1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề biên giới lãnh thổ việt nam campuchia trong lịch sử công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ 9 năm 2007 tp hồ chí minh đoàn thanh niên cộng sản hồ

85 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình cung cấp một cái nhìn tổng quan về quan hệ giữa 2 nước láng giềng Việt Nam – Campuchia cùng với những tranh chấp lãnh thổ kéo dài giữa hai bên hàng nhiều thập kỉ trong quá khứ

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BAN CHẤP HÀNH TP.HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN-EURÉKA”

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

PHẦN DẪN LUẬN 3

CHƯƠNG 1: 6

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA 6

TỪ ĐẦU CHO ĐẾN NĂM 1975 6

1.1 Quan hệ Việt Nam – Campuchia dưới thời chúa Nguyễn: 6

1.2 Quan hệ Việt Nam – Campuchia dưới thời Pháp thuộc 14

1.3 Quan hệ Việt Nam – Campuchia dưới thời VN Cộng hòa 22

CHƯƠNG 2: 27

HIỆN TRẠNG VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM – CAMPUCHIA 27

TỪ 1975 ĐẾN NAY 27

2.1 Vấn đề Việt Nam - Campuchia từ 1975 – 1979 27

2.2 Vấn đề Việt Nam - Campuchia từ 1979 – 1989 40

2.3 Vấn đề Việt Nam - Campuchia từ 1989 đến hết thế kỉ XX 44

2.4 Vấn đề Việt Nam – Campuchia những năm đầu thế kỉ XXI đến nay 47

CHƯƠNG 3: 55

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ DỰ BÁO VỀ VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA 55

VIỆT NAM – CAMPUCHIA TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 55 3.1 Một số giải pháp cho vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia 55

3.2 Dự báo vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia trong thời gian tới 59

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 68

Trang 3

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

“Vấn đề biên giới lãnh thổ Việt Nam – Campuchia trong lịch sử” là công

trình nghiên cứu mang tính chính trị, xã hội thuộc chuyên ngành quan hệ quốc tế của nhóm ngành khoa học xã hội Công trình cung cấp một cái nhìn tổng quan về quan hệ giữa 2 nước láng giềng Việt Nam – Campuchia cùng với những tranh chấp lãnh thổ kéo dài giữa hai bên hàng nhiều thập kỉ trong quá khứ dựa trên việc phân tích, tổng hợp, đánh giá những sự kiện có thật của lịch sử; từ đó rút ra giải pháp mang tính đề nghị và đưa ra những dự báo cho việc giải quyết vấn đề này trong tương lai

Có thể nói, nếu Nam Bộ chuyển từ tay Phù Nam sang Chân Lạp (2 vương triều cổ của Campuchia) bằng bạo lực thì sự chuyển giao chủ quyền vùng đất ấy cho vương quốc Đàng Trong của Việt Nam lại diễn ra một cách hòa bình.Thời Pháp thuộc, việc toàn quyền Đông Dương kí Công ước xác định biên giới giữa Nam Kỳ - vương quốc Campuchia và vua Campuchia chấp nhận đường biên giới

đó một lần nữa khẳng định vùng Nam Bộ thuộc chủ quyền của Việt Nam Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, Chính quyền Nam Việt Nam đã làm tay sai đắc lực cho Mỹ trong việc chống phá Cách mạng Campuchia nhưng cuối cùng nhân dân Campuchia cũng đã giành độc lập dân tộc dưới sự giúp đỡ to lớn của quân giải phóng Việt Nam

Sau khi cả 2 nước Việt Nam-Campuchia giành được độc lập, tình hình biên giới lãnh thổ giữa hai bên căng thẳng hơn bất kì lúc nào Năm 1975-1979, tập đoàn diệt chủng Polpot của Khmer Đỏ đã gây nên tội ác diệt chủng đối với chính dân tộc mình và cho nhân dân Việt Nam Tranh chấp giữa hai bên leo thang tưởng chừng không có điểm dừng do sự quá khích và hiếu chiến điên cuồng của Khmer

đỏ có sự “chỉ đạo” của Trung Quốc và Hoa Kỳ nhằm chống phá Việt Nam Năm

1979 sau khi CHND Campuchia thành lập, hai bên đã từng bước xóa bỏ những nghi kỵ, tiến hành kí kết một số hiệp định, hiệp ước tạo nền tảng như Hiệp ước

Trang 4

Việt Nam-Campuchia năm 1985; Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới Việt Nam-Campuchia năm 1983 Từ đầu thập kỉ 90 đến nay, vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước đã từng bước được giải quyết dựa trên tinh thần đối thoại, hòa bình, hữu nghị, tôn trọng độc lập chủ quyền và không xâm phạm lãnh thổ của nhau Việc hoàn thành cắm mốc biên giới giữa hai bên đã được lãnh đạo hai nước thông qua và quyết tâm hoàn tất trước 12/2008

Công trình nghiên cứu “Vấn đề biên giới lãnh thổ Việt Nam-Campuchia trong lịch sử” đã đưa ra những giải pháp, nhiệm vụ mang tính đề xuất đối với

những bên liên quan như Bộ ngoại giao, Sở ngoại vụ (các tỉnh biên giới với

Campuchia), các ban ngành cũng như nêu bật những khó khăn, trở ngại (vấn đề kỹ thuật, kinh phí, cơ chế thực hiện) trong việc giải quyết vấn đề Dự báo trong tương lai, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam-Campuchia sẽ có nhiều bước phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…

Trang 5

PHẦN DẪN LUẬN

1 Lí do chọn đề tài

Chủ quyền quốc gia là một vấn đề quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới đặc biệt là vấn đề biên giới quốc gia Ngay từ thời xa xưa các quốc gia đã rất xem trọng điều này và coi việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là vấn đề sống còn của mình Theo lời của đồng chí Nguyễn Xuân Thủy_chuyên gia về vấn đề biên giới của Bộ Ngoại giao và hiện đang công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Campuchia, đồng chí ví biên giới quốc gia cũng giống như hàng rào giữa hai nhà gần nhau “…hàng xóm láng giềng xích mích lẫn nhau thì chúng ta ở cũng không yên”, quả thật đây là một vấn đề rất quan trọng vì có giải quyết tốt vấn

đề biên giới ta mới có thể tập trung vào phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia Việt Nam – Lào - Campuchia là ba nước cùng nằm trong khối Đông Dương,

có mối quan hệ đoàn kết, gắn bó lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử cho đến tận ngày nay Tuy nhiên, riêng đối với Campuchia thì vấn đề biên giới là một trong số các vấn đề nhạy cảm trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, từng gây ra nhiều trở ngại trong việc phát triển mối quan hệ giữa hai nước, từng là “cái cớ” để nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực tự cho mình cái quyền được phán xét chúng ta trong quan hệ quốc tế hiện đại, cũng như từng là ngòi nổ cho không ít các cuộc chiến tranh xảy ra bên trong và ngoài cả 2 nước Việt Nam và Campuchia Các phái đối lập ở Campuchia thường xuyên lợi dụng vấn đề này để chia rẽ tình đoàn kết giữa Việt Nam và Campuchia, cũng như tạo điều kiện cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống đối Việt Nam và

đã có nhiều quan điểm cho rằng vùng đất Nam bộ của Việt Nam ngày nay vốn thuộc về Campuchia

Điều đó có thực sự đúng đắn? Không - cha ông chúng ta đã đổ biết bao xương máu để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, bảo vệ chính nghĩa, giúp bạn đẩy lùi nạn diệt chủng PolPot, xây dựng đất nước Vì vậy với tư cách là công dân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và là sinh viên của

Trang 6

bộ môn Quan hệ quốc tế thì thiết nghĩ chúng ta cần phải hiểu rõ vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, để từ đó có thể kế thừa truyền thống tốt đẹp

ấy, góp phần giữ gìn và bảo vệ Tổ quốc; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia hiện tại và khẳng định Nam Bộ là vùng đất không thể tách rời thuộc quyền sở hữu của nước CHXHCN Việt Nam

2 Bố cục của đề tài:

Đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tập trung phân tích mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia

đến trước năm 1975 tức là trước khi nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam thành lập, chủ yếu tập trung vào mối quan hệ Việt Nam-Campuchia dưới thời chúa Nguyễn, thời Pháp thuộc và thời Việt Nam Cộng hòa

Chương 2: Phân tích thực trạng vấn đề biên giới giữa Việt Nam và

Campuchia từ năm 1975 cho đến nay và được chia làm 4 giai đoạn nhỏ Ngoài

ra ở mỗi giai đoạn còn tập trung phân tích về ảnh hưởng của các nước lớn đến quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia mà chủ yếu là Trung Quốc và Liên Xô

Chương 3: Đưa ra một số giải pháp để giải quyết tốt vấn đề biên giới giữa

Việt Nam và Campuchia, không để vấn đề đó gây trở ngại cho tình hữu nghị Việt Nam-Campuchia, sau đó là một số dự báo về quá trình giải quyết vấn đề biên giới cũng như mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia trong tương lai

3 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này, chúng em sử dụng chủ yếu 3 phương pháp:

_ Phương pháp phân tích : Xem xét vấn đề biên giới Việt Nam- Campuchia trên nhiều phương diện và khía cạnh khác nhau, phân tích kỹ lưỡng từng khía cạnh

_ Phương pháp tổng hợp : Tổng hợp lại những kết quả đã phân tích kèm theo một số lời nhận xét cá nhân

Trang 7

_ Phương pháp lịch sử : Xem xét vấn đề biên giới Việt Nam-Campuchia theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau Từ đó rút ra được đặc trưng và quy luật phát triển của vấn đề theo từng thời điểm khác nhau

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Nghiên cứu vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Campuchia thực sự

là một đề tài hấp dẫn và cho đến nay vẫn còn mang nhiều tính thời sự Đề tài đã giúp sinh viên tiếp cận được sâu hơn về các vấn đề biên giới quốc gia trong quan

hệ quốc tế Hơn nữa, hiểu rõ vấn đề biên giới, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm đưa quan hệ song phương Việt Nam - Campuchia lên một tầm cao mới trong một giai đoạn mới với mục đích xây dựng mối quan hệ láng giềng hữu nghị tốt đẹp để phát triển các mặt kinh tế – văn hoá – xã hội luôn là mong muốn của cả hai chính phủ

Trang 8

CHƯƠNG 1:

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA

TỪ ĐẦU CHO ĐẾN NĂM 1975 1.1 Quan hệ Việt Nam – Campuchia dưới thời chúa Nguyễn:

Vương quốc sớm nhất ở buổi đầu được biết đến hiện nay là Phù Nam, lớn mạnh từ khoảng đầu thế kỷ VI sau công nguyên Tiếp sau là vương quốc Chân Lạp, kiểm soát những vùng rộng lớn của Campuchia, Việt Nam, Lào và Thái Lan ngày nay Tuy nhiên, Đế quốc Khmer – thời đại Hoàng kim của nền văn minh Khmer – là giai đoạn từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIII, khi vương quốc Kambuja, khởi nguồn cho cái tên Kampuchea, hay Campuchia hiện nay, cai quản những vùng đất đai rộng lớn từ thủ đô của nó tại vùng Angkor phía Tây Campuchia

