Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” [3, tr.15] Gần 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ góc độ văn hóa, có thể thấy xuất
Trang 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
\
Trang 2
ĐỖ THỊ HUỆ
XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60.22.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM LÊ QUANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Lê Quang Những kết luận nghiên cứu công trình khoa học là trung thực, số liệu có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
ĐỖ THỊ HUỆ
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 12
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO Ở VIỆT NAM 12
1.1.KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA THỂ THAO 12
1.1.1 Khái niệm văn hóa 12
1.1.2 Khái niệm văn hóa thể thao 27
1.1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa thể thao và vai trò của văn hóa thể thao 37 1.2 NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO Ở VIỆT NAM 49
1.2.1 Xây dựng nhận thức mới về văn hóa trong hoạt động thể thao ở Việt Nam hiện nay 49
1.2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên, những người hoạt động trong lĩnh vực thể thao có trình độ học vấn văn hoá cao 51
1.2.3 Xây dựng đạo đức, lối sống mới cho đội ngũ cán bộ, huấn luyện viên, vậnđộng viên, những người hoạt động trong lĩnh vực thể thao 55
1.2.4 Xây dựng văn hóa cổ vũ thể thao của các cổ động viên 60
1.3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VĂN HÓA THỂ THAO Ở VIỆT NAM 63
1.3.1 Tác động của bản sắc văn hóa dân tộc đến văn hóa thể thao ở Việt Nam 63
1.3.2 Tác động của sự nghiệp đổi mới kinh tế - xã hội đến văn hóa thể thao ở Việt Nam 66
Trang 51.3.4 Tác động của tinh thần Olympic thế giới đến văn hóa thể thao ở Việt Nam 70
Kết luận chương 1 72 Chương 2 THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO Ở TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 75 2.1 THỰC TRẠNG VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 75
2.1.1 Hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến văn hóa thể thao 75 2.1.2 Những thành tựu của văn hóa thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay 79 2.1.3 Những mặt hạn chế của văn hóa thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 91
2.2 PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 102
2.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền đối với văn hóa thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh 102 2.2.2 Kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu những tinh hoa của văn hóa thể thao quốc tế trong xây dựng văn hóa thể thao ở thành phố
Hồ Chí Minh 104 2.2.3 Tổ chức và thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động thể thao và xây dựng văn hóa thể thaoở thành phố Hồ Chí Minh 109
2.3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAOỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍMINH 112
Trang 62.3.2 Nâng cao chất lượng, đào tạo, bồi dưỡng tài năng thể thao và đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh 115 2.3.3Xây dựng và bảo vệ môi trường văn hóa trong các hoạt động phong trào thể dục thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 123 2.3.4.Tuyên truyền giáo dục đạo đức, văn hóa và xử lý nghiêm minh những hành vi phi văn hóa trong hoạt động thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh 128
Kết luận chương 2 140 KẾT LUẬN CHUNG 142 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 145 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam là một trong những động lực nội sinh to lớn, một nền tảng tinh thần vững chắc để dân tộc ta tồn tại và phát triển, “Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [29, tr.40] Chính vì vậy trong dòng chảy của hội nhập văn hóa, Việt Nam vẫn giữ được cái hồn của dân tộc, không hòa tan với bất kỳ nền văn hóa nào trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan tâm đến phát triển văn hóa, văn hóa có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với kinh tế, chính trị và phát triển xã hội Dưới ánh sáng của Cương lĩnh chính trị 1930, đồng chí Trường Chinh
đã công bố Đề cương văn hóa năm 1943, đặt vấn đề văn hóa như một mặt trận rất quan trọng trong ba mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa Sau khi giành chính quyền tại hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai tháng 7 năm
1948, đồng chí Trường Chinh trình bày báo cáo: Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, đây được coi là văn kiện lý luận vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin
để giải quyết vấn đề văn hóa Việt Nam; trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển một cách toàn diện hoạt động văn hóa, văn nghệ trong suốt thời kỳ kháng chiến và xây dựng xã hội mới Trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên cơ sở kế thừa và tiếp thu tinh thần tiến bộ
của thời đại, dựa trên bài học kinh nghiệm thực tiễn phát triển của thế giới
và của dân tộc, dựa trên định hướng của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò của văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội” [29, tr.55] Trong Nghị quyết lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương
Trang 8Đảng cộng sản Việt Nam khóa XI, trên cơ sở tổng kết 15 năm Nghị quyết
Trung ương 5 khóa VIII, trong bối cảnh đất nước có nhiều biến đổi, đã tiếp tục khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế,
chính trị, xã hội” [3, tr.15]
Gần 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ góc độ văn hóa, có thể thấy xuất hiện những thuận lợi, thời cơ, trong đó hòa bình, hợp tác, phát triển, toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin
và kinh tế tri thức, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hội nhập và phát triển văn hóa Các hoạt động văn hóa nghệ thuật nhờ công nghệ mà hiện đại hóa,
có sức lan tỏa nhanh, mạnh, sâu trên phạm vi toàn cầu, không chỉ ở vùng thành thị mà còn tỏa về được vùng nông thôn, núi cao hẻo lánh Giao thoa văn hóa trở nên mạnh mẽ hơn, tạo điều kiện để tiếp thụ tinh hoa văn hóa nhân loại và truyền bá văn hóa nước ta ra thế giới Trên con đường đổi mới, các điều kiện kinh tế - xã hội phát triển tạo thuận lợi cho văn hóa phát triển Trình
độ nhận thức, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày một cao hơn giúp cho mặt bằng văn hóa được nâng lên, tạo điều kiện cho việc sáng tạo văn hóa có chất lượng hơn, phong phú, đa dạng hơn Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa đã được Đảng và nhân dân ta giữ gìn phát huy thì cũng xuất hiện nhiều hiện tượng văn hóa xấu, tác động tiêu cực đến đời sống xã hội như các văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống lai căng, thực dụng, giả dối, vô cảm, thiếu trách nhiệm trong xã hội hiện nay, nhất là ở thế hệ trẻ
Chính trong sự phát triển và hội nhập thế giới, văn hóa đi vào từng lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực thể thao, cùng với sự phát triển của thể thao Việt Nam, văn hóa thể thao cũng đặt ra nhiều vấn đề, làm thế nào để văn hóa lan tỏa, thấm vào hoạt động thể thao của
