25.41
Thông tin định lượng cho thấy tuổi kết hôn trung bình của người trả lời có xu hướng tăng lên theo thời gian Cụ thể, những người ở nhóm tuổi dưới 35 có tuổi kết hôn trung bình là 26,21; những người ở nhóm 35 – 44 tuổi có tuổi kết hôn trung bình là 25,09; ở nhóm tuổi 45 – 54 tuổi có tuổi kết hôn trung bình là 23,67 tuổi, những người ở nhóm tuổi trên 55 tuổi có tuổi kết hôn trung bình là 23,24 tuổi Như vậy, những người thuộc nhóm lớn tuổi có tuổi kết hôn trung bình càng thấp, những người thuộc nhóm tuổi càng trẻ thì tuổi kết hôn trung bình càng cao (Xem biểu đồ 1)
Biểu đồ 1: Tuổi kết hôn trung bình theo nhóm tuổi của người trả lời (%)
Dưới 35 tuổi 35 - 44 tuổi 45 - 54 tuổi Trên 55 tuổi
2.2 Mô hình quyết định hôn nhân
Nội dung phần này tập trung vào vấn đề người ra quyết định hôn nhân trong các gia đình tại vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho, trong đó xác định rõ vai trò của các bên có liên quan trong việc ra quyết định về hôn nhân Thông tin định lượng cho thấy phần lớn người trả lời cho rằng họ là người quyết định việc kết hôn và có bố mẹ đều đồng ý với quyết định đó (45,2%) Trong khi đó tỷ lệ bố mẹ quyết định việc kết hôn và người trả lời đồng ý với quyết định đó cũng khá cao (41,5%) Như vậy, việc con cái quyết định kết hôn có sự đồng ý của bố mẹ là mô hình khá phổ biến ở Việt Nam nói chung và tại vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho nói riêng Vai trò của bố mẹ ảnh hưởng khá nhiều đối với hôn nhân của con cái
Bảng 7: Quyền quyết định kết hôn (%)
Người quyết định kết hôn N %
Bố mẹ quyết định hoàn toàn, tôi không đồng ý 26 9.6
Bố mẹ quyết định nhưng tôi đồng ý 112 41.5
Tôi quyết định, có sự đồng ý của bố mẹ 122 45.2
Tôi hoàn toàn quyết định, bố mẹ không đồng ý 6 2.2
“Khi con cô lấy vợ, nó quyết định nhưng cô cũng coi hai bên gia đình có hợp nhau không rồi quyết định cho nó Nói chung thời bây giờ dễ rồi, con cái nó quyết định trước đẳng như bây giờ, được quyền quyết định lựa chọn, hồi xưa là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, đâu có cãi lại được” (PVS nữ 40 tuổi, nội trợ, ấp 3, xã Trung An)
Xu hướng cha mẹ quyết định chủ yếu cuộc hôn nhân của con cái giảm dần theo thời gian Đối với những người dưới 35 tuổi, có 17,2% số người được hỏi cho rằng chuyện hôn nhân của họ là hoàn toàn do cha mẹ quyết định Tỷ lệ này ở nhóm tuổi 35 –
44 là 8,5%, nhóm tuổi 45 – 54 là 6,8% và nhóm tuổi trên 55 là 11,6% Tương tự, xu hướng con cái tự quyết định chuyện hôn nhân tăng dần theo thời gian Cụ thể, 31,4% người trả lời cho rằng họ tự quyết định chuyện hôn nhân nhưng có sự đồng ý của bố mẹ, tỷ lệ này ở nhóm tuổi 35 – 44 là 57,6%, nhóm tuổi 45 – 54 là 49,5% và nhóm tuổi trên 55 là 37,7%
Bảng 8: Quyền quyết định kết hôn theo nhóm tuổi của người trả lời (%)
Bố mẹ quyết định hoàn toàn, tôi không đồng ý
Bố mẹ quyết định nhưng tôi đồng ý
Tôi quyết định, có sự đồng ý của bố mẹ
Tôi hoàn toàn quyết định, bố mẹ không đồng ý
“Trước đây, con gái không được tự ý quyết định chuyện kết hôn, chủ yếu là do cha mẹ hết Bây giờ thì khác rất nhiều rồi Con gái có thể quen biết bạn bè rồi dẫn về ra mắt gia đình Miễn sao thật thà, hiền lành, biết lo làm ăn là cha mẹ chịu à Mà lỡ cha mẹ có không ưng lắm nhưng con cái chịu thì mình cũng phải theo nó thôi.” (PVS nữ 35 tuổi, buôn bán, ấp 2, xã Trung An)
“Giờ thanh niên đi ra ngoài làm ở xí nghiệp nên có nhiều bạn bè hơn, giao lưu và quen biết Với lại thời buổi bây giờ đâu giống hồi thời cô, đâu còn chuyện cha mẹ đặt đâu con ngồi đó đâu Nó cứ quen ai rồi dẫn về, gia đình thấy được thì cưới thôi.” (PVS nữ 60 tuổi, nội trợ, ấp 4, xã Trung An)
Những phân tích trên cho thấy, những biến đổi về kinh tế xã hội tại vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho đã làm cho mô hình quyết định hôn nhân thay đổi theo Mô hình quyết định hôn nhân phổ biến ngày nay là con cái tự tìm hiểu, quyết định nhưng có sự đồng ý của cha mẹ Mức độ áp đặt hôn nhân của cha mẹ đối với con cái rất ít Con cái ngày càng có tiếng nói hơn trong việc lựa chọn và quyết định chuyện hôn nhân của mình
2.3 Nơi ở sau khi kết hôn
Theo truyền thống, sau khi kết hôn người phụ nữ sẽ ở bên nhà chồng Nếu gia đình có nhiều con, bố mẹ sẽ ở chung với một trong số những người con trai đã lấy vợ Ở miền Bắc thường là con trai cả, ở miền Nam thường là con trai út Những người con trai khác, sau khi kết hôn chỉ sống chung với bố mẹ một thời gian và sau đó được bố mẹ cho ra ở riêng hình thành những gia đình hạt nhân Một số nghiên cứu gần đây cho thấy mô hình sống chung trong gia đình chồng sau khi kết hôn vẫn còn khá phổ biến ở khu vực nông thôn Bắc Bộ (Vũ Mạnh Lợi và Hirschman, 1994, Nguyễn Hữu Minh, 2000) Tuy nhiên do tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa, nhiều cặp vợ chồng đã ra ở riêng ngay khi lập gia đình Trong một số trường hợp, dù sống gần cha mẹ nhưng các cặp vợ chồng trẻ vẫn ở riêng ngay sau khi cưới nếu họ có đủ những điều kiện vật chất cần thiết như nhà cửa, công việc và thu nhập ổn định… Phân tích sau đây, sẽ trả lời cho câu hỏi các cặp vợ chồng ở vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho sau khi kết hôn sẽ sống ở đâu? Bên nhà chồng, nhà vợ hay ra ở riêng? Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở khu vực này có ảnh hưởng như thế nào đến cách lựa chọn nơi ở sau hôn nhân của họ?