Nhà nước Campuchia từ thế kỷ IX cũng bắt đầu bước vào thời kỳ Angkor (802-1434) huy hoàng và trở thành một trong những vương quốc mạnh và ham chiến trận nhất trong khu vực Dưới thời Jayavarman VII (1181-1201), vua

Campuchia đã tiến đánh Vương quốc Champa xưa-miền Trung và Nam Trung Bộ Việt Nam - (1190) và biến vương quốc này thành một tỉnh của Angkor, sau đó lại tiến hành thu phục vùng trung và hạ lưu Mê Nam

Nhưng ngay từ đầu thế kỷ XIII, thế lực của Đế quốc Angkor đã không còn mạnh như trước nữa Nó mất dần những lãnh thổ phụ thuộc ở bên ngoài Một tấm bia Champa cho biết, năm 1220, quân Khmer rút khỏi Champa sau một cuộc chiến tranh kéo dài 32 năm mà không rõ lý do Có thể đây chỉ là một cuộc rút quân lặng

lẽ, đơn phương mà nguyên nhân của nó có thể là do tình trạng suy thoái, mệt mỏi bên trong, khiến vua Angkor thấy không cần phải cố gắng tiếp tục duy trì những đạo quân đồn trú ở nước ngoài và sau cuộc rút quân năm 1220, Campuchia cũng dứt khoát từ bỏ quyền lực đối với Champa

Trang 9

Nam Bộ thuộc về Chân Lạp Tuy nhiên trong đợt biển tiến cuối cùng của thời kỳ toàn tân kéo dài 800 năm (350-1150), Nam Bộ chìm trong nước biển nên con người không thể sinh sống ở đây được

Sau khi biển thoái, Nam Bộ là một vùng đồng bằng mênh mông nhưng còn sình lầy, khí hậu ẩm thấp Cho đến thế kỷ XIII, Nam Bộ vẫn còn là mảnh đất hoang dã

Gần 5 thế kỷ sau, vùng đất Đồng Nai xét từ Đại Hải Môn và Tiểu Hải Môn

ở Tính Trạch, Sài Gòn trở vào, toàn là rừng rậm đến hơn mấy nghìn dặm Đất hoang xấu, quạnh hiu Chân Lạp đất rộng người thưa nên dân nước này thích tập trung làm ăn sinh sống ở vùng đồng bằng phì nhiêu lấy kinh đô Udong làm trung tâm điểm, không ai dám phiêu lưu mạo hiểm đến vùng đất Nam Bộ đầy rẫy khó khăn và bất trắc

Từ lâu, Chân Lạp là nạn nhân thường xuyên của các cuộc xâm lược đến từ nước láng giềng phía Tây Vua Xiêm Rama Kamheng (1275-1318) xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Chân Lạp Nửa thế kỷ sau, vua Râmâdhipati đích thân dẫn quân sang đánh Chân Lạp, chiếm Angkor, bắt phần lớn dân chúng kinh đô về Xiêm làm

nô lệ, đặt Chân Lạp dưới quyền cai trị của các hoàng thân Xiêm Năm 1393, vua Ramesuen lại chiếm Angkor một lần nữa, giết vua Chân Lạp Dhamamâsoka, bắt 7 vạn tù binh Chân Lạp mang về Xiêm, đưa hoàng tử Xiêm Ento sang làm vua Chân Lạp (1394) Năm 1473, Xiêm lại chiếm các tỉnh Tây Bắc Chân Lạp, bắt vua Srey Racha đem về Xiêm

Trước nạn xâm lược của Xiêm, triều đình Chân Lạp phải rời bỏ Angkor để dời đô về hướng Đông Để có thể toàn tâm toàn ý đối phó với sự đe dọa của Xiêm

mà vua Paramaraja VII vào cuối thời gian trị vì của ông đã chấp nhận kết giao với chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên)

Ở các thế kỷ XVI-XVIII, Chân Lạp ngày càng suy yếu, cư dân thưa thớt Vùng Thủy Chân Lạp (nay là Nam Bộ) tuy xưa kia là trung tâm của nước Phù

Trang 10

Nam, vẫn chưa được khai phá bao nhiêu Trong tình thế chiến tranh với Đàng

Ngoài, nhiều dân nghèo ở Bắc Thuận Hóa tìm cách chạy vào Chân Lạp khai hoang lập làng sinh sống

Năm 1618, Chey Chettha II ( Jayajettha II) lên ngôi, quyết định dời đô từ Lovek về Udong và năm 1620, xin cưới con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên – công nương Ngọc Vạn để tìm kiếm sự ủng hộ của triều đình Huế nhằm làm quân bình với sức ép của Xiêm Cuộc hôn nhân này đánh dấu một bước phát triển trong quan hệ giữa hai nước Việt – Chân Lạp Chey Chettha II xin nhạc phụ của mình

giúp nâng cao khả năng quốc phòng của Chân Lạp Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chuẩn bị vũ khí và mộ binh giúp vua Chân Lạp, cung cấp cho vua thuyền chiến và quân binh để cầm cự với vua Xiêm Nhân dân Chân Lạp càng chịu đựng nhiều đau khổ trước những hành động xâm lược của Xiêm, càng đánh giá cao sự giúp đỡ của Đàng Trong Tâm trạng đó được thể hiện khá rõ trong cảnh tiếp đón sứ bộ của chúa Nguyễn năm 1621, rất đông cư dân, thương nhân tụ hội đông đảo để đón tiếp

Việc triều đình Chân Lạp liên minh với Đàng Trong để bảo vệ nền độc lập của mình khiến vua Xiêm tức giận Năm 1623, vua Xiêm cho hai đạo quân sang đánh Chân Lạp Nhờ có liên minh với chúa Nguyễn, Chey Chettha II mới có thể hai lần chiến thắng quân Xiêm

Năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gửi sang Udong một sứ bộ mang theo nhiều tặng phẩm để chúc mừng chiến thắng mà nhân dân Chân Lạp vừa giành được Sứ bộ đảm bảo với vua Chey Chettha II về sự yểm trợ và tình hữu nghị của triều đình Huế Sứ bộ cũng đề nghị vua cho phép di dân Việt Nam được đến làm

ăn sinh sống trên vùng đất còn thưa dân ở phía Đông Nam của Chân Lạp – tức vùng Nam Bộ ngày nay – và cho lập hai trạm thu thuế ở Kampong Krabei (Bến Nghé, tức Sài Gòn ngày nay) và Prei Nokor (Sài Gòn, tức Chợ Lớn ngày nay)

Nam Bộ lúc ấy vẫn còn hoang vu Trước mắt, triều đình Udong chưa đủ nhân công và tiền của để cải tạo Nam Bộ một cách quy mô Cho di dân Việt Nam đến Nam Bộ là một cách mượn sức lao động của họ để khai phá vùng đất này Mặt

Trang 11

khác, khi di dân Việt Nam có mặt ở Nam Bộ, triều đình Đàng Trong sẽ có trách nhiệm nhiều hơn trong việc giúp Chân Lạp đối phó với nạn xâm lấn của Xiêm Chey Chettha II đưa đề nghị của chúa Nguyễn cho triều thân xem xét và gửi cho vua An Nam một bức thư cho biết ông chấp nhận điều mà vị vua đó yêu cầu sau khi tham khảo ý kiến các quan thượng thư

Từ sau sự đồng ý của Chey Chettha II, số lượng người Việt đến Chân Lạp ngày càng tăng Họ làm ăn sinh sống ở Barea (Bà Rịa), Kampeap Srekatrey (Biên Hòa), Kampong Krabei (Bến Nghé), Prei Nokor (Sài Gòn)…

Ngoài họa xâm lược đến từ phía Tây, trong triều đình Chân Lạp thường xảy

ra những vụ tranh giành ngôi báu giữa các thành viên hoàng gia Một trong hai phe tranh chấp cầu cứu các chúa Nguyễn đưa quân sang giúp Sau khi ổn định tình hình, các chúa Nguyễn đều cho rút quân về nước, song uy tín và ảnh hưởng của Đàng Trong ở Chân Lạp ngày càng lớn

Năm 1673, vua Chey Chettha III, cháu ngoại vua Chey Chettha II và hoàng hậu Ngọc Vạn bị giết Một cuộc tranh chấp quyền lực nổ ra Phe Ang Tan – Ang Nan cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) Chúa Nguyễn hòa giải hai phe bằng cách phong cho Ang Sur làm chính vương (đóng đô ở Udong) và Ang Nan làm phó vương (đóng đô ở Prei Nokor, tức Sài Gòn) Tuy nhiên hai phe vẫn không

bỏ ý định loại trừ lẫn nhau Để bảo vệ phó vương Ang Nan đồng thời che chở di dân Việt Nam, năm 1679, chúa Nguyễn – với sự đồng ý của Ang Nan – cho lập đồn dinh ở Tân Mỹ, các nha thự cho giám quân, cai bộ, ký lục ở Tân Thuận (tất cả đều tại Prei Nokor)

Đến cuối thế kỷ XVII, có khoảng bốn vạn hộ di dân người Việt (ước chừng

20 vạn người) sống rải rác trên một địa bàn rộng hơn nghìn dặm ở miền Đông Nam Bộ Trên mảnh đất còn thưa dân này, 20 vạn người Việt trở thành thành phần

đa số

Trang 12

Năm 1688, phó tướng nhà Minh là Hoàng Tiến nổi loạn ở Mỹ Tho, giết chủ

là Dương Ngạn Địch, đắp lũy, đóng thuyền chiến uy hiếp vua Chân Lạp, chống lại chúa Nguyễn Nhận lời yêu cầu của vua Chân Lạp, chúa Nguyễn sai tướng đem quân đánh bại bọn Hoàng Tiến và làm chủ đất Đông Phố (sau là Gia Định)

Để quản lý và bảo vệ di dân, năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu 1725) cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập phủ Gia Định gồm dinh Trấn Biên với huyện Phước Long (ở Đồng Nai) và dinh Phiên Trấn với huyện Tân Bình (ở Sài Gòn) Chúa Nguyễn còn lập xã Thanh Hòa (ở huyện Phước Long) và xã Minh Hương (ở huyện Tân Bình) cho di dân người Hoa Triều đình Chân Lạp không phản đối việc này