Trang 9từng cá nhân chơi thể thao, từng vận động viên khi tham gia thi đấu, và thể hiện bản lĩnh con người Việt Nam khi khoác trên người màu cờ sắc áo của dân tộc Vai trò của văn hóa trong hoạt động thể thao có một ý nghĩa đặc biệt, thể thao được ví như một loại hình nghệ thuật đặc thù, là một sân chơi mang đậm tính văn hóa của con người mà ở đấy là cả một tài năng, một nghị lực rèn luyện, một tinh thần thi đấu trung thực, thẳng thắn và cao thượng Nó khác với các loại hình nghệ thuật bởi không đơn thuần là biểu diễn những cái hay, cái đẹp mà còn là sự thể hiện tinh thần thi đấu, luật lệ tính điểm một cách công bằng Nên khi văn hóa chảy trong con người vận động viên thì nó mang đến con người thăng hoa thi đấu, trong phong thái con người Vì vậy, xây dựng văn hoá trong hoạt động thể thao là vấn đề cấp bách đặt ra đối với thể thao Việt Nam nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển khá non trẻ, mới chỉ trên 300 năm, nhưng lại giữ vị trí, vai trò quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Với điều kiện lịch sử -xã hội đặc thù, thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển được một diện mạo văn hóa vừa thống nhất với văn hóa dân tộc, vừa thể hiện sự phong phú, đa dạng, mang nét tiêu biểu, đặc trưng riêng của thành phố trẻ, một thành phố năng động và hiện đại ngày càng được khẳng định qua sự phát triển văn hóa trong những lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Văn hóa trong hoạt động thể thao của thành phố từng bước hình thành và phát triển, là một trong những tỉnh thành đào tạo và huấn luyện nên các vận động viên hàng đầu của thể thao trong nước và khu vực, tuy nhiên văn hóa trong thể thao vẫn chưa phát triển tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Chính vì vậy, nhất thiết phải xây dựng văn hóa trong hoạt động thể thao ở thành phố
Hồ Chí Minh để phát huy hết thế tiềm năng của ngành và ngày một khẳng
Trang 10định vị trí của thể thao trên trường quốc tế, cũng chính là khẳng định bản lĩnh, văn hóa con người Việt Nam thời đại mới Xây dựng văn hóa thể thao cũng chính là góp phần vào mục tiêu chung của thành phố trong Đại hội đại biểu lần thứ X nhiệm kỳ 2015 - 2020: “Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh
có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình” Nên tác giả đã chọn
Minh hiện nay”.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về văn hóa, văn hóa thể chất, văn hóa thể thao từ trước tới nay
đã có rất nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu công bố và đề cập khá sâu sắc về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội
Ở góc độ lý luận chung về văn hóa đã có những công trình nghiên cứu như:
PGS.TS Phạm Đức Duy (chủ biên) – Phát triển văn hóa Việt Nam giai
đoạn 2011-2020 xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
xuất bản năm 2011, trong cuốn này, tác giả đã nêu những vấn đề lý luận chung về văn hóa, phát triển văn hóa Đồng thời vạch ra những thực trạng và bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong 25 năm đổi mới, từ đó tác giả đề xuất một số phương hướng quan điểm
và giải pháp phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020
GS.TS Đỗ Huy trong cuốn Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi
của nó trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, trên cơ
sở nhìn lại văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX, tác giả đề cập đến việc xây dựng những giá trị văn hóa Việt Nam
TS Nguyễn Viết Chức (chủ biên) với cuốn Xây dựng tư tưởng, đạo
đức, lịch sử và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện
Trang 11văn hóa Hà Nội, 2000, gồm các bài tham luận của nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa, ở những góc độ khác nhau đã đề cập đến tầm quan trọng và cần thiết của việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa
ở Thủ đô Hà Nội
Trên bình diện xem xét bản sắc văn hóa dân tộc, PGS.TS Lê Như Hoa
đã đề cập đến vấn đề nếp sống, lối sống, lối sống đô thị, lối sống gia đình
trong giai đoạn hiện nay trong cuốn Bản sắc văn hóa trong lối sống hiện đại,
Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện văn hóa Hà Nội, 2003
TS Hồ Bá Thâm (Chủ biên) – Phát triển đồng bộ và tương xứng văn
hóa với kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tác giả đã đánh giá
tổng quát về thực trạng và nguyên nhân, về phát triển văn hóa đồng bộ và chưa đồng bộ trong tương quan phát triển kinh tế, trên cơ sở đó đưa ra quan điểm và nhóm giải pháp cho sự phát triển đồng bộ và tương xứng văn hóa với kinh tế
GS.TS.NGND Trần Văn Bính – Xây dựng văn hóa, đạo đức, lối sống
của người Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, cuốn sách này
được chia làm 2 phần Phần 1: Xây dựng và phát triển văn hóa, ở phần này
tác giả cho rằng phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, trong đó xây dựng và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số một vấn đề quan trọng; đồng thời cũng đưa ra thực trạng, giải pháp và phê phán xu hướng thương mại văn
hóa Phần 2: Xây dựng và phát triển con người, trong phần này tác giả đã
đưa ra mối quan hệ giữa phát triển văn hóa và phát triển con người, xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đặc biệt trong cuốn sách này tác giả nhấn mạnh tỏa sáng văn hóa Thăng Long – Hà Nội và đưa ra những phẩm chất nhân cách tiêu biểu của Việt Nam trong truyền thống
Trang 12TS Trần Thị Minh trong cuốn: Phát triển văn hóa với tư cách nền
tảng tinh thần của xã hội, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2014,
tác giả đã đề cập đến sự cần thiết phải phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội; đưa ra những xu hướng, mâu thuẫn trong thực trạng phát triển văn hóa
Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (Đồng chủ biên) – Quản lý văn hóa
Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc
gia – Sự thật, Hà Nội, 2012, tác giả đã đưa ra một số vấn đề lý luận về quản
lý văn hóa và mối quan hệ giữa quản lý văn hóa và một số lĩnh vực chủ yếu, trong đó có lĩnh vực thể thao
Ở góc độ văn hóa, địa danh và con người thành phố Hồ Chí Minh có các công trình như:
Nguyễn Văn Linh, Về công tác tư tưởng văn hóa ở thành phố Hồ Chí
Minh, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1985, đây là tập hợp những bài phát
biểu của Nguyễn Văn Linh liên quan đến nhiều mặt công tác tư tưởng, văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là tầm quan trọng, nhiệm vụ, vai trò của việc rèn luyện đạo đức, lối sống và giữ vững lý tưởng cách mạng, công tác văn hóa, văn nghệ trong việc kiến tạo “con người xã hội chủ nghĩa”
300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1998, đây là công trình tóm tắt lịch sử 300 năm khai phá, xây dựng, bảo vệ những thành tựu phát triển của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh từ khi hình thành cho đến năm 1998 Thông qua công trình này, lịch sử hình thành và phát triển các loại hình, các hoạt động văn hóa cơ bản, phản ánh tổng thể và sống động đời sống sinh hoạt của người dân Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ lịch sử được phác thảo hết sức khái quát
và cô đọng
Trang 13Trong cuốn Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh thế kỷ XX những vấn
đề lịch sử - văn hóa do Nguyễn Thế Nghĩa, Lê Hồng Liêm (chủ biên), Nxb
Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 2000, đây là công trình tập hợp các bài tham luận khác nhau của các nhà khoa học bàn về nhiều vấn đề, khía cạnh và cách nhìn lịch sử cũng như văn hóa của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh diễn
ra trong thế kỷ XX Tuy chưa phải công trình có tính hệ thống toàn diện, song những bài viết trong công trình này phần nào giúp chúng ta hiểu về những đặc điểm lịch sử và văn hóa chủ yếu diễn ra và hình thành trên mảnh đất và con người của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh trong thế kỷ XX
Đề tài Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh
trong giai đoạn hiện nay của Trần Chí Mỹ, Luận án tiến sĩ, Học viện chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002 Công trình này đã khá thành công khi luận giải về các khái niệm văn hóa, văn hóa tinh thần, đời sống văn hóa tinh thần theo các khâu, các lĩnh vực cơ bản: tư tưởng; khoa học, giáo dục; nghệ thuật; tôn giáo, tín ngưỡng… Từ đó đề tài khảo sát thực trạng, đưa ra những kiến nghị và giải pháp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh
Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh con người và văn hóa trên đường phát triển do Phan Xuân Biên (chủ biên), Nxb Đại học quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, 2006, tuy không phải là một công trình trình bày hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về con ngưởi và văn hóa trên con đường phát triển 300 năm (1868 – 1998) của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, song qua những bài viết tập hợp trong công trình đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức nhất định về tiến trình lịch sử văn hóa, giao lưu và hội nhập văn hóa, các dạng hình thức hoạt động và giá trị văn hóa và con người thành phố
Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 14Nguyễn Phúc Bình, Văn hóa qua địa danh Sài Gòn – thành phố Hồ
Chí Minh, luận văn thạc sĩ, Ngành văn hóa học, Trường ĐH KHXH & NV
TP HCM, 2008
Đào Tuấn Hậu, Vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Luận văn tiến sĩ, ngành
Triết học, Trường ĐH KHXH & NV TP HCM, 2015 Luận văn đã trình bày
rõ những đặc điểm vị trí, điều kiện kinh tế- xã hội, dân cư hình thành nên những đặc trưng văn hóa của thành phố Nêu rõ thực trạng, vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế -xã hội Và đã đưa ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò của văn hóa thành phố hiện nay
Ở góc độ văn hóa thể thao Việt Nam và văn hóa thể thao thành phố
Hồ Chí Minh có các công trình nghiên cứu:
Trong cuốn 60 năm thể dục thể thao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước, Ủy ban thể dục thể thao, Nxb thể dục thể thao, 2006, đã
tổng hợp đầy đủ những nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước ta trong suốt 60 năm (1946-2006) lãnh đạo ngành thể dục thể thao phát triển trong những giai đoạn lịch sử của dân tộc
Trương Quốc Uyên trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về thể dục thể
thao, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 2009, tác giả nêu rõ quan điểm của Hồ
Chí Minh về dân cường – nước thịnh, về phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng, về thể thao thành tích cao,… về rèn luyện thể chất của tuổi trẻ trong mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ nước nhà
PGS.TS Lâm Quang Thành, PGS.TS Đào Mạnh Hùng (Đồng chủ
biên): Văn hóa học thể dục thể thao, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 2014,
trong cuốn này các tác giả đã đề cập đến khái niệm văn hóa học thể dục, thể thao; về ứng dụng văn hóa học vào thể dục, thể thao
Trang 15GS.TS Dương Nghiệp Chí (chủ biên) với cuốn Lý luận thể thao thành
tích cao, Nxb Thể dục thể thao, năm 2014, các tác giả đã đề cập tới văn hóa
thể thao thành tích cao, về thực tiễn thể thao thành tích cao trong nước và quốc tế, về cách tuyển chọn tài năng thể thao, về lý luận và thực tiễn huấn luyện, thi đấu thể thao
Cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề văn hóa, riêng định nghĩa về văn hóa đã hơn 400 định nghĩa khác nhau, các công trình nghiên cứu văn hóa trên hầu hết ở nhiều góc độ khác nhau từ văn hóa ứng
xử, văn hóa gia đình, văn hóa kinh doanh, và vai trò của văn hóa trong các hoạt động ở nhiều lĩnh vực trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Việt trong quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam qua nhiều thế kỷ Trong quá trình nghiên cứu về văn hóa thể chất, văn hóa thể thao, phần lớn các tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các tư tưởng về thể dục, thể thao, thành tích của thể thao, văn hóa thể thao nói chung, vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh về văn hóa đối với hoạt động thể thao, đặc biệt là văn hóa thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Tác giả tập trung nghiên cứu phân tích làm rõ giá trị của văn hóa trong hoạt động thể thao, trên cơ sở đó trình bày phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây dựng văn hóa trong hoạt động thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để làm rõ mục đích trên đề tài phải thực hiện nhiệm vụ:
Thứ nhất, phân tích làm rõ lý luận chung về văn hóa, văn hóa thể thao,
những nội dung và yếu tố tác động đến xây dựng văn hoá trong hoạt động thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16Thứ hai, phân tích rõ thực trạng văn hóa trong hoạt động thể thao ở
thành phố Hồ Chí Minh
Thứ ba, Trình bày những phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây
dựng văn hóa trong hoạt động thể thao ở thành phố Hồ Chí Minh
3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu văn hóa trong phạm vi hoạt động thể thao nói chung
và đặc biệt là thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa và văn hóa thể chất, văn hóa thể thao
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, học viên đã dựa trên phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin và các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích – tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, lôgic – lịch sử, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh…
5 Ý nghĩa của đề tài
5.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm những luận điểm, các vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng văn hóa trong hoạt động thể thao, qua đó góp phần nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của văn hóa thể thao đối với đời sống con người hiện nay
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến văn hóa thể thao, góp phần cho các thầy cô, huấn luyện viên, những
Trang 17người hoạt động trong lĩnh vực thể thao trong quá trình giảng dạy, huấn luyện nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên và
vận động viên
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 18PHẦN NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ
TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA THỂ THAO
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm xuất hiện từ lâu và ngày càng không ngừng hoàn thiện cũng như được tìm hiểu từ những góc độ khác nhau, khái niệm văn hóa được sử dụng với nhiều ý nghĩa, ngày càng được bổ sung, phát triển trở thành một khái niệm có nội hàm phong phú Cho tới nay, người ta thống kê được hơn bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau trên thế giới
và con số này ngày càng nhiều thêm Tuy vậy, dù góc độ tiếp cận nào, thì văn hóa vẫn nhìn nhận theo nghĩa cơ bản mà nó có, tức là sự giáo hóa con người qua vẻ đẹp của những giá trị, sự vun trồng tinh thần theo chuẩn mực chân – thiện – mỹ Vì thế, ở nghĩa rộng, văn hóa thường được nhìn nhận là
“toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong
thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội” [77, tr 656]
Ở phương Đông, các nghiên cứu cho rằng, vào thời cổ đại chưa có
định nghĩa về văn hóa, trong quẻ Bỉ của Chu Dịch viết: “Quan hồ thiên văn
dĩ sát thời biến, quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” [22, tr 194-195],
quẻ Bỉ có hai từ “văn” và “hóa”, “văn” có nghĩa là đẹp, “hóa” có nghĩa là giáo hóa, biến hóa Hai từ tố ấy kết hợp với nhau tạo thành “văn hóa” với ý nghĩa dùng thi, thư, lễ, nhạc… để giáo hóa con người, hướng con người sống
và ứng xử hòa hợp với cộng đồng, với xã hội Khổng Tử (551-479 TCN) đã
đề cập đến chữ “văn”, “văn đức” với ý nghĩa là cái đối lập với vũ lực, gươm
Trang 19giáo trong “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”; ông cho rằng nước không nhất thiết phải dùng vũ lực mà nên dùng văn đức để làm cho xã hội yên ổn Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện ở Trung Quốc vào thời Tây Hán (206 TCN –
23 SCN), với ý nghĩa đối lập với vũ lực, trong bài “Chi Vũ” sách Thuyết Uyển, Lưu Hương đã viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực, phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được rồi sau đó sẽ chinh phạt”
Ở phương Tây cổ đại, từ “văn hóa” đầu tiên được viết bằng tiếng La
Tinh là Culltura, có nghĩa đen là cày cấy, gieo trồng, cư trú, luyện tập, Sau
này văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng (nghĩa bóng) là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần trí tuệ Nguồn gốc của từ “văn hóa” như vậy liên quan đến hoạt động sinh tồn với sự phát triển của con người Nhà hùng biện nổi tiếng của La Mã cổ đại Marcus Tullius Cicero dùng từ Culture (văn hóa) để nói về triết học như sau: “Giống như một cánh đồng phì nhiêu không được canh tác
sẽ không đem lại mùa màng, tâm hồn con người cũng vậy, chăm bón cho
tâm hồn - đó chính là triết học” [26, tr.15] Một số trí thức La Mã cổ đại sử
dụng từ “Cultura” như đồng nghĩa với “văn chương” hoặc “nhân văn” Như vậy trong quan niệm của người phương Đông cổ đại, văn hóa mang ý nghĩa
là dùng để giáo hóa con người, đối lập với vũ lực; ở phương Tây cổ đại , văn hóa là hoạt động làm phong phú tinh thần, trí tuệ của con người
Thời Phục Hưng, từ “văn hóa” được hiểu theo nghĩa rộng tức là phạm trù
“tính người”, khác với “tính tự nhiên”, đó là “thiên nhiên thứ hai”, thiên nhiên
đã được nhân hóa Tất cả những gì thuộc về thiên nhiên thứ nhất do con người sáng tạo ra đều là “thiên nhiên thứ hai”, tức là văn hóa Như vậy, từ “văn hóa” thời Phục Hưng được hiểu không chỉ là lĩnh vực giáo dục con người mà bao hàm tất cả các lĩnh vực thuộc về “tính người”, tức thiên nhiên được nhân hóa, nghĩa là con người sáng tạo ra những sản phẩm từ giới tự nhiên
Trang 20Năm 1774, Puphenđoóc – luật gia người Đức, đã định nghĩa: “Văn
hóa là toàn bộ hoạt động mang tính xã hội của con người, văn hóa là cái đối lập với tự nhiên” Còn một triết gia người Đức Hécđe (J.G.Herder) cho rằng:
“Văn hóa là sự sinh ra con người lần thứ hai”, ông muốn nhấn mạnh tính xã
hội của văn hóa
Sang thế kỷ XIX, văn hóa tiếp tục được quan tâm nghiên cứu và đã xuất hiện ngành khoa học mới, chuyên sâu về văn hóa, đó là ngành văn hóa
học, trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy”, Tai-lơ E.B đã viết: “Văn hóa
hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của
xã hội”, [84, tr.21] Tai-lơ E.B đã nhấn mạnh đến những nội dung tri thức,
tín ngưỡng, nghệ thuật và các nội dung thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần của con người, đồng thời ông cũng chỉ ra mối quan hệ không tách rời giữa văn hóa với con người với tư cách là thành viên xã hội, nhưng đáng tiếc tác giả
đã đồng nhất khái niệm văn hóa với khái niệm văn minh, nên không nêu lên được bản chất của văn hóa trong một cấu trúc toàn diện cả văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần
Cácbốp, nhà văn hóa học người Nga định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ
của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người, Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp,
có liên quan đến nền sản xuất và chế độ kinh tế của đời sống xã hội, văn hóa biểu hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội”, [84, tr.22]
Các định nghĩa về văn hóa trên đã nêu được tính chỉnh thể, tính hệ thống của văn hóa và nhấn mạnh đến văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người
Trang 21Từ khi loài người được hình thành trên trái đất thì cũng từ đó các sản phẩm văn hóa ra đời, con người sáng tạo không chỉ sản phẩm vật chất mà cả sản phẩm tinh thần, sản phẩm văn hóa vật chất gọi là văn hóa hữu thể, sản phẩm văn hóa tinh thần gọi là văn hóa vô thể Như vậy văn hóa bao hàm văn hóa hữu thể và văn hóa vô thể, thông dụng hơn, văn hóa bao hàm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Sản phẩm văn hóa vật chất cũng như sản phẩm văn hóa tinh thần là kết quả năng lực sáng tạo của con người, do đó văn hóa là sự kết tinh giá trị văn hóa của chủ thể sáng tạo Giá trị văn hóa của chủ thể sáng tạo bằng sự thao tác kĩ năng, tức năng lực con người về thân thể, tri thức khoa học, kĩ thuật, tay nghề, phẩm chất nghệ thuật, thị hiếu… Những giá trị văn hóa ấy được con người sáng tạo, tích lũy, trau dồi trong tiến trình lịch sử, đó gọi là những giá trị văn hóa quá khứ Con người đồng thời là chủ thể sáng tạo ra những giá trị văn hóa quá khứ và những giá trị văn hóa mới, nhưng để sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, con người phải vận dụng linh hoạt và sáng tạo những giá trị văn hóa quá khứ
Từ những luận giải trên cho thấy thuật ngữ “văn hóa” có nội hàm rộng lớn, sâu sắc, bởi vậy khi đề cập đến định nghĩa về văn hóa cần tuân theo sự định hướng mà các nhà văn hóa đã chỉ ra Từ trước tới nay trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, điều đó thể hiện văn hóa vô cùng phong phú
và không ngừng phát triển do nhu cầu ngày càng tăng lên của cuộc sống với
sự hoàn thiện con người cả về thể chất và tinh thần
Do đặc điểm lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa có điều kiện nghiên cứu văn hóa với tư cách là lĩnh vực riêng, không có một tác phẩm nào nghiên cứu một cách hệ thống chuyên biệt quan điểm của các ông về văn hóa; vì thế C.Mác và Ph Ăngghen chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể nào, mà những
Trang 22quan điểm về văn hóa của các ông được thể hiện gián tiếp qua hệ thống quan điểm duy vật về con người , xã hội, lịch sử; qua sự luận giải về cơ bản thuộc
về sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, các hiện tượng xã hội như nhà nước, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, giáo dục, nghệ thuật, …
C.Mác coi văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con người Khi coi “giới tự nhiên thứ hai” với
tư cách là “tác phẩm”, “thực tại” của con người - giới tự nhiên được con người cải biến, nhân hóa, mang ý nghĩa và nội dung con người là văn hóa, C.Mác đã đồng nhất văn hóa với phương thức hoạt động sống đặc thù,
phương thức hoạt động sống riêng có của con người: “Súc vật chỉ nhào nặn
vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài của nó, còn con người thì
có thể sản xuất theo thước đo của bất cứ giống nào và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích ứng cho đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” [64, tr.137]
Như vậy, trong quan niệm của C.Mác, văn hóa là cái phản ánh tính đặc thù của hoạt động con người và sự tồn tại, vận động, phát triển cùng với tính đặc thù như vậy của con người trong thế giới Văn hóa chỉ xuất hiện khi con người ý thức rõ ràng về đời sống xã hội của họ, về hoạt động tự do, hoạt động lao động sáng tạo để không những cải tạo và biến đổi tự nhiên vì sự tồn tại, phát triển của chính mình, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn của chính mình, mà còn để “làm cho bản thân hoạt động sinh sống của mình trở thành đối tượng của ý chí và của ý thức của mình” Nói cách khác, văn hóa là cái phản ánh việc con người tự ý thức về vai trò độc lập của mình, về khả năng
và năng lực sáng tạo của mình trong việc cải tạo và biến đổi tự nhiên
Trong quan niệm của C.Mác, chủ thể sáng tạo văn hóa là con người Con người sử dụng văn hóa đó để phát triển năng lực của mình trong quá
Trang 23trình cải tạo và biến đổi tự nhiên, đồng thời cải tạo chính bản thân mình Trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội và chính mình, con người ngày càng
ý thức một cách rõ ràng hơn sức mạnh xã hội của lao động và ý thức đầy đủ hơn khả năng, năng lực sáng tạo mang bản chất người của mình - sáng tạo văn hóa, tái sản xuất ra giới tự nhiên, “xây dựng” giới tự nhiên cho chính mình “theo các quy luật của cái đẹp” Bằng hoạt động lao động sáng tạo đó
và với chính sự tồn tại, phát triển của mình trong thế giới hiện thực, con người đã tự xác định cho mình cái ranh giới để phân biệt phương thức hoạt động sống của mình với phương thức hoạt động sinh tồn của loài vật Theo
đó, văn hóa là cái thể hiện sự giải phóng và tự giải phóng con người khỏi sự ràng buộc, thống trị với một sức mạnh bí ẩn của thế giới tự nhiên và thế giới thần thánh mà con người tưởng tượng ra do sự bất lực của mình trước giới tự nhiên đầy bí ẩn Văn hóa là cái ghi nhận lĩnh vực hiện thực được quy định không phải bởi tính thiết yếu tự nhiên và sự tiên định của thượng đế hay một đấng tối cao nào đó, mà bởi hoạt động lao động sáng tạo của con người với