Kết quả nghiên cứu tại vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho cho thấy, mặc dù mô hình sống chung bên gia đình chồng sau khi kết hôn chiếm tỷ lệ cao (61,5%) nhưng đã xuất hiện một bức tranh đa dạng về cách thức thu xếp cuộc sống của các cặp vợ chồng sau khi kết hôn Cụ thể, có 23,7% người trả lời cho biết họ đã sống riêng sau khi kết hôn Ngoài ra có một số ít người trả lời cho rằng họ sống bên gia đình vợ sau khi kết hôn 10,7%
Bảng 9: Nơi ở của vợ chồng sau khi kết hôn (%) Nơi ở của vợ chồng sau khi kết hôn N % Ở với cha mẹ chồng 166 61.5 Ở với cha mẹ vợ 29 10.7
Chúng tôi ở nhà riêng của mình 64 23.7
Có nhiều cách lý giải cho xu hướng ra riêng của các cặp vợ chồng:
“Cha mẹ anh sống chung với chú út rồi nên cũng có người chăm sóc ông bà lúc về già Nhà cha mẹ anh cũng không rộng lắm Ba má sống với gia đình chú út là được rồi.”
(PVS nam 39 tuổi, bộ đội, ấp 3, xã Trung An)
“Người ta bây giờ cũng không còn khắt khe trong chuyện con gái lấy chồng phải về nhà chồng ở Bên nào có khả năng thì về bên đó ở thôi Nói chung là do kinh tế thôi Với lại bây giờ người ta lo làm ăn nên cũng không dám đẻ nhiều, phải dành thời gian lo làm kiếm tiền nữa Ngày xưa ở quê làm ruộng thì nhiều khi va chạm chứ giờ thì đi làm công nhân, làm nhà máy, xí nghiệp, sáng đi chiều về, tắm rửa cơm nước là hết giờ.”
(PVS nam 37 tuổi, công chức, ấp 2, xã Trung An)
KHUÔN MẪU GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
3.1 Vai trò của người chồng và người vợ trong gia đình
Quan niệm về vai trò của người chồng và người vợ trong nghiên cứu này được ghi nhận thông qua suy nghĩ của người trả lời về vai trò và trách nhiệm của người chồng và người vợ trong gia đình Quan niệm về vai trò giới thể hiện ở nhận định của người trả lời về khả năng của vợ và chồng trong các công việc gia đình như: chăm sóc gia đình, lo toan công việc gia đình và giữ không khí hòa thuận trong gia đình
Quan niệm xưa nay đều cho rằng vai trò của phụ nữ gắn liền với công việc nội trợ và chăm sóc gia đình còn nam giới là người lo toan những công việc lớn Những nghiên cứu gần đây ở các khu vực khác nhau, cụ thể là nghiên cứu tại miền Bắc về quan hệ giới trong gia đình đều nhận định nam giới là trụ cột và chịu trách nhiệm chính về kinh tế gia đình Phụ nữ có trách nhiệm trước hết đối với các công việc gia đình, chăm sóc con cái và được trông mong là người duy trì sự hòa hợp và hạnh phúc gia đình (Kabeer, Trần Thị Vân Anh, 2005, tr.10) Vậy kết quả của cuộc nghiên cứu tại vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho có gì khác biệt? Quan niệm về vai trò giới trong gia đình có gì mới? Liệu các khuôn mẫu giới đã bị coi là lỗi thời hay vẫn tiếp tục tồn tại trong suy nghĩ của mọi người? Để tìm hiểu vấn đề này nghiên cứu đưa ra một số câu hỏi nhằm lấy ý kiến của người trả lời về năng lực thực hiện một số công việc cụ thể trong gia đình của phụ nữ và nam giới Các câu hỏi được đặt ra dưới hình thức mệnh đề để người trả lời bày tỏ quan điểm của mình Chẳng hạn, với mệnh đề “phụ nữ biết cách chăm sóc gia đình hơn nam giới” sẽ có 4 phương án lựa chọn là “đồng ý”, “không đồng ý”, “tùy người”, “không biết” Nhằm tránh sự chủ quan, hay tính áp đặt của các ý kiến nêu ra, tất cả các ý kiến đều được đặt vấn đề theo cùng một cách đối với cả nam và nữ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, về năng lực chăm sóc gia đình, hầu hết người trả lời đều cho rằng phụ nữ biết cách chăm sóc gia đình hơn nam giới Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ đồng ý với nhận định này cao hơn so với nam giới (91,9% so với 78,0%) Chỉ một số ít người, 1,9% nữ và 4,6% nam cho rằng nam giới biết cách chăm sóc gia đình hơn phụ nữ
Biểu đồ 4: Nhận định về người biết cách chăm sóc gia đình theo giới tính của người trả lời (%)
Phụ nữ biết cách chăm sóc gia đình hơn nam giới
Nam giới biết cách chăm sóc gia đình hơn phụ nữ
Nam Nữ Đánh giá về năng lực lo toan công việc gia đình, phần lớn nữ giới (78,1%) đồng ý với nhận định phụ nữ biết lo toan công việc gia đình hơn nam giới Tỷ lệ nam giới đồng ý với nhận định này thấp hơn (73,4%) Ngoài ra, với nhận định “nam giới biết cách chăm sóc gia đình hơn phụ nữ”, tỷ lệ nam giới đồng ý với nhận định này bằng với phụ nữ (13,8%)
Biểu đồ 5: Nhận định về người biết lo toan công việc gia đình theo giới tính của người trả lời (%)
Phụ nữ biết lo toan công việc gia đình hơn nam giới