(1691-Năm 1699, Ang Sur nhường ngôi cho Ang Em Một người nhà Minh là Mạc Cửu cùng họ hàng, gia đình chạy sang Phnom Penh xin trú ngụ Vua Chân Lạp phong Mạc Cửu làm Ốc nha đất Sài Mạt (Tây Thủy Chân Lạp) Mạc Cửu mộ thêm di dân Việt đến đây khai phá đất hoang, lập thành làng mạc rồi xin thần phục chúa Nguyễn, xin Ang Em khai thác vùng Peam (Hà Tiên), mở mang nơi đây thành một nơi thị tứ thành đạt Lúc đó Chân Lạp lại lâm vào nội chiến Ang Sur truất ngôi của con rể Ang Em (1701) rồi lại nhường ngôi cho con ruột mới 12 tuổi

là Thommo Reachea (Nặc Thâm) (1702) Ang Em nổi dậy chống Nặc Thâm Nặc Thâm bị đánh bại, chạy sang Xiêm Ang Em trở lại làm vua Vì phải lo đối phó với Nặc Thâm (được Xiêm giúp đỡ), Ang Em giao việc phòng thủ các tỉnh Peam (Hà Tiên ngày nay), Kampot, Kompong Sôm và đảo Phú Quốc cho Mạc Cửu Thấy tình hình chính trị ở Chân Lạp bất ổn, Mạc Cửu xin chúa Nguyễn Phúc Chu cho Hà Tiên thuộc về triều đình Đàng Trong (1708) Chúa Nguyễn chấp thuận, lập

ra trấn Hà Tiên, phong Mạc Cửu làm tổng binh để giữ trấn ấy

Năm 1731, một di dân Lào ở làng Prea Sot xúi giục “những người Chân Lạp quá khích tàn sát tất cả những người Việt Nam trong vùng Banam mà họ gặp” Chúa Nguyễn Phúc Chu (125-1738) cử thống suất Trương Phước Vĩnh đem quân vào bảo vệ di dân Việt Nam Vua Satha sợ vạ lây, gửi thư cho Trương Phước Vĩnh

Trang 13

để thanh minh rằng mọi việc đều do tên di dân Lào gây ra, cam kết sẽ trừng trị bọn nổi loạn Sau khi dùng kế diệt được tên thủ phạm và đồng bọn, vua Satha cắt hai vùng Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long) dâng chúa Nguyễn để tạ tội (1732) Chúa Nguyễn đặt dinh Long Hồ và lập châu Định Viễn

Năm 1735, Mạc Cửu qua đời, chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ làm đô đốc, tiếp tục cai quản trấn Hà Tiên Mạc Thiên

Tứ mở rộng Hà Tiên đến Rạch Giá và Cà Mau Năm 1757, chúa Nguyễn đặt ra đạo Kiên Giang (ở Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (ở Cà Mau) cho thuộc về trấn

Hà Tiên

Năm 1738, Ang Chey - vua Satha II – mất ngôi báu Những kẻ chống đối vua Satha II kêu gọi Xiêm giúp đỡ và mời Thommo Reachea trở về Họ lợi dụng việc dân chúng Khmer coi nước Xiêm ít nguy hiểm hơn so với Việt Nam Quân đội Xiêm tiến vào Korat từ phía Bắc và một đạo quân nhỏ đi theo đường biển đổ

bộ lên Kampot Các cuộc hành quân đã thành công Satha II bỏ chạy sang Việt Nam Sau khi lên ngôi lại, Thommo Reachea lập tức cầm đầu một phong trào dân tộc trục xuất người Việt Nam Nhiều người phải di tản đến đảo Hong Peam Misa trên sông Mekong, nơi mà triều đình Huế bắt đầu mở rộng quyền lực của mình Bị chặn lại ở đây, Thommo Reachea chuyển hướng tấn công vào lãnh địa của Mạc Cửu Mạc Thiên Tứ với sự chấp thuận và giúp đỡ của Huế khi lên thay Mạc Cửu, Thommo Reachea lại thất bại khi đụng độ với quân của Mạc Thiên Tứ

Năm 1753, người Côn Man (tức người Champa sinh sống trên đất Chân Lạp) bị một số người Chân Lạp ngược đãi Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) cho đem quân vào, giải thoát được 5000 người Côn Man Vua Chey Chettha V chạy sang Hà Tiên, nhờ Mạc Thiên Tứ tâu với chúa Nguyễn xin cắt hai vùng Tầm Bôn và Soài Rạp để tạ tội (1756) Chúa Nguyễn cho nhập hai vùng đất ấy vào châu Định Viễn

Trang 14

Chey Chettha V mất, Nặc Nhuận xin hiến hai vùng Préah Trapeang (Trà vinh) và Srok Trang (Sóc Trăng) để được chúa Nguyễn công nhận là vua Chân Lạp

Không bao lâu sau, Nặc Nhuận bị rể là Nặc Hinh giết Con của Nặc Nhuận

là Ang Tong chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ che chở Nặc Hinh bị giết Chúa Nguyễn Phúc Khoát công nhận Ang Tong là vua Chân Lạp, cử Mạc Thiên

Tứ cùng tướng sĩ hộ tống Ang Tong về lại Udong Ang Tong dâng đất Tầm Phong Long (An Giang) để tạ ơn

Ang Tong cũng cắt cho Mạc Thiên Tứ năm phủ Kampot, Kompong Som, Chal Chun, Bantey Méas và Raung Veng để cảm ơn Mạc Thiên Tứ dâng hết cho chúa Nguyễn Chúa Nguyễn nhập năm phủ ấy vào trấn Hà Tiên và giao cho Mạc Thiên Tứ cai quản (Năm 1841, vua Thiệu Trị trả 5 phủ ấy lại cho Chân Lạp) Đến đây toàn bộ vùng đất nay là Nam Bộ được triều đình Chân Lạp chuyển giao cho Nhà nước Đàng Trong

Năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát lập đạo Đông Khẩu (ở Sa Đéc), đạo Châu Đốc (ở Châu Đốc) và đạo Tân Châu (ở cù lao Giêng), cho cả 3 đạo thuộc về dinh Long Hồ

Năm 1772, chúa Nguyễn Phúc Thuần lập đạo Trường Đồn (ở Mỹ Tho), đến năm 1778 đổi thành dinh Trường Đồn

Nếu Nam Bộ chuyển từ tay Phù Nam sang Chân Lạp bằng bạo lực (do cuộc tấn công năm 550 của Bhavavarman) thì sự chuyển giao chủ quyền vùng đất ấy cho vương quốc Đàng Trong lại diễn ra một cách hòa bình Từ thời điểm được chuyển giao, các chính phủ liên tiếp của Việt Nam đã thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình đối với Nam Bộ một cách thực sự và liên tục (trừ giai đoạn 1867-1949)

Trang 15

Năm 1778, chúa Nguyễn chia Nam Bộ (lúc đó gọi là phủ Gia Định) làm 4 dinh (dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn, dinh Trường Đồn, dinh Long Hồ) và 1 trấn (trấn Hà Tiên)

Đến năm 1808, vua Gia Long chia Nam Bộ (lúc đó gọi là thành Gia Định) thành 5 trấn với tên gọi mới: trấn Biên Hòa, trấn Phiên An, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Thanh và trấn Hà Tiên

Năm 1832, vua Minh Mạng đổi thành Gia Định ra Nam Kỳ, chia trấn Vĩnh Thanh thành 2 tỉnh Nam Kỳ gồm 6 tỉnh: tỉnh Biên Hòa, tỉnh Phiên An (đến năm

1883 đổi thành tỉnh Gia Định), tỉnh Định Tường, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh An Giang

và Hà Tiên

**Như vậy, dưới thời chúa Nguyễn, lãnh thổ nước ta đã có sự mở rộng rất nhiều qua các cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn Sau thời đại hoàn kim của nền văn minh Khomer ( từ thế kỉ IX đến thế kỉ XII), thế lực của Đế quốc Angkor đã không còn mạnh như trước nữa, nó mất dần những lãnh thổ phụ thuộc ở bên ngoài Điều này đã tạo ra một cơ hội tốt cho chúa Nguyễn trong việc thực hiện chính sách Nam tiến của mình Khởi đầu là việc nhà vua của Chân Lạp xin cưới công chúa nhà Nguyễn và liên minh với đàng trong để bảo vệ nền quốc phòng của mình Tiếp theo đó, cùng với việc người Việt di dân đến vùng đất của Chân Lạp và việc chúa Nguyễn đứng ra giải quyết các tranh chấp ở khu vực này khiến cho uy tín và ảnh hưởng của chúa Nguyễn tại khu vực ngày càng tăng Dần dần vùng đất Nam Bộ ngày nay được chuyển giao cho chúa Nguyễn Nếu Nam Bộ chuyển từ tay Phù Nam sang Chân Lạp bằng bạo lực (do cuộc tấn công năm 550 của Bhavavarman) thì sự chuyển giao chủ quyền vùng đất ấy cho vương quốc Đàng Trong lại diễn ra một cách hòa bình.Và từ thời điểm được chuyển giao, các chính phủ liên tiếp của Việt Nam đã thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình đối với Nam Bộ một cách thực sự

Trang 16

Bản đồ Nam tiến thời các chúa Nguyễn (theo Lê Thành Khôi, Le Vietnam,

Histoire et Civilisation, Les Editions de Minuit, Paris, 1955)

1.2 Quan hệ Việt Nam – Campuchia dưới thời Pháp thuộc

Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Vương Quốc Campuchia là hai nước láng giềng có lịch sử quan hệ từ lâu đời, có đường biên giới chung trên đất liền dài 1137km, khởi đầu từ ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia và kết thúc ở điểm mút đường biên giới trên bờ biển tiếp giáp giữa tỉnh Kiên Giang và Kămpốt, đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam là KonTum, Gia Lai, ĐakLak, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang; tiếp

Trang 17

giáp với 9 tỉnh biên giới của Campuchia là: Ratanakiri, Mondunkiri,

Côngpôngchàm, Crachê, Svayriêng, Prêyveng, Kầndal, Tàkeo, Kămpốt

Cùng tận hưởng dòng nước sông Mêkông, có sự tương đồng về địa lý, điều kiện tự nhiên nhưng qua nhiều thời kỳ lịch sử, quan hệ Việt Nam – Campuchia đã

có nhiều biến dạng bởi sự tác động của bên này, bên kia hoặc của các thế lực từ bên ngoài vào, có lúc tạo thành những sóng gió bất lợi cho quan hệ hai nước

Ngày 24/6/1967, Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao

Vương quốc Khơme ra đời vào cuối thế kỷ thứ 9 trên lãnh thổ của Phù Nam

và Chân lạp trước đây Kinh đô lúc đó là Angkor Từ cuối thế kỷ thứ 9 đến 13, Vương quốc Khơme phát triển cực thịnh Từ thế kỷ 13 đến nửa đầu thế kỷ 19, các cuộc nội chiến và chinh phục của ngoại bang đã làm cho Vương quốc Khơme suy yếu

Những năm 60 của thế kỷ thứ 19, thực dân Pháp vào Đông Dương Năm

1863, Pháp buộc Norodom phải ký Hiệp ước đặt Campuchia dưới sự bảo hộ của Pháp và đến 1884 Campuchia hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp

Năm 1941, Norodom Sihanouk sau khi lên ngôi lần thứ nhất đã vận động cuộc đấu tranh giành lại độc lập cho Campuchia Ngày 9/11/1953, Pháp tuyên bố trao trả độc lập cho Campuchia Tháng 4/1955, Sihanouk thoái vị nhường ngôi vua cho cha là Norodom Suramarith để thành lập Cộng đồng xã hội bình dân Trong cuộc tổng tuyển cử 9/1955 , Cộng đồng xã hội bình dân đã giành thắng lợi lớn, Sihanouk trở thành Thủ tướng , tập trung mọi quyền lực vào tay mình Năm 1960, Quốc vương Norodom Suramarith qua đời, Sihanouk được Quốc hội bầu làm Quốc trưởng Campuchia Trong hoàn cảnh đó, quan hệ giữa Việt nam và

