Lịch sử nghiên cứu Trong lịch sử Việt ngữ học, việc nghiên cứu về từ nói chung, vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt nói riêng đã nhận được sự quan tâm của khá nhiều các nhà ng
Lịch sử nghiên cứu
Trong lịch sử Việt ngữ học, việc nghiên cứu về từ nói chung, vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt nói riêng đã nhận được sự quan tâm của khá nhiều các nhà nghiên cứu có tên tuổi như: Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tu, Hồ Lê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học nói trên chủ yếu là những giáo trình mang tính chất lí luận chung về từ tiếng Việt chứ chưa hề đi sâu vào nghiên cứu cụ thể hai bình diện cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong từng giai đoạn nhất định
Riêng về từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX nói chung, vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt giai đoạn này nói riêng vẫn còn là lĩnh vực ít được đề cập đến, hoặc có chăng cũng chỉ là những công trình đề cập đến một cách chung chung Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua một vài công trình này:
Trước hết, đó là tập giáo trình “Các bài giảng về lịch sử tiếng Việt” (Thế kỉ
XX) của Đinh Văn Đức [17] Với tư cách là một tập bài giảng về lịch sử tiếng Việt thế kỉ XX nên tác giả đã điểm qua một vài nét về từ vựng tiếng Việt thuộc giai đoạn này nói chung chứ không đi vào từng bình diện cụ thể Tác giả chủ yếu quan tâm đến các lớp từ có mặt trong giai đoạn này theo phạm vi sử dụng và nguồn gốc mà không đi sâu vào vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong giai đoạn này Đặc biệt tác giả cũng không dừng lại khảo sát đầy đủ và chi tiết vốn từ vựng trong một tác phẩm cụ thể thuộc giai đoạn nghiên cứu
Tiếp đến là hai khóa luận tốt nghiệp: “Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt
(Qua khảo sát một số tác phẩm của Nguyễn Chánh Sắt)” của Lưu Thị Hồng Mai
[49] và “Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt đầu thế kỉ XX (qua khảo sát báo Nông cổ mín đàm” của Trịnh Thị Thơ [76] Đây chỉ là những khảo cứu và đánh giá về vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt thuộc giai đoạn này trong phạm vi các tác phẩm của các nhà văn Nam Bộ Đáng chú ý nhất phải kể đến công trình có tính toàn diện và hệ thống của tác giả Lê Quang Thiêm đó là “Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kì 1858 - 1945” [74] Mục đích của công trình là miêu tả diện mạo từ vựng tiếng Việt trong một khoảng thời gian dài từ 1858- 1945 nhằm đưa ra một số nhận định tương đối khái quát về các bình diện của từ tiếng Việt giai đoạn đó Do đó, tác giả đã chọn một thời kì dài (gần một thế kỉ) trong lịch sử từ vựng tiếng Việt, khảo sát từ vựng trên tất cả các văn bản chữ Quốc ngữ và trên tất cả các bình diện của từ Công trình chỉ dành chưa đầy 4 trang cho việc khảo sát và đánh giá về biểu hiện từ vựng thời kì này trong
“Việt Nam Tự Điển” Đồng thời, ở phần khái quát đặc điểm các quá trình từ vựng thời kì này chỉ nhắc đến từ vựng trong cuốn tự điển này với tư cách là những minh chứng cho các quá trình này trong một khoảng thời gian dài (từ 1858 - 1945) Do vậy, công trình chưa đi sâu vào nghiên cứu chi tiết và đầy đủ về hai bình diện cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX nói chung cũng như trong cuốn “Việt Nam Tự Điển” nói riêng Đúng như lời tác giả nói ở cuối công trình: “việc làm của chúng tôi chỉ xem như là gợi ý, là đặt vấn đề” và để làm nổi bật được các đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa cũng như những biểu hiện của từ vựng- ngữ nghĩa thời kì 1858 - 1945 thì cần “đi sâu hơn vào các sự kiện, biểu hiện, quy luật nội tại của hệ thống từ vựng- ngữ nghĩa với nhiều khía cạnh còn chưa được khai thác khám phá Những công trình đào sâu đang vẫn là niềm mong đợi, hi vọng của chúng tôi” [sđd; tr.288-289]
Ngoài ra, liên quan đến đề tài còn có các công trình [46], [60], [77] Tuy nhiên, đây chỉ là các công trình nghiên cứu về từ điển nên chỉ nhắc đến cuốn “Việt
Nam Tự Điển” ở khía cạnh từ điển học mà không đề cập đến vấn đề từ tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX
Như vậy, về vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX và đặc biệt là khảo cứu qua “Việt Nam Tự Điển” cho đến nay chúng tôi chưa thấy có công trình nào đi vào nghiên cứu một cách chi tiết và đầy đủ Do vậy, để đáp ứng một phần những mong mỏi mà tác giả Lê Quang Thiêm đã nói trên, trên cơ sở những thành quả mà người đi trước đã vạch ra trên một diện rộng, chúng tôi muốn dựa vào đó để đào sâu thêm bằng cách khảo sát trên một phạm vi hẹp là cuốn
“Việt Nam Tự Điển” nhằm xem xét những đặc điểm về bình diện cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX.
Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi đã đề ra mục đích, nhiệm vụ cụ thể và phạm vi nghiên cứu của luận văn như sau:
Với đề tài trên, chúng tôi đặt ra cho mình mục đích là hướng tới việc phân tích các loại từ xét về mặt cấu tạo và hiện tượng đa nghĩa của từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX Từ đó, đề tài góp phần đưa ra một số nhận định cụ thể về các đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong giai đoạn này Trên cơ sở đó để góp phần làm rõ thêm về những đặc điểm chung của từ tiếng Việt thuộc giai đoạn nghiên cứu
3.2 Nhi ệm vụ Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đưa ra những nhiệm vụ cụ thể như sau:
1/ Khảo sát, phân tích và đánh giá bình diện cấu tạo của từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX (Qua cứ liệu của cuốn từ điển nói trên)
2/ Khảo sát, phân tích và đánh giá bình diện ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX (Qua cứ liệu của cuốn từ điển nói trên), cụ thể: nghiên cứu về hiện tượng đa nghĩa của từ tiếng Việt giai đoạn này
3.3 Ph ạm vi nghi ên c ứ u
Chúng tôi tập trung nghiên cứu từ tiếng Việt trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ
XX về bình diện cấu tạo và ngữ nghĩa Cụ thể, về vấn đề cấu tạo, chúng tôi chủ yếu tập trung xem xét các yếu tố và các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt thuộc giai đoạn nghiên cứu, đặc biệt tập trung xem xét nhiều hơn ở các phương thức có tính năng sản Về vấn đề ngữ nghĩa của từ, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu về hiện tượng đa nghĩa của từ tiếng Việt giai đoạn này Cụ thể, chúng tôi đi vào xem xét hai vấn đề đó là sự phát triển nghĩa và các phương thức chuyển nghĩa cơ bản.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là:
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê các loại từ về cấu tạo, thống kê các đơn vị đa nghĩa và những phương thức chuyển nghĩa cơ bản trong các trường từ vựng - ngữ nghĩa
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả và phân tích các vấn đề về cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX
Thủ pháp này được sử dụng để so sánh trong những trường hợp cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Thật ra trong quá trình nghiên cứu chúng tôi không áp dụng riêng lẻ, tách rời một phương pháp nào mà áp dụng tổng hợp các phương pháp và thủ pháp khác nhau Tất nhiên lúc này hay lúc khác có ưu tiên phương pháp này hoặc thủ pháp kia hơn
Ngữ liệu của luận văn là các mục từ trong “Việt Nam Tự Điển” Trong một số trường hợp chúng tôi có bổ sung thêm nguồn ngữ liệu từ các văn bản văn học nghệ thuật, văn bản hành chính công vụ,… được xuất bản trong giai đoạn này (nửa đầu thế kỉ XX).
Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu từ tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX trên hai phương diện cấu tạo và ngữ nghĩa qua “Việt Nam Tự Điển” có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn như sau:
5.1 Ý ngh ĩa lí luận Đề tài hy vọng, lần đầu tiên vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX qua “Việt Nam Tự Điển” được nghiên cứu một cách tỉ mỉ và hệ thống Qua đó, nhằm góp phần làm rõ sự đa dạng về cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong giai đoạn này, từ đó hướng tới khái quát về đặc điểm của từ vựng tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn là một trong những cơ cở góp phần vào việc đánh giá vị trí của các vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa của từ tiếng Việt giai đoạn này trong tiến trình phát triển chung của từ tiếng Việt
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, giảng dạy về các lĩnh vực văn học, ngôn ngữ và những người quan tâm đến sự phát triển của tiếng Việt nói chung.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần như: dẫn nhập, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Chương một Những vấn đề lí thuyết cơ sở
Chương này gồm 22 trang, chúng tôi trình bày tóm tắt những vấn đề lí thuyết cơ sở có tính chất lí luận chung như: từ, cụm từ, nghĩa của từ, trường từ vựng- ngữ nghĩa, từ điển và tổng quan về “Việt Nam Tự Điển”
Chương hai Cấu tạo từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX qua “Việt Nam Tự Điển”
Chương này gồm 33 trang, chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại các loại mục từ (xét về cấu tạo) trong VNTĐ qua đó nhằm rút ra một số nhận xét về đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX
Chương ba Ngữ nghĩa của từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX qua “Việt Nam Tự Điển”
Chương này bao gồm 36 trang, chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại các mục từ đa nghĩa trong VNTĐ và đi vào xem xét những phương thức chuyển nghĩa cơ bản trong các đơn vị đa nghĩa Qua đó nhằm rút ra một số nhận xét về hiện tượng đa nghĩa của từ tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX cũng như những đặc điểm ngữ nghĩa của từ tiếng Việt giai đoạn này.
Từ và cấu tạo từ
Từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của hệ thống ngôn ngữ Chính vì vậy, trong Việt ngữ học nói riêng cũng như ngôn ngữ học nói chung việc nghiên cứu về từ đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Riêng về từ đã có hơn 200 định nghĩa khác nhau Điều này trước hết bởi vì từ là đơn vị trung tâm của hệ thống ngôn ngữ, và sau đó từ là đơn vị có tính phức tạp, tính không thuần nhất, tính đa diện trong các ngôn ngữ khác nhau, cũng như trong một ngôn ngữ; đồng thời nó là đơn vị của nhiều phương diện trong ngôn ngữ nên được tiếp cận với cách nhìn đa phương diện khi khảo cứu của các nhà ngữ học Do đó, cho dù có một điểm chung là các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận sự tồn tại của từ trong ngôn ngữ và đều mong muốn tìm được một định nghĩa chung về từ, tuy nhiên, trên thực tế từ là một vấn đề vô cùng phức tạp mà cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất triệt để về định nghĩa Ngay từ thời xa xưa nhà ngôn ngữ học F.de.Saussure đã từng viết: “…từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng của chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này rất khó định nghĩa” [dẫn theo 19, tr.21] Còn A.Sapir thì: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập và bản thân có thể làm thành câu tối giản” [63, tr.42] Nhà ngôn ngữ học người Pháp A Meillet định nghĩa: “Từ được xác định bởi sự liên kết một ý nghĩa nhất định với một tập hợp âm nhất định, có khả năng được dùng ở một đặc điểm ngữ pháp nhất định” [dẫn theo 8, tr.246] Nhà ngôn ngữ học người Mĩ L Bloomfield thì cho rằng: “Từ là hình thái tự do nhỏ nhất” [7, tr.166] Cùng hướng quan niệm như vậy, V.B Kasevich trong [39] sau khi định nghĩa, đã đưa ra 3 tiêu chí cơ bản để xác định từ: 1/ Từ có một độ độc lập nhất định, 2/ Từ có tính toàn vẹn bên trong và 3/ Từ có khả năng có quan hệ cú pháp độc lập Quan điểm này của Kasevich được các tác giả ở Việt Nam như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Nguyễn Thiện Giáp, Đái Xuân Ninh, Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê… phát triển, cụ thể hoá và được các tác giả của công trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng
Việt” đúc kết lại như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [sđd, tr.136] Trong luận văn này, để làm cơ sở cho việc nghiên cứu chúng tôi tán thành quan niệm về từ trong công trình này
Trong tiếng Việt, ngoài từ còn có các đơn vị khác được dùng làm cơ sở để tạo ra câu đó là cụm từ cố định Theo các tác giả Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến thì: “Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ” [10, tr.153] Nếu so sánh từ ghép và cụm từ cố định, chúng sẽ có những điểm giống và khác nhau như sau:
- Hình thức chặt chẽ, cấu trúc cố định
- Những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ
- Thành tố cấu tạo của từ ghép là hình vị và thành tố cấu tạo của cụm từ cố định là từ
- Nghĩa của cụm từ cố định được tổ chức theo lối tổ chức nghĩa của cụm từ và nói chung là mang tính hình tượng Do đó, nếu căn cứ vào nghĩa của từng thành tố cấu tạo thì không thể hiểu được nghĩa đích thực của toàn cụm từ Đối với từ ghép thì nghĩa định danh, dù trực tiếp hay gián tiếp đều theo kiểu tổ chức nghĩa của từ, là điểm cốt lõi của từ
Nếu so sánh với cụm từ tự do thì cụm từ cố định là một đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dưới dạng làm sẵn Và vì dưới dạng làm sẵn nên thành tố cấu tạo cụm từ cố định có số lượng ổn định Trong khi đó cụm từ tự do được tạo ra trong lời nói và thành tố cấu tạo có thể thay đổi tùy ý
Theo quan điểm phân loại của các tác giả Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến trong [10] thì cụm từ cố định tiếng Việt có thể tóm tắt như sau:
Ngữ cố định Thành ngữ
Quán ngữ Ngữ cố định định danh
1.1.2.1 Đơn vị cấu tạo từ