Nam giới biết lo toan công việc gia đình hơn phụ nữ
Nhìn chung, cả phụ nữ và nam giới đều ít tin tưởng ở nam giới hơn khi bàn đến việc chăm sóc và lo toan công việc gia đình Điều này cũng ảnh hưởng đến khả năng phân phối cân bằng công việc gia đình nhằm tạo điều kiện cho cả hai giới có cơ hội chia sẻ trách nhiệm và cảm nhận niềm vui từ công việc gia đình Thực tế là cả hai giới đều có lý lẽ riêng của mình về việc ai là người vất vả hơn trong quán xuyến gia đình
“Đàn ông đi làm ngoài xã hội vất vả cạnh tranh lắm em Không có thời gian Về đến nhà là mệt lắm rồi Vợ ở nhà chỉ lo việc nội trợ, giúp chồng quán xuyến gia đình, lo cho con cái Như vậy, chồng mới an tâm làm ăn chứ.” (PVS nam 48 tuổi, buôn bán, ấp 4, xã Trung An)
“Công việc nội trợ, quán xuyến mọi việc trong gia đình phải có bàn tay của phụ nữ chứ em Đàn ông làm mấy chuyện đó không tốt đâu Mà để chồng đi làm về làm mấy chuyện nội trợ coi sao được Người ta nói chết.” (PVS nữ 37 tuổi, nội trợ, ấp 4, xã Trung An)
Thông tin định lượng còn cho thấy, với nhận định “phụ nữ là người quyết định giữ không khí hòa thuận trong gia đình”, tỷ lệ phụ nữ đồng ý với nhận định này cao hơn nam giới (83,1% so với 66,4%) Ngược lại, với nhận định “nam giới là người quyết định giữ không khí hòa thuận trong gia đình”, tỷ lệ nam giới đồng ý với nhận định này cao hơn nữ giới (21,2% so với 8,2%)
Biểu đồ 6: Nhận định về người quyết định giữ không khí hòa thuận trong gia đình theo giới tính của người trả lời (%)
Phụ nữ là người quyết định giữ không khí hòa thuận trong gia đình
Nam giới là người quyết định giữ không khí hòa thuận trong gia đình
Kết quả nghiên cứu cho thấy, phụ nữ luôn được nhìn nhận là người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc, quán xuyến gia đình và là người quyết định giữ không khí hòa thuận trong gia đình Như vậy, vấn đề đặt ra là, khuôn mẫu giới có tác động đến quan niệm của mọi người trong việc nhận định vai trò của người phụ nữ trong việc chăm sóc con cái? Để tìm hiểu vấn đề này, nghiên cứu đã đưa ra một số nhận định để tìm hiểu ý kiến của người trả lời Kết quả là 40,8% nam giới thừa nhận không ai có thể thay thế vai trò của người phụ nữ trong việc chăm sóc con cái, tỷ lệ phụ nữ có cùng nhận định này là 59,2% Rõ ràng là không thể phủ nhận vai trò của người phụ nữ trong việc chăm sóc con cái Mặc dù vậy, cần có sự phối hợp giữa cha và mẹ trong việc chăm sóc con cái Cụ thể, 42,7% nam giới cho rằng cả cha và mẹ đều có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái, tỷ lệ tương ứng ở nữ giới là 57,3% Rõ ràng là, trong gia đình đã có sự chia sẻ công việc ngang nhau giữa hai vợ chồng, cụ thể: cả hai vợ chồng chơi với con (25,6%), cả hai vợ chồng nhắc con học bài và kiểm tra bài của con (18,1%), cả hai vợ chồng đi họp phụ huynh (12,2%), cả hai vợ chồng dạy con vào nề nếp, kỷ luật (20,5%)
Biểu đồ 7: Nhận định về sự phân công lao động trong việc chăm sóc con cái (%)
Không ai có thể thay thế phụ nữ trong việc chăm sóc con cái
Cả cha và mẹ đều có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái
Tóm lại, qua các nhận định về năng lực thực hiện các vai trò trong gia đình có thể thấy rõ trong quan niệm của cả phụ nữ và nam giới, phụ nữ được coi là người có khả năng nhiều hơn so với nam giới Điều này cho thấy những biến đổi về kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa vẫn không dẫn đến nhiều khác biệt trong quan niệm hiện nay của mọi người về năng lực và việc thực hiện vai trò giới trong gia đình Đáng lưu ý là cả hai giới đều có xu hướng đánh giá giới mình có khả năng nhiều hơn trong công việc gia đình Phải chăng là do phụ nữ vẫn tiếp tục mong muốn duy trì vai trò được coi là thế mạnh truyền thống của mình Trong khi đó, quan điểm của nam giới đã có sự biến đổi khi một tỷ lệ đáng kể cho rằng nam giới có khả năng tốt hơn phụ nữ trong việc lo toan và chăm sóc gia đình
3.2 Các đặc điểm mong muốn dạy con trai và con gái
Nghiên cứu này đưa ra 7 đặc điểm cần có để người trả lời, với tư cách là người cha, người mẹ mong muốn con cái mình có được: “vâng lời”; “được mọi người yêu cần thiết”; “có nghề nghiệp ổn định”; “có học vấn cao” Người trả lời được yêu cầu chọn ra 03 phẩm chất quan trọng nhất đối với con trai và 03 phẩm chất đối với con gái