Campuchia chuyển biến theo những chiều hướng sau đây :

Trong những thế kỉ XVII – XVIII, ở Đông Nam Á, luật quốc tế về chủ quyền, lãnh thổ, biên giới quốc gia chưa ra đời Các vấn đề liên quan đến hai(hay

Trang 18

nhiều nước) được xử lí căn cứ trên sự đồng thuận giữa chính quyền các nước liên

hệ Việc triều đình Chân Lạp chuyển giao chủ quyền của Nam Bộ cho các chúa Nguyễn diễn ra theo phương thức đó

Trong thời kỳ thực dân, biên giới giữa hai nước chủ yếu là đường ranh giới hành chính, bao gồm hai phần: Đoạn biên giới giữa Nam kỳ và Campuchia được hoạch định bởi Thoả ước Pháp – Campuchia năm 1870 và Công ước Pháp –

Campuchia năm 1873, đã được phân giới cắm mốc nhưng đến nay còn rất ít dấu tích trên thực địa Đoạn biên giới giữa Trung Kỳ và Campuchia không có văn bản xác định đường biên giới, chỉ có nghị định xác định ranh giới các tỉnh Trung Kỳ, chưa phân định cắm mốc Hai phần biên giới trên đã được chnh quyền Pháp thể hiện trên 26 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản trong nhiều năm khác nhau

Theo luật quốc tế ngày nay, “chủ quyền của Việt Nam đối với Nam Bộ là một điều đã được xác định, không thể tranh cãi vì trong việc chuyển giao lãnh thổ, quốc gia chuyển giao mất đi hoàn toàn chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ chuyển giao, còn quốc gia nhận chuyển giao bắt đầu có chủ quyền hoàn toàn đối với phần lãnh thổ chuyển giao từ thời điểm được chuyển giao”

Từ thời điểm được chuyển giao, các chính phủ liên tiếp của Việt Nam đã

thực hiện chức năng quản lí nhà nước của mình đối với Nam Bộ một cách thực sự (chứ không chỉ mang tính hình thức) và liên tục (trừ giai đoạn từ 1867 đến 1949 –

lúc nước Pháp quản lí Nam Bộ)

Năm 1859, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Nam Kì Với Hiệp ước kí ngày 5-6-1862, ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường (miền Đông Nam Kì) bị Pháp chiếm Năm 1867, Pháp chiếm nốt tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (miền Tây Nam Kì) Năm 1863 Vua Norodom kí một hiệp ước với Pháp để thành lập một chính quyền bảo hộ trên toàn vương quốc Dần dần đất nước này rơi vào quyền cai trị thuộc địa của Pháp Trong chiến tranh thế giới thứ II, người Nhật cho phép chính phủ Pháp (chính phủ Vichy) đang hợp tác với Đức phát xít tiếp tục cai quản

Trang 19

Campuchia và các lãnh thổ Đông Dương khác, nhưng họ cũng nuôi dưỡng chủ nghĩa quốc gia Khmer Campuchia lại được hưởng một thời kì độc lập ngắn năm

1945 trước khi quân Đồng minh tái lập quyền kiểm soát của Pháp

Ngày 9-7-1870, Quyết định số 166 của Pháp viết:

“Sau khi xem xét dự án phân ranh được đệ trình nhân danh vua [Norodom của Campuchia] và dự án do một uỷ ban của Pháp đệ trình, uỷ ban quyết định: Đường biên giới [giữa Nam Kì thuộc Pháp và Campuchia] giữ nguyên như đã vạch, không thay đổi gì cả, từ cột số 1(ở cửa sông Puach Prien) đến cột số 16(ở Tasang trên rạch Cái Cáy)

Vùng đất giữa rạch Cái Rạch và Cái Cáy nằm trên lãnh thổ [Nam Kì thuộc] Pháp (có lợi tức hàng năm lên đến khoảng 1.000 franc) sẽ được nhường cho Campuchia để bù cho khoảng 486 căn nhà họp thành các làng nằm phía Sroctranh

và Bang Chrum

Các cột số 17,18 và các cột kế tiếp sẽ bị nhổ bỏ cho đến Hưng Nguyên, Campuchia sẽ giữ tất cả phần đất hiện có người Campuchia ở trong các tỉnh

Prewend, Boni Foul, Sroc Thiet

Ranh giới sẽ được vạch sau và người ta sẽ giữ cho thuộc Pháp dải đất nằm dọc sông Vàm Cỏ do người Việt Nam ở đây khai khẩn”

Quyết định này được trình lên vua Norodom và chuẩn đô đốc De Cornulier – Luciniere, quyền thống đốc kiêm tổng chỉ huy quân Pháp ở Nam Kì, và được cả hai vị chấp thuận

Ba năm sau, ngày 15-7-1873, vua Norodom và chuẩn đô đốc Marie-Jules Dupre, thống đốc kiêm tổng chỉ huy quân Pháp ở Nam Kì kí Thoả ước như sau:

“Mong muốn xác định biên giới giữa vương quốc Campuchia và Nam Kì thuộc Pháp một cách dứt khoát và với sự thoả thuận chung, sau khi tiến hành nghiên cứu đất đai nhằm chấp thuận đường phân chia trên các dòng nước hay trên

Trang 20

những vùng đất gồ ghề khá vững chắc và rõ rệt để tránh mọi điều tranh chấp về sau,[hai vị trên] đã chấp thuận và kí Bản thoả ước này gồm các điều khoản sau:

Biên giới giữa Nam Kì thuộc Pháp và vương quốc Campuchia sẽ được đánh dấu bằng những cột trụ có ghi số và mang dòng chữ chỉ mục tiêu của nó Có tất cả

124 cột trụ Cột số 1 sẽ đặt ở đầu phía Đông của biên giới và số thứ tự sẽ tăng dần một cách liên tục về phía Tây cho đến cột trụ số 124 đặt cách kênh Vĩnh Tế và làng Hoa Thanh của người Việt Nam khoảng 1.200 mét về phía Bắc

Biên giới này sẽ đi qua các điểm chính sau đây:

Điểm xuất phát là cột trụ số 1 cắm trên bờ con sông nhỏ Tonly-tru, chiều hướng tổng quát sau đó của biên giới là hướng Tây nam và ngang qua các làng Sroc-Rum, Sroc-paplan, Srocban-Chrung, Ring Khanoch, Sroc Cranh, Sroc Chung Ngon, Phum Andet, Sroc cac, Sroc Compong mean-chay (hay Bengo), dọc theo hữu ngạn của sông Cái Bác, ngược lên tả ngạn kênh Cái Cáy, đi qua Phum

Compong Casang, Sroc Ta Men, Sroc Ta Hong, Sroc Chec, Phum Bathu, Sroc May, Sroc Rach Chanh, Sroc Tanu, dọc theo bờ phía bắc kênh Chris Asey (tiếng Việt là Xung Nguyên), cắt con kênh này tại vàm Peam Adey(tiếng Việt là Tadu), dọc theo bờ phía Bắc của rạch Ba

nam, băng qua sông lớn [sông Tiền] ở tại Vinh Chương, đi qua Bac-Nam, cắt sông Hậu ở phía Nam đảo Coki (tiếng Việt là cù lao Cái Sơn), ngang qua giao điểm của Prec-croch với Prec Slot, theo một đường song song với kênh Vĩnh Tế, ở phía Bắc đến làg Giang Thành và từ đó hướng thẳng đến Hà Tiên, bỏ rạch Prec-cros ở phía Đông”

Việc vua Campuchia 2 lần chấp nhận đường biên giới giữa Nam Kì và

Campuchia cho thấy chính phủ nước này mặc nhiên thừa nhận: Nam Kì không phải là lãnh thổ của Campuchia

Sau hơn 80 năm chiếm Nam Kì làm thuộc địa, “trong đêm 21-5-1949, Quốc hội Pháp biểu quyết giao lại cựu thuộc địa Nam Kì cho Việt Nam” Việc này diễn

Trang 21

ra chưa đầy 6 tháng trước khi chính phủ Pháp công nhận nền độc lập của vương

quốc Campuchia ngày 8-11-1949, một lần nữa cho thấy: Nam Kì không nằm trong lãnh thổ Campuchia

Về chính trị và pháp lý có thể chia biên giới Việt Nam-Campuchia làm hai đoạn:

- Đoạn biên giới từ điểm cực Nam ở Hà Tiên đến hết tỉnh Tây Ninh

- Đoạn từ tỉnh Sông Bé đến hết Gia Lai- Kontum, điểm ba biên giới Việt Nam- Lào- Campuchia gặp nhau

Khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, biên giới và lãnh thổ Nam

Kỳ cơ bản như hiện nay

Quy chế chính trị của Nam Kỳ và Vương quốc Campuchia khác nhau : Nam Kỳ, bộ phận lãnh thổ Việt Nam, đã trở thành một thuộc địa của Pháp ;

Vương quốc Campuchia đã trở thành một nước đặt dưới sự bảo hộ của Pháp theo Hiệp ước 11/8/1863 giữa Pháp và vương quốc Campuchia

Ngày 15/7/1873, chuẩn đô đốc Dupré , thống đốc Nam Kỳ, thay mặt Pháp ,

và Quốc vương Campuchia Norodom kí Công ước xác định biên giới giữa Nam

Kỳ và Vương quốc Campuchia từ Tây Ninh đến Hà Tiên và quy định việc cắm

124 mốc

Cho đến chiến tranh Thế giới thứ hai còn có một số điều chỉnh đường biên giới ở địa phương nữa, nhưng nói chung đường biên giới giữa Nam Kỳ cũ và Campuchia vẫn cơ bản như hoạch định trước đây

Đoạn biên giới còn lại, tức là từ Sông Bé đến Gia Lai- Kon Tum , đã được hoạch định không phải qua con đường điều ước mà tuỳ theo yêu cầu của nhà cầm quyền thực dân Đông Dương Từ đầu thế kỷ XX đến những năm 30, tình hình lãnh thổ giữa Nam phần Trung Kỳ , Nam phần Lào và Đông Bắc Campuchia có nhiều biến động do việc thành lập một số đơn vị hành chính mới của nước này hay nước

Trang 22

kia Nhân những dịp đó, đường biên giới của các nước nói trên có sự thay đổi, cụ thể như sau:

- Từ sông Tonlê Tru (Tây Ninh) đến sông Đắc Plei được hoạch định thao ranh giới của đơn vị hành chính Đắc Lắc nói trên

- Đoạn từ Đắc Plei đến ngã ba biên giới không có văn bản rõ ràng

Người ta thấy đường biên giới đoạn này thể hiện trên bản đồ của Pháp, nhưng có đoạn có thể khác nhau từ bản đồ tỷ lệ này đến bản đồ tỷ lệ kia

Trang 23

Bản đồ biên giới Việt Nam – Campuchia dưới thời Pháp thuộc đến ngày nay

Tóm lại đoạn biên giới từ Tây Ninh đến điểm ba biên giới dài khoảng hơn

550 km chưa được văn bản song phương nào hoạch định và chỉ được thể hiện trên bản đồ