tư cách là một thực thể độc lập, có ý thức, có năng lực tư duy và khả năng lao động sáng tạo
Như vậy, theo quan niệm của C.Mác, thế giới văn hóa là thế giới con người, do con người tạo ra cho chính mình - thế giới mà trong đó, “con người nhân đôi mình không chỉ về mặt trí tuệ như xảy ra trong ý thức nữa,
mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực”, để rồi “ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra” Con người sáng tạo
ra thế giới văn hóa cho mình bằng hoạt động có ý thức và hơn nữa, đó là hoạt động có ý thức một cách tích cực, sáng tạo Do vậy, khi nói tới văn hóa không phải là nói tới cái thế giới sự vật và các tư tưởng tự nó, mà là nói tới con người đã tạo ra nó Song, sự phát triển của con người lại chính là kết quả của quá trình hoạt động có ý thức, của quá trình lao động sáng tạo của bản
Trang 24thân con người và do vậy, khi nói tới văn hóa là nói tới hoạt động có ý thức, hoạt động lao động sáng tạo của con người và kết quả của hoạt động đó Cũng do vậy, qua hình thức văn hóa của vật thể, chúng ta có thể phán xét về con người đã tạo ra các vật thể văn hóa đó, về những đặc trưng, tính chất của thời đại đã sản sinh ra chúng, về trình độ phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ của con người trong một thời đại lịch sử nào đó
Không chỉ thế, quan niệm của C.Mác về văn hóa còn cho thấy, văn hóa là cái thể hiện sức mạnh xã hội của hoạt động lao động sản xuất của con người Hoạt động lao động sản xuất tạo ra toàn bộ sự phong phú, đa dạng cho tồn tại của con người, hình thành mối quan hệ của con người với thế giới
tự nhiên xung quanh và quan hệ của con người với con người trong cộng đồng xã hội - chính là cội nguồn của văn hóa, song, nội dung của văn hóa không chỉ thể hiện ở đó, mà còn thể hiện ở sự phát triển của bản thân con người, ở sự phát triển và hoàn thiện của con người cả về thể xác lẫn tâm hồn,
cả về đạo đức lẫn năng lực trí tuệ và trình độ thẩm mỹ Do vậy, trong quan niệm của C.Mác, văn hóa với tư cách là phương thức hoạt động sống đặc thù của con người cần được hiểu là, hoạt động đó không chỉ là hoạt động lao động sản xuất nhằm tạo ra những vật phẩm thiết yếu cho cuộc sống con người, mà còn là hoạt động tinh thần, hoạt động giáo dục và khai sáng theo nghĩa rộng nhất của từ này, để tạo nên những sản phẩm tinh thần cho con người Nói cách khác, văn hóa chính là cái làm nên nền tảng tinh thần của xã hội, ghi nhận tầm cao và chiều sâu phát triển của cộng đồng xã hội, tạo ra hệ các giá trị nhân đạo, nhân văn cho một cộng đồng xã hội và kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa con người với con người, với xã hội và với tự nhiên
Song song với điều đó, C.Mác còn quan niệm: văn hóa là lĩnh vực hoạt động mà nhờ đó, con người sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình
Trang 25với tư cách là một thực thể xã hội Đó là hoạt động của con người nhằm tạo
ra một hệ thống giá trị mang tính định hướng cho sự phát triển ý thức con người và cho lối ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội, với hệ thống giá trị định hướng này, mỗi nền văn hóa trở thành một hệ thống biểu tượng bao hàm trong đó các khuôn mẫu ứng xử xã hội của con người Đó còn là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống những thể chế mà qua đó, những giá trị cao đẹp, mang tính định hướng được giữ gìn, lưu truyền và phổ biến trong cộng đồng xã hội, trở thành tài sản của mỗi người, của tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội ấy và làm nên truyền thống văn hóa cho một cộng đồng xã hội
Coi văn hóa là phương thức hoạt động sống đặc thù của con người - hoạt động lao động sản xuất và hoạt động tinh thần, C.Mác còn chỉ rõ, hai phương thức hoạt động nền tảng này của con người tồn tại không tách rời nhau mà gắn bó, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể văn hóa để tạo nên
và tái tạo nên con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội Bằng những hoạt động nền tảng này, con người tạo nên nền văn hóa của mình, sống trong nền văn hóa đó và làm cho nền văn hóa đó ngày một phát triển, hoàn thiện, vì cuộc sống ngày càng cao đẹp của mình, vì một xã hội nhân đạo, nhân văn, công bằng, dân chủ Đồng thời, thông qua kết quả của những hoạt động nền tảng đó, con người phán xét toàn bộ lịch sử sinh thành và phát triển của nhân loại, thẩm định hệ thống những giá trị con người - những giá trị định hướng cho hoạt động con người, xác định cả nội hàm lẫn ngoại diên của hệ thống những giá trị ấy và thể hiện chúng qua nền văn hóa của mình Nhờ đó, kết quả hoạt động của con người trong các lĩnh vực kinh kế, chính trị, khoa học, v.v cũng được phản ánh trong nền văn hóa nhân loại và trở thành yếu tố cấu thành nền văn hóa ấy khi chúng mang ý nghĩa và nội dung con người, thể hiện bản chất con người
Trang 26Như vậy, trong quan niệm của C.Mác, văn hóa không chỉ đóng vai trò
là cơ sở, nền tảng tinh thần của xã hội, của lịch sử nhân loại, mà còn là lĩnh vực luôn có ảnh hưởng, tác động đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, đến sự phát triển xã hội Trong sự tác động và ảnh hưởng đó, văn hóa không chỉ tác động, ảnh hưởng đến nguyên nhân sinh ra nó - đến tồn tại xã hội, đến quá trình sản xuất vật chất của con người, mà còn góp phần quyết định phương thức vận động và phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người Văn hóa còn đem lại cho con người sự điều chỉnh và định hướng hoạt động của mình và qua đó, điều tiết quá trình sản xuất vật chất, điều tiết
sự phát triển xã hội, trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển xã hội bền vững - phát triển vì mục tiêu nhân văn, vì giá trị nhân đạo
V.I Lênin với tư cách là người tiếp tục kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác, bằng sự tổng kết những tri thức và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, ông đã rất nhiều lần đề cập đến thuật ngữ “văn hóa”, “cách mạng văn hóa”, “văn hóa vô sản”,… Thông qua cách sử dụng thuật ngữ “văn hóa” trong các bài viết của Người, chúng ta phần nào hình dung khái niệm “văn hóa” trong tư tưởng của V.I Lênin có nội hàm hết sức rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, tư tưởng, dân trí, giáo dục, đào tạo, đạo
đức, nghệ thuật, ngôn ngữ,… và rộng hơn nữa là ông quan niệm “văn hóa vô
sản = chủ nghĩa cộng sản” Khi chuyển từ chính sách Cộng sản thời chiến
sang thực hiện chính sách Kinh tế mới, V.I.Lênin viết: “Toàn bộ quan điểm
của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: trước đây chúng ta đã đặt và không thể đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền, v.v… Ngày nay, trọng tâm ấy đã chuyển sang công tác hòa bình
tổ chức văn hóa, tôi dám quả quyết rằng trọng tâm của chúng ta đã chuyển sang hoạt động giáo dục” [55, tr.424], như vậy, ở đây giáo dục như một lĩnh
Trang 27vực quan trọng của văn hóa nhằm phát triển con người, nhất là về mặt dân trí
Mặt khác, V.I.Lênin cũng sử dụng từ văn hóa để chỉ về tri thức, học vấn: “Đối
với chúng ta có những khó khăn không thể tưởng tượng được, về mặt thuần túy văn hóa (chúng ta bị mù chữ), cũng như về mặt vật chất, bởi vì muốn trở thành người có văn hóa thì tư liệu vật chất để sản xuất phải phát triển đến một mức nào đó” [55, tr.424] Ở cấp độ rộng hơn, Lênin xem văn hóa là toàn bộ
những giá trị do nhân dân sáng tạo ra thông qua hoạt động thực tiễn nhằm phục vụ cho sự giải phóng và phát triển của chính con người Với ý nghĩa đó,
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản của giai cấp vô sản
và nhân dân lao động chính là sự nghiệp văn hóa, sự nghiệp hướng đến các giá trị “chân – thiện – mỹ”, hướng đến giải phóng con người
Như vậy, khái niệm “văn hóa” được V.I.Lênin sử dụng với nhiều cấp
độ khác nhau, ở cấp độ rộng, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong lịch sử; ở cấp độ hẹp, văn hóa chính là hình thái ý thức xã hội, là lĩnh vực tinh thần của xã hội; cấp độ hẹp nhất, văn hóa chính là học vấn, là trình độ giáo dục
Ở Việt Nam từng có những định nghĩa về văn hóa có ý nghĩa sâu sắc,
năm 1943, Hồ Chí Minh nêu lên định nghĩa văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [65, tr.431]
Năm 1946, Người đưa ra luận điểm nổi tiếng: Văn hóa soi đường cho
quốc dân đi Ngay trong thời kỳ chống thực dân Pháp, Người đã nêu lên luận
điểm về quan hệ không tách rời giữa văn hóa với kinh tế và chính trị: Văn
hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị Văn hóa trong chính trị, chính trị trong văn
Trang 28hóa; văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn hóa, luận điểm này ngày càng đúng khi ngày nay đất nước ta xây dựng, phát triển kinh tế trong cơ chế kinh
tế thị trường
Gần đây, theo Từ điển triết học (2002), “Văn hóa là toàn bộ những giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật
và văn học, triết học, đạo đức, giáo dục…), Văn hóa là hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội”
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005): “Văn hóa là toàn bộ những
hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Khái niệm văn hóa được hiểu theo nghĩa nhân văn rất rộng … Văn hóa biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống lao động xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ… Văn hóa là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc ”
Giáo sư Trần Quốc Vượng tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp: Văn hóa hiểu theo nghĩa như lối sống, lối ứng xử, văn hóa theo nghĩa
hẹp như văn hóa nghệ thuật, học vấn… và tùy từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau Ví dụ, xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi bàn tay của con người
Giáo sư Trần Ngọc Thêm theo cách tiếp cận hệ thống và nhấn mạnh
những đặc trưng cơ bản của văn hóa: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
Trang 29Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận và rất nhiều cách hiểu về văn hóa khác trên thế giới và nước ta nhưng hầu hết thường đề cập đến định nghĩa văn hóa được ghi trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến ngày 6/8/1982 ở
Mehico, như sau: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và
vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phán đoán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”
Định nghĩa trên đây của UNESCO theo nghĩa rất rộng của văn hóa, đã khái quát vai trò của văn hóa đối với sự nhận thức, sự tồn tại và hoàn thiện của con người Định nghĩa cũng đã hàm ý từ những giá trị văn hóa quá khứ
để sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, trong đó có những giá trị vượt trước thời đại
Từ những định nghĩa kể trên, các nhà nghiên cứu gặp nhau ở những điểm chung sau trong quan niệm về văn hóa:
Một là, văn hóa là bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Hai là, văn hóa bao hàm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần, trong đó hoạt động tinh thần hướng tới việc sản xuất ra các giá trị chân - thiện - mỹ
Trang 30Ba là, văn hóa được hiểu theo nội dung bao gồm hệ tư tưởng, đạo đức
xã hội; nếp sống, lối sống; phong tục tập quán; giáo dục; khoa học – kỹ thuật; văn hóa – nghệ thuật
Bốn là, văn hóa xét từ vai trò của nó vừa là kết quả vừa là nguyên nhân của sự phát triển xã hội, nó không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, từ những định nghĩa văn hóa trên, theo tác giả văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch
sử qua hoạt động thực tiễn Văn hóa thể hiện từ trong lối sống, trong đời sống lao động xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ tạo ra khả năng sáng tạo
mới, vượt lên trên giá trị bản thân
văn minh
chủ yếu nói đến các giá trị tinh thần (văn chương, học thuật, nghi lễ…) làm
nên truyền thống đó, trong Hán việt tự điển, Đào Duy Anh định nghĩa văn
hiến là “sách vở và nhân vật tốt trong một đời”
nhưng chủ yếu là nói đến giá trị văn hóa hữu thể (di tích, công trình kiến trúc, hiện vật…)
thì văn có nghĩa là dáng dấp bên ngoài và thường để hiểu là đẹp đẽ tốt lành, trái với nghĩa mộc mạc, thô kệch; minh là sáng sủa, trong sáng, rõ ràng Văn minh
là các tia đạo đức phát hiện ra trong ở trong chính trị, pháp luật, học thuật, điển
chương … Cũng với cách giải thích tương tự, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu viết rằng: văn minh là cái dấu vết theo đạo đức, lễ nhạc, giáo hóa mà có vẻ đẹp
rõ rệt, trái với dã man, nhưng, văn minh là từ dịch từ ngôn ngữ phương Tây
Trang 31Từ văn minh theo ngôn ngữ phương Tây (civilization, civilization, ) đều có nguồn gốc tiếng Latinh là civitas, nghĩa là trạng thái được khai hóa,
không còn là trạng thái ăn lông, ở lỗ, hái lượm… nay đây mai đó, mà định cư
thành một cộng đồng; civitas cũng có nghĩa là tình trạng đã có quốc gia,
chính quyền, pháp luật
Từ văn minh được dùng rộng rãi từ thế kỷ XVIII, tức thế kỷ của Ánh
sáng Trong Tự điển Bách Khoa do Điđơrớt D, chủ biên, từ “civilization”
được giải thích là sự tiến hóa của nhân loại từ trạng thái dã man hay bán khai
sang trạng thái khai hóa Các nhà triết học Ánh sáng tiếp tục phát triển khái niệm văn minh Nói chung họ gọi văn minh là một xã hội dựa trên cơ sở của
lý trí và công bằng
Nội hàm của khái niệm văn minh được xác định và bổ sung nhờ công trình Xã hội cổ đại của nhà xã hội học Mócgan L.H Các thành tố của văn
minh theo quan điểm của Mócgan L.H được Ph Ăngghen đề cập trong tác
phẩm Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước Nhưng những thành tố của văn minh như: sự sáng tạo ra chữ viết, công nghiệp và
nghệ thuật, chế độ một vợ một chồng, sự phân chia xã hội thành giai cấp… chỉ mới được chứng minh qua 4 nền văn minh đã biết lúc đó: Ai cập, Assyria, Hy lạp và La Mã
Những phát triển của ngành Khảo cổ học đầu thế kỷ XX đã phát triển
và hoàn thiện khái niệm văn minh, Chaiđơ V.G, nhà khảo cổ học người Anh, đưa ra định nghĩa văn minh trong phạm vi những yếu tố mà ông cho là cơ sở
để chuyển từ văn hóa sang văn minh Những yếu tố này gồm: việc phát minh
ra chữ viết, ngành luyện kim, các đơn vị đo lường tiêu chuẩn, toán học, kiến trúc, …, định nghĩa của Chaiđơ V.G mở đầu cho hàng loạt các công trình lịch sử về các nền văn minh đã từng tồn tại và phát triển
Trang 32Ngày nay, nhiều nhà nhân loại học cho rằng không có một tiêu chuẩn
hoặc một bảng các tiêu chuẩn để định nghĩa văn minh, khái niệm văn minh chỉ
sự tiến bộ xã hội, sự vươn tới trình độ cao hơn về mặt vật chất và tinh thần, ở đây nói lên một xã hội trật tự hợp lý cho phép con người vươn tới đỉnh cao
của văn hóa, nhưng khác với văn hóa, văn minh là một phạm trù lịch sử
Như vậy văn hóa và văn minh đều chỉ những giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, lâu nay nhiều người
vẫn sử dụng văn hóa và văn minh như những từ đồng nghĩa, thực sự, chúng khác nhau cơ bản Sự khác nhau của văn hóa và văn minh là ở chỗ, văn hóa
là toàn bộ giá trị và tinh thần do con người sáng tạo ra từ khi con người ra
đời cho tới nay, còn văn minh là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra ở giai đoạn phát triên cao của xã hội, văn hóa là bề dày lịch sử, còn văn minh là một lát cắt đồng đại, nó chỉ trình độ phát triển cao của văn
hóa Về mặt không gian, phạm vi của văn hóa thường mang dấu ấn của dân
tộc, một vùng; còn văn minh mang tính quốc tế, vì những thành tựu của văn minh dễ phổ biến hơn Văn hóa giàu tính nhân bản, vị tha và đồng cảm, nó hướng tới những giá trị vĩnh hằng, còn văn minh là ý muốn vươn tới sự hợp
lý, sự tổ chức xã hội sao cho tiện lợi, phù hợp với sự phát triển cao của khoa học - kỹ thuật
Sự phân biệt các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật được trình bày trong bảng sau:
Chứa cả các giá trị vật
chất lẫn tinh thần
Thiên về giá trị tinh thần
Thiên về giá trị vật chất
Thiên về giá trị vật chất – kĩ thuật
Có bề dày lịch sử Chỉ trình độ phát triển
Gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp Gắn bó nhiều hơn với
phương Tây đô thị
Trang 331.1.2 Khái niệm văn hóa thể thao
trì sự vừa vặn của cơ thể và sức khỏe nói chung Nó có thể được thực hiện nhằm một vài lý do khác nhau… Những lý do này bao gồm sức mạnh cơ bắp, hệ tim mạch, trau dồi kỹ năng thể thao, giảm và duy trì cân nặng, và sở thích Các bài tập thể dục đều đặn và thường xuyên nâng cao sức miễn dịch
cơ thể và giúp ngăn ngừa các bệnh hiện đại như bệnh tim, hệ tuần hoàn, tiểu đường típ hai và béo phì Nó còn nâng cao sức khỏe tinh thần, giúp ngăn chặn trầm cảm, giúp nâng cao tính lạc quan và còn là yếu tố làm tăng thêm
sự hấp dẫn giới tính cá nhân hay hình ảnh cơ thể cái mà luôn liên quan đến mức cao lòng tự trọng
gắn với một hoạt động thi đấu theo đúng nghĩa của nó) Đây là hoạt động mang tính lịch sử được hình thành và phát triển dưới dạng các cuộc tranh tài với hình thái đặc biệt để đạt thành tích, biểu hiện trong các cuộc tranh đua được quy định rõ và hiện thực hóa tối đa những năng lực của cá nhân (thể lực, kỹ năng, tâm lý,…)
Thuật ngữ “thể thao”, nghĩa rộng bao trùm lên hoạt động thi đấu dạng đặc biệt, bao gồm quá trình chuẩn bị để giành thành tích, cũng như mối quan
hệ giữa các cá nhân và những chuẩn mực hành vi phát sinh của họ trên cơ sở hoạt động thi đấu Theo nghĩa rộng, thuật ngữ “thể thao” phô diễn một hiện tượng phức tạp, đa dạng và đa chức năng của thực tế xã hội, chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa thể chất và văn hóa tinh thần của xã hội Nó là phương tiện tác động đặc biệt của giáo dục thể chất, cho phép bộc lộ khả năng chức phận của cơ thể và nâng cao chúng tới mức độ tột đỉnh, vượt qua những “giới hạn” bình thường và là nhân tố tác động sâu sắc đến nhân cách,
Trang 34tính quyết đoán và tự khẳng định mình Cùng với những điều này, nó còn là phương tiện đại chúng để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, thỏa mãn cảm xúc, nó
là “ngôn ngữ” hiểu biết lẫn nhau giữa người với người vượt qua ranh giới quốc gia, mở rộng giao lưu quốc tế
Với thuật ngữ “thể thao” theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng đều dẫn tới
phạm trù “thể thao thành tích cao” Thể thao thành tích cao (Conveti-tive
sports) là sự phát huy, nâng cao giới hạn tiềm lực tối đa của cá nhân và tập thể về hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ - chiến thuật
để đạt thành tích thi đấu xuất sắc, thông qua huấn luyện, thi đấu một cách hệ thống, khoa học [19, tr.7] Đặc điểm của thể thao thành tích cao là có tính
nghệ thuật thi đấu cao, đòi hỏi vận động viên trải qua nhiều năm huấn luyện nghiêm khắc, có tính khó xác định của kết quả thi đấu; tuân thủ nghiêm ngặt các luật lệ, quy tắc thi đấu, thành tích thi đấu được xã hội công nhận, vận động viên thường đại diện cho tổ chức, quốc gia hay địa phương thi đấu với mục đích rõ rang, thể thao thành tích cao ngày càng trở thành hiện tượng văn hóa xã hội quan trọng của thế giới
dùng để dịch chữ sport, thể dục dùng để dịch gymnastics, trong tiếng việt hai
từ này có nghĩa khác nhau vì từ thể dục và thể thao hay sử dụng đồng thời (Ủy ban thể dục thể thao, trường đại học thể dục thể thao,…), thể dục thường được sử dụng khi muốn nói về bộ môn tập luyện có mục đích để rèn luyện
cơ thể chính mình và được chia thành các bài (phần); còn thể thao được dùng khi muốn nói về bộ môn tập luyện có thêm mục đích để thi đấu
Thể dục, thể thao chỉ sử dụng ở nước ta nên còn nhiều ý kiến khác nhau, “thể dục” và “thể thao” có dấu phẩy ở giữa đều có trong Luật thể dục, thể thao năm 2006 (Luật số 77/2006/QH11) Trên thế giới, ở đại đa số các quốc gia, nhất là các quốc gia công nghiệp phát triển, thuật ngữ này được gọi
Trang 35là “văn hóa thể chất và thể thao”, “Giáo dục thể chất và thể thao” Có thể khẳng định thuật ngữ “thể dục, thể thao” hay “thể dục thể thao” đều không đúng thuật ngữ quốc tế Thuật ngữ này sử dụng ở nước ta từ giữa những năm
50 của thế kỷ XX cho tới nay, mặc dù không phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng đã quen dùng trong mọi tổ chức, trong văn bản và quen dùng trong nhân dân
Thuật ngữ “văn hóa thể chất” xuất hiện muộn hơn nhiều so với lịch sử hình thành văn hóa thể chất của xã hội loài người Trong cuốn “Lịch sử thể dục, thể thao” của Đức vào năm 1818 sử dụng cụm từ “ văn hóa thể chất” hay “văn hóa thân thể” chỉ những hoạt động rèn luyện thân thể, dưỡng sinh, xoa bóp cơ thể Thuật ngữ “văn hóa thể chất” – tiếng Anh là Physical Culture, tiếng Pháp là Culture Physique được dùng nhiều vào cuối thế kỷ XIX Trong cuốn “History of physical education” (Lịch sử giáo dục thể chất) của tác giả P.C Meintosh, J.G.Dixon, A.D.Munrow và R.F.Willretts xuất bản tại Luân Đôn (Anh) năm 1960, đã nhấn mạnh “Văn hóa thể chất” phải được hiểu theo nghĩa rộng là lĩnh vực mà trong đó các yếu trực tiếp và liên quan đến việc giữ gìn và phát triển thể chất con người Các yếu tố ấy chính
là sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
Trong cuốn “Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất” do các giáo
sư A.D.Nôvicốp và L.P Matvêép đồng chủ biên, xuất bản tại Matxcơva (Liên Xô) năm 1967 đã được NXB Thể thao dịch và in năm 1979 cũng đề cập đến thuật ngữ “Văn hóa thể chất” theo nghĩa rộng, nó bao hàm cả giáo dục thể chất, các hoạt động thể thao, sự phát triển của chúng phụ thuộc vào các yếu tố văn hóa như tư tưởng, điều kiện và phương tiện vật chất Các tác giả của cuốn sách này đã đưa ra định nghĩa “văn hóa thể chất” theo nghĩa
rộng như sau: “Văn hóa thể chất là một tổng thể, bao gồm tất cả những
Trang 36thành tựu của xã hội trong việc sáng tạo nên và sử dụng hợp lý các phương tiện, phương pháp và điều kiện chuyên môn để hoàn thiện thể chất con người một cách có chủ đích”
Định nghĩa trên chỉ rằng, văn hóa thể chất cũng như văn hóa nói chung
là thành tựu vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và sử dụng một cách có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hoàn thiện thể chất Song văn hóa thể chất không chỉ có vai trò nâng cao và hoàn thiện thể chất con người mà còn ảnh hưởng rất tích cực tới thế giới tinh thần của con người như: ý chí, sự yêu đời, lạc quan, sự cảm xúc, thị hiếu thẩm mỹ, biểu tượng đạo đức, tính tập thể, tình hữu nghị…
Tới năm 1974 Hội đồng thuật ngữ thể dục, thể thao Quốc tế đã xuất bản 6 cuốn “Thuật ngữ văn hóa thể chất” là loại thuật ngữ văn hóa, hàm ý cơ bản là một bộ phận của văn hóa mở rộng, là phạm trù tổng hợp của rèn luyện thân thể nâng cao tiềm lực sinh học và tiềm lực tinh thần của con người kết hợp với quy luật, chế độ rèn luyện và cơ sở vật chất
Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều nhà khoa học bàn luận về vấn đề
“Văn hóa thể chất” như: cố giáo sư Trần Quốc Vượng, nhà sử học và văn hóa học Việt Nam đã đề cập tới một loạt thành tố văn hóa thể chất như sau: “Cái khỏe của thân xác con người là phạm trù của văn hóa, văn minh, thao diễn thân xác “thể thao” là một ứng xử văn hóa, mọi thành tích thể thao là những thành tựu văn hóa Một đất nước có nền văn hóa cao cũng là một đất nước có thể thao phát triển… ca tụng thân xác là ca tụng một nét riêng văn hóa Vẻ đẹp của thân xác là một biểu hiện của vẻ đẹp văn hóa, văn minh… Thân xác là một giá trị tạo ra những giá trị khác qua lao động… Bởi thế chăm sóc thân xác qua thể dục, thể thao là chăm sóc một giá trị văn hóa, văn minh” [5, tr.6] Trong văn hóa thể chất thì tư tưởng văn hóa thể chất là nền tảng, GS.Trần Quốc Vượng chỉ rõ: Nếu cốt lõi của một nền văn hóa là hệ tư
Trang 37tưởng, hệ ý thức mà căn cơ là một triết lý vũ trụ và nhân sinh, thì thể dục thể thao, bộ môn chăm sóc và rèn luyện thân xác, sức khỏe con người, một bộ phận hợp thành của văn hóa cũng phải có nền tảng hệ ý thức, nền tảng triết
lý của mình” [5, tr.7]
thể chất và thể thao là: “Hoạt động văn hóa xã hội có ý thức, có kế hoạch
bằng biện pháp cơ bản là bài tập vận động cơ thể để tăng cường thể chất, xúc tiến phát triển toàn diện con người, làm phong phú đời sống văn hóa xã hội và văn minh tinh thần Văn hóa thể chất và thể thao gồm giáo dục thể chất và thể thao trường học, giáo dục thể chất và thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao” Khái niệm này chứa nội hàm rất rộng bao gồm mọi
hoạt động thể dục, thể thao nói chung Lần đầu tiên trong khái niệm văn hóa thể chất ở Việt Nam thường dùng được bổ sung thêm vào “Văn hóa thể chất
và thể thao” Sự bổ sung này chính là sự phát triển của lĩnh vực thể thao trong giai đoạn mới hiện nay Khi thể dục, thể thao không đơn thuần là những bài tập thể dục, hay vì mục đích sức khỏe hay vì sắc đẹp mà ở đây, thể thao với sự phát triển của nó đã thành một nghề, tức vươn tới thể thao chuyên nghiệp và thể thao thành tích cao Sự thay đổi của thực tế xã hội thể thao buộc các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này phải nghiên cứu và bổ sung nó đầy đủ hơn trong sự phát triển của nó
Khi thể thao trở thành một nghề của xã hội thì tất yếu nó cũng sẽ bị quy định bởi những yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, dân tộc đó, chịu ảnh hưởng văn hóa của xã hội ấy, trở thành một nghề cũng có nghĩa cần phải xây dựng đạo đức nghề nghiệp, văn hóa, văn minh nghề nghiệp, để góp phần xây dựng xã hội ngày một tốt đẹp, là những con người sống có tình, có nghĩa, có văn hóa
Trên cơ sở những quan điểm về văn hóa thể chất của các tác giả trong
Trang 38và ngoài nước, với phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu hoạt động thể thao mang tính chuyên nghiệp, những người hoạt động thể thao được đào tạo bài bản nhằm mục đích thi đấu hay nói cách khác
đó là thể thao thành tích cao - thượng tầng của văn hóa thể chất Văn hóa thể thao (Sport culture) có quan hệ với hệ thống chức năng, kết cấu hợp thành các loại hình thái của văn hóa thể chất, qua đó, theo tác giả có thể hiểu văn
hóa thể thao: “Văn hóa thể thao là toàn bộ thể chất và tinh thần của những
người hoạt động thể thao chuyên nghiệp (vận động viên, huấn luyện viên,…) nhằm phát huy những tố chất, kỹ năng, kỹ xảo, ý chí và nghị lực được hình thành trong quá trình tập luyện và thi đấu thể thao một cách trung thực, thẳng thắn, cao thượng vượt qua chính mình vì màu cờ sắc áo dân tộc và vì tinh thần thể thao quốc tế” Với cách hiểu này, văn hóa thể thao có nghĩa
hẹp hơn định nghĩa văn hóa thể chất, văn hóa thể thao là một phần của văn hóa thể chất Khi nói đến “văn hóa thể chất” được hiểu theo một nghĩa rộng bao gồm cả những bài tập thể dục vận động cơ thể nói chung cho đến giáo dục thể chất, thể thao trường học, thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao,… Còn với văn hóa thể thao thì hiểu theo nghĩa hẹp tức là chỉ đề cập quá trình rèn luyện và thi đấu thể thao chuyên nghiệp, bằng ý chí, nghị lực, đạo
đức,…của vận động viên, huấn luyện viên
Trong quá trình nghiên cứu thể thao chuyên nghiệp (Thể thao chuyên nghiệp là hoạt động thể thao, trong đó huấn luyện viên, vận động viên lấy huấn luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao là nghề của mình), thể thao thành tích cao, tác giả có nghiên cứu toàn bộ thể thao cho mọi người bởi lẽ ở nước ta thể thao thành tích cao mới bước vào những năm đầu tuyển chọn và đào tạo
và ở một số môn như bóng đá, bóng chuyền, bơi lội, cờ vua,…; phần lớn các vận động viên thi đấu cho thể thao thành tích cao lấy từ thể thao cho mọi người (trong đó đặc biệt là thể thao quần chúng)
Trang 39Ở Việt Nam, thuật ngữ “thể dục, thể thao” thường được dùng đi liền với nhau trong toàn ngành, mọi tổ chức, mọi văn bản, nên trong đề tài có những chỗ tác giả vẫn sử dụng cụm từ này đi liền với nhau
Bên cạnh khái niệm văn hóa thể chất, người ta cho rằng thể thao thành tích cao là thượng tầng của văn hóa thể chất, liên quan tới thể thao thành tích cao trong những năm gần đây Hội khoa học thể dục, thể thao Trung Quốc, Học viện thể thao Hồng Công và các nước phát triển trên thế giới còn đưa ra khái niệm “văn hóa thể thao” (Sport culture) Và xem văn hóa thể thao là một hình thái phạm trù của văn hóa, qua các góc độ sau:
Thứ nhất, văn hóa thể thao xem xét dưới góc độ giữa con người và thể
thao Đối tượng tác động của văn hóa không nằm ngoài tự nhiên, xã hội và con người Nếu thừa nhận thể thao là một tiêu chí văn hóa, văn minh của nhân loại thì phải xem xét quan hệ giữa thể thao và con người, thể thao là nội dung và phương thức để loài người đến với thế giới: Văn hóa là sự tổng hợp mọi hoạt động mang tính sáng tạo trong lĩnh vực sản sinh ra vật chất và tinh thần của loài người đồng thời được truyền bá và sử dụng các hình thái điển hình, có giá trị, nó là phương thức để loài người đến với thế giới một cách hoàn chỉnh, toàn diện trong suốt chiều dài lịch sử Tuy không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất, nhưng công nghiệp thể thao rõ ràng cho thấy tiền đồ phát triển, đồng thời thể thao còn phát huy vai trò đáng kể để hoàn thiện thể chất và tinh thần đối với con người, tức là nguồn nhân lực Chính thông qua hoạt động thể thao mà con người tự hoàn thiện mình Con người thật khó sống, khó lao động hiệu quả, khó hạnh phúc, khó có tài sản nếu như không có sức khỏe, thiếu nhân cách, ý chí và nghị lực do quá trình tập luyện thể thao đem lại Con người quan hệ chặt chẽ với thể thao đem lại sự tổng hòa mọi hoạt động mang tính sáng tạo ra giá trị vật chất và giá trị tinh thần
Ngoài ra, hoạt động thể thao còn là động lực để con người vận hành xã
Trang 40hội Từ xa xưa, vận động thân thể đã giúp con người tự vệ, tồn tại trong xã hội và thế giới tự nhiên Phát triển năng lực sinh tồn là một hình thái của văn hóa mà thể dục, thể thao mang lại Trong xã hội ngày nay, hoạt động thể thao còn trở thành một loài hình bản năng của văn hóa, biểu hiện bằng ý thức
xã hội, lối sống và đạo đức, nó đem lại cho xã hội lối sống lành mạnh, vui
vẻ, hòa thuận đã trở thành đặc điểm nổi trội của hình thái ý thức xã hội
Từ hoạt động thể thao khiến cho con người đạt đến sự thống nhất giữa các thuộc tính xã hội và các thuộc tính tự nhiên, giảm mâu thuẫn và xung đột, tạo điều kiện cho con người và các quốc gia đến gần nhau, có chung một ý thức hệ văn hóa Năng lực sáng tạo văn hóa thể thao thực ra là một bộ phận tự nhiên đặc thù của năng lực văn hóa con người, trong lĩnh vực tinh thần, nó có
vị trí đặc thù, cho nên năng lực biểu hiện trực quan của thể dục, thể thao cũng
có tác dụng rõ rệt trong lĩnh vực tinh thần của con người Sự thăng hoa tạo nên những kỷ lục thế giới ở các môn điền kinh, bơi lội, bóng đá là những hình ảnh trực quan sinh động kích lệ tinh thần của hàng chục triệu con người, đó là những tiêu chí của nhân loại tạo nên các sản phẩm văn hóa tinh thần
Văn hóa thể thao thúc đẩy mối liên hệ chặt chẽ giữa hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất của con người Mục tiêu của thể dục, thể thao là hoàn thiện thể chất và hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể con người, là những hoạt động vật chất quan trọng nhất, bên cạnh đó hoạt động thể thao cũng tôi luyện tâm lý, ý chí, khát vọng chiến thắng, chính là những hoạt động tinh thần rất quan trọng trong cuộc sống của con người
văn hóa Văn hóa thể thao được hình thành trong quá tình tập luyện và thi đấu, chính trong hoạt động này tạo nên kết cấu và quy phạm xã hội tương ứng, kỷ cương, thể chế, ý thức, tư tưởng, luân lý đạo đức, quan niệm xã hội, xúc tiến học tập và nghiên cứu, tất cả đều liên quan đến khái niệm văn hóa,