Kết quả phân tích số liệu cho thấy, ba đặc điểm mà các bậc cha mẹ lựa chọn để dạy con gái mình là: được mọi người yêu mến (67,0%), biết giúp đỡ người khác khi cần thiết (65,9 %); và có nghề nghiệp ổn định (57,8%) Ba đặc điểm mà cha mẹ mong muốn dạy con trai mình là: được mọi người yêu mến (68,1%), biết giúp đỡ cho người khác khi cần thiết (64,4%) và có học vấn cao (53,7%)
Bảng 13: Những đặc điểm mong muốn dạy con trai và con gái của người trả lời
Vâng lời Được mọi người yêu mến
Nghĩ về bản thân mình
Làm việc cần cù, chịu khó
Giúp cho người khác khi cần thiết
Có nghề nghiệp ổn định
Những đặc điểm mong muốn dạy con trai theo giới tính của người trả lời
Những đặc điểm mong muốn dạy con gái theo giới tính của người trả lời
Như vậy, những đặc điểm mà các bậc cha mẹ mong muốn dạy cho con trai hay con gái của họ thì lại có sự tương đồng Đó là “được mọi người yêu mến” và “biết giúp đỡ người khác khi cần thiết” Đặc điểm khác biệt duy nhất chính là cha mẹ mong muốn con gái của mình “có nghề nghiệp ổn định” và đối với con trai là “có học vấn cao” Rõ ràng là khuôn mẫu giáo dục con trai và con gái đang đi theo hướng đáp ứng các mong mỏi của cha mẹ dựa trên mô hình vai trò giới hiện nay tại vùng nông thôn ven đô Mỹ Tho Tuy nhiên, cần lưu ý là, ngay thời điểm hiện tại có tới 57,8% các bậc cha mẹ mong muốn con gái mình có nghề nghiệp ổn định và 53,7% các bậc cha mẹ mong muốn con trai mình có học vấn cao Số liệu nghiên cứu tại vùng ven đô Mỹ Tho cho thấy, dường như các bậc cha mẹ đã dần có những thay đổi trong việc giáo dục con trai và con gái của mình Cụ thể là tăng cường tính độc lập và xu hướng bình đẳng, tự do cá nhân hơn cho con gái
Như vậy, gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong định hướng nghề nghiệp của con cái, mặc dù ngày nay gia đình không phải là kênh tác động duy nhất Nghề nghiệp của con cái chịu tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng nhưng việc gia đình chuẩn bị như thế nào cũng rất được quan tâm Liệu có sự khác biệt giới trong mong muốn của các bậc cha mẹ đối với nghề nghiệp của con trai và con gái hay không? Kết quả thu được từ cuộc khảo sát cho thấy, ba nhóm nghề nghiệp được các bậc cha mẹ đặc biệt quan tâm và mong muốn định hướng cho con trai sau khi trưởng thành là: làm cán bộ viên chức nhà nước, công an/ bộ đội và buôn bán tại địa phương, tỷ lệ tương ứng là 35,3%; 22,8% và 12,6% Ba nhóm nghề nghiệp được các bậc cha mẹ đặc biệt quan tâm và mong muốn định hướng nghề nghiệp cho con gái sau khi trưởng thành là: làm cán bộ viên chức nhà nước, buôn bán tại địa phương và làm nghề khác tại địa phương, tỷ lệ tương ứng là 39,6%; 32,1% và 10,6%
Thông tin định lượng cho thấy, có những khác biệt trong tỷ lệ mong muốn về các nghề cho con trai và con gái Rõ nhất là làm cán bộ viên chức nhà nước, tỷ lệ cha mẹ mong muốn cho con gái làm nghề này nhiều hơn con trai (39,6% so với 35,3%) Ngược lại, tỷ lệ cha mẹ mong muốn con trai tham gia ngành công an bộ đội nhiều hơn rất nhiều so với con gái (22,8% so với 3,7%) Những thông tin này cho thấy, mong muốn nghề nghiệp của cha mẹ cho con cái vẫn chứa đựng những định kiến giới về nghề nghiệp phù hợp với con trai và con gái, chẳng hạn, con gái làm công việc nhẹ nhàng, ổn định, con trai làm công việc mạnh mẽ…Những quan niệm này tác động khá nhiều đến định hướng nghề nghiệp cho con, có thể khiến chính cha mẹ thu hẹp các cơ hội lực chọn nghề nghiệp của con cái mình đối với những nghề vốn được cho không là thế mạnh của con trai hay con gái Như vậy, định kiến giới của cha mẹ vẫn tiếp tục là nhân tố duy trì và tái tạo chính định kiến ấy trong thế hệ con cái cho dù với mức độ suy giảm hơn
Bảng 14: Mong muốn nghề nghiệp cho con trai và con gái khi trưởng thành (%)
Nghề nghiệp mong muốn Con trai
Làm ruộng tại địa phương 5.2 2.3
Buôn bán tại địa phương 12.6 32.1
Làm nghề khác tại địa phương 11.1 10.6
Làm công nhân nơi khác 3.9 2.1
Làm nghề khác ở nơi khác 3.0 2.6
Làm cán bộ viên chức nhà nước 35.3 39.6
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VEN ĐÔ
Trong xã hội hiện đại, phân công lao động theo giới là một trong những hình thức phân công lao động bên cạnh các hình thức phân công lao động khác, một mặt, đó là sự tiếp nối của thói quen truyền thống, mặc khác là lợi thế giới tính trong một số lĩnh vực nhất định của sản xuất và hoạt động xã hội Kết quả nghiên cứu về chủ đề phân công lao động theo giới trong gia đình sẽ phản ánh tính đa dạng, mâu thuẫn và xu hướng biến đổi của các mô hình phân công lao động theo giới trong gia đình nông thôn ven đô Mỹ Tho hiện nay