Toàn quyền Đông Dương nói rằng như thế là các quyền hành chính và cảnh sát đã được phân chia rõ ràng giữa Nam Kỳ và Campuchia, và:“Đương nhiên đây chỉ là hành chính và cảnh sát và vấn đề quy thuộc lãnh thổ của các đảo đó còn hoàn toàn bảo lưu”

Sau khi giành được độc lập, Vương quốc Campuchia cũng có vấn đề biên giới phải giải quyết với các nước láng giềng : Thái Lan, Lào, Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống )

Chính sách chung của Campuchia, dưới chế độ Sihanouk là độc lập, hoà bình, trung lập, với hy vọng có thể đứng giữa các nước phương Tây và các nước phương Đông làm một ốc đảo hoà bình trong một vùng Đông Nam Á chưa hề im tiếng súng từ khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc

** Như vậy, hai nhà nước Việt Nam và Campuchia đã bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao ngay từ cuối những năm 60 của thế kỉ XIX Trong thời kỳ thực dân, biên giới giữa hai nước chủ yếu là đường ranh giới hành chính, bao gồm hai phần: Đoạn biên giới giữa Nam kỳ và Campuchia được hoạch định bởi Thoả ước Pháp – Campuchia năm 1870 và Công ước Pháp – Campuchia năm 1873 Đoạn biên giới giữa Trung Kỳ và Campuchia không có văn bản xác định đường biên giới, chỉ có nghị định xác định ranh giới các tỉnh Trung Kỳ, chưa phân định cắm mốc Hai phần biên giới trên đã được chính quyền Pháp thể hiện trên 26 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản trong nhiều năm khác nhau Việc vua Campuchia 2 lần chấp nhận đường biên giới giữa Nam

Kì và Campuchia cho thấy chính phủ nước này mặc nhiên thừa nhận: Nam Kì

Trang 24

không phải là lãnh thổ của Campuchia Và sau khi Pháp biểu quyết giao lại cựu thuộc địa Nam Kì cho Việt Nam, và công nhận nền độc lập của vương quốc

Campuchia, điều này đã một lần nữa cho thấy Nam Kì không thuộc lãnh thổ Campuchia Theo luật quốc tế ngày nay, “chủ quyền của Việt Nam đối với Nam

Bộ là một điều đã được xác định, không thể tranh cãi vì trong việc chuyển giao lãnh thổ, quốc gia chuyển giao mất đi hoàn toàn chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ chuyển giao, còn quốc gia nhận chuyển giao bắt đầu có chủ quyền hoàn toàn đối với phần lãnh thổ chuyển giao từ thời điểm được chuyển giao”

1.3 Quan hệ Việt Nam – Campuchia dưới thời VN Cộng hòa

Việc Campuchia đi theo con đường hoà bình trung lập đã làm cho Mỹ phải đặc biệt chú ý tới tình hình ở nước này và Mỹ đã tìm mọi cách để cản trở

Campuchia Chính quyền Việt Nam cộng hòa lúc này mà đứng đầu là Ngô Đình Diệm đã trở thành một trợ thủ đắc lực cho Mỹ trong việc thực hiện các mưu đồ chống đối Campuchia Tháng 3/1956 đế quốc Mỹ và tay sai đã gây áp lực bằng cách phong toả kinh tế đối với vương quốc Campuchia Mỹ đã ra lệnh cho Ngô Đình Diệm đóng cửa biên giới làm cho nền kinh tế Campuchia gặp nhiều khó khăn Trước tình hình đó, nhân dân Campuchia đã cương quyết bảo vệ nền hoà bình độc lập trung lập của đất nước Đế quốc Mỹ phải chùn bước trước sức mạnh đoàn kết của nhân dân Campuchia và Ngô Đình Diệm phải bãi bỏ việc phong toả biên giới Campuchia Từ cuối năm 1956-1957 đế quốc Mỹ thực hiện việc ném đá giấu tay, xúi dục chính quyền Nam Việt Nam phá hoại nền lập của Campuchia Bọn Ngô Đình Diệm đã cấu kết với bọn phản động Thái Lan nuôi dưỡng bè lũ phản quốc Dương Ngọc Thành lập những đội vũ trang gọi là “Khơme tự do” để chuẩn bị lật đổ chính phủ vương quốc Campuchia trung lập, dựng nên nước “cộng hòa” kiểu Ngô Đình Diệm ở Campuchia rồi đưa Campuchia gia nhập khối quân sự xâm lược Đông Nam Á

Ngô Đình Diệm theo lệnh của đế quốc Mỹ không ngừng xâm phạm biên giới, đòi chính phủ Campuchia phải “hợp tác để dẹp phiến loạn cộng sản” Bị

Trang 25

chính phủ Campuchia cự tuyệt, chúng liền giở trò khiêu khích trắng trợn

26/6/1958, 3.000 lính của quân đội Ngô Đình Diệm đã tiến sâu vào nội địa

Campuchia 15 km và sau đó dời mốc biên giới vào trong phần đất Campuchia 2km Ngày 25/6/1958 Campuchia đã ra bản tuyên bố tố cáo hành động xâm lược của chính quyền Sài Gòn và yêu cầu Mỹ, “người bạn chung” của Nam Việt Nam

và Campuchia đứng ra dàn xếp đừng để chính quyền Ngô Đình Diêm tiếp tục có những hành động ngang ngược như vậy Chính phủ vương quốc Campuchia đã yêu cầu Mỹ xác nhận việc Ngô Đình Diệm dời mốc biên giới nhưng Mỹ làm ngơ, trong lúc đó thì báo chí Mỹ lên tiếng bênh vực cho Ngô Đình Diệm, công kích Campuchia Do đấu tranh của nhân dân Campuchia, ngày 5/8/1958 quân đội Sài Gòn phải rút khỏi Campuchia

Tiếp sau đó chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiếp tục làm tay sai cho Mỹ để thực hiện “kế hoạch Băng Cốc” nhằm chống đối công khai và gây chia rẽ trong hàng ngũ các tầng lớp nhân dân Campuchia, tổ chức những đội vũ trang trong và ngoài nước nhằm tiến tới lật đổ chính quyền vương quốc trung lập Nhưng chính phủ Campuchia đã sớm biết được kế hoạch Băng Cốc và quyết tâm đối phó

Những vụ bắt cóc tống tiền đều bị trừng trị đích đáng Chính quyền Ngô Đình Diệm giao cho Ngô Trọng Hiếu nhiệm vụ liên lạc với Đápchuôn, trực tiếp cung cấp tiền bạc, vũ khí và góp ý kiến Ngô Trọng Hiếu dã bí mật gặp Đápchuôn nhiều lần và giao cho hắn 270 kilô vàng, cung cấp nhiều điện đài thu phát và giúp thành lập đài phát thanh dùng làm “tiếng nói của nước cộng hòa Khơme tự do” Chính quyền Sài Gòn còn cử một số chuyên viên vô tuyến điện đến giúp cho Đápchuôn lắp và sử dụng các máy móc nói trên để liên lạc với Sài Gòn và đại sứ Mỹ ở

Campuchia Tuy nhiên “Kế hoạch Băngcốc” đã không thể thành công Ngô Trọng Hiếu bị đuổi về Sài Gòn, số vàng 270 kilo đã bị trưng dụng để xây dựng trường học Những lực lượng phản động do Mỹ dày công nuôi dưỡng trong nhiều năm để lật đổ nền trung lập Campuchia đã tan rã một cách thảm bại

Trang 26

Năm 1965, cục diện Đông Dương đã thay đổi theo chiều hướng không có lợi cho Mỹ Trước tình hình đó, Mỹ càng lồng lộn giật giây bọn phản động tay sai

ở Thái Lan, Nam Việt Nam tăng cường khiêu khích, xâm lược vũ trang từ bên ngoài vào đất nước Campuchia Chính quyền Sài Gòn dưới sự chỉ huy của đế quốc

Mỹ, lấy cớ “Campuchia ủng hộ Việt cộng”, “Trên đất Campuchia có căn cứ Việt Cộng” để mở cuộc tiến công vào lãnh thổ Campuchia Máy bay của đế cuốc Mỹ

và Ngụy quân Sài Gòn đã xâm phạm vùng trời và biên giới Campuchia, ném bom, rải chất độc hoá hoc xuống ruộng đồng, làng mạc Campuchia

Đầu năm 1970, trên chiến trường Việt Nam đế quốc Mỹ đang đứng trước nguy cơ thất bại Ngày 16/03/1970 theo đề nghị của Việt Nam dân chủ cộng hòa, hai bên Campuchia và Việt Nam dân chủ cộng hòa gặp nhau để bàn bạc xung quanh những việc đáng tiếc giữa hai bên Trong khi hai bên đang họp thì ở ngoài đường đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn cho tay chân lôi kéo một số người biểu tình chống Việt Nam dân chủ cộng hòa Cảnh sát Phnôm Pênh được lệnh trấn áp những người mà chúng cho là “phần tử cộng sản Việt Nam” Sau khi cuộc đảo chính ngaỳ 18/03/1970 diễn ra ở Phnôm Pênh, nhân dân Campuchia đã gặp phải một số khó khăn tạm thời nhưng lúc này cách mạng Campuchia lại dứng trước một cục diện mới Mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phản động với nhân dân Campuchia ngày càng trở nên gay gắt Khối đoàn kết chiến đấu giữa ba nước anh

em Việt Nam-Lào-Campuchia ngày càng thắt chặt hơn, vững mạnh hơn Với sự đoàn kết chiến đấu có hiệu quả và sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Việt Nam,

Campuchia đã tổ chức được cuộc chiến đấu và ngay từ đầu đã giành được những thắng lợi to lớn, toàn diện, tạo ra được những nhân tố đảm bảo cho cuộc chiến chống Mỹ đi đến thắng lợi hoàn toàn

Từ 1970-1973, để cứu nguy cho sự sụp đổ của chính quyền phản động Lonnol Mỹ đã thực hiện chiến dịch Khơme hoá chiến tranh với sự yểm trợ của quân đội Sài Gòn Nhưng sau hai tháng chiến đấu , quân dân Campuchia với sự giúp đỡ của quân giải phóng Việt Nam đã đẩy lùi được quân Mỹ Ngụy Trước thất

Trang 27

bại đó, 29/6/1970 quân Mỹ phải rút khỏi Campuchia để lại 20.000 quân Ngụy Sài Gòn để làm chỗ dựa cho chính quyền và quân đội Bị thất bại ở Phnôm Pênh, Mỹ

đã ra lệnh cho quân Ngụy ở Sài Gòn mở cuộc hành quân mới sang Campuchia Tuy nhiên cuộc hành quân này chẳng những không cứu nguy được cho Mỹ mà còn làm cho phòng tuyến Phnôm Pênh bị đe doạ nghiêm trọng Từ năm 1972 trở đi, thế và lực của Mỹ đã bị suy yếu, rệu rã, càng ngày Mỹ càng lâm vào tình trạng bế tắc ở chiến trường Việt Nam lẫn Campuchia

Từ đầu năm 1973, đế quốc Mỹ phải kí hiệp định Paris và hiệp định Viên Chăn chịu thua ở Việt Nam và Lào Còn ở Campuchia chúng chỉ mong duy trì được “ Khơme hoá chiến tranh” Song những nỗ lực tuyệt vọng của Mỹ không thể làm suy yếu được lực lượng cách mạng ở Campuchia Vào đầu năm 1975,

