1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử nam tiến của người việt ở tây nam bộ

147 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Nam tiến của người Việt và văn hoá của người Việt trên vùng đất Tây Nam Bộ nhưng nghiên cứu về văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

Mã số: 16.06.24

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Đinh Thị Dung

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 7

6.1 Phương pháp nghiên cứu 7

6.2 Nguồn tài liệu 8

7 Bố cục của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Văn hóa 10

1.1.2 Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Nhìn từ chủ thể 15

1.2.2 Nhìn từ thời gian 24

1.2.3 Nhìn từ không gian 30

CHƯƠNG2: CÁC BÌNH DIỆN CHỦ YẾU CỦA VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI TRONG LỊCH SỬ NAM TIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở TÂY NAM BỘ 36

2.1 Văn hoá ứng xử của nhà Nguyễn với Chân Lạp – Xiêm La 36

2.1.1 Văn hoá ứng xử của nhà Nguyễn với Chân Lạp 37

2.1.2 Văn hoá ứng xử của nhà Nguyễn với Xiêm La 48

2.2 Văn hoá ứng xử của người Việt với các tộc người khác trong quá trình Nam tiến 56

2.2.1 Văn hoá ứng xử với tộc người Khơme 57

2.2.2 Văn hoá ứng xử với tộc người Hoa 63

2.2.3 Văn hoá ứng xử với tộc người Chăm 70

CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ THẾ KỶ XVII – XIX 76

3.1 Tính khoan dung 77

3.2 Tính hoà hiếu 82

3.3 Tính linh hoạt 87

3.4 Tính trọng nghĩa 92

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 118

Trang 3

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc Nam tiến của người Việt dưới thời Nguyễn có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử mở nước của Việt Nam Trong suốt quá trình Nam tiến, người Việt đã phải đối phó với rất nhiều vấn đề về văn hoá, xã hội để tạo dựng cho mình một mảnh đất mới ở miền Tây Nam Bộ

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Nam tiến của người Việt và văn hoá của người Việt trên vùng đất Tây Nam Bộ nhưng nghiên cứu về văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ chưa được chú trọng nhiều

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội

trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ để làm luận văn thạc

sĩ chuyên ngành Văn hoá học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về văn hoá ứng xử của chính quyền nhà Nguyễn và ứng xử của người Việt với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến ở Tây Nam Bộ của mình

Luận văn còn nghiên cứu văn hoá ứng xử với môi trường xã hội của người Việt miền Tây Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX để nhận diện những đặc trưng tính cách của người Việt miền Tây Nam Bộ thời kỳ này

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ lâu các học giả nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về

chính trị, kinh tế, văn hóa Đàng Trong như: Cristophoro Borri với Xứ

Đàng trong năm 1621 phát hành năm 1998, viết về tình hình kinh tế, chính

trị của xứ Đàng Trong dưới thời nhà Nguyễn Li Tana với Nguyễn

Trang 4

Cochinchina: Southern VietNam in the 17 th and 18 th centeries phát hành

năm 1998, viết về tình hình kinh tế, xã hội của xứ Đàng trong dưới thời nhà Nguyễn ở thế kỷ XVII – XVIII

Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Nam

tiến của người Việt Trong đó có các bộ sử lớn như Quốc sử quán triều

Nguyễn - Đại Nam thực lục, NXB Giáo Dục phát hành năm 2002, ghi lại

lịch sử triều đình nhà Nguyễn từ khi chúa Nguyễn Hoàng vào mở đất

Quốc sử quán triều Nguyễn – Minh Mạng chính yếu, NXB Thuận Hoá,

Huế phát hành năm 1994, ghi lại việc làm của nhà Nguyễn dưới thời Minh

Mạng Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận

Hoá, Huế phát hành năm 1992, ghi chép về con người, địa lý, núi sông,

thành trì, phong tục… của các tỉnh phía Nam Quốc sử quán triều Nguyễn

- Đại Nam liệt truyện, NXB Thuận Hoá phát hành năm 1993, ghi lại

chuyện về vua chúa, và các bề tôi trong triều đình nhà Nguyễn

Còn có công trình nghiên cứu của các nhà sử học như: Phủ biên tạp

lục phát hành năm 2007 của Lê Quý Đôn là công trình lịch sử viết rất cặn

kẽ về lịch sử Đàng Trong, kể cả những việc làm thối nát trong nội các

triều Nguyễn ở xứ Thuận, Quảng Trịnh Hoài Đức với công trình Gia

Định thành thông chí ghi chép đầy đủ và tỉ mỉ về núi sông, khí hậu, việc

thành lập các trấn, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tính cách và

sinh hoạt của người dân Nam Bộ xưa Cao Xuân Dục với công trình Quốc

triều chánh biên toát yếu ghi lại những công việc mà các chúa Nguyễn đã

làm ở mảnh đất phía Nam từ đời vua Gia Long đến vua Đồng Khánh

Phan Khoang với công trình Việt sử xứ đàng trong phát hành năm 2000,

viết về lịch sử xứ Đàng Trong và ghi lại đường đi của tiền nhân trong thời

kỳ khẩn hoang lập ấp trên miền đất mới Trần Trọng Kim với công trình

Việt Nam sử lược phát hành năm 1971, viết về lịch sử Việt Nam từ khi mở

nước, trong đó có phần viết về lịch sử Đàng Trong và những công việc mà

Trang 5

nhà Nguyễn đã làm ở miền Nam Nguyễn Thiệu Lâu với công trình Quốc

sử tạp lục phát hành năm 1994, ghi lại lịch sử Việt Nam qua các đời vua

và sự bang giao giữa Đại Việt và các nước lân bang Đỗ Bang với Chân

dung các vua Nguyễn phát hành năm 2001, Phan Lạc Tuyên với Lịch sử bang giao Việt Nam – Đông Nam Á phát hành năm 1993 Đều nói về quan

hệ ngoại giao giữa triều đình nhà Nguyễn với Chân Lạp và Xiêm La

Huỳnh Lứa với Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ phát hành năm 1987 và

Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX phát hành

năm 2000 Viết về môi trường địa lý và lịch sử khai khẩn vùng đất Đồng

bằng sông Cửu Long cho đến khi người Pháp cai trị vùng đất này Việt Sử

giai thoại viết về công việc mở mang bờ cõi phía Nam của các chúa

Nguyễn Lê Hương với Người Việt gốc Miên phát hành năm 1969, viết về

nguồn gốc và văn hoá của người Khơme ở Nam bộ

Các nhà nghiên cứu văn hoá cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hoá vùng đất miền Tây Nam bộ như: Sơn Nam với các biên

khảo và tác phẩm văn học như: Lịch sử khẩn hoang miền Nam phát hành năm 2007, viết về quá trình khai khẩn vùng đất Nam Bộ Đất Gia Định

xưa phát hành năm 1997, viết về thiên nhiên và quá trình khai khẩn mảnh

đất phía Tây Nam Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa và văn

minh miệt vườn phát hành năm 2007, viết về những nét sinh hoạt truyền

thống và nền văn minh sông nước của người xưa ở Đồng bằng sông Cửu

Long Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang phát hành năm

2007, viết về địa lý, cảnh quan, về lịch sử trước và sau khi Nam tiến của

người Việt trên mảnh đất Hậu Giang và An Giang Người Việt có dân tộc

tính không phát hành năm 1969 với những đề tài về cá tính miền Nam, nói

về tính cách của người Việt Nam bộ Nguyễn Công Bình, Mạc Đường, Lê

Xuân Diệm với Văn hoá và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long phát hành

năm 1990, viết về con người, đời sống văn hoá của cư dân Đồng bằng

Trang 6

sông Cửu Long Nguyễn Văn Hầu với Thoại Ngọc Hầu và những cuộc

khai phá miền Hậu Giang phát hành năm 1999, viết về cuộc đời của Thoại

Ngọc Hầu với công cuộc khai hoang và đào kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế cùng những đóng góp của ông ở miền Hậu Giang Nguyễn Hữu Hiếu với

Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất phương Nam phát hành năm 2003,

viết về những giai thoại trong lịch sử Nam tiến của triều đình nhà Nguyễn

Phan Quang với bút ký Đồng bằng sông Cửu Long phát hành năm 2002,

viết về thiên nhiên, địa lý và con người vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nguyễn Hiến Lê với du ký và biên khảo Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười

phát hành năm 1989, viết về cuộc sống và cư dân vùng Đồng Tháp Mười

Nguyễn Văn Luận với Người Chàm Hồi Giáo miền Tây Nam phần Việt

Nam phát hành năm 1974, viết về lịch sử di cư và văn hoá của người

Chăm ở miền Tây Nam bộ Nguyễn Văn Nguyên (dịch và chú thích) Hà

Tiên trấn Hiệp trấn - Mạc thị gia phả phát hành năm 2006, viết về họ Mạc

và mảnh đất Hà Tiên

Ngoài ra còn có rất nhiều nhà nghiên cứu, nghiên cứu về lịch sử Nam tiến của người Việt, nguồn gốc và văn hoá của các tộc người sống trên Đồng bằng sông Cửu Long như Lê Hương, Thạch Voi, Khuông Việt,

Tư Nguyên, Nguyễn Văn Hầu, Phan Thị Yến Tuyết… đã đăng trên các báo, tạp chí, internet… như Văn hoá Nguyệt San, Văn hoá Á Châu, Sử Địa, Đại Việt tạp chí, Bách khoa, Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học…

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ

Chủ thể: nghiên cứu về văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của triều đình nhà Nguyễn và người Việt ở Tây Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX

Trang 7

Không gian: vùng văn hoá Nam Bộ nhưng trọng tâm vẫn là miền Tây Nam Bộ

Thời gian: từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, trong khoảng thời gian này thì văn hóa ứng xử của chính quyền nhà Nguyễn với Chân Lạp và Xiêm La; văn hóa ứng xử của người Việt với các cộng đồng tộc người khác ở Tây Nam Bộ góp phần quan trọng trong việc sáp nhập vùng đất Nam Bộ vào lãnh thổ Việt Nam một cách hòa bình