Luận văn sử dụng hướng tiếp cận giới theo khung phân tích giới của Caroline Moser Khung Moser được xây dựng trên ba vấn đề chính là: sản xuất, tái sản xuất và hoạt động cộng đồng Thông qua khung phân tích này có thể giúp nhận diện vai trò của nam giới và phụ nữ trong gia đình, từ đó xác định được mức độ bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ven đô
4.1 Phân công lao động trong sản xuất
4.1.1 Phân công lao động trong sản xuất
Việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình diễn ra chủ yếu ở các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và dịch vụ… Các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình thường thu hút sự tham gia của hầu hết các thành viên Tuy nhiên sự tham gia này có thể không như nhau ở từng loại công việc cụ thể Như vậy, trong hộ gia đình, giữa vợ và chồng thì ai làm gì là chủ yếu và ở những công việc nào? Dưới đây là những phân tích về sự phân công lao động theo từng nhóm việc cụ thể:
Về trồng trọt, ở các hộ gia đình nông thôn, phụ nữ và nam giới tham gia vào tất cả các khâu của quá trình trồng trọt như: làm đất, gieo trồng, bón phân, làm cỏ, phun thuốc, thu hoạch, bán sản phẩm… Tuy nhiên mức độ tham gia của nam giới vào các công việc này cao hơn phụ nữ Cụ thể, tỷ lệ người trả lời cho biết trong gia đình họ, chồng là người
– 29,6%, bón phân – 30,4%, làm cỏ – 24,8%, phun thuốc – 29,6%, thu hoạch – 28,1%, bán sản phẩm – 19,6% Trong khi đó tỷ lệ người vợ đảm nhận công việc này thấp hơn rất nhiều, tỷ lệ tương ứng là 8,5%; 10,6%; 5,6%; 11,1%; 3,7%; 11,5% và 16,3% Như vậy, nam giới chịu trách nhiệm chính trong tất cả các khâu của quá trình trồng trọt vì đây là những công việc đòi hỏi nhiều sức lực
Bảng 15: Phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc trồng trọt (%)
Công việc Vợ làm nhiều Chồng làm nhiều
Về chăn nuôi, có sự khác biệt rõ rệt về sự tham gia của người chồng và người vợ trong gia đình Vợ là người chịu trách nhiệm chính đối với việc chăn nuôi gia cầm, gia súc và hải sản Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 14,1% người trả lời cho biết, trong gia đình họ vợ là người đảm nhiệm chính công việc này, trong khi tỷ lệ này ở người chồng là 6,7% Về chăn nuôi gia súc, tỷ lệ người trả lời cho rằng người vợ đảm nhiệm chính công việc này cũng cao hơn người chồng (5,2% so với 2,6%) Về chăn nuôi hải sản như tôm, cá, cua… thì ngược lại; người chồng tham gia nhiều hơn người vợ, tỷ lệ tương ứng là 8,1% so với 4,8% Điều này cho thấy phụ nữ có xu hướng tham gia nhiều vào các công việc chăn nuôi vì đây là những công việc không đòi hỏi nhiều sức lực và lại gần giống với công việc nhà
Bảng 16: Phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc chăn nuôi (%)
Công việc Vợ làm nhiều Chồng làm nhiều
Chăn nuôi heo, gia cầm 14.1 6.7
Chăn nuôi tôm, cá cua 4.8 8.1
Về hoạt động dịch vụ, mô hình phân công lao động theo giới thể hiện rất rõ rệt Nam giới chủ yếu làm các dịch vụ đòi hỏi sức cơ bắp hoặc liên quan tới máy móc, kỹ thuật như cày bừa, chuyên chở, điện… Tỷ lệ người trả lời cho biết chồng là người chủ yếu làm loại công việc này là 48,7%, trong khi tỷ lệ nữ giới làm công việc này thấp hơn rất nhiều (1,9%) Ngược lại việc buôn bán nhỏ và dịch vụ lại chủ yếu do vợ đảm nhận, chồng tham gia ít hơn nhiều (tỷ lệ tương ứng là 68,4% và 11,5%) Tương tự, các công việc đòi hỏi sự tỷ mỹ, khéo léo như đan lát, thêu… sự tham gia của vợ cũng nhiều hơn chồng rất nhiều (tỷ lệ tương ứng là 35,7% và 7,6%)
Bảng 17: Phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc dịch vụ (%)
Công việc Vợ làm nhiều Chồng làm nhiều
Dịch vụ sản xuất (cày bừa, chuyên chở, điện…) 1.9 48.7
Buôn bán nhỏ, dịch vụ ăn uống 68.4 11.5
Tiểu thủ công (đan lát, thêu…) 35.7 7.6
Có nhiều lí do dẫn đến việc phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với nam giới trong công việc buôn bán nhỏ và dịch vụ ăn uống Bản thân người trong cuộc có cách giải thích riêng, tuy nhiên, cũng không nằm ngoài những điều mà xã hội trông chờ ở phụ nữ
“Công việc buôn bán là công việc của phụ nữ vì phụ nữ đảm đang hơn nam giới, mời chào khách cũng khéo léo hơn Phụ nữ biết chắc chiu và nhặt nhạnh được chứ nam giới thì làm không được” (PVS nữ 38 tuổi, buôn bán, ấp 4, xã Trung An)