Campuchia đứng trước một thời cơ vô cùng thuận lợi, lực lượng kháng chiến áp đảo, kẻ địch bị bao vây khắp nơi Đặc biệt là ở Viêt Nam tập đoàn tay sai Nguyễn Văn Thiệu đang đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn Quân và dân Việt Nam đang tiến hành một cuộc tổng tiến công nổi dậy, giải phóng toàn bộ Việt Nam Trước tình hình đó, quân và dân Campuchia đã thừa thắng xông tới đánh một trận cuối cùng giải phóng toàn bộ Campuchia vào đầu mùa xuân 1975

**Như vậy, dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã làm tay sai đắc lực cho Mỹ trong việc chống phá cách mạng Campuchia, làm cho mối quan hệ giữa hai nước tiến triển theo chiều hướng xấu Tuy nhiên cùng với sự nỗ lực chiến đấu hết mình của quân và dân Campuchia và sự giúp đỡ

to lớn của quân giải phóng miền Nam, Campuchia đã đánh tan được âm mưu phá hoại của Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng được đất nước vào mùa xuân năm 1975

Tiểu kết chương I:

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có lịch sử quan hệ từ lâu đời, có đường biên giới chung trên đất liền dài 1137km, khởi đầu từ ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia và kết thúc ở điểm mút đường biên giới trên bờ

Trang 28

biển tiếp giáp giữa tỉnh Kiên Giang và Kămpốt Hai nước có rất nhiều sự tương đồng về địa lý, điều kiện tự nhiên nhưng qua nhiều thời kỳ lịch sử, quan hệ Việt Nam – Campuchia đã có nhiều biến dạng bởi sự tác động của bên này, bên kia hoặc của các thế lực từ bên ngoài vào, có lúc tạo thành những sóng gió bất lợi cho quan hệ hai nước Từ thuở ban đầu cho đến lúc thiết lập mối quan hệ vào ngày 24/6/1967 và đến những năm 1975, mối quan hệ giữa hai nước đã có những bước phát triền nhất định Nhất là trong thời kì chống thực dân và đế quốc Mĩ, mà đặc biệt là trong kháng chiến chống Mĩ, mối quan hệ hai nước càng trở nên khắng khít hơn do cùng sát cánh bên nhau chống kẻ thù chung Vấn đề biên giới giữa hai nước xuất phát từ việc Chân Lạp chuyển giao chủ quyền vùng Nam Bộ cho chúa Nguyễn, và kể từ lúc đó các chính phủ liên tiếp của Việt Nam đã thực hiện chức

năng quản lí nhà nước của mình đối với Nam Bộ một cách thực sự và liên tục (trừ

giai đoạn từ 1867 đến 1949 – lúc nước Pháp quản lí Nam Bộ) Trong thời kỳ thực dân, biên giới giữa hai nước chủ yếu là đường ranh giới hành chính, bao gồm hai phần: Đoạn biên giới giữa Nam kỳ và Campuchia được hoạch định bởi Thoả ước Pháp – Campuchia năm 1870 và Công ước Pháp – Campuchia năm 1873, đã được phân giới cắm mốc nhưng đến nay còn rất ít dấu tích trên thực địa Đoạn biên giới giữa Trung Kỳ và Campuchia không có văn bản xác định đường biên giới, chỉ có nghị định xác định ranh giới các tỉnh Trung Kỳ, chưa phân định cắm mốc Hai phần biên giới trên đã được chính quyền Pháp thể hiện trên 26 mảnh bản đồ Bonne

tỷ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản trong nhiều năm khác nhau Tới thời Việt Nam cộng hòa, vấn đề biên giới tạm lắng xuống và mối quan hệ giữ hai nước trở nên gắn bó hơn Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã làm tay sai đắc lực cho Mỹ trong việc chống phá cách mạng Campuchia Tuy nhiên quân giải phóng Miền Nam Việt Nam đã giúp đỡ và hỗ trợ rất nhiều cho nhân dân

Campuchia, sát cánh cùng với nhân dân Campuchia trong cuộc đấu tranh giành độc lập

Trang 29

CHƯƠNG 2:

HIỆN TRẠNG VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM – CAMPUCHIA

TỪ 1975 ĐẾN NAY 2.1 Vấn đề Việt Nam - Campuchia từ 1975 – 1979

a/Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam

Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam là một loạt các chiến dịch quân

sự do Việt Nam tiến hành nhằm trả đũa các hoạt động quân sự của quân Khmer

Đỏ tấn công vào biên giới Việt Nam trong các năm 1975-1978 Sau cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn Tranh chấp và xung đột biên giới xẩy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978

Ngày 30 tháng 4 năm 1977, Khmer Đỏ bắt đầu cho quân tấn công, đột kích làng mạc trên tuyến biên giới với Việt Nam ở Quân khu 9, đến tháng 8 tấn công tuyến Quân khu 7 và tháng 10 tấn công tuyến Quân khu 5 Quân Khmer Đỏ đã tàn sát cực kỳ dã man dân thường Việt Nam

Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Trung ương Đảng Cộng sản của Pol Pot họp bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn Trong nghị quyết của họ có ghi: "chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10-15 đến 20 năm Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 60 triệu người Việt Nam" Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới 15-20 km

Từ tháng 12 năm 1977 đến 14 tháng 6 năm 1978, phía Việt Nam bị thương vong 30.642 bộ đội, trong đó số chết là 6.902 người Hơn 30 vạn người phải tản

cư về phía sau, bỏ hoang 6 vạn ha đất sản xuất

Ngày 13 tháng 12 năm 1978, được sự trang bị và hậu thuẫn của Trung Quốc, Khmer Đỏ đã huy động 10 trong 19 sư đoàn (khoảng 50.000 đến 60.000

Trang 30

quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn đánh vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang), 1 sư đoàn đánh Trà Phô, Trà Tiến (Kiên Giang) Tại những vùng chiếm đóng, Khmer Đỏ đã thực hiện sách lược diệt chủng người Việt, như đã làm với người Khmer

Quân đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến, đồng thời tiêu hao sinh lực của quân Khmer Các hướng tiến quân của Khmer Đỏ bị chặn lại và không thể phát triển được Ngoại trừ Hà Tiên bị chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị chiếm

Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân, quân đội Việt Nam đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy quân Khmer khỏi các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng Tuy nhiên cuộc chiến chưa chấm dứt -Đầu tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam quyết định tiếp tục tấn công vào

Ngày 8 tháng 1, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia do Heng

Somrin làm Chủ tịch đã được thành lập với sự hậu thuẫn của Việt Nam

Trang 31

Cuối tháng 1 năm 1979 cuộc phản công kết thúc thắng lợi Tuy nhiên tàn quân Pol Pot vẫn tiếp tục chống cự và quấy nhiễu, khiến quân đội Việt Nam phải ở lại Campuchia hơn 10 năm mới rút hết

b/ Quan hệ Việt Nam-Campuchia thời kì này

Năm 1977 một phần cũng vì Campuchia tăng cường xung đột với Việt Nam

và vì quan hệ Việt-Trung lại càng căng thẳng hơn nên khó khăn trong việc sản xuất và thu mua lương thực thực phẩm năm Tháng giêng năm 1977 quân của Pôn pốt tấn công qua 6 tỉnh trong 7 tỉnh dọc biên giới và giết hại rất nhiều thường dân Tháng 4 năm đó quân Pôn pốt tiếp tục tấn công và giết hại thường dân như thế nữa Hậu quả là nhiều dân chúng trong các tỉnh nầy bỏ ruộng làng tránh đi nơi khác và những người trong các khu kinh tế mới bỏ chạy về Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lỵ khác

Theo một nhà nghiên cứu nước ngoài, giáo sư D R SarDesai của Đại Học California tại thành phố San Diego, sở dĩ Campuchia dám đánh Việt Nam như thế

là vì có sự ủng hộ và xúi dục của Trung Quốc Giáo sư này cho biết là từ năm

1975 đến năm 1978 Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazôka, súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng dầu đầy

đủ để trang bị cho một đội quân hai trăm ngàn người Trung Quốc cũng viện trợ Campuchia một khoảng tiền rất lớn, nhưng không biết chính xác là bao nhiêu, ngoài một tỷ đô la mà Trung Quốc đã hứa cho khi ông Sihanouk trở về Phnom Penh năm 1975 Thêm vào đó thì Trung Quốc đã gởi khoảng mười ngàn cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và rèn luyện quân đội Pôn pốt Ngược lại, đối với Việt Nam thì Trung Quốc cắt hết các nguồn viện trợ vì Việt Nam không chịu nghe theo đề nghị của Trung Quốc là hai nước cùng nhau lên án

bá quyền của Liên Xô Ông SarDesai viết thêm: “Trung Quốc cũng không vì

những lý do nhân đạo mà có một hành động đặc biệt Vì thế khi Việt Nam bị thiếu thực phẩm trầm trọng trong những năm 1976-1977 vì thiên tai, Trung Quốc không gởi một hạt lương thực nào qua biên giới phía nam Ngược lại, Liên Xô cung cấp

Trang 32

450.000 tấn thực phẩm trong tổng số 1,6 triệu tấn mà các cơ quan nước ngoài gởi gấp sang cho Việt Nam” Vì không có viện trợ của Trung Quốc, Nhà nước Việt Nam thiếu những hàng tiêu dùng cần thiết để trao đổi lương thực thực phẩm của nông dân, gây khó khăn thêm trong việc thu mua để cung cấp cho thành thị và cán

phương cắt đứt quan hệ với Việt Nam Vào khoảng giữa năm 1978 Việt Nam cũng biết là Mỹ đã xếp lại việc muốn lập quan hệ với Việt Nam

Đến cuối tháng 10 Mỹ đưa ra 3 điều kiện tiên quyết mà Mỹ biết Việt Nam không thể nào thi hành được trong hoàn cảnh lúc bấy giờ: Một là Việt Nam phải giải quyết một cách thỏa mãn tình trạng chiến tranh sắp nổ ra với Campuchia; hai

là Việt Nam phải cắt hết mọi quan hệ với Liên Xô; và ba là Việt Nam phải chặn các làn sóng dân di tản tư nước mình Ngược lại, vì sợ bị đánh gọng kềm từ Trung Quốc xuống và từ Campuchia qua mà không có ai giúp đỡ, đầu tháng 11 năm

1978 Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị và tương trợ với Liên Xô Ngày 15 tháng 12 năm 1978 Mỹ tuyên bố lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Ngày 25 tháng 12 Việt Nam đánh vào Campuchia để giải tỏa gọng kềm và nói rằng để chống bọn diệt chủng Pôn pốt và giải cứu nhân dân Campuchia Cuối tháng giêng năm 1979 Đặng Tiểu Bình sang thăm Mỹ và tuyên bố là sẽ “dạy Việt Nam một bài học” và muốn Mỹ “ủng hộ tinh thần” trong quyết định đó Một lần nữa Brzezinski cho biết

là ông ta sợ Ngoại Trưởng Vance khuyên tổng thống Mỹ bảo Đặng Tiểu Bình đừng dùng vũ lực nên Brzezinski cố gắng thuyết phục Carter ủng hộ quyết định của Đặng Tiểu Bình Để che đậy việc này và để khỏi mang tiếng, ngày 31 tháng