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm nguyên nhân khiến người Việt từng bước Nam tiến đến Tây Nam Bộ Làm rõ hơn văn hoá ứng xử với môi trường xã hội và vai trò của triều đình nhà Nguyễn, vai trò của người Việt với mảnh đất miền Tây Nam Bộ

Về thực tiễn, luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn việc vùng đất Nam

Bộ được sáp nhập vào Việt Nam, làm bằng chứng cho vấn đề tranh chấp vùng đất Nam Bộ của Camphuchia với Việt Nam mà một số phần tử phản động hiện nay đang gieo rắc nhằm gây chia rẽ dân tộc

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt là sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá học Dùng lý luận văn hoá học làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn

đề lịch sử Ứng dụng phương pháp nghiên cứu văn hoá học nhìn từ thời gian

Luận văn còn sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu những vấn đề lịch sử văn hoá

Trang 8

Ngoài ra còn sử dụng phương pháp so sánh văn hoá để nghiên cứu

sự giống và khác nhau trong văn hoá ứng xử với môi trường xã hội giữa nước Đại Việt với nước Chân Lạp và nước Xiêm La

6.2 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu sử dụng chủ yếu để làm luận văn là các tư liệu lịch sử

về triều đình nhà Nguyễn và tư liệu lịch sử về miền Tây Nam bộ

Luận văn còn sử dụng nguồn tư liệu về lý luận văn hoá học và các

tư liệu văn hoá về miền Tây Nam bộ

7 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 3 chương chính

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Trình bày cơ sở lý luận về văn hoá trong đó tập trung vào văn

hoá ứng xử với môi trường xã hội - một thành tố của văn hoá

- Trình bày những cơ sở thực tiễn dẫn đến việc người Việt Nam

tiến1 đến Tây Nam Bộ

- Trình bày những cơ sở tạo nên đặc điểm văn hoá ứng xử của

người Việt miền Tây Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX

Chương 2: Các bình diện chủ yếu của văn hoá ứng xử với môi trường

xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt

Chương này trình bày về văn hoá ứng xử với môi trường xã hội của người Việt trong lịch sử Nam tiến

- Nhìn từ chính sách của triều đình nhà Nguyễn

1

Trong luận văn chúng tôi dùng danh từ “người Việt” chứ không phải “người Việt Nam”; vì thế câu

“người Việt Nam tiến” có nghĩa là người Việt tiến về phương Nam

Trang 9

- Nhìn từ ứng xử của người dân trong tiếp xúc văn hoá và quá

trình cộng cư

Chương 3: Đặc trưng văn hoá ứng xử với môi trường xã hội của người Việt ở Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX

- Trình bày các đặc điểm văn hóa ứng xử của người Việt trong

quá trình Nam tiến như tính khoan dung, tính hoà hiếu, tính linh hoạt, tính trọng nghĩa

- Về tính cách người Việt ở Nam Bộ qua quá trình Nam tiến

Trang 10

Có rất nhiều định nghĩa về văn hoá đã được các nhà khoa học trên thế giới nêu ra “Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred

Kroeber và Clyde Kluckhohn đã dành hẳn một cuốn sách Văn hóa: tổng

quan về khái niệm và định nghĩa, trong đó các tác giả đưa ra gần 150 định

nghĩa In lần thứ hai số định nghĩa đã tăng lên hơn 200.” [Dẫn theo Belik 2000: 15] Cho đến nay thì số lượng các định nghĩa về văn hoá đã tăng lên rất nhiều Có nghĩa là mỗi người hiểu về văn hoá một cách khác nhau (mỗi người hiểu và nhìn văn hoá từ một góc độ khác nhau.)

Tuy những định nghĩa về văn hoá là khác nhau nhưng những quan niệm, nhận thức về văn hoá lại không mâu thuẫn nhau mà còn bổ sung cho nhau, làm cho chúng ta có một cái nhìn hiểu biết về văn hoá toàn diện hơn, phong phú hơn, đầy đủ hơn, thấy nhiều khía cạnh khác nhau về văn hoá

Trên cơ sở đó Trần Ngọc Thêm đã khái quát và đưa ra định nghĩa

văn hóa của mình mà ông gọi “đó là định nghĩa để làm việc (working

definition)” [Trần Ngọc Thêm 2006b: 20] Ông định nghĩa văn hoá như

sau:

Trang 11

“VĂN HOÁ là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn,

trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội của mình.” [Trần Ngọc Thêm 2006a: 25]

Định nghĩa trên khẳng định văn hoá đóng vai trò quan trọng và có phạm vi rất rộng, nó bao gồm toàn bộ các hoạt động của con người trên tất

cả mọi lĩnh vực Định nghĩa khái quát đầy đủ các đặc tính của văn hoá như: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh Định nghĩa cho thấy rõ các thành tố của hệ thống văn hoá như: văn hoá nhận thức, văn hoá

tổ chức cộng đồng, văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hoá ứng

xử với môi trường xã hội Trong quá trình sống con người cần phải tương tác với hai môi trường sống không thể thiếu, đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong quá trình tương tác đó con người sẽ có những ứng xử phù hợp theo hướng vừa tận dụng vừa đối phó để tích luỹ thành hệ giá trị và con người sẽ phải ứng xử sao cho phù hợp với hệ giá trị mà mình đang sống

Trên cơ sở định nghĩa văn hoá của Trần Ngọc Thêm chúng tôi sẽ triển khai làm cơ sở lý luận cho luận văn của mình Vì định nghĩa văn hoá của Trần Ngọc Thêm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của đề tài “Văn hoá ứng

xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ”, xem văn hoá ứng xử với môi trường xã hội là một tiểu hệ của

hệ thống văn hoá Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội mà Trần Ngọc Thêm đưa ra chính là văn hoá ứng xử của cộng đồng trong mối quan hệ với “các dân tộc, quốc gia lân bang.” [Trần Ngọc Thêm 2006a: 29] Định nghĩa này giúp chúng tôi bước đầu xác lập cơ sở lý luận cho mình, xem xét văn hoá ứng xử của cộng đồng chính là xem xét các hoạt động của cộng đồng người Việt trong mối quan hệ tương tác với cộng đồng các dân tộc khác và các quốc gia láng giềng

Trang 12

Nghiên cứu về “Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ” chúng tôi còn dựa trên định nghĩa văn hoá của Trần Ngọc Thêm trong nghiên cứu văn hoá nhìn từ lịch

sử Vì “Mỗi thời kỳ lịch sử đều mang đậm dấu tích văn hoá Không am hiểu lịch sử sẽ rất khó có thể am hiểu truyền thống văn hoá một dân tộc.”2

1.1.2 Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội

Tìm hiểu về “Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ” chúng tôi xác định một cơ sở lý luận về văn hoá ứng xử với môi trường xã hội cho phù hợp với cách tiếp cận đề tài của mình dựa trên định nghĩa văn hoá của Trần Ngọc Thêm

Theo Trần Ngọc Thêm thì văn hoá được xem như một hệ thống

gồm bốn thành tố là: Văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức đời sống cộng

đồng, văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội

Như vậy, văn hoá ứng xử với môi trường xã hội là một thành tố của văn hoá và thuộc phạm trù văn hoá ứng xử Ông viết: “Với môi trường xã hội, bằng các quá trình giao lưu văn hoá, tiếp biến văn hoá, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng các thành tựu của các dân tộc, quốc gia lân bang, để làm giàu thêm cho nền văn hoá của mình, đồng thời lại phải lo đối phó với

họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao…” [Trần Ngọc Thêm 2006a: 29]

Từ đó ta thấy, văn hoá ứng xử với môi trường xã hội có thể có hai cách ứng xử là tận dụng môi trường xã hội và đối phó với môi trường xã hội Tuỳ vào từng hoàn cảnh mà mỗi dân tộc sẽ có cách ứng xử riêng với môi trường xã hội mà mình đang sống

2Đinh Thị Dung: Mối quan hệ giữa sử học và văn hoá học http://www.vanhoahoc.edu.vn

Trang 13

Tìm hiểu về “Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ” chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận

về văn hoá ứng xử với môi trường xã hội của Trần Ngọc Thêm để: xem xét cách ứng xử của triều đình nhà Nguyễn và cư dân Việt trong chặng đường khai phá mảnh đất miền Tây Nam Bộ Tìm hiểu xem người Việt đã tận dụng và ứng phó trên lĩnh vực quân sự, ngoại giao… với các quốc gia lân bang và các dân tộc sống chung với mình như thế nào để có thể làm chủ được mảnh đất này, đem lại cho nước Việt Nam một vùng đất mới giàu tiềm năng về kinh tế, văn hoá

“Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ” là tìm hiểu cách ứng xử của cộng đồng này với cộng đồng khác trên phương diện nhà nước như: văn hoá ứng xử của Đại Việt với Chân Lạp và Xiêm La; trên phương diện tộc người như: văn hoá ứng xử của tộc người Việt với tộc người Khơme, Hoa, Chăm

Chính môi trường văn hoá đã tạo ra lối ứng xử của con người Con người sống trong môi trường văn hoá khác nhau thì sẽ có lối ứng xử khác nhau cho phù hợp với môi trường văn hoá mà mình đang sống

Các học giả nước ngoài cũng rất quan tâm đến khía cạnh văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong nghiên cứu văn hoá của mình Nhà nghiên cứu lịch sử Arnold Toynbee đã có cùng quan điểm với P Bagby, cho rằng văn hoá chính là “những quy tắc thường xuyên trong ứng xử bên trong và bên ngoài của các thành viên của một xã hội.” [Toynbee A 2002: 31] “Những quy tắc thường xuyên trong ứng xử” chính là văn hoá ứng xử với môi trường xã hội của các thành viên trong cùng một cộng đồng xã hội, hay các thành viên trong cộng đồng xã hội này với các thành viên trong cộng đồng xã hội khác Margaret Mead nghiên cứu về tính cách dân tộc bằng cách “tìm ra cái cách mà ứng xử văn hoá được nhận biết và biểu