Trong các tài liệu về ngôn ngữ học đại cương, các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau rằng từ được cấu tạo từ các hình vị, nghĩa là các thành tố trong từ là hình vị Vì vậy ở đây cần làm rõ khái niệm hình vị Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa Vậy, có hai tiêu chí để xác định hình vị: tính nhỏ nhất (về hình thái) và tính có nghĩa [39, tr.84]
“ Hình v ị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp” [10, tr.138]
Theo chúng tôi, trong tiếng Việt có 4 loại hình vị sau đây:
1/ Có nghĩa từ vựng, có thể vận dụng độc lập, ví dụ: bàn, ghế, nhà, cửa, sách, hút, xanh, đỏ, chạy, nhảy,…
2/ Có nghĩa ngữ pháp, có thể vận dụng độc lập, ví dụ: đã, đang, sẽ, cũng, vẫn, cứ,…
3/ Có nghĩa từ vựng, không thể vận dụng độc lập, ví dụ: quốc, gia, hải, phận, trừu, tượng, ảm (ảm đạm), bàng (bàng hoàng), cúc (cung cúc), các (đài các),…
4/ Có nghĩa ngữ pháp, không thể vận dụng độc lập, ví dụ: đẽ (đẹp đẽ), sẽ (sạch sẽ), đai (đất đai), cộ (xe cộ), pheo (tre pheo),…
Ngoài ra, đối với các từ vay mượn đa tiết, gốc Ấn - Âu thì hình vị không có vỏ ngữ âm là âm tiết; nó có thể bằng, nhỏ hơn hoặc lớn hơn âm tiết Ví dụ: Các từ xi măng, cà phê, a xít, apatit,… thì hình vị trong các từ này không có vỏ ngữ âm là âm tiết
1.1.2.2 Phương thức cấu tạo từ
Từ trong các ngôn ngữ được cấu tạo bằng một số phương thức khác nhau Nói khác đi, người ta có những cách khác nhau trong khi sử dụng các hình vị để tạo từ Ở đây, chúng tôi chấp nhận quan điểm cho rằng trong tiếng Việt có các phương thức cấu tạo chủ yếu sau:
1/ Từ hoá hình vị: Đây là phương thức cấu tạo thể hiện trong các trường hợp từ chỉ có một hình vị hay “cấp cho hình vị cái tư cách đầy đủ của một từ” – như cách nói của các tác giả “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” [sđd, tr.40] Ví dụ: sách, bút, chạy, nhảy, xanh, đỏ,… (tiếng Việt), woman, foot, table, at, on, it, of,…
(tiếng Anh), đây, tức, phle, kôn,… (tiếng Khmer)
2/ Phương thức ghép: Đây là phương thức ghép hai hoặc nhiều hình vị căn tố lại với nhau để tạo từ Phương thức ghép có hai loại nhỏ: ghép đẳng lập (ví dụ: nhà cửa, cha mẹ, ruộng vườn,…; trong tiểu loại này được chia thành 4 kiểu: ghép đẳng lập hợp nghĩa (như: sông núi, sách vở, chạy nhảy, giày dép,…), ghép đẳng lập đẳng nghĩa (lặp nghĩa) (như: cấp bậc, binh lính, đợi chờ, nghỉ ngơi, sức lực,…), ghép đẳng lập đơn nghĩa (vì một thành tố trong từ ghép loại này bị mờ hoặc mất nghĩa) (như: gà qué, bếp núc, chợ búa, tre pheo, chùa chiền, cá mú, áo xống,…), ghép đẳng lập trái nghĩa (như: to nhỏ, lớn bé, dài ngắn, trước sau, trên dưới, đỏ đen,…); ghép phụ: chính loại này có 2 kiểu nhỏ: chính phụ dị biệt (như: hoa hồng, xe lửa, sân bay, đường sắt, vôn kế, ampe kế,…), chính phụ sắc thái hoá (như: xanh lè, đỏ choét, cao nhòng, dài ngoằng,…)
3/ Phương thức láy: Thực chất của phương thức này là lặp lại toàn bộ một phần của từ, hình vị ban đầu trong một số lần nào đó theo quy tắc cho phép để cho một từ mới Dựa vào phương thức láy, có hai loại: láy hoàn toàn (gồm láy hoàn toàn chân chính, như: đa đa, cào cào, thanh thanh, tà tà ,đùng đùng,…; và láy hoàn toàn không chân chính, như: bươm bướm, đu đủ, cồng cộc, bần bật,…) và láy bộ phận (gồm láy phụ âm đầu, như: sạch sẽ, đẹp đẽ, gọn gẽ,…; và láy phần vần, như: linh tinh, loanh quanh, luẩn quẩn,…) Dựa vào số lượng âm tiết, chúng ta có láy đôi
(như: nho nhỏ, nao nao, khít khịt,…), láy ba (như: khít khìn khịt, sạch sành sanh, mõm mòm mom,…), láy tư như: khít khịt khìn khin, vội vội vàng vàng, kề rề kề rà,…)
4/ Phương thức ngẫu kết: Đây là phương thức cấu tạo từ được tạo ra giữa các thành tố không có quan hệ với nhau về nghĩa, cũng không có quan hệ với nhau về âm Đây là phương thức tạo từ bằng cách vay mượn từ của các ngôn ngữ châu Âu là chủ yếu Cách gọi ngẫu kết có nghĩa là các thành tố ngẫu nhiên kết hợp với nhau Ví dụ: a xít, cà phê, ghi đông, apatit, ampicillin,…
Nghĩa của từ, trường từ vựng- ngữ nghĩa
Tương tự như định nghĩa về từ, có nhiều quan điểm khác nhau về nghĩa của từ Ở đây do điều kiện không cho phép nên chúng tôi không trình bày lại những quan điểm khác nhau về nghĩa của từ Trong luận văn này chúng tôi chấp nhận quan điểm về nghĩa của từ của các tác giả trong công trình [10] để làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu Vậy “nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa từ với những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho) [sđd, tr.167] Tuy nhiên, đó không phải là những liên hệ lôgic - thực tại mà là liên hệ phản ánh, mang tính quy ước, được xây dựng bởi những cộng đồng người bản ngữ Đó là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng, thuộc tính, trạng thái,…(gọi tắt chung là các sự vật) vào nhận thức của chúng ta, dưới dạng một tập hợp của những đặc điểm thuộc tính được coi là đặc trưng nhất, bản chất nhất, đủ để phân biệt sự vật này với sự vật khác “Nghĩa của từ tồn tại trong từ; nói rộng hơn là trong hệ thống ngôn ngữ” [10, tr.168] Tức là, nó là cái phần nửa làm cho ngôn ngữ nói chung và từ nói riêng, trở thành những thực thể vật chất - tinh thần
Khi nói về nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:
- Nghĩa biểu vật (referential meaning): là sự quy chiếu của từ vào sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động,…) mà nó làm tên gọi
- Nghĩa biểu niệm (conceptual meaning): chính là sự phán ánh các đặc trưng, thuộc tính được coi là bản chất nhất của sự vật vào trong ý thức của con người
Ngoài hai thành phần nghĩa trên đây, khi xác định nghĩa của từ, người ta còn phân biệt hai thành phần nghĩa nữa, đó là nghĩa ngữ dụng và nghĩa cấu trúc
1.2.2 Cơ cấu nghĩa của từ
Một từ có thể đơn nghĩa hoặc đa nghĩa Tính đa nghĩa của ngôn ngữ ở cấp độ từ thể hiện qua từ đa nghĩa Quan hệ đa nghĩa là một trong những dạng quan trọng nhất thuộc các kiểu quan hệ ngữ nghĩa trong từ Có thể có một số quan niệm khác nhau về từ đa nghĩa, tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi đồng tình với định nghĩa về từ đa nghĩa của các tác giả cuốn [10] như sau:
“Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng, hoặc biểu thị những đối tượng khác nhau của thực tại” [sđd, tr.172]
Các nghĩa của từ đa nghĩa được xây dựng và tổ chức theo những cách thức, trật tự nhất định Vì vậy, người ta cũng có thể phân loại chúng theo những lưỡng phân sau:
Nghĩa gốc - nghĩa phái sinh
Nghĩa tự do - nghĩa hạn chế
Nghĩa trực tiếp - nghĩa chuyển tiếp
Nghĩa thường trực - nghĩa không thường trực Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của từ, trong ngôn ngữ có nhiều cách Tuy nhiên, có hai cách quan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy)
“Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [19, tr.162] Ví dụ: bàn chải, bàn chân, bàn đạp, bàn cuốc, cánh đồng, mũi thuyền, đầu làng,…
“Hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật hoặc hiện tượng khác dựa trên một mối quan hệ lôgic giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy” [19, tr.165] Ví du: cả thành phố vui vẻ, cả nhà đang ăn cơm, cây bút trẻ, một tay súng, có chân trong hội đồng, những bậc tai mắt của thành phố, có vai vế trong làng, …
Như vậy, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng; còn hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ gần gũi nhau giữa các sự vật hiện tượng Trong tiếng Việt hai phương thức này được sử dụng rất phổ biến
1.2.3 Trường từ vựng- ngữ nghĩa
“Trường” là một thuật ngữ chuyên môn mượn của các ngành khoa học tự nhiên Nhà ngôn ngữ học có công đầu tiên trong việc đưa ra khái niệm “trường” và vận dụng nó vào việc nghiên cứu hệ thống từ vựng- ngữ nghĩa là M.M Pokrovski - nhà ngôn ngữ học người Nga (1890) Ông đã gắn hệ thống biểu tượng giống nhau với các hệ thống của hiện tượng đời sống xã hội và kinh tế (công cụ lao động) Từ đó ông chia kiểu trường dựa trên cơ sở sử dụng đồng thời ba tiêu chuẩn:
Nhóm nội dung, gồm các từ có quan hệ dùng
Quan hệ hình thái học
Kế đến trong công việc nghiên cứu trường nghĩa là nhà ngôn ngữ học người Đức J Trier Với công trình đầu tiên của ông là “Trường từ vựng và trường khái niệm” (1931) Ông quan niệm trường “là những thực thể ngôn ngữ tồn tại giữa những từ cá biệt và từ vựng” Chúng là bộ phận của một tổng thể; giống từ ở chỗ kết hợp với nhau tạo thành một loại đơn vị cao hơn và giống từ vựng ở chỗ (kết hợp với nhau) tự chia mình thành những đơn vị nhỏ hơn Ở Việt Nam, vấn đề này phải kể đến Đỗ Hữu Châu, ông đã công bố công trình đầu tiên về lí thuyết trường vào năm 1973 Theo Đỗ Hữu Châu (1991) thì trường ngữ nghĩa là một khái niệm trong từ vựng học Tính hệ thống của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa giữa chúng Mỗi tiểu hệ thống là một trường ngữ nghĩa Đó là một tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa Ở một góc độ khác, người ta lại chia hệ thống từ vựng thành những tập hợp từ vựng có sự đồng nhất ngữ nghĩa xét theo một phương diện nào đấy để phát hiện ra tính hệ thống và và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa, đó là các trường từ vựng - ngữ nghĩa Các từ trong cùng một trường luôn có quan hệ ý nghĩa với nhau và quan hệ này vừa là cơ sở để xác lập trường vừa có tác dụng liên kết các đơn vị từ vựng trong một trường từ vựng - ngữ nghĩa Trường từ vựng - ngữ nghĩa đặt cơ sở trên sự phân định hiện thực của tư duy hay còn gọi là phân đoạn thực tại Như vậy, sự phân chia trường từ vựng – ngữ nghĩa thực ra là dựa trên sự phân chia khái niệm của tư duy Về cấu trúc, trong một trường từ vựng ngữ nghĩa có thể có các tiểu nhóm, gọi là các tập hợp từ vựng hay là tiểu trường Giữa các trường nghĩa có phần giao thoa, đó là phần chung về mặt khái niệm Trong phần chung này thường chứa những từ đa nghĩa Về tư cách của từ trong trường nghĩa thì một từ có thể thuộc một trường từ vựng – ngữ nghĩa này nhưng cũng đồng thời có thể thuộc một trường từ vựng – ngữ nghĩa khác Dựa trên quan hệ tuyến tính và quan hệ trực tuyến của F.de.Saussure, Đỗ Hữu Châu chia trường nghĩa ra làm hai loại: trường nghĩa ngang (hay còn gọi trường tuyến tính) và trường nghĩa dọc (còn gọi là trường trực tuyến) Trong trường nghĩa dọc thì được chia thành trường biểu vật và trường biểu niệm.
Vấn đề từ điển và tổng quan về “Việt Nam Tự Điển”
Thông thường khi nhắc đến từ điển người ta thường hiểu một cách giản đơn là từ điển là loại sách để tra cứu các từ Nhưng thực ra trong từ điển thường không phải chỉ thu thập các từ, có khi còn có cả những đơn vị lớn hơn hoặc nhỏ hơn từ, như các cụm từ cố định (thành ngữ, ngữ định danh,…), các yếu tố tạo từ Hiểu một cách chính xác và ngắn gọn nhất thì:“Từ điển là công cụ để tra cứu, ở đó gồm có từ vựng của ngôn ngữ được sắp xếp theo một trật tự nhất định” [95, tr.10]
Các chức năng cơ bản của từ điển là cung cấp thông tin, phục vụ giao tiếp, hướng dẫn - giáo dục ngôn ngữ, góp phần chuẩn hóa ngôn ngữ và phục vụ nghiên cứu Để thực hiện các chức năng này, từ điển có những đặc điểm riêng, khác biệt với các loại sách khác:
- Là công cụ để tra cứu do đó từ điển không sắp xếp theo từng chương mục như các sách khác mà được sắp xếp mỗi mục độc lập với nhau Mỗi quyển từ điển thường được sắp xếp theo một trật tự nhất định nào đấy dễ tra cứu
- Tính khách quan: các mục từ và hệ thống những lời giải nghĩa, ví dụ trong từ điển là những bằng chứng khoa học không thể dựa vào ý kiến chủ quan của một người cụ thể nào đó
- Cung cấp các thông tin như: thông tin về ngữ âm, chính tả, từ pháp, tính bách khoa,…
- Cấu trúc: bao gồm các cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô
Có nhiều cách phân loại khác nhau về từ điển, nhưng về đại thể có thể phân thành hai loại lớn là Từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ Trong từ điển ngôn ngữ lại phân tiếp thành từ điển song ngữ (hoặc đa ngữ) và từ điển đơn ngữ Từ điển đơn ngữ gồm có từ điển đầy đủ và từ điển có hạn Từ điển có hạn gồm nhiều loại nhỏ như từ điển giải thích, từ điển đồng nghĩa, trái nghĩa, từ điển đồng âm, Có thể hình dung sự phân loại từ điển một cách sơ giản qua sơ đồ sau:
Cấu trúc chung của mọi loại từ điển, khác hẳn với các sách khác, là từ điển có cấu trúc đôi, có tính hệ thống chặt chẽ Các mục từ trong một quyển từ điển được sắp xếp theo một trật tự nhất định, mỗi mục từ là một đơn vị độc lập, có nội dung riêng biệt Cấu trúc của từ điển giải thích vào loại đa dạng và phức tạp nhất trong các loại từ điển Lí luận từ điển học hiện đại đã có một bước ngoặt đáng kể với các khái niệm cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô mà J Rey Debove đưa ra Cấu trúc vĩ mô hay còn gọi là cấu trúc bảng từ: các mục từ trong từ điển giải thích phải được thu thập theo những tiêu chí nhất định, tạo thành một bảng từ có cấu trúc chặt chẽ, có tính hệ thống, đảm bảo sự nhất quán Cấu trúc vi mô hay còn gọi là cấu trúc mục
Từ điển bách khoa Từ điển ngôn ngữ
TĐ song ngữ TĐ đơn ngữ
TĐ đầy đủ TĐ có hạn từ: J Rey Debove coi mỗi mục từ trong từ điển có cấu trúc như một câu, trong đó đơn vị mục từ là chủ ngữ, các thông tin là vị ngữ; L Zgusta gọi hai thành phần chính của cấu trúc vi mô là phần đề (mục từ) và phần chính (các thông tin) Hai quan niệm này cùng nêu lên một đặc tính cơ bản của cấu trúc mục từ, đó là tính "đề
- thuyết" Trong từ điển giải thích, nội dung cơ bản là thông tin ngữ nghĩa, mà thành phần hạt nhân là phần định nghĩa
1.3.4 Tổng quan về “Vi ệt Nam T ự Đ i ển ”
1.3.4.1 Giới thiệu đôi nét về “Vi ệt Nam T ự Đ i ển ”
Theo dòng lịch sử, trong số những tự điển do người Việt biên soạn bằng chữ Quốc ngữ thì cuốn “Việt Nam Tự Điển” đứng vị trí tiếp theo sau “Đại Nam quốc âm tự vị” Theo quan niệm lúc bấy giờ, sách lấy tự làm đơn vị chính cho mỗi mục từ của tự điển Đây là quyển tự điển lấy từ làm đơn vị giải thích chứ không phải chỉ có tự
(chữ) Có lẽ khái niệm tự điển được dùng là do theo các từ điển trước lấy chữ Hán, chữ Nôm làm đơn vị để dịch hay giải thích như các tập: Nhất thiên tự, Tam thiên tự và ngay cả khi có chữ Quốc ngữ thì “Đại Nam quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của cũng vẫn lấy tự làm đơn vị gốc để định nghĩa Thực tế, đơn vị thu thập, giải thích của VNTĐ bao gồm nhiều từ, phần lớn là từ Trường hợp từ gốc Hán có chú tự (chữ Hán) kèm, còn từ Việt thì là những từ được dùng trong lời nói Mở ngay trang đầu của VNTĐ, ở mục A, ta thấy có ngay 8 từ mục “A” đơn tiết trong đó nếu tính theo mục giải thích đồng âm thì lên đến 12 (thêm 4 trường hợp đồng âm) Trong 12 mục giải thích này, chỉ có một trường hợp có chữ Hán mà thôi Những mục lớn khác xếp ngang hàng với mục “A” đơn âm là những từ và tổ hợp từ đa tiết Chúng có thể là gốc Hán (có chú chữ Hán) và cả gốc khác (thuần Việt hay ngôn ngữ khác) Ví dụ: a bàng, a ngụy, a giao,… gốc Hán, còn a dong, amun, a di đà phật (Amitabha)… không phải là gốc Hán Số lượng loại đơn vị này cũng không ít, có đến 11 tổ hợp như vậy Thêm nữa, có những tổ hợp không được xếp hàng với hai loại trên nhưng cũng được đưa vào tự điển để giải thích như: a - dua, a - đảng, a - hành, a - phục, a
- tùng, a - ý khúc - tòng,… Rõ ràng những tổ hợp này là từ, ngữ, là đơn vị tự điển
Chỉ khác trong VNTĐ không xếp ngang hàng với các từ mục hai loại trên Song cách xếp cũng có ưu điểm cho ta biết rõ có thành tố chung (a) trong các từ này về mặt cấu tạo
Một tính chất khác của VNTĐ để phân biệt với các cuốn từ điển khác cùng giai đoạn là tính chất ngữ văn của nó VNTĐ là từ điển tường giải ngữ văn Các mục từ ngữ được thu thập, giải thích chủ yếu là có xuất hiện trong văn bản diễn ngôn sách vở, tác phẩm văn học Bộ phận từ ngữ thường dùng được đưa vào chủ yếu là từ ngữ phổ thông, thuộc vốn từ dùng chung Từ ngữ thông tục dân gian cũng rút từ các tác phẩm văn học dân gian, trong ca dao, tục ngữ, truyện kể, truyện Nôm khuyết danh Trong tự điển không thu thập, giải thích từ ngữ chuyên môn, thuật ngữ Các phần giải thích trong tự điển có phân biệt đồng âm, đa nghĩa, đồng nghĩa,… theo góc độ ngữ văn học Đặc biệt đáng chú ý trong phần giải thích, sau lời diễn giải còn có cung cấp nguồn văn liệu từ nguồn văn bản Danh sách 32 tài liệu chú giải trích dẫn chủ yếu là những tác phẩm văn học cổ Dĩ nhiên, cũng với quan niệm như phân tích trên, trong tự điển cũng không có chú thích từ loại hoặc các phạm trù ngữ pháp ngữ dụng
“Nguồn văn liệu cung cấp khai thác cho thấy vốn từ đưa vào tự điển chỉ phản ánh vốn từ giai đoạn trước (giai đoạn đầu thế kỉ) chứ chưa nói gì đến văn liệu và vốn từ phong phú giai đoạn 30 - 34 mà các mục dẫn liệu trên cho thấy đã phân tích là có nhiều chuyển biến, phát triển mới Điều này phản ánh đúng tình hình biên soạn Việt Nam tự điển Hẳn là họ bắt đầu thu thập tư liệu bản thảo được xây dựng từ trước 1930 đến lúc tự điển in ra cũng mất vài năm Cho nên kết quả phản ảnh đúng như vừa nói là hiển nhiên” [74, tr.181]
1.3.4.2 Cấu trúc của “Vi ệt Nam Tự Điển ” a C ấu trúc vĩ mô
“Cấu trúc vĩ mô (macrostructure) là cấu trúc bao gồm toàn thể các mục từ được sắp xếp trong từ điển theo một trật tự xác định; còn có thể gọi là cấu trúc tổng thể hay cấu trúc bảng từ.” [95, tr.24] Đặc điểm của cấu trúc vĩ mô: Thứ nhất, cấu trúc vĩ mô trong từ điển phải là một chỉnh thể nghiêm ngặt, nó được thể hiện tùy theo tính chất và mục đích của từng cuốn từ điển Thứ hai, các bộ phận từ vựng trong cấu trúc vĩ mô phải phát triển xoay quanh vốn từ cơ bản Thứ ba, mọi đơn vị từ vựng về nguyên tắc đều phải có mặt trong cấu trúc vĩ mô của từ điển, tức đều phải có mặt trong bảng từ
Nhận xét về cấu trúc vĩ mô của VNTĐ tác giả Nguyễn Ngọc Trâm cho rằng:
“Ở đây các đơn vị cơ bản được tách đồng âm đầy đủ, có chú chữ vuông với các từ
Hán - Việt Trong mỗi đơn vị cơ bản là các đơn vị từ hay tổ hợp từ phái sinh Bên cạnh đó, nhiều đơn vị phái sinh lại được tách riêng và xếp ngang hàng với đơn vị cơ bản Ví dụ từ ăn được tách ra 10 đồng âm bao gồm nhiều đơn vị phái sinh rất phong phú Song cuối cùng vẫn có tới 12 đơn vị được coi bình đẳng với các đồng âm trên (ăn chơi, ăn làm, ăn năn, ăn uống, ăn xin,…) Nhìn chung đơn vị mục từ ở đây thu thập đa dạng, phong phú nhưng nguyên tắc thu thập chưa nhất quán” [85, tr.31]
Qua xem xét về cấu trúc vĩ mô của VNTĐ cho thấy đây là cuốn từ điển “lấy tiếng làm đơn vị, nhưng trong mỗi mục từ, lại thu thập các từ đa tiết và các tổ hợp từ cố định có tiếng - tên của mục từ là yếu tố đầu, những từ và tổ hợp từ này được sắp xếp theo thứ tự chữ cái, và tạo thành những mục từ nhỏ trong các mục từ lớn Một cấu trúc như vậy có thể gọi là cấu trúc hai bậc Đây cũng là cấu trúc vĩ mô của các từ điển tiếng Hán, nói chung” [60, tr.12] Như vậy, VNTĐ “áp dụng kiểu cấu trúc vĩ mô hai bậc không triệt để” Đồng thời do quan niệm về tổ hợp từ cố định không rõ, nên các từ điển trước đây đã thu thập cả một số tổ hợp từ thật ra là tự do, chỉ vì, đó là những tổ hợp thường gặp, thường dùng; hoặc những tổ hợp nếu đứng độc lập thì nó không phải là từ ghép và không có nghĩa, nó chỉ có nghĩa bóng khi ở vào một văn cảnh nhất định Chẳng hạn như ăn ngồi, ăn trầu, ăn xôi, bàn thầm, bán thịt, cay chua, …
Tuy vậy, phải công bằng mà nhìn nhận rằng cấu trúc vĩ mô của VNTĐ tương đối toàn diện, bao gồm đầy đủ:
+ Các từ loại: danh từ, động từ, tính từ,…Ví dụ: mèo, chó, bát, đũa, ăn, ngủ, nằm, xanh, đỏ, đẹp, trẻ trung,…
Tiểu dẫn
Khi nghiên cứu vấn đề cấu tạo từ, nhiều nhà ngôn ngữ đã đề cập đến hai vấn đề: 1/ Nghiên cứu các yếu tố tham gia vào quá trình cấu tạo từ, tức là nghiên cứu các hình vị sản sinh; 2/ Nghiên cứu các phương thức cấu tạo từ, được thể hiện ở các mô hình cấu tạo từ Khi nghiên cứu về vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt, theo Đỗ Hữu Châu: “Yếu tố cấu tạo từ là những yếu tố mà tiếng Việt sử dụng để tạo ra các từ cho từ vựng (chứ không phải tạo ra các cụm từ, các câu)” [8, tr.480] Còn “phương thức cấu tạo từ là những cơ chế, những quá trình xử lí các nguyên liệu hình vị để cho ta các từ của ngôn ngữ” [8, tr.296] Do vậy, nghiên cứu các yếu tố cấu tạo từ nghĩa là xem xét, phân tích cái vỏ ngữ âm của từ xem từ đó do những thành tố nào tạo thành Và nghiên cứu phương thức cấu tạo từ nghĩa là nghiên cứu cách tổ chức các yếu tố để tạo nên từ đó Đó là hai công việc khác nhau có quan hệ mật thiết với nhau N.N.Sanxkij viết: “Rõ ràng là việc xác định các thành phần hình vị (yếu tố cấu tạo từ) và xác định cấu trúc của từ là hai việc khác nhau, nhưng là những việc có quan hệ mật thiết với nhau… Cần phải phân biệt hai việc trên, nhưng tuyệt đối không thể đối lập chúng với nhau” [dẫn theo 8, tr.273] Như vậy, chúng ta không thể phân tích các yếu tố cấu tạo từ mà không chú ý đến phương thức cấu tạo và ngược lại, không thể hiểu được phương thức cấu tạo từ nếu không biết đến đặc tính của các yếu tố tạo từ Mối quan hệ giữa các thành tố cấu tạo từ và phương thức tạo từ cũng tức là mối quan hệ giữa sự phân tích các yếu tố cấu tạo từ và nghiên cứu cấu tạo từ như sau: do chỗ mỗi cơ chế, hay mỗi phương thức cấu tạo đòi hỏi những nguyên liệu - thành tố cấu tạo thích hợp với mình - cũng như mỗi cơ chế của một loại máy đòi hỏi một loại nguyên liệu nhất định mới có thể cho ra đời sản phẩm, nếu phát hiện được phương thức cũng có thể đoán biết được phương thức xử lí chúng sẽ là phương thức gì Đó là lí do của việc không thể cô lập sự phân tích các yếu tố, thành tố cấu tạo từ với sự nghiên cứu cấu tạo từ
“Từ - cấu tạo, xét ở mặt tĩnh, là cái đã có, đã tồn tại trong từ Nhưng xét về mặt hoạt động, nó là kết quả của quá trình ngôn ngữ sử dụng các tài liệu sẵn có để tạo ra các từ nhằm đáp ứng những yêu cầu của giao tiếp Bởi vậy, nghiên cứu về từ- cấu tạo trước hết là phát hiện chính các quá trình này, phát hiện các“nguyên liệu” và các phương thức để tạo từ” [8, tr.272] Như vậy cũng có nghĩa, nghiên cứu về cấu tạo từ tức là vừa xem xét từ ở mặt tĩnh, vừa xem xét từ về mặt hoạt động Trên cơ sở đó, trong chương này chúng tôi sẽ lần lượt đề cập đến hai vấn đề:
Kết quả khảo sát các loại từ (xét từ góc độ cấu tạo) có trong VNTĐ Cụ thể, chúng tôi sẽ tiến hành theo các bước như sau: Trước hết, thống kê tất cả các mục từ có trong VNTĐ và tiến hành phân loại các đơn vị đó dựa trên các tiêu chí đã xác định trong chương một Theo đó, kết quả sẽ có các loại đơn vị từ vựng xét về cấu tạo như: từ đơn, từ ghép, từ láy, từ ngẫu hợp, cụm từ cố định và các thành tố cấu tạo từ Tiếp theo, chúng tôi tiến hành miêu tả và phân tích từng loại đơn vị nói trên Trên cơ sở những số liệu cụ thể đó chúng tôi rút ra một số nhận xét bước đầu về vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX qua VNTĐ
Về việc thống kê phân loại các đơn vị từ tiếng Việt, xét về cấu tạo, cho đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn do những hiện tượng trung gian cũng như các quan điểm về việc nhận diện và phân loại vẫn chưa thật sự thống nhất Do vậy, chúng tôi cho rằng sự phân loại sau đây chỉ mang tính chất tương đối, không tránh khỏi có những hiện tượng trung gian giữa loại này và loại kia Hơn nữa, việc thống kê và phân loại các đơn vị từ tiếng Việt trong một cuốn tự điển đầu thế kỉ XX lại càng là một vấn đề phức tạp Chúng ta đều biết, ngôn ngữ không ngừng biến đổi, do đó từ tiếng Việt cũng không nhất thành bất biến mà luôn luôn vận động biến đổi Theo Nguyễn Thiện Giáp có những sự biến đổi diễn ra trong từ vựng tiếng Việt như sau:
1) Sự biến đổi về cách dùng 2) Sự biến đổi về ngữ âm 3) Sự biến đổi về nghĩa 4)
Sự biến đổi của những điều kiện văn hóa - lịch sử Và hệ quả của những sự biến đổi này dẫn đến có những hiện tượng trung gian Đối với những đơn vị loại này chúng tôi chủ trương nhìn theo “con mắt lúc bấy giờ”, tức là lấy quan điểm về ranh giới các đơn vị từ vựng của các nhà nghiên cứu hiện nay nhưng lại đặt trong sự đối chiếu với các đơn vị trong hệ thống từ vựng lúc bấy giờ để cân nhắc xem xét.
Cấu tạo từ tiếng Việt trong nửa đầu thế kỉ XX qua “Việt Nam Tự Điển”
2.2.1 Kết quả khảo sát các loại từ (xét từ góc độ cấu tạo) qua “Vi ệt Nam
Trước hết, để có cái nhìn tổng thể về các loại mục từ và số liệu cụ thể của từng loại từ (xét về cấu tạo), trên cơ sở xử lí tư liệu theo những nguyên tắc xác định trên, chúng tôi có bảng thống kê các loại từ như sau:
Các lo ại mục từ S ố lượng T ỉ lệ
35,77% Thành tố cấu tạo từ
Các tổ hợp có từ 2 âm tiết trở lên có quan hệ về nghĩa
Các tổ hợp có từ 2 âm tiết trở lên có quan hệ về âm
Các tổ hợp có từ 2 âm tiết trở lên không có quan hệ về âm và về nghĩa
Sau đây chúng tôi sẽ đi vào miêu tả và phân tích chi tiết từng loại mục từ này
2.2.1.1 Những mục từ là thành tố cấu tạo từ
Các đơn vị loại này được đưa vào trong tự điển dưới hai dạng: những mục từ có kèm chú thích “không dùng một mình” và loại có kèm theo thành tố kết hợp hạn chế với nó (như: hấu (dưa), gòn (bông), chét (bọ), mãnh (ông),…) Các đơn vị loại này tiếp tục được phân tích theo một số tiêu chí: a/ Xét về nguồn gốc, chúng ta có:
- Các đơn vị gốc Hán: bảo: quý báu (bảo kiếm, bảo vật), bằng: bè bạn (bằng hữu), bất: không, chẳng (bất bình, bất cập), bích: biếc (bích thủy), cập: kịp, theo tới nơi (cập kê, cập kì), câu: giữ, hãm, nề hà (câu nệ, câu thúc), cô: hãy, tạm (cô khoan, cô thứ), cửu: lâu (cửu biệt, cửu hạn), chế: phép tắc, dựng lên, đặt ra (chế độ, chế biến, chế tác), chinh: đánh dẹp (chinh chiến, chinh phạt, chinh phu),… Loại này chiếm tỉ lệ chủ yếu (> 90%)
- Các đơn vị thuần Việt: bệ: chỉ về bộ dạng (bệ rạc, bệ sệ), bề: nói về hình trạng không gọn ghẽ (bề bề, bề bộn, bề sề), bo: giữ không buông ra (bo bíu, bo bo, bo siết), bô: chỉ về tiếng kêu (bô bô), bờm: chỉ về tính nết người (bờm xơm), hấu
(trong dưa hấu), gòn (trong bông gòn), mãnh (trong ông mãnh)… Loại này chiếm tỉ lệ không đáng kể b/ Xét về ngữ nghĩa, về cơ bản các đơn vị đều tự thân có nghĩa Một số đơn vị qua đối chiếu trong hệ thống từ vựng lúc bấy giờ là vô nghĩa, tuy nhiên, loại này chiếm một tỉ lệ không đáng kể, ví dụ: dự (trong gạo dự), hấu (trong dưa hấu), gòn (trong bông gòn), lài (trong chó lài), lòn (trong gạo lòn), mãnh (trong ông mãnh), róm (trong sâu róm),… c/ Xét về khả năng tham gia cấu tạo từ Đây là các đơn vị không có khả năng hoạt động tự do trong lời nói mà chỉ xuất hiện cùng một thành tố khác trong một số tổ hợp nhất định Chúng là các đơn vị cơ bản để tạo nên những đơn vị cấp độ lớn hơn (từ, ngữ) trong tiếng Việt Trong số các đơn vị loại này, có những đơn vị tham gia cấu tạo hàng loạt các tổ hợp, như: anh (12 tổ hợp): anh danh, anh danh giáo dưỡng, anh hào, anh hoa, anh hùng, anh kiệt, anh linh, anh nhuệ, anh quân, anh tài, anh tú, anh tuấn bảo (17 tổ hợp): bảo cô, bảo chủ, bảo cử, bảo chủng, bảo chứng, bảo dưỡng, bảo đảm, bảo hành, bảo hiểm, bảo hộ, bảo kết, bảo lĩnh, bảo lưu, bảo sinh, bảo tồn, bảo thủ, bảo trọng bất (35 tổ hợp): bất bình, bất cập, bất câu, bất cú, bất đắc, bất nhiên, bất đắc chí, bất đắc dĩ, bất đẳng, bất đồng, bất động, bất động sản, bất hảo, bất hiếu, bất ý, bất kỳ, bất khả, bất ly, bất lịch sự, bất luận, bất lực, bất lương, bất mục, bất nệ, bất nhật, bất như ý, bất pháp, bất phương, bất quá, bất tất, bất tình, bất tử, bất thần, bất thình lình, bất thùng chi thình, bất thực cận (12 tổ hợp) cận cổ, cận dụng, cận đại, cận huống, cận kim, cận kỳ, cận lai, cận lân, cận tiện, cận thần, cận thị, cận trạng cử (15 tổ hợp): cử ai, cử binh, cử chỉ, cử động, cử hành, cử hiền, cử nghiệp, cử hạc, cử nhân, cử sự, cử tử, cử tri, cử quốc, cử tọa, cử thế đạo (15 tổ hợp): đạo lộ, đạo đức, đạo đức kinh, đạo gia, đạo giáo, đạo lý, đạo mạo, đạo nghĩa, đạo nhân, đạo quán, đạo sĩ, đạo tâm, đạo thống, đạo trường, đạo viện đắc (15 tổ hợp): đắc cách, đắc chí, đắc dụng, đắc đạo, đắc địa, đắc lực, đắc sách, đắc sủng, đắc táng, đắc tội, đắc thất, đắc thế, đắc thể, đắc thời, đắc ý thái (20 tổ hợp): thái âm, thái bảo, thái bộc, thái bình, thái bình, thái cổ, thái cực, thái dương, thái giám, thái hậu, thái hoàng thái hậu, thái hư, thái miếu, thái phó, thái quá, thái sư, thái tổ, thái tử, thái thậm, thái úy, thái y Đây là những đơn vị không xuất hiện độc lập Chúng chỉ có giá trị trong việc cấu tạo từ tức xuất hiện cùng một thành tố khác
2.2.1.2 Những mục từ là từ đơn
Tất cả những đơn vị mục từ một âm tiết không thuộc loại đã thống kê ở mục trên chúng tôi đều xếp vào loại này Các từ đơn này được tiếp tục phân tích theo một số tiêu chí: a/ Xét về nguồn gốc, chúng ta có:
- Từ thuần Việt: ăn, cười, đi, đứng, chạy, nằm, nói, ngồi, nhảy, bởi, do, nhưng, vì,…
- Từ gốc Hán, loại này có thể tiếp tục phân chia thành 2 tiểu loại sau: từ đơn tiền Hán - Việt và từ đơn Hán - Việt Từ đơn tiền Hán - Việt, như: buồng, buồm, múa, muộn, quen, chúa, ngờ,…Từ đơn Hán - Việt, như: phòng, phàm, vũ, vãn, quán, chủ, nghi,…
- Từ gốc Ấn - Âu: ách, bom, bồi, bơ, bơm, den, đầm, ga, kền, lít, lô,… b/ Xét về ngữ nghĩa, cho thấy: Về cơ bản các đơn vị đều tự thân có nghĩa (kể cả những đơn vị ngày nay không còn được người Việt nhận thức nữa, như: ĩnh trong ĩnh ương, má trong chó má, muộn trong sầu muộn, mú trong cá mú, sá trong đường sá, xống trong áo xống,…) Có thể đó là nghĩa từ vựng (như: bài, bóc, cấp, chùa, đọi, đóm, gào, gạo, hàu, huyện, khay, khăn, nác, nạc, nách,…); hoặc là nghĩa ngữ pháp (như: chỉ, chỉn, chớ, dễ trong dễ thường, còn, và, nhỉ, hoặc, thì, là, mà,….) c/ Xét về khả năng tham gia cấu tạo từ, cho thấy: Phần lớn các đơn vị trong số các mục từ loại này đều có khả năng tham gia cấu tạo từ, cụ thể cấu tạo từ ghép và từ láy Trong đó, khả năng tham gia cấu tạo từ năng động nhất phải kể đến những yếu tố gốc Hán Có thể kể ra một số đơn vị tham gia cấu tạo hàng loạt các tổ hợp, như: ăn (144 tổ hợp): ăn đất, ăn ghém, ăn gỏi, ăn lời, ăn tái, ăn bám, ăn bẩn, ăn chung, ăn chực, ăn dở, ăn hại, hoang, ăn khách, ăn mặn, ăn mót, ăn nhạt, ăn chơi, ăn mày, ăn mặc, ăn nằm, ăn năn, ăn nói, ăn ngồi, ăn ở, ăn uống, ăn tiêu, ăn xin,… vô (49 tổ hợp): vô bổ, vô can, vô cớ, vô cùng, vô cực, vô chủ, vô danh, vô dụng, vô duyên, vô đạo, vô địch, vô giá, vô hạn, vô hậu, vô hiệu, vô hình, vô ích, vô kể, vô lại,… văn (46 tổ hợp): văn án, văn bài, văn bằng, văn chỉ, văn chương, văn đàn, văn giai, văn hài, văn hào, văn hiến, văn hoa, văn hóa, văn học, văn kỷ, văn khế, văn khoa,… phát (43 tổ hợp): phát âm, phát biểu, phát dương, phát giác, phát hãn, phát hiện, phát huy, phát khoa, phát minh, phát nguyện, phát siển, phát tán, phát tang, phát tiết, phát thệ, phát triển,… tự (42 tổ hợp): tự ái, tự ải, tự cam, tự cao, tự cường, tự chủ, tự chuyên, tự do, tự đắc, tự động, tự hoại, tự khi, tự khí, tự khiêm, tự kỷ, tự lập, tự liệu, tự lợi,… thiên (42 tổ hợp): thiên ân, thiên cơ, thiên cung, thiên chúa, thiên chức, thiên diễn, thiên đạo, thiên đình, thiên định, thiên đường, thiên hà, thiên hạ, thiên hoa, thiên hương, thiên khai,… công (38 tổ hợp): công bố, công bộc, công cộng, công tử, công chúa, công dân, công đạo, công điền, công đồng, công ích, công lệ, công nhận, công phẫn, công quỹ, công quyền, công sản, công ti, công thổ,…
Tương tự đối với các đơn vị như: bách (34 tổ hợp), bắt (34 tổ hợp), thất (34 tổ hợp), thông (34 tổ hợp), thượng (34 tổ hợp ), tam (34 tổ hợp), bạch (32 tổ hợp), đồng (32 tổ hợp), sinh (31 tổ hợp), tiểu (31 tổ hợp), bình (30 tổ hợp), thần (30 tổ hợp), tinh (30 tổ hợp),…
Nhìn chung, các đơn vị này là những từ đơn có khả năng hoạt động độc lập trong tiếng Việt lúc bấy giờ Vì hầu hết đây là những đơn vị vừa độc lập vừa có nghĩa Còn nếu xét trong tiếng Việt hiện nay, qua xem xét chúng tôi nhận thấy có khoảng 20% trong số hơn 8 000 đơn vị này hiện nay không còn khả năng hoạt động độc lập Đi sâu vào xem xét tiếp số từ này chúng tôi nhận thấy chúng gồm các loại sau: 1) Có khoảng hơn 100 từ hiện nay còn tồn tại và xuất hiện độc lập trong các phương ngữ, như: ấp, bặn, bắng, bậu, bu, đàng, đọi, heo, mần, mô, ni, rày, răng, ri, rứa, tê, tề, vô,…(trong tự điển không chú thích về từ địa phương) Về những đơn vị này nếu có điều kiện tìm hiểu về từ nguyên thì đây là một vấn đề khá thú vị Có thể có một số từ lúc bấy giờ đã là từ địa phương, song cũng có thể có những đơn vị lúc bấy giờ là từ toàn dân như các trường hợp: cộ, sá, rú,… 2) Còn lại là những đơn vị hiện nay chỉ tồn tại trong các tổ hợp, như: bĩnh: phình to (bầu bĩnh), bõ: người đầy tớ già (bõ già), bỏi: đồ dùng có hai mặt phẳng đều nhau, dưới có chuôi cầm (trống bỏi), cầm: tên một thứ đàn (cầm ca, cầm kỳ, cầm sắt), cầm: loài chim (cầm thú), cố: cũ (cố đô, cố hương, cố quốc), cốt: xương (cốt cách, cốt nhục, cốt tử), cơ: đói
(cơ cực, cơ hàn, cơ khổ), cứu: tra xét (cứu cánh, cứu vấn, cứu xử), cữu: cái quan tài (linh cữu), chấn: vang động lẫy lừng (chấn động), dộc: một loài khỉ (khỉ dộc), diệu: đẹp tốt, mầu nhiệm, không thể nói ra được (kỳ diệu, diệu kế), đăm: bên phải
(đăm chiêu), mẩy: thân thể (mình mẩy), mẽ: mã (khoe mẽ), han: hỏi (hỏi han), nghét: vị đắng quá (đắng nghét), hắc: đen (hắc ám, hắc nô, hắc vận), kiến: thấy (kiến giải, kiến thức, kiến văn), kiếp: cướp (kiếp đoạt, kiếp lược), ngôn: nói (ngôn luận, ngôn ngữ, ngôn từ), nha: răng (nha sĩ), nhã: khoan thai, vui vẻ, ôn hòa (nhã nhặn, nhã ý, hòa nhã), nhuệ: nhọn, sắc (nhuệ khẩu, nhuệ khí), lương: mát (thừa lương, lương phong), ngu: vui (ngu lạc), nịch: đắm (nịch ái, nịch tử), ngữ: nói chuyện (ngôn ngữ), siểm: dua nịnh (siểm nịnh), súy: soái (nguyên súy), quán: quen (tập quán), sám: ăn năn, nhận tội lỗi mình (sám hối), sự: thờ (phụng sự), vâm: voi (khỏe như vâm),… Điều đáng chú ý là trong số những đơn vị loại này thì số lượng các đơn vị gốc Hán chiếm tỉ lệ đáng kể
2.2.1.3 Những mục từ là từ ghép Đây là loại mục từ có số lượng lớn nhất trong VNTĐ Tiếp tục đi sâu vào phân tích các đơn vị từ ghép này theo một số tiêu chí: a/ Về mối quan hệ giữa các thành tố trong từ ghép, chúng ta có: a 1 / Từ ghép đẳng lập có 2 815 từ, chiếm 27,43% Là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa Đi sâu vào xem xét các từ ghép đẳng lập cho thấy gồm 2 loại:
Thứ nhất, các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa (cũng có thể hai thành tố đó đều là tiếng độc lập hoặc hai thành tố đều là tiếng không độc lập, cũng có khi một thành tố độc lập tổ hợp với một thành tố không độc lập) Ví dụ: á nguyên, âu ca, báng nhạo, bằng tạ, bần bách, biển lận, can hạn, cân cốt, cương kỷ, cứu vấn, cừu địch, cừu thù, chiều đãi, để kháng, điêu ngoan, đình bãi, hoan hân, hoảng mang, khích khuyến, khúc triết, mạn mạ, nê thổ, nương dè, nghệ nghiệp, nghĩ luận, ngu lạc, nhanh chai, nhặm lẹ, nhật dạ, phong vân, phù pháp, quyến ái, răn he, sơn khê, sơn xuyên, tai hạn, tặng phong, tân cam, tân khổ, tân toan, thanh giá, thanh tích, tháo vác, tháo thứ, thẩm thận, thì đại, thôi xao, thôn ổ, tranh cạnh, tráo chác, trào tiếu, trắc đạc, …
Thứ hai, một thành tố rõ nghĩa tổ hợp với một thành tố không rõ nghĩa Tuy nhiên, loại này lúc bấy giờ chiếm tỉ lệ không đáng kể, ví dụ: ám chướng, ấm cúng, cây cối, cỏ rả, chợ búa, điểm xuyết, đồ đạc, đổi chác, yêu đương, kiếm chác, khuy du, lăng tẩm,… Đây là những từ đối chiếu trong hệ thống ngôn ngữ lúc bấy giờ, cụ thể trong VNTĐ, không thấy xuất hiện một trong hai thành tố của từ ở bảng từ của tự điển nên chúng tôi xếp vào loại những từ có một thành tố không rõ nghĩa Còn lại những từ như: hỏi han, đất đai, bếp núc, đường sá, sầu muộn,… đối chiếu trong hệ thống ngôn ngữ lúc bấy giờ thì các yếu tố như: han, đai, núc, muộn,… đều có nghĩa nên chúng tôi không xếp vào loại này a 2 / Từ ghép chính phụ có 7 448 từ, chiếm 72,57% Đây là những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hóa và sắc thái hóa cho thành tố chính Căn cứ vào vị trí của các thành tố có thể phân tích loại từ ghép chính phụ này ra thành hai tiểu loại sau:
Tiểu kết
Trong chương này chúng tôi đã đi vào thống kê, phân loại và đánh giá về từ tiếng Việt giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX xét từ góc độ cấu tạo Thực chất là xem xét từ thuộc giai đoạn nghiên cứu về mặt cấu tạo, qua đó chúng tôi nhận thấy:
1) Trong thực tế, ở mỗi giai đoạn từ tiếng Việt có sự phát triển bằng nhiều phương thức khác nhau, như: phương thức từ hóa hình vị, phương thức ghép, phương thức chuyển loại… Tuy nhiên, qua thống kê và phân loại chúng tôi nhận thấy ba phương thức: từ hóa hình vị, ghép, láy là phổ biến nhất Trong đó, ghép và láy là hai phương thức chính của con đường cấu tạo từ ngữ thuộc giai đoạn này, đặc biệt ghép chiếm ưu thế mạnh hơn Với hai mô hình cơ bản tạo từ ghép (từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ) đã tạo nên hàng loạt các đơn vị từ ngữ mới làm cho vốn từ vựng phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Riêng mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ (phân nghĩa) càng về sau càng có tính năng sản cao
2) Có ba loại thành tố tham gia vào quá trình cấu tạo từ giai đoạn này đó là các yếu tố Hán - Việt, thuần Việt và Ấn - Âu Trong đó các thành tố là yếu tố Hán- Việt giữ vai trò chủ đạo và thể hiện tính năng động trong việc tham gia cấu tạo từ Chính các thành tố Hán - Việt đã đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc tạo nên phần lớn các từ ngữ đa âm tiết biểu thị tên các tổ chức, đoàn thể và các thuật ngữ thuộc lĩnh vực y học, tự nhiên - kĩ thuật trong giai đoạn này
3) Giai đoạn này tiếng Việt nói chung và từ vựng nói riêng có sự vay mượn từ cũng như chất liệu tạo từ khá nhiều song điều đáng nói là có sự hòa quyện khá nhuần nhuyễn vào trong vốn từ dân tộc đến mức khó nhận biết Đặc biệt lớp từ đơn là sự biểu hiện cụ thể và sinh động nhất của sự hòa lẫn thống nhất giữa các đơn vị từ vựng bản ngữ và ngoại lai đến mức nhuần nhuyễn.