Trang 33

giêng Carter đưa cho Đặng Tiểu Bình một lá thư viết tay trong đó nói tại sao văn phòng tổng thống Mỹ không đồng ý việc Trung Quốc sắp đánh vào Việt Nam

Theo nhận định của ông Trần Quang Cơ: Như vậy chỉ qua 4 năm khi giải phóng đất nước, ta lại bị xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu ngay với Trung Quốc…Chiến tranh chống Mỹ tuy gian khổ khốc liệt song Việt Nam còn có được mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, còn trong cuộc chiến đấu chống diệt chủng Polpot thì Việt Nam hầu như hoàn toàn cô lập Các nước cùng khu vực lo sợ Việt Nam sau khi “hạ xong” Campuchia sẽ phát huy sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á Còn Trung Quốc ra sức vu khống “Việt Nam xâm lược Campuchia và có mưu đồ lập Liên Bang Đông Dương” để làm chủ cả Lào lẫn Campuchia…

Trong khi đó, Polpot là tập đoàn Maoit, phụ thuộc Trung Quốc và là đồng minh của Trung Quốc; Polpot có âm mưu đánh Việt Nam và Trung Quốc giúp chúng, cổ vũ chúng Polpot đánh Việt Nam vì mâu thuẫn nhiều mặt, chúng mang nặng đầu óc dân tộc cực đoan, có tham vọng lấy lại một số đất đai mà chúng cho

là của Campuchia; chúng nuôi ảo tưởng xây dựng một nước Campuchia mới "huy hoàng hơn thời đại Angkor" Chúng đánh Việt Nam là để kích động hận thù dân tộc chống Việt Nam nhằm thanh trừng nội bộ, đàn áp, diệt trừ các lực lượng chống đối mà chúng quy là tay sai Việt Nam Polpot đánh Việt Nam có bàn tay của Trung Quốc, nhưng chưa phải Trung Quốc trực tiếp đánh Việt Nam Dưới chế độ

"Campuchia dân chủ" trong khoảng những năm 1975 - 1979, chế độ Ăngkor do Pônpốt cầm đầu đã gây ra thảm kịch diệt chủng vô cùng tàn bạo, biến toàn bộ đất nước Campuchia thành cánh đồng chết đẫm máu và nước mắt đối với người dân lương thiện Chính trong những năm đó, Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia được thành lập ngày 2-12-1978 và đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử lãnh đạo phong trào nhân dân nổi dậy thống nhất thành một lực lượng đại đoàn kết dân tộc đấu tranh chống chế độ diệt chủng với sự giúp đỡ to lớn, chân thành, kịp thời

Trang 34

của Đảng, Chính phủ, Mặt trận, quân đội và nhân dân Việt Nam, đã giành thắng lợi hoàn toàn ngày 7-1-1979 cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng

Như vậy, nhân dân Campuchia đã vượt qua những khó khăn và thử thách

vô cùng to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã giành được những thắng lợi liên tiếp và đã kết thúc hoàn toàn một cuộc nội chiến kéo dài nhiều thập

kỷ, mang lại hoà bình trọn vẹn cho đất nước và đã thực hiện thắng lợi chính sách hoà hợp, hoà giải dân tộc, thực hiện cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội đến nay đã ba khóa, đặc biệt là cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa III đã diễn ra dân chủ, tự do, công bằng và an ninh

Về mặt đối ngoại, chính quyền Khơ-me đỏ dựa hoàn toàn vào Trung Quốc, công khai phản bội Việt Nam, đàn áp và đuổi Việt kiều về nước Chúng công kích tinh thần hằn thù dân tộc và lập ra 12 sư đoàn chủ lực, nhận viện trợ vũ khí và huấn luyện của sĩ quan Trung Quốc, chuẩn bị cho việc xâm lược Việt Nam Quân đội Campuchia xây dựng công sự, nhiều lần vượt biên giới, có lúc tiến đến cách thành phố Hồ Chí Minh chỉ 50km, gây ra những cuộc xung đột đẫm máu, làm cho Việt Nam luôn phải đối phó ở biên giới, không thể tập trung sức để khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, quan hệ Việt Nam-Campuchia trở nên căng thẳng

Sau chiến thắng của Khmer Đỏ và Việt nam vào giữa năm 1975, quan hệ giữa hai nước Việt nam và Campuchia bước vào một giai đoạn mới – với nhiều mâu thuẫn, nhiều tranh chấp xung đột cùng với sự “hà hơi tiếp sức” của Trung Quốc, Mỹ dành cho Campuchia và sự giúp đỡ của Liên Xô dành cho Việt Nam Nắm được chính quyền, kẻ thù cũ đã bị đánh bại, cái mặt ngoài đoàn kết giữa hai đảng cộng sản không cần che giấu nữa, để cho những bất hoà tranh chấp cũ lại bộc

lộ ra Chiếm được chính quyền vào cùng một thời gian, cùng muốn thực hiện chủ nghĩa Cộng sản, những lãnh tụ của cả hai đảng Cộng sản đã đưa ra những chính sách kinh tế tai hại, những đường lối ngoại giao vụng về, khiến cho những rắc rối giữa hai nước đã phải giải quyết bằng súng đạn ngay trong những ngày đầu tiên

Trang 35

Một phần có lẽ dùng “bạo lực cách mạng” để giải quyết mọi vấn đề là phương cách hữu hiệu duy nhất mà cả hai phe cùng biết

Thêm vào đó, tình hình càng trầm trọng thêm và diễn ra ở một quy mô rộng lớn hơn, vì ngoài những tranh chấp biên giới và khác biệt ngoại giao giữa hai nước,

sự sụp đổ của chính phủ miền Nam Việt nam và sự rút lui của quân đội Mỹ, đã tạo nên một khoảng trống làm thay đổi cán cân lực lượng, khiến cho Trung hoa càng ngày càng quan tâm đến tình hình trong vùng Dù trong những năm đó, Trung hoa đang trải qua những tranh chấp quyền lực nội bộ đẫm máu, nhưng mối quan ngại

về an ninh lãnh thổ không lúc nào bị suy giảm Bị áp lực nặng nề của Liên Xô ở biên giới phía Bắc, Trung hoa không bao giờ muốn có một nước Việt nam có

khuynh hướng thân Nga ở biên giới phía Nam, nhất là Việt Nam còn có mưu toan thống trị toàn cõi Đông Dương để trở nên một thế lực quân sự hùng mạnh Ở trong một hoàn cảnh tương tự như thế, đã từng biết rõ về khuynh hướng xâm lấn và bành trướng của Trung hoa từ hàng ngàn năm qua, nhất là người Cộng sản Việt nam dù ngoài mặt luôn miệng nói anh em thân thiết, lại càng biết nhiều hơn về Cộng sản Trung hoa, nên lúc nào cũng cảnh giác về mối đe doạ của nước láng giềng khổng lồ phương Bắc Họ không thể đứng yên để Campuchia gây rối loạn ở biên giới Tây Nam Riêng Campuchia, những định kiến và kinh nghiệm lịch sử đối với Việt nam đã ăn sâu trong đầu óc, khiến cho những lãnh tụ Khmer Đỏ rất nhạy cảm về vấn đề an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ Những nghi ngờ cảnh giác đó, cộng với sự kiêu ngạo mù quáng của những nhà lãnh đạo cộng sản cả hai nước đã khiến cho những xích mích mới đầu lẻ tẻ ở biên giới, trở nên ngày càng nghiêm trọng đưa đến sự xâm lăng của bộ đội Việt Nam vào lãnh thổ Campuchia và sự xua quân tàn phá những tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam của quân đội Trung hoa

Việt Nam sau bao năm nhờ có viện trợ dồi dào của cả Liên Xô và Trung Hoa để có thể theo đuổi chiến tranh, đang rất cần viện trợ tái thiết, nên đã cố gắng dung hoà với cả hai nước Nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, mục tiêu chiến lược của cả hai nước này đã thay đổi Liên Xô chỉ bằng lòng trợ giúp Việt Nam

Trang 36

nếu Việt Nam chịu nằm trong quỹ đạo Liên Xô, kể cả về kinh tế lẫn quân sự, để giúp Liên Xô khống chế Trung hoa và có một đầu cầu quân sự trong vùng nam Thái Bình Dương Còn Trung Hoa lúc đó ngày càng thân thiện hơn với Hoa Kỳ và đang coi Liên Xô là kẻ thù số một, không thấy có nhu cầu phải giúp đỡ một nước Việt Nam độc lập và không chịu về phe mình để chống lại Liên Xô

Năm 1977 miền Bắc bị mất mùa Tại miền Nam, chính sách kinh tế tập trung và đường lối quản lý vụng về của cán bộ miền Bắc đưa vào khiến cho mức sản xuất công nghiệp suy giảm hẳn so với trước kia Bị ép buộc đóng thuế hay vào hợp tác, nông dân miền Nam không chịu tăng gia sản xuất, đưa đến cảnh Việt Nam bị thiếu hụt lương thực Tháng 3-1977, Việt Nam phải kêu gọi Liên hiệp quốc và các quốc gia Cộng sản thân hữu viện trợ khẩn cấp Kết quả không đi đến đâu, không nước nào, kể cả Liên Xô chịu giúp Những cố gắng để hoà giải với hai nước lân bang cũng thất bại Tháng 2-1977, Thứ trưởng ngoại giao Hoàng Văn Lợi tới Phnom Penh đề nghị một Hội nghị Thượng đỉnh Đông Dương Đề nghị này chỉ gây thêm nghi ngờ và dĩ nhiên bị từ chối

Những tháng đầu năm 1977 là những tháng mà cả hai nước Việt Nam và Campuchia nín thở chờ đợi những diễn biến trong nội tình chính trị Trung Hoa sau cái chết của Mao Trạch Đông Sau khi phe quá khích “bè lũ bốn tên” bị thanh toán, với phe ôn hoà trở lại chính quyền, Việt Nam lạc quan hơn và Campuchia lo âu hơn vì Ieng Sary đã từng rất thân cận với Diêu Văn Nguyên, Chủ tịch Uỷ ban ngoại giao Trung ương Đảng, trong phe “Lũ bốn người” và ngày 30-9-1976, Ieng Sary còn gửi một điện văn sang Trung hoa, trong đó chúc mừng Hoa Quốc Phong

và Đảng Cộng sản Trung hoa đã đập tan được “bè lũ phản cách mạng, chống chủ nghĩa xã hội của Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình” Vì sự ủng hộ của Trung hoa quá cần thiết, chưa đầy một tháng sau, Bộ ngoại giao Campuchia đã phải muối mặt gửi một điện văn khác cho Hoa Quốc Phong, lần này thì ca tụng Hoa Quốc Phong

đã đập tan được lũ bốn người phản động và chống đảng” Sau bốn tháng chấn chỉnh nội bộ, đường lối ngoại giao của Trung hoa bắt đầu sáng tỏ Kết quả là, cũng