Trang 14

hiện trong cấu trúc nội tâm thần của các cá nhân thành viên của nền văn hoá ấy” [Philippe Claret 2006: 337] Arnoldov thì cho rằng văn hoá ứng

xử phải phù hợp với chuẩn mực của xã hội thì mới được chấp nhận “Mỗi giai cấp chấp nhận những chuẩn mực và phương thức ứng xử phù hợp với lợi ích của mình, kiên quyết chống lại chuẩn mực và mẫu hình ứng xử của giai cấp thù địch.” [Arnoldov A.I (cb) 1985: 64]

Trên cơ sở lý luận đó chúng tôi sẽ tìm hiểu về văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ,

từ đó nhận diện đặc trưng văn hoá ứng xử của người Việt ở Nam Bộ thế

kỷ XVII – XIX

1.2 Cơ sở thực tiễn

Công cuộc Nam tiến của người Việt diễn ra trên diện rộng và có quy

mô lớn vào thế kỷ XVII – XIX Nhưng ngay từ trước đó đã manh nha có người Việt đến làm ăn sinh sống trên những miền đất mới ở phía Nam nước Đại Việt Đó chính là những người Việt đầu tiên đi khai phá, mở mang lãnh thổ cho đất nước ngày càng rộng lớn Vì vậy, nghiên cứu về

“Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ” chúng tôi đi vào nghiên cứu những cơ sở cụ thể đã có tác động mạnh mẽ đến công cuộc Nam tiến và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội của người Việt khi đến miền Tây Nam Bộ trong thời kỳ này

Vì vùng đất người Việt Nam tiến trong suốt thế kỷ XVII – XIX là khu vực Nam Bộ, gồm cả Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Vùng đất này lúc bấy giờ được gọi là Thuỷ Chân Lạp nên chúng tôi sử dụng danh từ Thuỷ Chân Lạp cho phù hợp với thời kỳ lịch sử

Trang 15

1.2.1 Nhìn từ chủ thể

Chủ thể văn hoá của vùng Thuỷ Chân Lạp hầu như là lưu dân

Cư dân đầu tiên của vùng Thuỷ Chân Lạp là người Khơme, họ chủ yếu là những nhà sư và nông dân nghèo

Do những mâu thuẫn nội bộ ở triều đình Chân Lạp dẫn đến sự tranh giành ngôi báu giữa các hoàng thân Chân Lạp, gây ra chiến tranh liên miên, đẩy nhân dân Khơme vào con đường điêu đứng, khổ sở Họ phải chịu đựng chế độ bóc lột hà khắc của triều đình Chân Lạp, lại phải chịu sự đàn áp của vua chúa Xiêm La xâm lược nên “những nông dân nghèo, những người chống nạn lao dịch nặng nề và sự bóc lột tận xương của giai cấp phong kiến Khơme, nhất là đế chế Angkor” [Mạc Đường 1991: 29] đã phải rời bỏ quê hương đến vùng Thuỷ Chân Lạp sinh sống

Sau người Khơme một thời gian, cư dân người Việt cũng đến sinh sống ở vùng Thủy Chân Lạp Người có công lớn nhất trong quá trình khai hoang Nam tiến là Nguyễn Hoàng Ông là người có công xây dựng nên vương triều nhà Nguyễn, mở ra con đường lập nghiệp trên mảnh đất mới ở miền Trung nước Việt, làm bàn đạp cho việc tiến về phương Nam của người Việt sau này

Nguyễn Hoàng là con thứ hai của Nguyễn Kim – người có công lớn với triều đình nhà Lê Nguyễn Hoàng rất tài giỏi và nổi bật trong các trận đánh với quân nhà Mạc Vì vậy, ông bị Trịnh Kiểm (người lãnh đạo trung hưng nhà Lê thay Nguyễn Kim sau khi ông qua đời) ghen ghét Để tránh

sự dòm ngó của Trịnh Kiểm ông đã phải giả điên Sau đó, ông xin ý kiến của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhận được lời khuyên rằng:

“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” nghĩa là, một dãy Hoành Sơn3

kia có thể yên thân được muôn đời Ông hiểu ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm

3

Núi Hoành Sơn là núi Đèo Ngang ở tỉnh Quảng Bình

Trang 16

và để được vào Nam một cách hợp pháp ông đã nhờ chị gái của mình xin với chồng là Trịnh Kiểm cho mình được vào trấn thủ đất Thuận Hoá

Để trừ mối hoạ cho mình, năm 1558, đời vua Lê Anh Tông, Trịnh Kiểm tâu xin vua cho người em vợ và cũng là địch thủ chính trị của mình

là Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm đất Thuận Hoá Cuối năm này Nguyễn Hoàng rời Đông Đô vào Thuận Hoá Triều đình buộc ông phải thu thuế và nộp cống phẩm hàng năm Đoàn người đi theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá rất đông, đó là những lưu dân đầu tiên đi khai phá miền Nam

Sau khi trấn nhậm và mở mang đất Thuận Hoá, Quảng Nam hơn 20 năm, năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng sai quân đánh vào Chiêm Thành, lấy đất lập ra phủ Phú Yên Cho đến khi mất ông vẫn nuôi ý chí mở đất về phương Nam nên mới cho gọi người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên

mà mình sẽ truyền ngôi vào dặn rằng: “Đất Thuận, Quảng này bên Bắc thì

có núi Hoàng Sơn, sông Linh Giang, bên Nam thì có núi Hải Vân và núi

Bi Sơn, thật là một nơi trời để cho người anh hùng dụng võ Vậy ta phải thương yêu muôn dân, luyện tập quân sĩ để mà xây dựng cơ nghiệp về muôn đời.” [Trần Trọng Kim, bản Adobe: 122]

Như vậy, Nguyễn Hoàng đã có một cái nhìn chiến lược cho việc mở đất về phương Nam của Người Việt Có thể vùng đất mà ông nhìn thấy trước mắt chưa xa đến tận miền Tây Nam Bộ nhưng ông chính là người đặt nền móng quan trọng cho con cháu của ông bước tiếp con đường Nam tiến xa hơn nữa

Từ đó, Nguyễn Hoàng và con cháu ông sau này đã mở mang đất Thuận Quảng, phát triển dần thành một nước độc lập, lập nên vương triều Nguyễn Chúa Trịnh thấy vậy rất lo ngại chúa Nguyễn sẽ là mối hoạ về sau cho mình

Trang 17

Do đó, trong thế kỷ XVII ở Đại Việt đã diễn ra cuộc tranh chấp quyết liệt giữa hai tập đoàn phong kiến lớn, họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong Cuộc giao tranh này kéo dài suốt 175 năm

Tình hình chính trị không ổn định, đất nước có chiến tranh thì nhân dân chính là người phải gánh chịu hậu quả Để phục vụ cho chiến tranh thì việc có một lực lượng quân đội hùng hậu là hữu hiệu nhất Vì vậy, “ở Đàng Trong vào thế kỷ XVII, quân đội là tổ chức quyền lực chính của nhà Nguyễn và việc thành lập quân đội là yếu tố cơ bản của vùng này.”4 Để có một lực lượng binh lính hùng hậu nhằm phục vụ cho chiến tranh với chúa Trịnh, chúa Nguyễn rất chú trọng vào việc bắt lính Điều này được Thích Đại Sán một nhà sư Trung Quốc đã đến Thuận Hoá từ ngày 13 tháng 3 năm 1695 đến tháng 6 năm 1696 ghi lại như sau: “cứ mỗi năm vào khoảng tháng 3, tháng 4, quân nhân ra các làng bắt dân 16 tuổi trở lên, thể chất cường tráng, xiềng cổ bằng một cái gông tre đem về sung quân, cho học một nghề chuyên môn, học thành nghề rồi phân bắt vào đội chiến thuyền

để luyện tập, lúc hữu sự ra trận để đánh giặc, vô sự bắt làm công dịch trong quan phủ, chưa được 60 tuổi chưa cho về làng, vì thế dân còn lại ốm yếu, tàn tật, ít có người tráng kiện.” [Dẫn theo Huỳnh Lứa 1987: 39]

Đất nước đang có chiến tranh, nhân dân thì cực khổ nhưng tầng lớp quan lại phong kiến họ Nguyễn vẫn sống rất xa hoa, làm thành thói quen, đua đòi, bắt chước nhau Các “quan viên lớn nhỏ không ai là không nhà cửa chạm gọt, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạc đồng thau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trắc, chén mâm đồ sứ đồ hoa, yên cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, phú quý phong lưu Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực” [Lê Quý Đôn 2007: 430]

Đã thế, ở đây hệ thống quan lại lại quá nhiều và thường xuyên nhũng

4

“In seventeenth – century Cochinchina, the regular army was the main organ of Nguyễn power and the organizing principle of the state.” [Li Tana 1998: 40]

Trang 18

nhiễu dân chúng “Quảng Nam và Thuận Hoá chỉ hai trấn thôi mà họ Nguyễn đặt quan lại, thuộc ty, hương trưởng, kể có hàng nghìn, nhũng lạm quá lắm Tất cả bổng lộc đều lấy ở dân, dân chịu sao được.” [Lê Quý Đôn 2007: 186; 187]

Để đáp ứng tất cả những nhu cầu của triều đình phong kiến nhà Nguyễn từ việc phục vụ cho chiến tranh đến việc cung phụng cho lối sống

xa hoa, quý tộc của tầng lớp quan lại Triều đình nhà Nguyễn đã đặt ra rất nhiều thứ sưu thuế nặng nề mà Lê Quý Đôn đã nhận xét rằng: “thuế khoá hàng năm trăm mối, trưng thu luôn luôn.” [Lê Quý Đôn 2007: 302] Lê Quý Đôn còn cho thấy ngay cả những sai nha thu thuế cũng lợi dụng chức quyền thường xuyên nhiễu nhương, áp bức, bóc lột nhân dân để thu lợi cho mình như: “Thuế khoá xứ Thuận Hoá, pháp lệnh rất phiền, nhân viên thu thúc rất nhiều, nên dân cùng nhà nghèo thường khổ về nộp gấp bội, mà trong thì ty lại, ngoài thì quan bản đường, bớt xén không thể kiểm xét được.” [Lê Quý Đôn 2007: 171] Những sai nha này còn “làm sổ kê binh dân bảy huyện Nam Hà trấn Nghệ An, thu thuế đinh, vơ vét tô ruộng, rất

là rối ren, dân ta oán lắm.” [Lê Quý Đôn 2007: 72]

Ngoài việc phải chịu sự áp bức nặng nề của tầng lớp quan lại phong kiến nhà Nguyễn, người nông dân còn phải chịu những tai hoạ do thiên nhiên gây ra làm cho mùa màng thất bát, nhân dân điêu đứng khổ sở Như năm 1640 “trong cõi hạn và đói, dân xiêu dạt và chết đói rất nhiều.” [Lê Quý Đôn 2007: 67] Hay năm 1773 “Thuận Hoá luôn mấy năm mất mùa đói kém, lại phải đánh trận, bắt lính không thôi.” [Lê Quý Đôn 2007: 88]

Sống trong cảnh lầm than, khổ cực như vậy người dân không thể chịu nổi, họ đã phải rời bỏ quê nhà của mình đi nơi khác tìm đất sống tốt hơn Họ chỉ còn con đường duy nhất là đi tiếp về phương Nam, vì cha ông của họ cũng từng không sống được ở miền Bắc, đã phải Nam tiến vào

Trang 19

miền Trung sinh sống Giờ đây, họ lại không sống được ở miền Trung thì chỉ có thể bước tiếp con đường Nam tiến là thẳng xuống phía Nam Cuối cùng họ đã đến Thuỷ Chân Lạp – một vùng đất hoang vu nhưng lại chứa đựng rất nhiều ưu đãi cho những ai can đảm và kiên trì khai phá Đây là vùng đất mà ngay thời điểm đó con người đã nhận thấy nó “có lắm sông, nhiều ngòi, ruộng đất thì phì nhiêu, mà nước Nam ta thường hay mất mùa, dân tình phải đói khổ luôn, vả lại vào lúc chúa Nguyễn, chúa Trịnh đánh nhau, cho nên nhiều người bỏ vào khẩn đất.” [Trần Trọng Kim, bản Adobe: 137]

Hơn nữa, trong khoảng thời gian này, chúa Nguyễn lại đang muốn

mở rộng lãnh thổ về phía Nam nên nhà Nguyễn đã đưa ra nhiều chính sách

ưu đãi để khuyến khích người dân đến vùng Thuỷ Chân Lạp khai hoang:

“Ai ở đâu, muốn vỡ đất chỗ nào, chiếm hữu nhiều hay ít, tự ý muốn đóng thuế bao nhiêu thì khai báo bấy nhiêu, nhà nước không hạn chế không đo đạc hay khám xét.” [Nguyễn Đình Đầu 1999: 61] Và pháp chế ở đây lúc này rất lỏng lẻo so với ở miền Trung Như Trịnh Hoài Đức đã từng nhận xét: “Đất Nông Nại xưa vốn nhiều đầm ao rừng rú, buổi đầu mới lập ra 3 dinh, mộ dân đến lập nghiệp, phép tắc hãy còn khoan dung giản dị Có khi đất ở hạt Phiên Trấn mà lập thuế ở hạt Trấn Biên, và ngược lại đất ở hạt Trấn Biên mà trưng thuế ở Phiên Trấn ấy là tùy theo lòng dân, không hề ràng buộc, cốt sao khiến dân khai hoang mở đất cho thành ruộng, lập nên thôn xã mà thôi Nhiều nơi là đất bùn cỏ mà trưng làm ruộng đóng thuế, hoặc ruộng núi nơi đất gò đống mà trưng làm ruộng cỏ, chuyện đó có thường thôi Đến như sào, mẫu, khoảng (khoảnh), sở, cũng chỉ dựa vào lời khai mà biên vào sổ bộ chứ không đặt thước xuống đo và phân biệt tốt xấu, còn thuế nhiều hay ít, đấu hộc to hay nhỏ cũng tùy vào lệ cũ từng nơi

để phỏng theo mà làm không giống nhau Đến lúc này mới châm chước để làm cho đúng, nhưng nếu so với các dinh trấn ở Bắc thì phép tắc ở Gia

Trang 20

Định còn rất khoan dung mà thuế lệ cũng còn nhẹ.” [Trịnh Hoài Đức:

Quyển III: Cương Vực Chí www.vanhoahoc.edu.vn]

Không những khuyến khích người dân đến Thuỷ Chân Lạp khai hoang bằng những chính sách và pháp chế lỏng lẻo, nhà Nguyễn còn

“chiêu mộ những dân ở xứ Quảng Nam các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn cho dời tới đây, phát chặt mở mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất nước màu mỡ cho dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa Lại thu con trai con gái người Mọi ở các đầu nguồn đem bán làm nô tỳ (người đen, tóc quăn là người Mọi thực, giá tiền 20 quan, hơi trắng, giá tiền chỉ hơn 10 quan), cho tự lấy nhau, sinh đẻ, nuôi nấng thành người, cày ruộng làm nghề nghiệp” [Lê Quý Đôn 2007: 442] Và “chủ trương xá tội cho những

tù phạm, miễn sưu dịch cho các đinh sưu, nếu họ tự nguyện đi khẩn hoang

và phong thưởng chức sắc ấp trưởng, xã trưởng cho những người chiêu mộ được nhiều dân khẩn hoang.” [Đặng Thu (cb) 1994: 118]

Nhờ chính sách khai hoang của triều đình mà những người đi khẩn hoang đã được rất nhiều ưu đãi, họ vừa được đảm bảo quyền lợi về sở hữu ruộng đất của mình lại được động viên về tinh thần Chính những điều kiện thuận lợi trên đã thúc đẩy người Việt Nam tiến ngày một đông hơn

Đầu tiên là những người nông dân nghèo khổ không chịu đựng nổi chế độ quân dịch, tạp dịch, thuế khoá, chiến tranh, mất mùa đã phải rời

bỏ quê hương đi tìm nơi xa xôi hẻo lánh để làm ăn sinh sống và họ đã đến Thuỷ Chân Lạp

Tiếp theo là những tù binh, hàng binh, thường dân trong cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn bị nhà Nguyễn bắt đưa vào khai hoang lập ấp ở Thuỷ Chân Lạp và một số lớn quân sĩ của chúa Nguyễn trong cuộc chiến tranh với Tây Sơn, đã bị rơi vãi trên đường Họ là những người bị thương,

Trang 21

bị bệnh, yếu sức, hoặc đào ngũ và họ đã tìm một nơi hoang vắng ở Thuỷ Chân Lạp để khai hoang, định cư ở đó

Ngoài ra còn có một lực lượng tù nhân bị lưu đày được nhà Nguyễn đưa vào Thuỷ Chân Lạp khai hoang Nhà nước đã đưa những tù nhân này tới vùng đất chưa được khai hoang của Thuỷ Chân Lạp, “cấp cho ruộng đất hoang và thóc giống, trâu bò cùng đồ làm ruộng, khiến cày cấy ở đó,

số thóc giống hạn 1 năm thu lại, trâu cày và đồ làm ruộng cứ 3 năm chiếu giá thu tiền, hàng tháng cấp gạo, lương, hàng năm cấp quần áo ba năm thành sản nghiệp thì bỏ cả bài sắt Như vợ con tình nguyện đi theo và vợ con cùng bị lưu thì tới chỗ đày được bỏ ngay xiềng xích Người tình nguyện đi theo thì cho được đi lại.” [Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang (cb) 1997: 87; 88]

Như vậy, trong số những người Việt di cư đầu tiên có rất nhiều thành phần dân cư, từ những người bần cùng nhất đến cả những người giàu sang trong xã hội bấy giờ Đó là “những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ ở các tỉnh phía ngoài bị cùng cực, điêu đứng vì bị tai hoạ chiến tranh, vì bị giai cấp phong kiến áp bức bóc lột tàn bạo không thể sống nổi Những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đảo ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo

kể cả những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn.” [Huỳnh Lứa (cb) 1987: 38; 42] Nhưng thành phần chủ yếu nhất chiếm đa số vẫn là những người nông dân nghèo khổ

Họ đến khai phá đất Thuỷ Chân Lạp dưới nhiều hình thức khác nhau: do nhà nước tổ chức, do các quan lại và nhà giàu vận động, do dân nghèo tự tìm nơi lập nghiệp, do tị nạn

Trang 22

Tiếp sau đó là những cư dân người Hoa đã đến vùng Thủy Chân Lạp sinh sống Họ gồm hai tập đoàn di dân lớn, từ phía Nam của Trung Hoa như Phúc Kiến, Quảng Đông di cư đến

Một là những di thần nhà Minh từ Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Hoa đến Đây là những người trung thành với nhà Minh nên khi nhà Thanh lật đổ nhà Minh họ không chịu thần phục mà đến Đại Việt xin tị nạn và làm ăn sinh sống Sự kiện này được ghi lại trong Đại Nam thực lục như sau: “Kỷ Mùi, năm thứ 31 (1679), mùa xuân, tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm, Tổng binh Trấn Thượng Xuyên và phó tướng Trần

An Bình đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là bô thần5 nhà Minh, nghĩa không chịu làm tôi

nhà Thanh, nên đến để xin làm tôi tớ.” [Đại Nam thực lục (tập 1) 2002:

91].

Trong số những quan quân nhà Minh này có phần lớn những người dân thường là thân quyến của họ vì không chịu nổi chiến tranh, áp bức bóc lột của phong kiến Trung Hoa mà đi tìm vùng đất mới để sinh sống

Hai là tập đoàn di dân do Mạc Cửu – một thương nhân, dẫn dắt với hơn 400 người Trung Hoa6

Mạc Cửu là người gốc Quảng Đông vì không chịu khuất phục trước chính sách cai trị của người Thanh, trong đó nổi bật nhất là chính sách bắt buộc phải thay đổi y phục và cạo đầu dóc tóc nên đã đến Thuỷ Chân Lạp tự gây dựng sự nghiệp cho mình

Như vậy, cư dân người Hoa đến vùng Thuỷ Chân Lạp gồm đủ các thành phần dân cư Trước tiên là quan lại tướng sĩ nhà Minh Thứ đến là dân thường (những người không chịu nổi chiến tranh, áp bức bóc lột của bọn quan lại địa chủ phong kiến Trung Hoa) Những người dân thường

Trang 23

này lại chia ra nhiều thành phần khác nhau như: nông dân và thợ thủ công nghèo khổ; thương nhân là thành phần chiếm đông đảo nhất; một số ít là những dân vong mạng, quân cướp biển vì bị vây bắt ráo riết hoặc làm ăn thua lỗ mà tìm đến Đại Việt như là Hoắc Nhiên, Hà Hỉ Văn, Trần Thái

Sau đó là những lưu dân người Chăm, họ chủ yếu là những nông dân nghèo khổ và một số thủ lĩnh từng cầm quân chiến đấu trong các chiến trận của người Chăm

Do sự suy sụp của vương quốc Chiêm Thành mà một nhóm người Chăm đã bỏ lên Lovek của Chân Lạp sinh sống Vì tình hình loạn lạc liên tục ở Chân Lạp khiến người Chăm không thể sinh sống được ở đó nữa Họ theo một lãnh tụ người Mã Lai là Tuôn Sê-It nổi lên chống lại quốc vương Chân Lạp nhưng cuộc khởi nghĩa thất bại Họ bị chính quyền phong kiến Khơme đàn áp nên phải chạy về vùng Châu Đốc và được triều Nguyễn đón nhận, cho phép lập đồn điền, sinh sống ở đây Sự kiện này đã được A Schreiner ghi lại như sau: “Năm 1858 Tuôn Sê-It cùng người Mã Lai và người Chàm nổi lên chống lại quốc vương Ang Dương, nhưng cuộc khởi nghĩa thất bại và Tuôn Sê-It phải chạy về vùng Châu Đốc cùng một số lớn đồng chí của ông.” [Dẫn theo Nguyễn Văn Luận 1974: 35]

Như vậy, những lưu dân đến Thuỷ Chân Lạp vì rất nhiều lý do: “Di

cư để tránh chiến tranh trận mạc, di cư vì mất mùa đói kém, di cư để tìm một chỗ làm ăn thuận lợi hơn Ngoài ra di cư còn để củng cố lãnh thổ đất nước, củng cố quyền lợi của tầng lớp cầm quyền thống trị Đó là nguyên nhân tạo ra sự di cư “tự nguyện”, “tự động” và nhà nước tổ chức.” [Đặng Thu (cb) 1994: 112] Dù những lưu dân này đến Thủy Chân Lạp vì lý do

gì thì họ cũng là những người bị đẩy đến bước đường cùng, họ không thể sống được ở nơi mình sinh ra nên phải đi tìm vùng đất mới Vì vậy, có thể

Trang 24

nói những lưu dân này tuy đến từ nhiều nơi khác nhau nhưng đều có chung một hoàn cảnh

1.2.2 Nhìn từ thời gian

Những cuộc di cư của lưu dân đến Thuỷ Chân Lạp chủ yếu diễn ra trong khoảng thế kỷ XVII – XIX

Người Khơme đến vùng Thủy Chân Lạp trước người Việt rất lâu

“Từ sau khi vương quốc Phù Nam bị sụp đổ vào thế kỷ thứ VI cho đến thế

kỷ thứ XVI, người Khơme là cư dân chủ yếu của miền Tây Nam Bộ” [Huỳnh Lứa 1987: 36] nhưng với dân số ít ỏi, họ lại không quen canh tác

ở những vùng ngập nước mà chỉ sống quanh những vùng núi và trên những giồng đất cao của Thuỷ Chân Lạp để trồng lúa khô Họ sống tập trung nhiều nhất ở Sóc Trăng, Trà Vinh và vùng đồi núi Thất Sơn “Từ nhiều thế kỷ, người Khơme canh tác trên những giồng từ Trà Vinh qua Sóc Trăng.” [Sơn Nam 1997: 33] Vì vậy, vùng trũng ngập nước của đồng bằng này vẫn hoàn toàn bị bỏ hoang

Đến trước thế kỷ XVII, người Khơme đã xây dựng làng của mình

“trên những giồng đất mà độ cao cách mặt đất ruộng không vượt quá 5 mét.” [Nguyễn Công Bình (cb) 1990: 218] Ngoài ra họ còn sinh sống một

số ít ở những vùng ven biển, vùng đồi núi phía Tây Nam của Thuỷ Chân Lạp

Người Việt đến Thuỷ Chân Lạp nhiều nhất vào thế kỷ XVII – XVIII nhưng theo Nguyễn Đình Đầu thì có thể cư dân người Việt đã đến vùng

Mô Xoài, Đồng Nai (sau là Trấn Biên Hoà) sinh sống làm ăn từ thế kỷ XVI.7

7

Xem thêm: Nguyễn Đình Đầu 1999: 30; 31

Trang 25

Năm 1620, công chúa Ngọc Vạn kết hôn với vua Chay Chietta II, đã

có một số người Việt đi theo bà đến lập nghiệp ở gần kinh đô của Chân Lạp “Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này Bà hoàng hậu này đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều.” [Phan Khoang 2001: 309; 310] Đến năm 1623, người Việt đã khai hoang suốt từ vùng Sài Gòn qua sông Đồng Nai đến Bà Rịa

Năm 1698, người Việt đã sinh sống rất đông ở vùng Đồng Nai, Gia Định nên Lễ Thành Hầu – Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử làm thống suất kinh lược xứ Đồng Nai Ông đã chia cắt lãnh thổ và đặt quan cai trị: đặt xứ Đồng Nai thành huyện Phước Long, xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, Gồm cả hai huyện làm phủ Gia Định Việc cai trị thì huyện Phước Long có dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình có dinh Phiên Trấn Sau khi làm xong những việc trên và được sự đồng ý của chúa Nguyễn ông đã phái thuộc binh đi hô hào chiêu mộ dân chúng từ miền Trung vào lập nghiệp Đây là đợt di dân khẩn hoang lớn có tổ chức đầu tiên của nhà Nguyễn Từ đây, vùng Đông Nam Bộ chính thức được sáp nhập vào Đại

Việt Đại Nam thực lục ghi lại như sau: “Bắt đầu đặt phủ Gia Định, sai

Thống suất Nguyễn Hữu Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay thăng làm phủ), dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn…”

[Đại Nam thực lục (tập 1) 2002: 111].

Năm 1699, Nguyễn Hữu Cảnh đến Nam Vang để dẹp loạn “Tháng

2, năm 1700, Nguyễn Hữu Kính đem quân các đạo tiến vào nước Chân Lạp, đóng ở Ngư Khê, sai người dò xét thực hư, chia đường tiến quân

Đến tháng 4, Nặc Thu xin hàng.” [Đại Nam thực lục (tập 1) 2002: 112]

Sau khi thắng trận ông cho rút quân về, trên đường rút quân, ông cho trú quân ở tả ngạn sông Hậu nhưng đột ngột qua đời vào năm này Thế là

Trang 26

những thương binh, bệnh binh và binh sĩ được dịp giải ngũ, đào ngũ trên đường rút quân suốt từ Châu Đốc, An Giang, Định Tường, qua sông Hậu, sông Tiền đến sông Đồng Nai Họ sinh sống và khai thác những nơi hoang

vu Như vậy, sau cuộc hành quân này người Việt đã sinh sống rải rác khắp vùng Thuỷ Chân Lạp

Trong thời gian đầu khẩn hoang, cư dân thường chuộng những vùng gần sông Vàm Cỏ (Gò Công), gần vàm sông Tiền (Bến Tre, Mỹ Tho) để tiện liên lạc với Sài Gòn hay miền Trung Những vùng đất cao ven sông, nơi có nước ngọt dùng cho sinh hoạt và trồng trọt được khai phá trước Tiếp theo, các vùng ven núi cũng là nơi lưu dân đến ở sớm nhất vì có điều kiện khai thác các nguồn lợi rừng núi như: săn bắn, khai thác gỗ, khai mỏ Vùng giồng cao ven biển nhất là những nơi có vũng hoặc cửa sông tốt cũng là một trong những nơi định cư làm ăn đầu tiên của những người mới vào Tại đây họ sinh sống bằng nghề làm ruộng muối, nghề chài lưới, nghề làm cá mắm, nghề trồng trọt Khi những vùng này đã có đông người thì họ mạnh dạn đi qua bên hữu ngạn sông Tiền, qua hai bờ sông Hậu, đến tận bờ biển vịnh Xiêm La, tới các đảo phía Tây Nam Bằng chứng là khi hai bên bờ sông Hậu đã có đông người Việt sinh sống thì các võ tướng được phái vào đây trấn thủ như: Tống Phước Hiệp làm lưu thủ dinh Long

Hồ năm 1738, Tống Phước Hoà làm cai cơ đạo Đông Khẩu (Sa Đéc), Tống Phước Thiêm lưu ngụ ở An Giang làm cai cơ

Phía hữu ngạn sông Tiền đã trở nên sung túc thì lưu dân bắt đầu khai khẩn các vàm rạch nhỏ, các cù lao theo các cửa sông Tiền như: cù lao Tân Huề, cù lao Giêng, cù lao Ông Chưởng, cù lao Mây, cù lao Năm Thôn trên sông Hậu như: cù lao Cát, cù lao Dung [Dẫn theo Huỳnh Lứa 1987: 53]

Trang 27

Đầu thế kỷ XVIII, một bộ phận lưu dân người Việt, trong đó phần lớn là tín đồ Thiên Chúa Giáo lánh nạn cấm đạo đến sinh sống ở khu Cái Mơn, Cái Nhum Họ cũng đến sinh sống ở vùng đất giồng như: Sóc Sãi,

Ba Vác, Pang Tra Thom, Mỏ Cày vào thời gian muộn hơn sau khi người Khơme rời khỏi vùng này [Dẫn theo Huỳnh Lứa 1987: 53; 54]

Năm 1705, quân đội nhà Nguyễn, do Nguyễn Cửu Vân thống lĩnh vào Mỹ Tho giữ gìn an ninh trật tự đã khuyến khích binh lính và nhân dân

khẩn hoang ở bờ bắc sông Tiền Đại Nam thực lục ghi rằng: “Chân Lạp

dẹp xong, Vân nhân khẩn ruộng ở Cù Ao (thuộc tỉnh Định Tường), làm

gương cho quân dân noi theo.” [Đại Nam thực lục (tập 1) 2002: 118]

Trong thế kỷ XVIII, cư dân người Việt cũng khai phá các vùng đất trên các cù lao, các bến bãi Khai phá phần tiếp giáp với Mỹ Tho, thẳng tới vùng biên giới với Chân Lạp, tạo thành một vòng cung từ Bến Tre, Vĩnh Long đến Sa Đéc, Tân Châu, Châu Đốc

Trên các giồng đất người Việt tiếp tục công việc khai khẩn đang còn dang dở của người Khơme Mở rộng thêm các vùng đã khai phá và khai khẩn thêm các vùng còn bỏ hoang

Cuối thế kỷ XVIII, lưu dân người Việt lại đến cùng khai phá “khu vực ven biển phía Tây Nam – vùng Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau” [Huỳnh Lứa 1987: 54] với người Khơme, người Hoa

Đến cuối thế kỷ XVIII, người Việt đã đặt chân tới khá nhiều nơi ở Thuỷ Chân Lạp Những địa điểm khai phá thường là dọc theo các sông rạch, vùng cửa sông, các cù lao, vùng xung quanh các đồn bảo, doanh trại, các lị sở hành chính

Người Hoa đến Thuỷ Chân Lạp một cách ồ ạt theo hình thức tập đoàn sau khi người Việt đã khai phá khá nhiều ở đây

Trang 28

Năm 1679, từ phía Nam Trung Quốc, những quan quân người Hoa gồm hai đội quân do Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch chỉ huy vì không thần phục nhà Thanh đã vượt biển đến xin làm dân Đại Việt và được chúa Nguyễn cho đến Thuỷ Chân Lạp khai phá, lập nghiệp “Binh thuyền tướng sĩ Long Môn của Ngạn Địch tiến vào cửa Lôi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu đến định cư ở Mỹ Tho, binh thuyền tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Thượng Xuyên, An Bình vào cửa biển Cần Giờ, lên định cư ở Bàn Lân xứ Đồng Nai Ở hai nơi ấy hai đoàn di dân vỡ đất, phá rừng, cất phố, lập chợ, từ đó thương thuyền các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Dương,

Đồ Bà8

qua lại tấp nập.” [Phan Khoang 2001: 316] Như vậy là:

Đội quân do Trần Thượng Xuyên chỉ huy đồn trú ở vùng Cù Lao Phố (Biên Hoà) Họ khai hoang, dựng phố xá, chú trọng mở mang thương mại và tiểu công nghệ Nhưng chủ yếu vẫn là thương mại nên sau khi chợ

Cù Lao Phố bị Tây Sơn phá, các thương gia đã rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn lập cơ sở thương mại khác

Đội quân do Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến chỉ huy đồn trú ở vùng Mỹ Tho Họ lập trang trại ở vùng Tân Hiệp, Mỹ Tho qua địa phận Bến Tre ngày nay, chú trọng đến thương mại và nghề ruộng rẫy

Năm 1671, Mạc Cửu đến đất Mang Khảm (vùng chợ Hà Tiên) nhắm vào việc mở mang thương cảng, tổ chức sòng bạc, sau này trở thành trung gian chính trị trong mối quan hệ ngoại giao giữa chúa Nguyễn – Chân Lạp – Xiêm La Vì muốn chiêu mộ dân chúng đến đây khai hoang lập nghiệp đã đưa ra những chính sách thu hút dân chúng như: “họ được trọn quyền sở hữu, không nhiệm vụ nào ràng buộc với chủ đất, ngoài ra lại được cấp phát những nông cụ cần thiết.” [Sơn Nam 2005b: 48] Vì vậy, Mạc Cửu đã chiêu tập được lưu dân từ khắp nơi đến Phú Quốc, Cần Bột

8

Người Đồ Bà là danh từ chỉ người Java, người Mã Lai thủa ấy

Trang 29

Kampot), Rạch Giá, Lũng Kỳ (Luống Cày), Hương Úc (Vũng Thơm), Cà Mau lập thành 7 xã thôn

Đến cuối thế kỷ XVIII – XIX, những người Chăm tản cư lên Chân Lạp trong thời kỳ chiến tranh ở Chiêm Thành đã quay trở về định cư ở vùng Thuỷ Chân Lạp

Năm 1755, một số người Chăm đã theo thống suất Thiện Chính và Nguyễn cư Trinh về Mỹ Tho, sau đó Nguyễn Cư Trinh đã đưa khoảng hơn

5000 người Chăm về đóng ở núi Bà Đen (Tây Ninh) Đại Nam thực lục đã

ghi lại như sau: “Ất hợi, năm thứ 17 [1755], mùa xuân, thống suốt Thiện Chính đem quân về đồn Mỹ Tho trước, ra lệnh cho người Côn Man9 bỏ Kha Khâm đem bộ lạc và xe cộ đến đóng ở Bình Thanh Đi đến Vô Tà Ân bị quân Chân Lạp hơn vạn người đuổi theo đánh úp Cư Trinh bèn

hộ vệ hơn 5000 trai gái Côn Man về đóng ở chân núi Bà Đinh10

” [Đại

Nam thực lục (tập 1) 2002: 164]

Năm 1756, chúa Nguyễn đã nhận lấy đất hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (Cần Thơ và Long Xuyên) mà Nặc Nguyên hiến để chuộc tội vì đã đánh cướp người Chăm, rồi cho người Chăm định cư ở đó “Nặc Nguyên nước Chân Lạp trình bày rằng việc đánh cướp người Côn Man là do tướng Chiêu Chùy Ếch gây ra, nay xin hiến đất hai phủ Tầm Bôn, Lôi Lạp và

nộp bù lễ cống còn thiếu ba năm về trước để chuộc tội.” [Đại Nam thực

lục (tập 1) 2002: 165]

Đến năm 1782, một lãnh đạo người Chăm là Đon Set xua quân từ Thabaung Khmum tiến đánh kinh đô U Đong khiến hoàng gia Chân Lạp phải lánh chạy sang nước Xiêm, tạo điều kiện cho người Chăm thiết lập các khu định cư riêng biệt tại Phnom Penh, Chruy Chagwar là một cù lao nằm chắn ngang sông Mekong và Tonle Sap (Biển Hồ), tồn tại đến ngày

Trang 30

nay nhưng sau đó Đon Set đã bị giết chết Năm 1858, vua Chân Lạp đóng

đô ở U Đong lại bị người Chăm giết chết, khiến vua Hariraks điều quân đến Thabaung Khmum đánh phá giết hại, người Chăm phải nương nhau theo dòng sông Cửu Long thoát thân về phía Nam, xuống đến tận Mat Chruk tức Châu Giang Đến năm 1859, người Chăm ở Mat Chruk đã quay trở lại đất Camphuchia tổ chức di chuyển khá nhiều đồng tộc Chăm về sanh sống tại Mat Chruk.11

Như vậy, trong suốt thế kỷ XVII – XVIII, người Việt đã cùng với người Khơme, người Hoa, người Chăm khai phá vùng Thuỷ Chân Lạp dần hình thành nên không gian văn hoá của các tộc người (trong đó có người Việt) ở Nam Bộ ngày nay

Nhưng vào cuối thế kỷ VI, Phù Nam bắt đầu suy vong và bị Chân Lạp12

(vốn là một thuộc quốc của Phù Nam) tấn công và xâm chiếm Khi người Chân Lạp chiếm được Phù Nam, thì vùng đất này được gọi với cái

11

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/Dohamide_DoHaiMinh/GopNhat/GN_NguoiChamNoiDongBang CL.htm

12

Nước Camphuchia cổ Cũng có ý kiến cho rằng địa bàn Chân Lạp không phải là nước Camphuchia hiện nay, mà vị trí ban đầu của nó ở phía nam Lào ngày nay.[Xem thêm: Lương Ninh 2006: 150 – 153]

Trang 31

tên Thuỷ Chân Lạp vì đây là vùng đất trũng và ngập nước Do người Chân Lạp có dân số ít ỏi, chỉ quen khai thác các vùng đất cao nên với một vùng đồng bằng mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy như Thuỷ Chân Lạp thì đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức để khai khẩn nên cho đến thế kỷ XVI, người Khơme vẫn “sống tập trung theo chân núi và các giồng cát; làm ruộng, lập vườn, bắt cá trong nước vừa đủ ăn cho gia đình Cách xóm chừng vài trăm thước là rừng tràm âm u, bờ sông dày bịt cây cỏ Dân chúng không muốn và ít dám đá động tới vùng “đất thiêng”: cọp, sấu, voi, rắn, chim chóc tha hồ tung hoành.” [Sơn Nam 2005b: 39]

Từ đó cho đến thế kỷ XV, vùng Thuỷ Chân Lạp trở thành vùng đệm cho những cuộc tranh chấp liên miên Do đó, vùng Thuỷ Chân Lạp không những bị bỏ hoang mà còn chịu sự tàn phá của chiến tranh nên ngày càng hoang vu hơn

Vì thế, vào thế kỷ XIII, khi sứ thần nhà Nguyên là Châu Đạt Quan

đi sứ Chân Lạp khi đi ngang nơi này đã miêu tả: “Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào.” [Châu Đạt Quan 2007: 22] Hay “Vào đến nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẫy Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tựu họp từng bầy trong vùng này.” [Châu Đạt Quan 2007: 73]

Điều đó cho chúng ta thấy trên đường đến kinh đô Chân Lạp, khi đi ngang qua Thuỷ Chân Lạp, sứ thần nhà Nguyên không dừng lại ở một binh trạm, một điểm đồn trú, một thành trì nào và cũng không thấy có quan chức nào của Chân Lạp đến miền biên thuỳ đón sứ giả của “thiên triều” Cuộc hành trình của phái bộ Châu Đạt Quan diễn ra êm ắng trên suốt miền châu thổ bao la, không đón, không đưa, cũng không bị ngăn

Trang 32

cản Chứng tỏ nhà nước Chân Lạp, dù ở thời kỳ cực thịnh, cũng chưa với tay tới nắm chặt lấy miền đất rừng rậm, sình lầy này

Đến thế kỷ thứ XVI – XVII, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, dần dần bước vào thời kỳ suy vong Chân Lạp hầu như không còn khả năng kiểm soát đối với vùng đất Thuỷ Chân Lạp vốn còn ngập nước và sình lầy

Theo Phan Văn Hoàng, nguyên nhân nữa khiến Thủy Chân Lạp bị

bỏ hoang là: Lãnh thổ Chân Lạp tương đối rộng nhưng dân số Chân Lạp lại ít nên người dân chủ yếu sống ở vùng đất màu mỡ xung quanh Biển Hồ (Tonle Sap), hay dọc theo sông Mekong Vùng đông nam của Chân Lạp vẫn còn bỏ hoang Giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes (1591 – 1660) cho biết: cho đến thế kỷ XVII, vùng đất đó vẫn còn “quạnh hiu, hoang mạc” và “không có vật gì thuộc về sự sống” Theo nhà sử học Philippe Devillers, trước khi người Việt đến “đồng bằng sông Cửu Long chỉ là đầm lầy hôi thối, những bãi bùn và cây Đước rộng mênh mông.”13

Như vậy, vùng Thủy Chân Lạp lúc này là vùng đất do người Chân Lạp kế thừa của Phù Nam nhưng không thể quản lý nên trở thành vùng đất gần như vô chủ

Vì vậy, khi người Việt mới đến Thuỷ Chân Lạp thì ở đây chỉ toàn là rừng rậm hoang vu, ngay cả khi đã khai phá rồi thì đất hoang vẫn còn rất nhiều Tình trạng này đã được Lê Quý Đôn miêu tả như sau: “Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu, toàn là rừng rậm hàng mấy nghìn dặm” [Lê Quý Đôn 2007: 442]

13

Kỷ yếu Hội thỏa khoa học tỉnh Thanh Hóa 2008: Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX), bản Adobe: 89

Trang 33

Vùng đất hoang vu này, lúc ấy lại là một vùng sông nước mênh mông, có “nhiều ngòi lạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ.” [Lê Quý Đôn 2007: 443]

Là vùng sông nước mênh mông nên Thuỷ Chân Lạp “có nhiều bưng biền, chằm, ao, cá tôm dùng ăn không hết Cứ đến tháng 4, tháng 5, khi mưa xuống nước tràn thì cá sinh trưởng đầy dẫy kiếm ăn ở trong ruộng, trong đầm Phàm những nơi có nước và có cỏ dù sâu chỉ độ hơn tấc ta cũng có cá ở; từ tháng 10 trở đi hết mùa mưa, nước rút, cá xuống sông.”

[Trịnh Hoài Đức: Quyển II: Sơn Xuyên Chí www.vanhoahoc.edu.vn] Đây còn là nơi rất thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển của các loài động thực vật ưa nước mà ta có thể thấy: “Trong núi có rất nhiều gỗ quý Vùng nào không có cây là nơi u tây cùng voi tụ họp và sinh nở Loại chim quý, loại thú lạ lùng có vô số.” [Châu Đạt Quan 2007: 73 – 75]

Thời tiết ở Thuỷ Chân Lạp nóng quanh năm và chia làm hai mùa, là mùa mưa và mùa khô “Suốt năm thời tiết giống như tháng năm và tháng sáu của chúng ta và dân chúng không biết giá và tuyết là gì Ở xứ này, trời mưa nửa năm, nửa năm kia trời không mưa.” [Châu Đạt Quan 2007: 68 – 69]

Vào mùa mưa vùng Thuỷ Chân Lạp ngập trong nước lũ Sau đó là mùa khô, nước bắt đầu rút và để lại cho đất đai lượng phù sa dồi dào rất thuận lợi cho việc trồng trọt Châu Đạt Quan đã miêu tả sự trù phú của vùng đất này khi ông đi ngang qua Ở đây, “Thông thường người ta có thể làm ba hay bốn mùa trong một năm.” [Châu Đạt Quan 2007: 68] Ngoài

ra, đất đai còn màu mỡ đến độ “có một loại ruộng thiên nhiên lúa mọc luôn luôn không ai gieo trồng; khi nước dâng đến một trượng, lúa cũng mọc cao như vậy.” [Châu Đạt Quan 2007: 72]

Trang 34

Thuỷ Chân Lạp còn hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên như rừng, biển, sông ngòi Minh chứng cho điều này là ngày nay chúng ta có thể thấy: “Rừng nước mặn ở Tây Nam Bộ chiếm một diện tích rộng đến 300.000ha, rộng thứ 3 thế giới sau rừng nước mặn Amazon (Brasil) và Philippines.” [Lê Bá Thảo 1977: 252], “bờ biển dài 600km có các loài hải sản quý như đồi mồi, hải sâm, bào ngư, hải yến, rau câu, ngọc điệp.” [Mạc Đường 2003: 188], “khoảng 2.500km sông rạch tự nhiên” [Nguyễn Công Bình (cb) 1995: 32]

Có thể nói, vùng Thuỷ Chân Lạp tuy còn hoang vu và đáng sợ nhưng thiên nhiên ở đây lại cho con người nhiều ưu đãi để phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, và cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm phong phú cho đời sống hàng ngày của người dân nơi này Những cư dân đi tìm đất sống sẽ thấy vùng đất này là sự ưu ái, là lời kêu gọi vô cùng hấp dẫn với

họ Đến Thuỷ Chân Lạp, thời tiết quanh năm nắng ấm chứ không quá nóng cũng không quá lạnh nên sức khoẻ con người được đảm bảo hơn Khi đến đây người nông dân có thể sử dụng ngay những vật liệu tại chỗ để làm nhà, tìm kiếm nguồn thức ăn hàng ngày dễ dàng hơn Vì thế, sau một thời gian khai phá, Lê Quý Đôn đã miêu tả vẻ trù phú của đồng ruộng nơi đây “từ cửa biển đến đầu nguồn đi 6; 7 ngày hết thảy là đồng ruộng, nhìn bát ngát, ruộng phẳng như thế đấy, rất hợp trồng lúa, lúa nếp tẻ, gạo đều trắng dẻo.” [Lê Quý Đôn 2007: 443]

*

Như chúng ta đã biết, bắt đầu từ thế kỷ XVII, các quốc gia phong kiến: Chân Lạp, Trung Hoa và Đại Việt bị rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị vì những mâu thuẫn nội bộ trong vương triều của mỗi nước Ở Chân Lạp là những mâu thuẫn nội bộ của vương triều Angkor, ở Trung

Trang 35

Hoa là sự tranh giành quyền lực giữa nhà Thanh và nhà Minh, ở Đại Việt

là cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn Đó chính

là nguyên nhân làm cho người dân ở các quốc gia này không chịu được tai hoạ của chiến tranh, áp bức, đã phải rời bỏ quê hương đi tìm miền đất mới

Và “không hẹn mà gặp, những nông dân bần cùng ấy đã đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long cộng cư một cách tự nhiên, cùng nhau khai phá vùng đất này.” [Trần Thị Mỹ Hạnh 2003: 29]

Những người dân nghèo khổ ở các quốc gia khác nhau khi bị đẩy đến bước đường cùng đã phải rời bỏ quê hương ra đi tìm vùng đất mới để sinh sống và họ đã đến vùng Thủy Chân Lạp bị bỏ hoang này để khai hoang, lập nghiệp

Người Khơme tuy đến trước người Việt nhưng với dân số ít, họ chỉ sinh sống ở những vùng đất cao, thuận lợi để trồng trọt còn những vùng ngập nước họ vẫn bỏ hoang

Người Việt đến vùng Thuỷ Chân Lạp ngày càng nhiều và họ đã khai hoang hầu hết các vùng đất ở đây như: các vùng đất dọc các cửa sông, ven biển, các cù lao, các giồng đất

Người Hoa đến sau, tuy có khai hoang nhưng họ chỉ chú trọng vào việc thương mại và mở phố chợ mà thôi Họ hưởng lợi từ việc giao thương buôn bán với cư dân ở đây và thương nhân ngoại quốc

Người Chăm cũng đến vùng Thủy Chân Lạp cùng với các tộc người khác trong thời kỳ này nhưng với một số dân rất ít, họ được người Việt chấp nhận và giúp đỡ rất nhiều trong việc khai hoang, lập nghiệp ở đây

Như vậy, người Việt là tộc người có dân số đông nhất ở Thuỷ Chân Lạp Họ cùng với các tộc người khác khai phá vùng Thuỷ Chân Lạp nhưng họ chính là người có công lớn nhất trong việc khai phá vùng đất hoang vu này trở thành Nam Bộ trù phú như ngày nay

Trang 36

CHƯƠNG 2 CÁC BÌNH DIỆN CHỦ YẾU CỦA VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI TRONG LỊCH SỬ NAM TIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở

TÂY NAM BỘ

Thế kỷ XVII – XIX là lúc người Việt đang dần mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam Để việc mở rộng và xác lập chủ quyền đất nước ở vùng Thuỷ Chân Lạp của người Việt diễn tiến trong hoà bình, nhà Nguyễn đã rất nỗ lực trong việc ứng xử với các nước láng giềng phía Nam (Chân Lạp

và Xiêm La) Đối với các tộc người sinh sống cùng người Việt ở vùng Thuỷ Chân Lạp như: Khơme, Hoa, Chăm ngoài mối quan hệ của người Việt với họ, thì việc ứng xử của nhà Nguyễn với họ cũng góp phần làm cho quan hệ giữa họ với người Việt ngày càng tốt đẹp hơn Vì thế nghiên cứu về “các bình diện chủ yếu của văn hoá ứng xử với môi trường xã hội trong lịch sử Nam tiến của người Việt ở Tây Nam Bộ” chúng tôi coi ứng

xử của nhà Nguyễn là đại diện cho văn hoá ứng xử của người Việt trong quá trình Nam tiến

2.1 Văn hoá ứng xử của nhà Nguyễn với Chân Lạp – Xiêm La

Trong quá trình Nam tiến, nhà Nguyễn luôn gặp khó khăn trong quan hệ với các quốc gia như Chân Lạp – Xiêm La Chân Lạp lúc này đang trong thời kỳ suy yếu, thường xuyên bị Xiêm La nhòm ngó và tấn công nên rất cần sự hậu thuẫn của nhà Nguyễn Xiêm La lúc bấy giờ là nước cường thịnh và luôn mong muốn làm bá chủ trong khu vực Xiêm La

Trang 37

thường xuyên xâm chiếm Chân Lạp để biến Chân Lạp thành thuộc quốc của mình nhằm tấn công Đại Việt Quân Xiêm đã tấn công Chân Lạp liên tục vào các năm 1621; 1623 nhưng nhờ có sự giúp đỡ của nhà Nguyễn mà Chân Lạp đã đẩy lùi được quân Xiêm Sau đó, Xiêm La lại tìm cách can thiệp vào nội bộ vương triều Chân Lạp bằng cách ủng hộ những hoàng thân theo phe mình chống lại các hoàng thân theo phe chúa Nguyễn Vì vậy, đã nhiều lần quân Việt và quân Xiêm đụng độ nhau trên đất Chân Lạp vào các năm 1674; 1705, năm 1715; 1771 quân Xiêm đã tấn công, cướp bóc Trấn Hà Tiên Trước tình hình đó nhà Nguyễn phải chọn cho mình đường lối ứng xử phù hợp, làm sao giữ được hoà hiếu với cả Chân Lạp và Xiêm La để củng cố đất nước và thuận lợi cho việc mở nước về phía Nam

Đường lối của nhà Nguyễn vẫn trên nguyên tắc ứng xử truyền thống của Đại Việt đối với bên ngoài là “giữ vững độc lập, chủ quyền, sống hoà mục với các nước, trước hết là các nước láng giềng, góp phần bảo vệ an ninh khu vực.”14

2.1.1 Văn hoá ứng xử của nhà Nguyễn với Chân Lạp

Mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp đã diễn ra từ rất sớm Ngay

từ cuối năm 1013 dưới thời nhà Lý (Lý Thái Tổ) đã có một phái đoàn Chân Lạp giao hiếu với Đại Việt Nhưng vì lúc đó hai nước ở cách xa nhau nên thỉnh thoảng Chân Lạp mới sang giao hiếu với Đại Việt Sự ứng

xử thân thiện này của Chân Lạp với Đại Việt không được bao lâu thì đến năm 1128, Chân Lạp đem quân sang xâm chiếm Đại Việt Từ đó đến năm

1218 Chân Lạp thường xuyên gây hấn với Đại Việt nhưng đều bị thất bại Sau đó một thời gian khá dài Chân Lạp và Đại Việt không còn quan hệ với

14

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6696.90;wap2

Trang 38

nhau nữa15 Có lẽ do núi sông cách trở và Chân Lạp ngày càng bị Xiêm La đàn áp nên không thể gây hấn với Đại Việt được nữa Đến thời nhà Nguyễn thì quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp được đẩy mạnh vì hai nước ở cạnh nhau và có nhiều vấn đề cần giúp đỡ lẫn nhau

Trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam, điều quan trọng nhất mà các chúa Nguyễn làm, đó là ứng xử khéo léo với Chân Lạp trên lĩnh vực ngoại giao Với truyền thống ứng xử hiếu hoà, tránh đối đầu, tránh chiến tranh, chúa Nguyễn luôn chọn cách ứng xử khéo léo, mềm dẻo nhằm giữ cho mối quan hệ giữa Đàng Trong và Chân Lạp được hoà bình, chỉ khi thật cần thiết mới phải dùng đến sức mạnh quân sự để đối phó

Ngay từ khi bắt đầu mở đất đến vùng Thuỷ Chân Lạp, điều đầu tiên

mà chúa Nguyễn làm là ứng xử thân thiện với Chân Lạp bằng cách gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chay Chietta II vào năm 1620 khi vua Chân Lạp cầu thân với chúa Nguyễn Ở thời điểm đó cuộc hôn nhân này đã đem lại lợi ích cho cả hai phía Vì lúc này thế lực của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chưa thực sự vững mạnh nên rất cần được yên ổn nơi biên giới Còn Chân Lạp thì đang bị Xiêm La đe doạ tấn công nên cũng cần có hậu thuẫn giúp đỡ mình khi khó khăn Điều này đã được ghi rõ trong sử Cao Miên như sau: “Để quân Xiêm không dám quấy nhiễu nữa, quốc vương Chay Chietta II cưới một công chúa Việt Nam hầu dựa vào thế lực của triều đình Huế.” [Lê Hương 1970: 152]

Sau cuộc hôn nhân giữa công chúa Ngọc Vạn và vua Chay Chietta

II, chúa Nguyễn đã trở thành cha vợ của quốc vương Chân Lạp, thế là

“người Miên và người Việt đã trở nên đồng minh.” [Tân Việt Điểu 1959: 870]

15

Xem thêm: [Phan Lạc Tuyên 1993: 67; 68]

Trang 39

Chúa Nguyễn đã hết mình giúp đỡ Chân Lạp mỗi khi có việc cần nhờ mặc dù lúc này tình hình Đàng Trong vẫn chưa được ổn định Như năm 1621 và 1623 “Chúa còn chuẩn bị vũ khí liên tục và mộ binh giúp vua Camphuchia, cung cấp cho vua này thuyền chiến và quân binh để cầm

cự với vua Xiêm.” [Cristophoro Borri 1998: 84] Vì thế mà Chân Lạp đã đẩy lùi được sự tấn công của quân Xiêm trong hai năm này

Trong khoảng thời gian này, người Việt đã định cư khá đông ở Prey Nokor (Sài Gòn) và Kas Kobey (Bến Nghé) của Thuỷ Chân Lạp Vì thế chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cử một phái đoàn sang Chân Lạp xin lập hai trạm thu thuế, nhằm thu thuế của những người Việt làm ăn, sinh sống nơi đây Và vua Chân Lạp đã đồng ý cho chúa mượn đất Đây chính là cơ hội để chúa Nguyễn từng bước đặt chính quyền trên đất Thuỷ Chân Lạp Chúa Nguyễn đã sớm nhìn thấy tiềm năng của vùng đất mà người Chân Lạp đang bỏ hoang Nhưng Chúa không hề đem quân đi xâm chiếm đất đai của Chân Lạp mà chỉ tìm cách thiết lập chính quyền trong hoà bình sau khi người Việt đã đến khai hoang lập nghiệp ở đây Chính trạm thu thuế này đã đóng vai trò quan trọng trong việc mở đất về phương Nam của người Việt vì ngoài việc thu thuế, nơi đây còn có nhiệm vụ quan trọng hơn

là góp nhặt những thông tin cần thiết về tình hình trên vùng đất mới để phục vụ cho công cuộc mở mang bờ cõi khi có cơ hội

Chấp nhận sự cầu thân của các nước láng giềng với mình là điều mà các vị vua nước ta đã từng làm trước đó, nó thể hiện truyền thống văn hoá ứng xử hoà hiếu của dân tộc Việt Nhờ có những cuộc hôn nhân này mà Đại Việt đã củng cố được quan hệ hoà bình với các nước láng giềng, hơn thế nữa nó còn mang lại cho nước ta những vùng đất mới như cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa thời nhà Trần và vua Chămpa Chế Mân,

đã đem lại cho nước ta hai châu Ô và Lý Còn cuộc hôn nhân của công chúa Ngọc Vạn đã khởi đầu cho việc mở ra một quá trình di dân khai phá

Trang 40

thuận lợi vùng đất Nam Bộ, cho thấy con đường mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam bằng sự tăng cường liên kết, mở rộng các mối quan hệ thân tộc

là chính chứ không phải bằng biện pháp quân sự

Như vậy là việc ứng xử thân thiện ban đầu thông qua truyền thống văn hóa đối ngoại hoà bình của chúa Nguyễn đã mở đầu cho việc di dân của người Việt vào đất Chân Lạp thành công mỹ mãn

Sau một thời gian ổn định thì tình hình Chân Lạp trở nên hỗn loạn bởi

sự tranh giành quyền lực giữa các hoàng thân và âm mưu xâm lược của Xiêm La Điều này làm cho thế lực của Chân Lạp ngày càng suy yếu và rất cần sự giúp đỡ của nhà Nguyễn Để tỏ rõ thiện chí với Chân Lạp, chúa Nguyễn đã nhiệt tình giúp đỡ bằng cách nhiều lần cử quan quân sang giúp mỗi khi vua Chân Lạp cầu cứu và dung nạp vua Chân Lạp khi chạy trốn sang nước ta

Năm 1674, Nặc Ông Đài đi cầu viện Xiêm La về đánh Nặc Ông Nộn, Nặc Ông Nộn cầu cứu dinh Thái Khang, Chúa đã cử Cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng Tham mưu Nguyễn Đình Phái đem binh chia làm hai đạo sang đánh Nặc Ông Đài

Năm 1705, Nặc Ông Thâm cầu viện Xiêm La về đánh Nặc Ông Yêm, Nặc Ông Yêm cầu cứu ở Gia Định, chúa Nguyễn sai cai cơ Nguyễn Cửu Vân sang giúp Nặc Ông Yêm đánh tan quân Xiêm Đến năm 1713, Nặc Ông Thâm lại dấy binh đánh Nặc Ông Yêm, Nặc Ông Yêm không chống đỡ nổi phải cầu viện dinh Phiên Trấn và Trấn Biên, Chúa đã cử Đô đốc Phiên Trấn là Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trấn Biên là Nguyễn Cửu Phú cùng Cai cơ Tả bộ dinh Bình Khang là Nguyễn Cửu Triêm lãnh

26 thuyền quân thuỷ bộ của dinh Bình Khang để ứng tiếp cho Nặc Ông Yêm Năm 1747, che chở cho Nặc Ông Tha (con Nặc Ông Yêm) khi bị Nặc Ông Thâm đuổi đánh bỏ chạy sang Gia Định

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w