Phân công lao động sản xuất của hộ gia đình cũng có những khác biệt nhất định giữa các vùng miền khác nhau Phụ nữ ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng tham gia các với tỷ lệ cao vào nhiều công việc hơn phụ nữ ở các vùng khác Ở các tỉnh Nam Bộ, phụ nữ phải đảm nhiệm công việc đồng ruộng ít hơn người chồng và cũng ít hơn so với phụ nữ ở phía Bắc và đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Hữu Minh, 2008) Kết quả nghiên cứu tại khu vực nông thôn ven đô Mỹ Tho cũng cho thấy phụ nữ không là người đảm nhiệm chính trong các công việc đồng ruộng Do một số khác biệt là bối cảnh kinh tế chính trị xã hội thay đổi, quá trình đô thị hóa mà sự tham gia của phụ nữ hoạt động sản xuất linh hoạt hơn
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ tham gia vào tất cả các loại hình lao động sản xuất tạo thu nhập Tuy nhiên sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất có sự khác biệt rõ rệt về mức độ thực hiện từng loại công việc Phụ nữ làm chính trong các công việc đòi hỏi ít sức lực và gần giống với các công việc nhà như chăn nuôi, buôn bán nhỏ, dịch vụ ăn uống, tiểu thủ công nghiệp Nam giới làm chính trong công việc đòi hỏi nhiều sức lực và kỹ thuật nhu trồng trọt, dịch vụ sản xuất, cày bừa…
4.1.2 Đóng góp kinh tế giữa vợ và chồng trong gia đình Đóng góp kinh tế giữa hai vợ chồng là điều kiện để duy trì đời sống vật chất của gia đình Câu hỏi đặt ra ở đây chính là giữa vợ và chồng ai là người có đóng góp hoặc không đóng góp vào thu nhập của gia đình Nếu hai người cùng đóng góp thì ai là người đóng góp nhiều hơn? Việc đóng góp thu nhập có ảnh hưởng đến trật tự quyền lực trong gia đình hay không?
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ đóng góp thu nhập của chồng và vợ cho gia đình là khá cao Đa số nữ giới đều nhận định chồng là người tham gia đóng góp thu nhập cho gia đình (64,9%) Tuy nhiên có sự chênh lệch giữa nam và nữ về tỷ lệ nhận định người chồng tham gia đóng góp thu nhập cho gia đình, cụ thể chỉ có 35,1 % nam giới cho rằng chồng là người đóng góp thu nhập cho gia đình, trong khi tỷ lệ nữ giới có nhận định này là 64,9% Tương tự, có 57,8% phụ nữ cho rằng trong gia đình họ, vợ là người đóng góp thu nhập, trong khi chỉ có 42,2% nam giới đồng ý với nhận định này Điều này cho thấy trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay, khả năng đảm bảo đời sống gia đình từ một nguồn thu nhập là rất khó Do vậy, việc phối hợp lao động giữa vợ và chồng để mang lại thu nhập cho gia đình là điều cần thiết
“Bây giờ mà một người đi làm nuôi cả nhà thì cũng vất vả lắm em Nhà chị hai vợ chồng đi làm hết mà còn không có dư gì hết Chị làm công nhân lương thấp lắm Thu nhập chính trong gia đình là trông vào ông xã của chị hết Chứ chị đi làm chỉ lo được những thứ lặt vặt trong nhà thôi em.” (PVS nữ 30 tuổi, công nhân, ấp 1, xã Trung An)
Bên cạnh đó mỗi giới đều có cách nhìn nhận khác nhau về việc người chồng hay người vợ không đóng góp vào thu nhập gia đình Theo ý kiến của nam giới thì có 45,5% người chồng không đóng góp thu nhập nhưng có tới 54,5% nam giới tự nhận mình không đóng góp vào thu nhập của gia đình Có thể lý giải sự khác biệt này là do góc độ tâm lý của người trả lời có xu hướng không đánh giá cao bản thân Đáng lưu ý là điều này không diễn ra ở một giới mà là hiện tượng được quan sát ở cả hai giới Tuy nhiên, nếu xét kỹ thì thấy nữ giới có xu hướng đánh giá chồng cao hơn là nam giới đánh giá vợ có đóng góp vào thu nhập nhập gia đình (64,9% so với 57,8%) Phải chăng đối với nam giới việc thừa nhận vợ là người mang lại thu nhập cho gia đình không dễ như trong trường hợp phụ nữ thừa nhận người chồng Điều này có lẽ là do quan niệm về vai trò trụ cột của người chồng trong gia đình vẫn còn ảnh hưởng khá sâu sắc
Biểu đồ 8: Đóng góp vào thu nhập của gia đình theo giới tính của người trả lời (%)
Vợ có đóng góp thu nhập
Chồng có đóng góp thu nhập
Vợ không đóng góp thu nhập
Chồng không đóng góp thu nhập
QUYỀN QUYẾT ĐỊNH TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN VEN ĐÔ MỸ THO
Trong phần này, luận văn tập trung phân tích quyền quyết định của vợ và chồng đối với các công việc quan trọng trong gia đình như: quyền quyết định đầu tư giáo dục cho con cái, quyết định các công việc cá nhân, mua sắm trang thiết bị và quyết định một số công việc quan trọng khác Từ đó có cơ sở để xem xét mức độ bình đẳng giữa người chồng và người vợ trong gia đình
5.1 Quyết định đầu tư giáo dục cho con cái Để tìm hiểu vấn đề này, nghiên cứu đưa ra giả thuyết “khi đầu tư cho giáo dục, con trai cần được ưu tiên hơn con gái?” Đối với giả thuyết này, cha mẹ với tư cách là người trả lời được yêu cầu cho biết quan điểm của mình đối với nhận định “khi đầu tư giáo dục, con trai cần được ưu tiên hơn con gái” Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn người trả lời đều không đồng ý với nhận định này (tỷ lệ tương ứng với nam là 66,0% và với nữ là 56,9%) Tuy nhiên, vẫn còn một số người trả lời đồng ý với nhận định trên (11,3% với nam và 15,6% với nữ) Như vậy, những định kiến giới vẫn còn tồn tại khá sâu sắc và ảnh hưởng đến việc đầu tư giáo dục cho con cái Điều này phần nào làm giảm cơ hội tiếp cận với nguồn lực của con gái và làm cho họ trở thành những người bị lệ thuộc nhiều hơn trong tương lai Rõ ràng là gia đình ngoài việc đóng góp cho sự ổn định xã hội còn là nơi diễn ra sự bất bình đẳng về quyền hạn và nguồn lực
Biểu đồ 19: Nhận định “Khi đầu tư cho giáo dục, con trai cần được ưu tiên hơn con gái” theo giới tính (%)
Rất đồng ý Đồng ý Tạm đồng ý Không đồng ý Rất không đồng ý
Bên cạnh việc đầu tư giáo dục cho con cái, trong một số trường hợp, các gia đình phải đứng trước lựa chọn cho con cái thôi học vì hoàn cảnh Phân tích dưới đây sẽ tập trung tìm hiểu lí do thôi học của trẻ em từ cách suy nghĩ của các bậc làm cha làm mẹ và chỉ ra những yếu tố liên quan đến vấn đề giới
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều lí do khiến con trai và con gái thôi học Ba lí do chính khiến con trai thôi học là: “không có lớp học” (100%), “không muốn học” (80,0%), “học lực kém” và “không thi đỗ” (50%) Ba lí do chính khiến con gái thôi học là: “con gái không cần học nhiều” (100%), “học lực kém” (50,0%) và “khó khăn về kinh tế” (25,0%) Có thể nhận thấy, cho đến nay vẫn còn tồn tại quan niệm “con gái không cần học nhiều” và điều này thường được dẫn ra khi cha mẹ quyết định cho con gái thôi học Điều này lại một lần nữa cho thấy bối cảnh của những gia đình nghèo làm giảm cơ hội tiếp cận nguồn lực của trẻ em gái, làm cho họ trở thành những người bị lệ thuộc nhiều hơn trong tương lai Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, rất ít các bậc cha mẹ dẫn lý do này
Bảng 24: Nguyên nhân thôi học theo giới tính của người trả lời (%)
Nguyên nhân các con thôi học vì khó khăn kinh tế
Cả con trai và con gái 33.3 5.3
Nguyên nhân các con thôi học vì các cháu không muốn học Cả con trai và con gái 20.0 11.1
Nguyên nhân các con thôi học vì học lực kém
Cả con trai và con gái 0.0 0.0
Nguyên nhân các con thôi học vì không thi đỗ
Cả con trai và con gái 25.0 0.0
Nguyên nhân các con thôi học vì không có lớp học
Cả con trai và con gái 0.0 0.0
Nguyên nhân các con thôi học vì con gái không cần học cao Cả con trai và con gái 0.0 0.0
Quan niệm của cha mẹ về giá trị của học vấn đối với con trai và con gái đã thay đổi, không còn hoặc ít phân biệt Tuy nhiên, lý do đầu tư chính thường xuất phát từ quan niệm mong muốn con cái có việc làm và nghề nghiệp tốt hơn trong tương lai:
“Anh không phân biệt hay ưu tiên cho đứa nào hơn đứa nào, chỉ mong cháu học hành đàng hoàng để sau này kiếm cái nghề mà làm cho đỡ vất vả Cha mẹ làm ruộng cực khổ rồi nên mong con cái có công việc sung sướng hơn.” (PVS nam 40 tuổi, làm ruộng, ấp 1, xã Trung An)
Có thể nhờ đó mà tỷ lệ trẻ em gái bỏ học trong những năm gần đây so với tỷ lệ trẻ em trai bỏ học không còn cách biệt như trước Theo số liệu thống kê, năm 2007 tỷ lệ trẻ bỏ học là 0,9%, năm 2008 là 0,94% tương ứng với khoảng 150000 học sinh bỏ học trong tổng số 16 triệu học sinh các cấp 4
5.2 Quyết định mua sắm trang thiết bị trong gia đình Đối với các gia đình nông thôn việc mua sắm các trang thiết bị trong gia đình như xe máy, ti vi, đầu máy, máy vi tính… là những việc khá quan trọng và cần có sự cân nhắc và quyết định Để tìm hiểu quyền quyết định của vợ và chồng trong vấn đề này, nghiên cứu đã đưa ra một số giả định về tình huống quyết định của hai vợ chồng, cụ thể như sau:
“vợ quyết định hoàn toàn vì chồng đi vắng”; “chồng quyết định hoàn toàn vì vợ đi vắng”;
“vợ quyết định hoàn toàn không bàn bạc với chồng”; “chồng quyết định hoàn toàn không bàn bạc với vợ”; “vợ quyết định mặc dù chồng có hoặc không đồng ý”; “chồng quyết định mặc dù vợ có hoặc không đồng ý”; “cả hai vợ chồng cùng bàn bạc và đồng thuận”;
“người khác trong gia đình quyết định”
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với trường hợp chồng đi vắng, tỷ lệ nữ giới cho rằng khi đó người vợ sẽ quyết định hoàn toàn là 66,7%, tỷ lệ nam giới có cùng nhận định là 33,3% Trong trường hợp vợ đi vắng, tỷ lệ nam giới và nữ giới ngang nhau và đều cho rằng khi đó quyền quyết định thuộc về người chồng (50,0%) Ngoài ra, cũng có rất nhiều trường hợp quyền quyết định thuộc về một người, mặc dù chồng hay vợ của họ có ý kiến hoặc không có ý kiến Chẳng hạn, có 40,0% nữ giới cho rằng, khi quyết định mua sắm trang thiết bị trong gia đình, vợ là người quyết định mặc dù chồng có ý kiến hay không có ý kiến, trong khi tỷ lệ nam giới có cùng nhận định là 60,0% Đáng lưu ý là 100% nữ giới đồng ý với nhận định chồng là người quyết định hoàn toàn, không quan tâm đến ý kiến của vợ Điều này cho thấy trong gia đình nông thôn ven đô Mỹ Tho tiếng nói và quyền quyết định của người chồng vẫn còn khá lớn Nguyên nhân là do những định kiến giới vẫn còn ảnh hưởng khá sâu sắc đến quan niệm của nhiều người Mặc dù người phụ nữ đã tham gia vào các công việc sản xuất, đóng góp vào thu nhập gia đình, chăm lo công việc nội trợ, chăm sóc con cái và các thành viên trong gia đình, nhưng khi đứng trước một quyết định quan trọng thì người chồng vẫn là người có nhiều quyền lực hơn Người vợ là người đóng góp nhiều công sức nhưng tiếng nói và quyền hạn thì lại rất hạn chế Rõ ràng là gia đình ngoài việc đóng góp cho sự ổn định xã hội còn là nơi diễn ra sự bất bình đẳng về quyền hạn và tiếng nói
Tuy nhiên, vẫn có một số người cho rằng trong gia đình họ, khi quyết định công việc mua sắm trang thiết bị, cả hai vợ chồng đều cùng bàn bạc với nhau, tỷ lệ nam giới đồng ý với nhận định này là 43,4%, tỷ lệ nữ giới là 56,6% Đó là một dấu hiệu cho thấy, người phụ nữ đã từng bước có tiếng nói trong gia đình của mình nhưng mức độ không nhiều.
Biểu đồ 20: Người quyết định việc lớn trong gia đình theo giới tính người trả lời (%)
Vợ quyết định hoàn toàn vì choàng ủi vaéng
Choàng quyeỏt ủũnh hoàn toàn vì vợ đi vaéng
Vợ quyết định hoàn toàn, không bàn bạc với choàng
Choàng quyeỏt ủũnh hoàn toàn, không bàn bạc với vợ
Vợ quyết định mặc duứ choàng có hoặc khoâng đồng ý
Choàng quyeỏt ủũnh mặc dù vợ có hoặc khoâng đồng ý
Cả hai vợ choàng cùng bàn bạc và đồng thuận
Người khác trong gia ủỡnh quyeỏt ủũnh
Người quyết định việc lớn
“Việc gì thì hai vợ chồng cũng phải bàn bạc hết, giờ nam nữ bình quyền rồi mà Hỏi ý kiến nhau rồi quyết định thì khi làm gì đó cũng thấy an tâm hơn, vì có sự đồng lòng hết.” (PVS nam, 41 tuổi, nông dân, ấp 1, xã Trung An)
“Nói chung ảnh làm gì cũng hỏi ý chị hết, từ hồi mới cưới nhau về đã vậy rồi Tại có hai vợ chồng mà, làm gì mình bàn bạc với nhau cũng thấy hay hơn Nhưng mà đa số là thống nhất theo ý ảnh hết, vì ảnh là trụ cột trong gia đình mà Chị thấy giờ nhà nào cũng vậy thôi (PVS nữ, 36 tuổi, buôn bán nhỏ, ấp 3, xã Trung An)
Mặc dù sự bàn bạc trong gia đình tăng lên là một dấu hiệu cho thấy tính hiệu quả, hợp lý của những quyết định dựa trên sự suy nghĩ, tính toán và đồng thuận của cả hai vợ chồng Tuy nhiên, mô hình quyết định trong gia đình vẫn chưa có tính hợp lý, và quyết định cuối cùng thì đều theo ý người chồng Điều này cho thấy những khuôn mẫu truyền thống theo giới vẫn còn tồn tại và góp phần làm duy trì sự bất bình đẳng về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói của các thành viên trong gia đình nông thôn ven đô Mỹ Tho
5.3 Quyết định các công việc quan trọng trong gia đình Đối với nhiều gia đình tại vùng ven đô Mỹ Tho, việc quản lý tiền bạc là một trong những công việc quan trọng, thể hiện quyền lực và tiếng nói của thành viên nào đó trong gia đình Thông tin định lượng cho thấy, hầu hết người trả lời đều cho rằng trong gia đình họ tiền do vợ giữ hết Tuy nhiên tỷ lệ nữ giới đồng ý với nhận định này cao hơn nam giới (69,4% so với 62,3%) Chỉ một số ít người trả lời cho rằng chồng giữ hết (10,4% đối với nam và 3,8% đối với nữ) và ai làm ra nấy giữ (1,9% đối với nam và 3,1% đối với nữ) Đáng lưu ý là tỷ lệ người cho rằng cả hai vợ chồng cùng giữ chiếm tỷ lệ khá cao (24,5% đối với nam và 20,6% đối với nữ) Điều này phản ánh quan niệm mang tính truyền thống của người Việt Nam từ xưa đến nay, phụ nữ là người giữ tiền và quản lý việc chi tiêu Người giữ tiền không có nghĩa là người có quyền lực nhất trong gia đình
Biểu đồ 21: Người giữ tiền trong gia đình theo giới tính của người trả lời (%)
Vợ giữ hết Chồng giữ hế Cả hai vợ chồng cùng giữ
Ai làm ra, người đó giữ