Trang 37

như những chính phủ trước, họ vẫn coi Liên Xô là kẻ thù số một, và trái với sự lo

âu của Campuchia và hi vọng của Việt Nam, Trung hoa vẫn tiếp lục ủng hộ đường lối đối ngoại chống Việt Nam của Campuchia

Tháng 2-1977, Bắc Kinh chính thức từ chối thư xin viện trợ của Việt Nam

và tháng 3, Ieng Sary yên lòng sang Bắc Kinh nối lại mối quan hệ thân thiết cũ Trong buổi tiệc tiếp tân do Lý Tiên Niệm khoan đãi phái đoàn Campuchia, sự hiện diện của tướng Vương Thăng Long, Tổng tham mưu phó quân đội Trung hoa cho thấy có sự hợp tác quân sự giữa hai nước Tháng sau, như để cảnh cáo Việt Nam, trong buổi tiếp tân tại Toà Đại sứ Campuchia kỷ niệm hai năm ngày chiến thắng, ngoại trưởng Hoàng Hoa công khai tuyên bố nước Campuchia Dân chủ đang bị kẻ thù phá hoại, và Trung hoa sẽ tiếp tục đường lối của Chủ tịch Mao Trạch Đông là sát cánh với những dân tộc nhỏ yếu, chống lại những hành động can thiệp và gây hấn của những nước lân bang Đã bảo đảm được sự hậu thuẫn của Trung hoa, hai tuần sau, đúng vào ngày Việt Nam đang kỷ niệm hai năm chiến thắng, quân đội Campuchia mở một cuộc tấn công quy mô vào những làng xã và thị trấn dọc biên giới Việt Nam thuộc tỉnh An Giang

Sau cuộc hội đàm ở Moscow, bang giao hai nước Việt Nam, Liên Xô bước vào một khúc quanh mới Mới mấy tháng trước bầu không khí còn lạnh nhạt Giờ đây, Lê Duẩn hết lời ca tụng và tỏ lòng biết ơn Liên Xô bằng cách nhắc nhở câu

“uống nước phải nhớ nguồn”, và để kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Mười của Nga, Việt Nam phát động “tháng Việt Xô hữu nghị” Tình hữu nghị này không phải là không có giá trị Trước hết, Việt Nam gia nhập ngân hàng quốc tế hợp tác kinh tế (IBEC) và Ngân hàng đầu tư quốc tế của Liên xô Việt Nam cũng bắt đầu gửi những vũ khí thặng dư sang Ethiopia và El Salvador Từ tháng 7-1977, nhiều phái đoàn quân sự hùng hậu của Liên Xô bay sang Việt Nam thăm viếng và

nghiên cứu những phi trường và hải cảng ở phía Nam như Đà Nẵng, Cam Ranh, Nha Trang, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, bắt đầu một giai đoạn hợp tác quân sự mới Sau khi đã tham khảo Liên Xô, ngày 18-7-1977, phái đoàn Đảng và Chính phủ

Trang 38

Việt Nam do Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng dẫn đầu, sang Viêng-chăn cùng Chủ tịch đảng Souphanouvong, Thủ tướng Kayson Phomvihan ký Hiệp ước Thân hữu

và Hợp tác, trong đó có đoạn “hợp tác chặt chẽ để tăng cường khả năng phòng thủ

và bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của hai nước” Hiệp ước chỉ là một hình thức chính thức và công khai hoá sự hiện diện của các đơn vị sư đoàn

325, 304, 968

Đối với Campuchia, khi đã cùng Lào ký Hiệp ước thân hữu, Việt Nam đã tiến thêm một bước nữa trong việc thi hành kế hoạch dài hạn Liên bang Đông Dương, và Campuchia càng thấy cần phải liên minh với Trung Hoa Quân đội các quân khu biên giới lại được lệnh báo động, chuẩn bị một cuộc tấn công tự vệ mới

Với sự thúc đẩy của Trung Hoa, nhằm tăng cường mặt trận ngoại giao và tuyên truyền, ngày 27-9-1977, Pol Pot lên đài phát thanh đọc một bài diễn văn dài năm tiếng đồng hồ, chính thức xác nhận vai trò lãnh đạo của mình và công nhận

Tổ chức (Angkar) chính là Đảng Cộng sản Campuchia Pol Pot đã không hề nhắc nhở gì đến vai trò của Việt Nam trong việc thành lập đảng cũng như sự giúp đỡ của Việt Nam trong chiến tranh Ngược lại Pol Pot nhắc lại tình trạng mất đất thường xuyên xảy ra trong những thời đại trước, khi Campuchia còn bị những giai cấp bóc lột thống trị, và hứa sẽ “không cho phép bất cứ ai muốn vẽ lại bản đồ của

xứ sở chúng ta” Ba ngày trước đó, để đoàn kết nội bộ đảng và nhân dân, cũng như

để chứng tỏ quyết tâm chống Việt Nam đối với Trung Hoa, quân đội quân khu Đông được lệnh tấn công vào lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Tây Ninh, và một ngày sau khi ra mắt, Pol Pot lên đường đi Bắc Kinh và Bình Nhưỡng, lần đầu tiên công du với tư cách là Chủ tịch đảng và Thủ tướng

Trong chuyến đi Trung Hoa lần này, Pol Pot đã được tiếp đón trọng thể Cờ

và biểu ngữ giăng đầy Thiên An Môn, hàng trăm ngàn học sinh xếp hàng dọc theo đại lộ Trường An Hoa Quốc Phong cùng hơn một nửa Uỷ viên Bộ Chính trị, trong

đó có cả Đặng Tiểu Bình vừa được phục hồi chức vụ lần thứ hai, ra tận phi trường tiếp đón Trong các bài diễn văn chính thức, cả hai nước đều ám chỉ đến sự đoàn

Trang 39

kết chống lại tham vọng đất đai của Việt Nam Tuần lễ sau, trong lễ ăn mừng quốc khánh Trung Hoa, Pol Pot đứng cạnh Hoa Quốc Phong trên khán đài ở Thiên An Môn để xem pháo bông Trong hàng ngũ quan khách, người ta thấy có Hoàng Văn Hoan, tuy đã mất chức trong Bộ Chính trị, nhưng vẫn còn là Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam

Việt Nam lúc đó vẫn cho rằng thái độ thù nghịch của Trung Hoa là do

những lãnh tụ trung thành với đường lối của Mao như Uông Đông Hưng, Trần Tích Liên, Vũ Đệ, Hoàng Hoa , và với sự phục chức lần thứ hai của Đặng Tiểu Bình vào tháng 7-1977, phe thực dụng sẽ thắng thế trở lại và sẽ mềm dẻo hơn đối với Việt Nam Vì thế mà sau trận tấn công quy mô thứ hai vào biên giới thuộc tỉnh Tây Ninh, Việt Nam vẫn tự hạn chế Một mặt họ không cho bộ đội được vượt biên giới phản công, cách chức viên tư lệnh quá khích Trần Văn Trà, mặt khác, họ vẫn gửi điện văn chúc mừng lễ ra mắt Đảng cộng sản Campuchia và bí mật gửi Phan Hiền sang Bắc Kinh nhờ Trung Hoa dàn xếp cho được gặp phái đoàn Campuchia Cuộc tiếp xúc không đi đến đâu, hai bên tố cáo nhau đã khiêu khích ở biên giới và

đã có những hành vi dã man, tàn bạo

Sau khi Phan Hiền về nước, như để cảnh cáo Trung Hoa đầu tháng 10-1977, Việt Nam công khai loan báo cuộc viếng thăm của phái đoàn quân sự Liên Xô do tướng Yepishev cầm đầu Cùng thời gian đó, Trung hoa bắt đầu ồ ạt chở chiến cụ

từ máy truyền tin đến đại bác 130 ly tới hải cảng Komphong Som để tăng cường cho quân đội Campuchia Trung hoa cũng cắt giảm những chuyến bay từ Hà Nội

đi Quảng Châu xuống từ hai chuyến xuống còn một chuyến mỗi tuần

Những tháng cuối năm, những trận đánh ở biên giới Việt Nam càng trở nên khốc liệt Trước khi mở chiến dịch phản công vượt biên giới đại quy mô, ngày 21-4-1977, Lê Duẩn qua Trung Quốc cầu hoà một lần chót Lê Duẩn đã phân trần với Hoa Quốc Phong là mặc dù có những vấn đề khác biệt, Việt Nam đã không bao giờ công khai chỉ trích Trung Hoa và cũng không bao giờ đứng hẳn về phía Liên

Xô để bài xích Trung Hoa Có lúc Lê Duẩn đã phải xuống giọng: “Chúng tôi như

Trang 40

những đứa em nhỏ, luôn luôn sát cánh bên các người anh” Tuy nhiên, những cố gắng của Lê Duẩn đã thất bại

Những khác biệt giữa hai bên trở nên công khai thù địch trong buổi tiếp tân

do Hoa Quốc Phong khoản đãi, trong đó Hoa Quốc Phong tuyên bố sẽ liên minh với tất cả những quốc gia chống bá quyền Đáp từ, Lê Duẩn cũng tuyên bố cương quyết không để cho bất cứ một lực lượng đế quốc hay phản động nào vi phạm đến độc lập quốc gia, đồng thời, Lê Duẩn cũng công khai ca ngợi Liên Xô Trước thái

độ đó, cả hai phe trung thành với Mao lẫn phe thực dụng trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung hoa đều nhất trí ủng hộ Khmer Đỏ Sự rạn nứt Việt - Hoa không còn cách nào hàn gắn Việt Nam phải đứng hẳn về phe Liên Xô, tìm kế hoạch trục xuất người Việt gốc Hoa, và phản công chống lại Campuchia một cách quyết liệt hơn

Tình hình biên giới Việt Nam –Campuchia mỗi ngày một căng thẳng do hành động khiêu khích của quân lính Campuchia An ninh của Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng đã buộc Chính phủ Việt Nam, sau nhiều lần cảnh báo, tháng 12/1978

đã phải đưa quân vào Campuchia truy kích những kẻ xâm lược hiếu chiến và giúp

đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của Khơ-me đỏ

Trung Quốc lập tức phản ứng bằng cách đưa một số quân đánh vào khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam (2/1979) định gây sức ép từ phía Bắc để buộc Viêt Nam phải rút quân khỏi Campuchia hòng cứu đồng minh Khơ –me đỏ khỏi nguy

cơ bị tiêu diệt Trong khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, Trung Quốc cùng với Mỹ đã ra sức lôi kéo các nước Asean đối đầu với các nước Đông Dương, giúp

đỡ cho tàn quân của bè lũ Pôn Pốt dưới danh nghĩa “Chính phủ Campuchia dân chủ” chống Việt Nam Thái Lan đã cung cấp “đất thánh” để Khơ-me đỏ thông qua

đó nhận viện trợ vũ khí, đạn dược từ bên ngoài

Liên Xô, Ấn Độ và một số nước khác ủng hộ Việt Nam, công nhận chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia nhưng cũng không muốn trực tiếp đối đầu với Trung Quốc và Asean Liên Xô đang tính hoà hoãn với Trung Quốc và điều quan

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm