Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Qua việc tìm hiểu các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến việc học tập con em của gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ, nhằm tìm
Trang 1-
NGUYỄN MINH TRUNG
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CHA ĐỐI VỚI CƠ HỘI HỌC TẬP CỦA CON EM TRONG GIA ĐÌNH (Nghiên cứu các gia đình có thân nhân là nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2-
NGUYỄN MINH TRUNG
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CHA ĐỐI VỚI CƠ HỘI HỌC TẬP CỦA CON EM TRONG GIA ĐÌNH (Nghiên cứu các gia đình có thân nhân là nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
MÃ NGÀNH : 603 130
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TS VĂN NGỌC LAN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 3Ngoài sự cố gắng của bản thân, để hoàn thành bài luận văn này, trong quá trình thực hiện tôi còn nhân được sự tận tình động viên, giúp đỡ, hướng dẫn của rất nhiều quý thầy cô, bạn bè và người thân Tôi xin được chân thành tri ân tới:
Cô Văn Ngọc Lan- là người trực tiếp hướng dẫn em trong ngay từ buổi đầu xây dựng và hoàn thành bài luận văn này Những lời hướng dẫn, khích lệ, động viên của cô giúp em có nhiều kinh nghiệm, trưởng thành hơn trong học tập nghiên cứu và còn cả trong thực tiễn cuộc sống
Quý thầy cô trong khoa xã hội học: sự hướng dẫn, giúp đỡ cùng những lời góp ý, dạy bảo em xin ghi nhớ Những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học cũng như trong đời sống thực tế sẽ tiếp tục giúp em bước vào những cuộc nghiên cứu khác trong tương lai
Bài luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót khuyết điểm Chính vì vậy
em rất mong được sự hướng dẫn góp ý của quý thầy cô để em có được những kiến thức quý báo, sự trưởng thành trong nghiên cứu khoa học, làm chìa khóa thành công cho những cuộc nghiên cứu sau này
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn đến UBND Huyện Bình Minh, UBND xã
Mỹ Hòa, bác Bùi Minh Quang Bí thư huyện Bình Minh, anh Minh trưởng ấp Mỹ Hưng 1 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành thu thập thông tin và tiếp xúc với người dân trong xã trong suốt quá trình thực địa
Cũng xin gửi lòng chân thành biết ơn đến các bạn Anh Thư, Mộng Huyền đã dành thời gian giúp đỡ, góp ý trong suốt quá trình thu thập thông tin, hoàn thiện bài luận văn
Và sau cùng không thể quên những tình cảm đặc biệt, thân tình của bà con xã
Mỹ Hòa, đặc biệt là các gia đình nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ Những người dân đã chân thành cung cấp những thông tin quý báu để tôi hoàn thành bài nghiên cứu này Xin gửi lời cảm ơn tha thiết
Xin cảm ơn chân thành!
Học viên: Nguyễn Minh Trung
Trang 4Trang
1.Lý do chọn đề tài - 2
2.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - 3
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu - 4
4 Phương pháp thu tập thông tin - 5
5.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài - 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - 7
I Tổng quan vấn đề nghiên cứu - 8
II Cách tiếp cận của đề tài - 15
II.1.Cách tiếp cận dựa trên quan điểm giới - 15
II.1.1.Tiếp cận vai trò giới - 15
II.1.2.Tiếp cận nhu cầu giới - 15
II.2.Cách tiếp cận lối sống - 16
II.3.Cách tiếp cận hệ thống - 16
III.Lý thuyết nghiên cứu - 18
III.1 Lý thuyết chức năng cấu trúc - 18
III.2 Lý thuyết chức năng về giới - 18
IV Các khái niệm công cụ - 19
IV.1.Gia đình truyền thống - 20
IV.2.Gia đình hạt nhân - 20
IV.3.Xã hội hóa - 21
IV.4.Vai trò và vai trò giới - 22
IV.5.Lối sống và lối sống phụ nữ nông thôn - 22
IV.6.Lao động - 23
IV.7.Giáo dục - 24
IV.8.Cơ hội tiếp cận giáo dục - 25
IV.9.Công bằng xã hội trong giáo dục - 25
IV.10.Xã hội học tập - 25
IV.11.Nghèo đói - 25
Trang 5V.Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích - 26
Chương II VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CHA ĐỐI VỚI CƠ HỘI HỌC TẬP CỦA CON EM TRONG GIA ĐÌNH 28 A.VÀI NÉT VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM - 28
A.I.Địa bàn nghiên cứu - 28
A.II.Mẫu nghiên cứu - 29
B.KẾT QUẢ PHÂN TÍCH - 31
B.I.Thực trạng về đời sống của các gia đình nạn nhân do sập cầu Cần Thơ hiện nay - 31
B.I.1 Dân số - 31
B.I.2.Mức sống - 31
B.I.3 Vai trò Giới trong chức năng kinh tế gia đình - 35
B.II Vai trò người cha, đối việc học tập của con em và đời sống tinh thần trong gia đình - 37
B.II.1.Thực trạng về giáo dục - 37
B.II.2 Vai trò Giới trong việc giáo dục và hộ hỗ trợ việc hoc cho trẻ - 39
B.II.3 Vai trò của người cha trong việc chăm sóc gia đình - 46
B.II.4.Vai trò người cha trong đời sống tinh thần của các thành viên trong gia đình - 54
B.III Những giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức đối với cơ hội học tập của con em trong gia đình - 59
B.III.1 Những giải pháp từ phía gia đình - 59
B.III.2.Những giải pháp từ phía nhà trường - 62
B.III.3 Những giải pháp từ phía nhà nước - 63
Chương III - 65
1.Kết luận - 65
2.Khuyến nghị - 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 70
Trang 61.Lý do chọn đề tài:
Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Những biến đổi xã hội trong bối cảnh hiện nay đã tác động đến các tổ chức xã hội, các thiết chế xã hội, các hệ thống xã hội, trong đó có gia đình Gia đình là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất, đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và xã hội Do những chức năng xã hội đặc thù của mình, gia đình đã góp phần quan trọng vào việc duy trì sự tồn tại của đời sống xã hội, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, xây dựng các chuẩn mực và lối sống văn hoá, giáo dục Gia đình là một mắt xích quan trọng trong mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, con người với làng xóm, cộng đồng, đất nước Do vậy, việc củng cố gia đình, xây dựng các quan hệ lành mạnh bao giờ cũng là cơ sở đầu tiên cho việc củng
cố xã hội, xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp Dù ở thời đại nào, người cha cũng có một vai trò không thể thiếu được bên cạnh người mẹ để cùng nhau xây đắp tổ ấm
gia đình, tạo tiền đề cho sự trưởng thành của con cái Người cha đóng vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển của trẻ từ khi mới sinh cho tới khi trưởng thành Trong gia đình trẻ có cha gần gũi gặp thuận lợi về mặt xã hội và học vấn hơn những trẻ không có cha hoặc có khoảng cách với cha Tuy nhiên, nếu như trong các xã hội truyền thống, hình ảnh người cha thường được nêu lên với những ảnh hưởng tích cực, in dấu đậm nét lên các thế hệ sau, thì trong xã hội hiện đại, nhiều người cha đang gặp khó khăn về việc thực hiện sứ mệnh cao cả của mình Sự khủng hoảng vai trò làm cha trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa do những biến cố của đời sống gia đình hiện đại như ly hôn, ly thân, đã làm biến đổi chức năng gia đình, cơ cấu gia đình, mô hình, tính chất gia đình, Duới tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, dân số, môi trường trong một số gia đình thiếu vắng người chồng, người cha tạo nên sự mất cân bằng trong đời sống tâm lý, tình cảm cũng như đời sống kinh tế của các thành viên trong gia đình Sự mất vai trò giới do nhiều nguyên nhân như gia đình ly hôn, ly thân hoặc cha mẹ bất hòa hay do một biến cố nào đó Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung khảo sát những gia nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ Sự kiện đã xảy ra vào sáng ngày 26/9/2007 tai nạn sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ Vụ sập cầu Cần Thơ là một trong những tai nạn cầu đường lớn nhất Việt Nam, số nạn nhân tử nạn trong vụ tại nạn: Tổng số bị nạn là
Trang 7128 người, trong đó có 46 người chết, có 7 người quê các tỉnh phía Bắc, số nạn nhân còn lại là tỉnh Vĩnh Long, đông nhất là xã Mỹ Hòa huyện Bình Minh Cuộc sống gia đình của những công nhân thuộc công trình cầu Cần Thơ gặp rất nhiều khó khăn, hầu hết các gia đình nạn nhân nghèo, trình độ học vấn thấp, ít đất sản xuất, thậm chí không có đất sản xuất, chủ yếu sống bằng nghề làm thuê, sống ở vùng nông thôn, khả năng tiếp cận các nguồn lực thấp Các nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ phần lớn là nam giới, họ chính là những lao động tạo thu nhập chính của gia đình Mặc dù các gia đình nạn nhân nhận được sự giúp đỡ của nhà nước, chính quyền và nhân dân
cả nuớc, trong đó có các tổ chức phi chính phủ về mặt kinh tế Tuy nhiên, những khó khăn vẫn đang đè nặng lên các gia đình nạn nhân Do có sự thay đổi về cấu , chức năng của gia đình sự thiếu vắng lao động trụ cột (người chồng, người cha, người anh ) dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế, sự hụt hẫng về tinh thần, sự xáo trộn
về đời sống tâm lý là điều không tránh khỏi Chính vì vậy, chúng tôi quan tâm đến
“Vai trò của người cha đối với cơ hội học tập của con em trong gia đình” qua các
trường hợp thân nhân bị nạn trong vụ sập cầu Cần Thơ ở xã Mỹ Hòa, huyện Bình
Minh, tỉnh Vĩnh Long làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Qua việc tìm hiểu các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến việc học tập con em của gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ, nhằm tìm hiểu vai trò giới trong cấu trúc gia đình tác động đến quá trình xã hội hóa các cá nhân của thế hệ tiếp theo
Trang 8Qua đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp các cơ quan chính quyền, các
tổ chức xã hội có những chính sách hỗ trợ kịp thời, bền vững về vấn đề học tập cho con em trong các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng đời sống hiện nay của các gia đình có thân nhân bị nạn
do vụ sập cầu Cần Thơ
Tìm những yếu tố thuộc về gia đình, xã hội có tác động trực tiếp đến việc học tập của con em các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ
3 Đối tuợng – khách thể - phạm vi nghiên cứu
3.a Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Vụ sập cầu Cần Thơ là một vụ tai nạn và các nạn nhân chủ yếu là lao động làm thuê trên công trường thi công của dự án cầu Cần Thơ Họ xuất thân trong những gia đình nghèo gần khu vực đang thi công, đó là nguồn lao động tại địa phương, họ là những lao động có trình độ tay nghề thấp, không được đào tạo Khi xảy ra tai nạn những công nhân lại là những lao động chính của gia đình cho nên có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế, tâm lý đặc biệt là vấn đề học tập con em của các gia đình nạn nhân Do đó, đối tuợng nghiên cứu của đề tài này là vai trò trụ cột của nam giới (chồng, cha, anh) trong gia đình tác động trực tiếp đến quá trình học tập của con em trong gia đình Khách thể nghiên cứu chính là vấn đề học tập của con em các gia đình nạn nhân sau vụ sập cầu Cần Thơ đang sinh sống tại xã Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
3.b Phạm vi nghiên cứu
Vụ sập cầu Cần Thơ có thể nói là một trong những tai nạn lớn nhất trong
ngành cầu đường Việt Nam từ trước đến nay, số lượng các nạn nhân trong vụ sập
cầu Cần Thơ tập trung ở những địa phương khác nhau Tuy nhiên, ở xã Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long là đông hơn cả Hậu quả để lại cho địa phương nói chung và gia đình các nạn nhân nói riêng rất nặng nề: các con em các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ có nguy cơ bị bỏ học và các gia đình các nạn nhân rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Do vậy, địa bàn nghiên cứu là xã Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long dựa trên những tiêu chí:
Trang 9Tìm hiểu vai trò trụ cột gia đình của người đàn ông (lao động chính tạo thu nhập) ảnh hưởng đến các chức năng của gia đình (chức năng giáo dục, kinh tế, xã hội hóa, tâm lý tình cảm…) và đặc biệt trong đó có vấn đề học tập của con em trong các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ
Đơn vị phân tích: cá nhân (phụ nữ từ 18 tuổi trở lên) và hộ gia đình
4 Phương pháp thu thập thông tin
Vụ sập cầu Cần Thơ là một tai nạn diễn ra bất ngờ cho nên có những xáo trộn trong đời sống các gia đình nạn nhân: về mặt kinh tế, tâm lý…thay đổi trong cấu trúc chức năng gia đình (người nam giới không còn là lao động tạo thu nhập chính trong gia đình) Để đánh giá một cách tổng quan, toàn vẹn đề tài kết hợp nhiều phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin khác nhau Truớc hết là phân tích các tài liệu sẵn có bao gồm các số liệu sẵn có liên quan đến các vấn đề của đề tài và đánh giá các kết quả sẵn có từ các tư liệu đó
Đề tài còn sử dụng phương pháp thu thập thông tin (kết hợp cả định tính và định lượng) như phỏng vấn sâu và quan sát không tham dự (Phỏng vấn bằng bản hỏi 80: 40 hộ gia đình nạn nhân có con đi học, 40 hộ gia đình không phải là nạn nhân và là gia đình đầy đủ có con đi học Phỏng vấn sâu 28 trường hợp: 14 hộ gia đình nạn nhân có con đi học, 14 hộ gia đình đầy đủ có con đi học)
5 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Gia đình có vai trò rất quan trọng trong vấn đề giáo dục, học tập của con cái Trong đó người đàn ông (lao động tạo thu nhập chính gia đình)
có vai trò quyết định đến việc học tập của con cái Cho nên, kiểm định các lý thuyết
xã hội học về gia đình, giáo dục trong điều kiện thực tiễn Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Gia đình các nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Nay lao động chính trong gia đình không còn thì vấn đề bảo đảm cho cuộc sống hàng ngày lại càng khó khăn hơn Con em trong các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ có nguy cơ bỏ học cao vì lý do kinh
tế gia đình khó khăn, tâm lý bị xáo trộn khi lực luợng lao động chính gia đình không còn Chính vì vậy, đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo chính quyền, cũng như các tổ chức đoàn thể để có thể đưa ra những biện pháp hỗ trợ kịp thời mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ bền vững có hiệu
Trang 10quả cho việc học tập con em trong các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ tại xã
Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Trang 11CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Điều kiện kinh tế tác động đến các yếu tố: chính trị, văn hoá xã hội… Và là một trong những động lực phát triển của các quốc gia Và điều đó lại càng có ý nghĩa quan trọng khi đặt trong một bối cảnh xã hội nhỏ hơn đó là phạm vi gia đình Thực tế cho thấy cùng với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế, các chức năng của gia đình được đề cao, đặc biệt là chức năng kinh tế và chức năng giáo dục Chúng ta thấy rằng cùng với việc tham gia công việc xã hội của phụ nữ tăng lên đã dẫn đến những quan niệm mới về vai trò của người cha trong gia đình, không chỉ người mẹ có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của trẻ mà người cha cũng là nhân vật trụ cột với vai trò không thể thay thế Trong cấu trúc quan hệ xã hội này, vai trò người cha và người mẹ mang tính tách biệt, nhằm bổ sung cho nhau Giới này không làm việc của giới kia.“Trong gia đình có sự phân chia vai trò hết sức rõ rệt, phần lớn chức năng phương tiện do người cha thực hiện còn phần lớn chức năng biểu hiện do người mẹ thực hiện” (Philip Slater, 1961) Những biến đổi trong vai trò của nữ giới và nam giới gắn liền với sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động tăng lên đã dẫn đến những quan niệm mới về vai trò của người cha trong gia đình Maxine P Atkinson và Stephen P Blackwelder thấy rằng vai trò của người cha đã giao động giữa hai cực: người cha là người cung cấp nguồn sống (providers) và người cha là người nuôi dưỡng (Nuturers)
Theo nghiên cứu của trường Đại học Illinois, nếu trẻ có cha dành thời gian
để hỏi chúng về chuyện học hành ở trường và các hoạt động, các mối quan hệ hàng ngày, trẻ sẽ làm mọi việc ở trường tốt hơn những trẻ không có niềm vui cùng cha Trong gia đình vai trò của cha mẹ trong giáo dục, con cái là yếu tố nền tảng trong quá trình phát triển nhân cách, định hướng học hành của trẻ Khi mất một trong hai vai trò của cha hoặc mẹ thì gia đình sẽ rơi vào khủng hoảng và cấu trúc trong gia đình sẽ thay đổi; trong đó có tác động đến vấn đề học hành của trẻ Và gia đình có thể sẽ rơi vào khủng hoảng tài chính khi lao động chính của gia đình không còn Ông Sha Zukang, phụ trách về các vấn đề kinh tế và xã hội của (Liên Hợp Quốc) LHQ phân tích: “Suy thoái kinh tế luôn đặt một gánh nặng quá sức lên vai người phụ nữ So với nam giới, phụ nữ phải làm nhiều công việc dễ bị tổn thương, nguy cơ
Trang 12thất nghiệp cao hơn, thiếu sự bảo vệ của xã hội và ít cơ hội tiếp cận cũng như quản
lý các nguồn lực kinh tế” Phụ nữ đang phải một mình chăm sóc cho cả gia đình của
họ với đồng lương eo hẹp hơn, nguồn thu nhập duy nhất của gia đình Họ phải đảm nhận công việc trong và ngoài xã hội, trong đó có việc đảm bảo cho con cái họ được cấp sách đến trường Vấn đề học hành của con em họ có nguy cơ gián đoạn khi lao động chính trong gia đình không còn Khi người cha không còn thì tác động rất lớn đến kinh tế (lao động tạo thu nhập), chức năng giáo dục, xã hội hóa, kết quả này là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển của gia đình và của cả cộng đồng Điều đó cho thấy rằng một kết quả tất yếu những gia đình công nhân lao động bị tai nạn trong vụ sập cầu Cần Thơ có thể cũng không nằm ngoài quy luật đó Các gia đình nạn nhân chịu tác động từ những nhân tố phân tích nêu trên
Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trong đó có kinh tế gia đình (lao động tạo thu nhập) và các yếu tố xã hội có liên quan giúp cho quá trình phân tích, thao tác hoá các nhân tố tác động đến gia đình của các nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ
I Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu gia đình, giáo dục đã được rất nhiều nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới nghiên cứu Chúng ta điểm qua một số tác giả và công trình có liên quan
độ cực kỳ vô trách nhiệm, nó chẳng những không phù hợp với kinh nghiệm lịch sử
mà còn đi ngược lại các lý thuyết kinh tế Tác giả cũng cho rằng hậu quả chính trị cũng không kém phần quan trọng Nghèo đói đẩy người dân vào những quan hệ bất bình đẳng, tức là những quan hệ làm người ta mất tự do và trở thành đối tượng không được che chở trước những hành động độc ác của kẻ khác Cuộc mưu sinh vất
Trang 13vả hàng ngày làm cho con người không còn thì giờ và sức lực tham gia vào đời sống chính trị của xã hội hay dân tộc Quyền lợi của họ không được nói tới và vì vậy mà
bị bỏ qua Người nghèo thường bị buộc phải dựa dẫm vào một “kẻ bảo trợ”, có thể
là một “cụ lớn” trong làng hay chủ khu “xóm liều” hoặc chủ thầu nào đó Không còn lựa chọn nào khác, họ buộc phải bán quyền lợi chính trị của mình cho người bảo trợ để mong được an toàn Khi các quan hệ chủ - tớ giữ vai trò chủ đạo, thì đó chính là nguy cơ nghiêm trọng đối với các nguyên tắc của quyền tự do cá nhân và những quyền bất khả xâm phạm của con người Tác giả đề nghị rằng hầu hết người nghèo không cần sự giúp đỡ trực tiếp, họ cần được bình đẳng trong cơ hội và được pháp luật bảo vệ để có thể thoát khỏi sự áp chế của những kẻ muốn tước đoạt thành quả lao động của họ.Vì vậy chính sách Nhà nước cần hướng tới là tạo điều kiện cho tất cả các công dân, đặc biệt là người nghèo, cơ hội sở hữu tài sản tư nhân Điều này
giúp người ta độc lập về tài chính và như vậy là củng cố được tự do cá nhân
David M Newman: Xã hội học về gia đình (sociology of families), Pine
Forge Press, Thousand Oaks, California – London –Newdehhi, 1999 Trong tác phẩm xã hội học tác giả đã trình bày các định nghĩa về gia đình, hình thức tồn tại của gia đình, vấn đề quyền cá nhân và trách nhiệm của gia đình, ảnh hưởng của vấn
đề chủng tộc đến đời sống gia đình …trong chương II “phạm vi xã hội của đời sống gia đình”, tác giả đã trình bày về mối quan hệ giữa đời sống gia đình với xã hội, vấn
đề giới, hôn nhân và lao động, quyền của cha mẹ và con cái Trong cuốn sách, các tác giả cũng đặt ra và phân tích nhiều vấn đề mới mẻ nảy sinh cùng với những điều kiện của xã hội hiện đại như mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục, bạo lực gia đình, đồng tình luyến ái…
I.1.b,Trong nước:
“Sự nghèo đói và môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long” của Lê Quang
Viết và Ts Bùi Văn Trịnh đại học Cần Thơ Trong đề tài tác giả đề cập đến thực trạng nghèo đói của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và đưa ra những giải pháp khắc phục và một số khuyến nghị Theo tác giả nghèo đói là do những nguyên nhân sau: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói ở ĐBSCL trong đó nguyên nhân do bản thân người nghèo bao gồm: thiếu vốn làm ăn; thiếu kiến thức, kinh nghiệm, thiếu đất canh tác; việc làm không ổn định hoặc không có
Trang 14việc làm; thiếu công cụ và phương tiện làm ăn; gặp những bất trắc, rủi ro trong cuộc sống (ốm đau, bệnh tật, tai nạn, hỏa hoạn ); trình độ học vấn thấp; đông con và kể
cả những trường hợp chây lười lao động, thậm chí mắc phải các tệ nạn xã hội (rượu chè, cờ, bạc) Đề tài này cung cấp cho chúng ta một số kiến thức về thực trạng nghèo đói ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đồng thời tác giả nhấn mạnh đến yếu tố giáo dục trong vấn đề nghèo đói Nghèo đói cũng làm hạn chế vai trò của các bậc phụ huynh trong vấn đề hướng dẫn học cho con em họ và cứ thế dẫn đến vòng tròn luẩn quẩn “nghèo => thất học => nghèo”
Trong tài liệu “Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải
pháp” - Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hưng - Nxb chính trị quốc gia, năm 2004
Nhóm tác giả cũng đề cập vấn đến những vấn đề đặt ra đối với giáo dục Việt Nam trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục vùng khó khăn, vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nội dung có phân tích yếu tố nghèo đói với giáo dục như
“dành nguồn vốn thích đáng cho việc giải quyết các nhu cầu cấp bách, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, để những vùng còn kém phát triển, nhất là các vùng cao, biên giới hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng có bước tiến nhanh hơn, dần dần giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình
độ phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng, coi đây là một trọng tâm chỉ đạo của các ngành các cấp” (Sđd, trang 172)
Trong nghiên cứu “Về tình hình học sinh bỏ học và đề xuất giải pháp khắc
phục thực trạng” của TS Trương Công Thanh –Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục
Phổ thông - Viện Nghiên cứu giáo dục (2009) Tác giả cho thấy những lý do học sinh các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bỏ học là điều kiện kinh tế địa phương còn khó khăn, gia đình nghèo, các em phải đi học xa trong khi phương tiện đến trường thiếu, thậm chí nhiều học sinh thiếu ăn, thiếu mặc nên không thể đến trường, gia đình không quan tâm cho con em học tập, học sinh nghỉ học để đi làm
và các biện pháp khắc phục trước mắt là giúp đỡ trực tiếp học sinh yếu kém Qua nghiên cứu tác giả cũng cho thấy yếu tố kinh tế và giáo dục có mối quan hệ mật thiết Cũng từ đó cho thấy mối quan tâm của gia đình, đặc biệt là vai trò của cha mẹ trong việc học tập của con em cũng bị tác động bởi yếu tố kinh tế Cùng với những
Trang 15phân tích như vậy, Trong tác phẩm “Gia đình học” – Do tác giả Đặng Cảnh Khanh
– Lê Thị Quý chủ biên, Nxb lý luận chính trị, 2007, được thể hiện trong phần 2
chương 9 có viết: “Mặc dù Việt Nam đã có chương trình giảm, miễn học phí cho trẻ
em ở bậc tiểu học thì sức ép kinh tế từ phía gia đình cũng được đặt ra nhất là trẻ em trong các gia đình nông thôn Trong các gia đình giàu hoặc kinh tế ổn định, trẻ em được dành nhiều thời gian để học hành, vui chơi hơn là lao động, còn trong các gia đình nghèo hoặc ở khu vực nông thôn, trong điều kiện kinh tế gia đình thấp hơn thành thị thì cách để cải thiện kinh tế, tăng thu nhập cho hộ gia đình thì đưa càng nhiều người tham gia lao động thì càng tốt Trẻ em ở các gia đình này không chỉ phải làm việc nhà mà còn phải lao động kiếm tiền để nuôi sống bản thân và giúp đỡ gia đình”
Trong các tác phẩm phân tích trên, cho thấy nhiều tác giả quan tâm đến vấn
đề giáo dục của các cá nhân trong gia đình Các nguyên nhân được quan tâm và phân tích cho thấy yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng có tác động mạnh đến giáo dục của các thế hệ trong gia đình, thiếu giáo dục cũng là nguyên nhân chính của sự nghèo đói Tuy nhiên, trong các tác phẩm đó chưa có nghiên cứu sâu về vai trò giới trong gia đình đối với việc học hành của con cái
Tác phẩm “Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện
nay” – Lê Thi – Nxb khoa học xã hội, 2006 Gồm 3 chương, nội dung đề cập đến
các vấn đề: văn hoá ứng xử và việc tổ chức cuộc sống gia đình; gia đình trẻ về quan niệm tự do và trách nhiệm; tổ chức cuộc sống và phát huy truyền thống gia đình; các vấn đề đặt ra trước gia đình Việt Nam hiện nay; mối liên hệ giữa cá nhân gia đình
và xã hội; hôn nhân và gia đình Việt Nam trước những biến động của thời đại…Trong chương 2, tác giả bàn về quyền quyết định của nam giới trong gia đình
và nhấn mạnh đến vai trò quyết định của người đàn ông trong gia đình “ Nói đến vai trò chủ hộ, đại đa số chủ hộ là nam giới Tỷ lệ phụ nữ làm chủ hộ chỉ khoảng 25 %
và thường là ở gia đình goá chồng, phụ nữ đơn thân, nuôi con một mình…Người chủ hộ là đại diện cho gia đình để giao tiếp và giải quyết các vấn đề lớn của gia đình với tổ chức chính quyền và các tổ chức xã hội khác Người chủ hộ, chủ gia đình là người quan trọng nhất và thường do người nam nắm giữ Từ đó việc đứng tên chủ
sỡ hữu nhà thì là 74,4 % là chồng đứng tên…” (Sđd tr127) Tác giả Vũ Tuấn Huy
Trang 16với tác phẩm “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia đình và những yếu tố ảnh hưởng”–
Nxb khoa học xã hội, Hà Nội 2003, chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng làm mâu thuẫn
vợ chồng như: mâu thuẫn vợ chồng xảy ra liên quan đến thu nhập của hộ gia đình và việc làm của nguời vợ và người chồng, mâu thuẫn vợ chồng về vấn đề nghề nghiệp của người vợ hoặc người chồng cũng là biểu hiện gián tiếp mâu thuẫn về thu nhập,
và mâu thuẫn trong việc nuôi dạy con cái Trong đó, những vấn đề ứng xử vợ
chồng, nuôi dạy con cái và kinh tế gia đình là những lĩnh vực tiềm năng nhất xảy ra mâu thuẫn vợ chồng: khi kiểm soát sự khác biệt theo nhóm tuổi và mức sống hộ gia đình, mâu thuẫn vợ chồng kinh tế phụ thuộc vào qui mô gia đình Những gia đình đông con có xu hướng mâu thuẫn vợ chồng tăng lên Tuy nhiên, ảnh hưởng của yếu
tố số con chỉ tác động mạnh đối với gia đình có mức sống trung bình trở xuống Trái lại, đối với những gia đình có mức sống khá trở lên ảnh hưởng của số con đến mức
độ mâu thuẫn vợ chồng về phương diện kinh tế là không đáng kể
Tác phẩm “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa” – Lê Ngọc Văn
chủ biên – Nxb giáo dục 1996 Công trình này trình bày những đặc điểm của quá trình chuyển tiếp chức năng xã hội hóa của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Những cố gắng đứng trên quan điểm xã hội học để phân tích, đánh giá và
dự báo các hiện tượng, các xu hướng diễn ra trong đời sống gia đình nói chung và chức năng xã hội hóa của gia đình nói riêng Tác giả cho rằng: trong xã hội truyền thống trước đây cũng như trong xã hội hiện đại, gia đình vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Tuy nhiên, trong thời kỳ hiện đại, quá trình xã hội hóa cá nhân đã có xu hướng chuyển sang cho nhà trường và các tổ
chức xã hội nhiều hơn “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại” - Trần
Thị Kim Xuyến - Nxb Thống kê Hà Nội, 2002 Trong đó đã đề cập đến những biến đổi của hình thái hôn nhân và gia đình, chỉ ra những khác biệt giữa hôn nhân trong
xã hội truyền thống và hôn nhân trong xã hội hiện đại, đồng thời chỉ ra những khủng hoảng của hôn nhân và gia đình dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước hiện nay
Các tài liệu nêu trên bàn về những biến đổi và các mẫu thuẫn trong gia đình, những tác động của sự biến đổi và những mâu thuẫn đó cũng là những tác nhân tác động đến quá trình xã hội hóa các cá nhân trong gia đình và đặc biệt là trẻ em
Trang 17Ngoài ra, các tác giả còn cho thấy vai trò giới trong sự quyết định các vấn đề của gia đình
I.2 Bài tạp chí:
Bàn về vai trò giới trong gia đình có nhiều bài đăng trên các tạp chí khoa học Trong đó phần lớn bàn về vai trò của phụ nữ trong gia đình Tuy nhiên, Tạp chí xã
hội học số 4, 2002 có bài “Vai trò của người cha trong gia đình” của TS Vũ Tuấn
Huy Đây là kết quả nghiên cứu ở 3 tỉnh Yên Bái, Huế và Sóc Trăng Bài báo cho thấy rằng người chồng nói chung đóng góp thu nhập nhiều hơn người vợ Ngay cả trong trường hợp người phụ nữ đóng góp đáng kể trong thu nhập thì họ vẫn xem người chồng là trụ cột kinh tế, nghề nghiệp của bản thân phụ nữ chỉ là phụ so với các công việc trong gia đình Một quan niệm còn khá phổ biến khi cho rằng người cha là trụ cột trong kinh tế gia đình Vai trò cung cấp nguồn sống của người cha được đánh giá cao hơn là vai trò nuôi dưỡng, đặc biệt trong điều kiện người vợ và con cái phụ thuộc về kinh tế và gia đình mở rộng nhiều thế hệ
Cũng bàn về vai trò giới trong gia đình, các tác giả sau thường chỉ phân tích vai trò người phụ nữ và họ nhấn mạnh đến vai trò người phụ nữ trong gia đình,
thậm chí quyền quyết định cũng có phần nào đã nghiên về phụ nữ Nhóm các tác
giả [Giáo sư xã hội học John Knodel, Trung tâm Nghiên cứu Dân số (Đại học Michigan, USA) và Phó giáo sư xã hội học Bussarawan Puk Teerawichitchainan, Trường Khoa học xã hội (Đại học Quản lý Singapore) Phó giáo sư, TS Vũ Mạnh
Lợi và Phó giáo sư TS Vũ Tuấn Huy], Viện Xã hội học trong bài “Phân công giới
trong lao động gia đình ở Việt Nam” Kết luận là các biến đổi xã hội lớn đã diễn ra
ở Việt Nam trong những năm qua đã không có tác động âm tính tới vai trò giới Phụ
nữ vẫn tiếp tục đóng các vai trò lớn trong công việc nội trợ và chăm sóc con cái, nhưng mức độ tham gia của nam giới cũng đang tăng lên Giữa các miền, sự khác biệt về vai trò giới cũng có nhưng khiêm tốn Học vấn và việc làm của người vợ đã
tỏ ra có tác động ít tới đóng góp của chồng trong việc nhà
Cùng với nhận định trên, tác giả Nguyễn Linh Khiếu trong bài “Vị thế của
phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình” phân tích vai trò phụ nữ và quyền quyết
định công việc sản xuất kinh doanh, quyền quyết định các khoản chi tiêu quan trọng
trong gia đình, quyết định số con trong gia đình Trong bài “gia đình và phụ nữ
Trang 18trong văn hóa xã hội nông thôn” Nguyễn Linh Khiếu cho rằng, tác động biến đổi
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến đời sống của gia đình nông thôn
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa trong bài “Người phụ nữ và gia đình nông thôn với việc giáo dục tri thức và định hướng nghề nghiệp cho con”, Tạp chí
Khoa học về Phụ nữ, số 2/2000 nhấn mạnh vai trò của người mẹ ở trong giáo dục tri thức và định hướng nghề nghiệp tương lai cho con trong các gia đình có đầy đủ cha
mẹ ở nông thôn Việt Nam
Nguyễn thị Kim Hoa còn khẳng định vai trò của người mẹ trong việc giáo
dục con cái qua bài “Vai trò của phụ nữ Nông thôn trong chức năng giáo dục con
cái” thuộc đề tài cấp trường, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn HN, năm 1997-
1998 Tác giả cho rằng vai trò của phụ nữ nông thôn thực hiện các chức năng của gia đình, tập trung vào chức năng giáo dục con cái ở nông thôn Quá trình xã hội hoá trẻ em trong gia đình thông qua vai trò của người mẹ để hình thành nhân cách cho trẻ
Những công trình nghiên cứu về gia đình, sự biến đổi của gia đình mà tác giả tiếp cận được, cho thấy phần lớn các tác giả quan tâm chủ yếu đến chức năng gia đình, sự biến đổi các chức năng gia đình, mô hình gia đình cũng như đề cập đến vai trò của giới trong gia đình trên nhiều lĩnh vực: kinh tế gia đình, giáo dục con cái
Họ cũng phân tích sự khác nhau giữa gia đình truyền thống và gia đình hiện đại dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể đến quá trình phát triển, biến đổi chức năng trong gia đình khi gia đình mất đi vai trò trụ cột của nam giới cũng như chưa
có nghiên cứu sự tác động của vai trò người đàn ông trong gia đình đối với quá trình giáo dục (học tập) của con cái khi gia đình mất vai trò lao động trụ cột Đó là lý do
để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Vai trò của người cha đối với cơ hội học tập
của con em trong gia đình”
Trang 19II Cách tiếp cận của đề tài
Để thực hiện đề tài tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận sau:
Phương pháp tiếp cận dựa trên quan điểm giới
Phương pháp tiếp cận lối sống để nhìn thấy sự tác động của các yếu tố: gia đình, học vấn, kinh tế, văn hoá, xã hội
Phương pháp tiếp cận hệ thống để xem xét sự tác động biện chứng giữa các
yếu tố và bộ phận của hệ thống xã hội
II.1.Cách tiếp cận dựa trên quan điểm giới
Tiếp cận vai trò giới:
Dựa trên vai trò giới được thể hiện trong gia đình là những công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ và nam giới thực tế đang làm, qua đó hiểu được những công việc mà xã hội mong đợi từng giới phải thể hiện cũng như vị thế của họ trong những công việc đó, đặc biệt là đối với người phụ nữ
Trên thực tế, người phụ nữ thường làm ba nhóm công việc chính: lao động kiếm sống, lao động nuôi dưỡng và công việc cộng đồng
Còn đối với nam giới là những công việc: lao động kiếm sống và công việc cộng đồng Nam giới ít làm các công việc nuôi dưỡng vì xã hội hầu như không trông chờ người đàn ông tham gia các công việc ấy
Tiếp cận nhu cầu giới:
Nhu cầu giới là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại của người nam và người nữ Nếu những nhu cầu này được đáp ứng sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình
Là con người, nam nữ đều có nhu cầu giống nhau như ăn mặc, học hành nhưng với tư cách giới thì sẽ có sự khác nhau về nhu cầu Nhu cầu của người nữ thì
cụ thể, thiết thực gắn với gia đình vì họ chăm lo tái sản xuất Còn đối với người nam thì nhu cầu trừu tượng, gắn với công việc và mang tính hướng ngoại vì họ lo sản xuất
Có những nhu cầu khác nhau về giới là vì do sự kỳ vọng xã hội khác nhau vào từng vai trò của họ
Với cách tiếp cận này giúp nhìn nhận được những nhu cầu cụ thể của người phụ nữ trong gia đình với những biến cố của xã hội nông thôn ngày nay
Trang 20II.2.Cách tiếp cận lối sống
Trong xã hội con người luôn luôn chịu sự chi phối bỡi những điều kiện khách quan và chủ quan xung quanh họ
Điều kiện khách quan là những điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện chính trị
xã hội, điều kiện tư tưởng văn hóa và xã hội, và điều kiện về nhân khẩu sinh thái
Điều kiện chủ quan là những điều kiện về tâm lý xã hội, tình trạng chung của
ý thức con người và thái độ của họ đối với môi trường xung quanh Trong đó bao gồm cả những tâm thế xã hội, lợi ích và các định hướng giá trị quyết định lập trường sống và hành vi của con người
Những điều kiện khách quan và chủ quan này luôn luôn gắn liền với đời sống của con người và chi phối hoạt động của con người bằng cách này hay cách khác, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác
Lối sống là cách thức cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình, là khả năng lựa chọn những phương thức cụ thể của hoạt động sống Và sự lựa chọn đó được xác định trên cơ sở con người biết đánh giá hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống
Đây là cách tiếp cận để tìm hiểu trong những điều kiện sống khác nhau, thay đổi theo thời đại thì người phụ nữ cũng sẽ có những lối sống và phương thức hành động khác nhau để phù hợp với điều kiện hiện tại đó
II.3.Cách tiếp cận hệ thống
Hệ thống được hiểu là tổng hoà các thành tố, các thành phần, các bộ phận và mối quan hệ giữa chúng theo một kiểu nào đó tạo thành một cấu thể toàn vẹn, hoàn chỉnh Như vậy, khi nói đến một hệ thống bất kỳ nào thì cũng bao gồm các bộ phận, các kiểu quan hệ và kiểu cấu trúc
Xã hội luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn Nó là một hệ thống chứa đựng các phân hệ (còn gọi là những hệ thống con hay là tiểu hệ thống) Việc phân ra thành hệ thống nội hay hệ thống ngoại chỉ mang ý nghĩa tương đối vì còn tùy thuộc vào mối quan hệ so sánh của các tiểu hệ thống Nếu so sánh các tiểu hệ thống này trong mối quan hệ đồng nhất, cùng nằm trong một cơ cấu và cùng hướng tới một mục tiêu chung phải giải quyết thì chúng được coi là hệ thống nội nằm trong
hệ thống lớn Còn nếu so sánh các tiểu hệ thống này trong một hệ thống rộng lớn
Trang 21bao gồm các tiểu hệ thống và đến lượt chính nó lại là một tiểu hệ thống nằm trong
hệ thống lớn nữa thì chúng được coi là hệ thống ngoại
Hệ thống có thuộc tính toàn vẹn, xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô cũng luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn Đối với các hệ thống như thế đòi hỏi phải được xem xét trong một sự thống nhất, điều đó có nghĩa là mỗi một sự kiện hiện tượng hay quá trình xã hội của chủ thể xã hội, mỗi một phương diện xã hội ở một tầm mức khác nhau phải được đặt dưới một nhãn quan đa diện, biện chứng và thống nhất Chúng phải được đặt trong một cấu thể toàn vẹn, hữu cơ bỡi lẽ tất cả mọi hoạt động cấu thành nên một hệ thống đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một cấu trúc nhất định Chính vì vậy nên mỗi sự thay đổi của các bộ phận hay cấu trúc của hệ thống đều dẫn đến làm thay đổi hệ thống đó
Lối sống được xem như một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống lớn của xã hội,
nó chịu sự tác động của xã hội ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, có thể đó là quá trình công nghiệp hoá đất nước, những chính sách về kinh tế, chính sách xã hội, đối với phụ nữ nông thôn nghèo, gia đình phụ nữ đơn thân, hay các gia đình vắng bóng người chồng ở một khía cạnh khác thì lối sống lại được nhìn nhận như một hệ thống bao gồm các bộ phận cấu thành nên nó (tương ứng với tiểu hệ thống con hay tiểu hệ thống) Ta có thể hiểu nó là các hoạt động sống của con người được đặt trong một thể thống nhất với các điều kiện sống và tình trạng sống của các hoạt động đó Cụ thể ở đây là hoạt động lao động có thu nhập, hoạt động văn hoá tinh thần, hoạt động chính trị xã hội Và trong đề tài chúng ta nghiên cứu trong trường hợp phụ nữ phải hoạt động không có người chồng bên cạnh Các hoạt động này có mối tương tác lẫn nhau, hoạt động này biến đổi sẽ kéo theo hoạt động khác Đồng thời các hoạt động
có liên quan đến yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của hệ thống
Xã hội là một hệ thống gồm nhiều bộ phận có mối quan hệ thống nhất với nhau Trong đó gia đình được coi là một tiểu hệ thống của xã hội Trong tiểu hệ thống gia đình có cơ cấu, cấp độ và thứ bậc nhất định Mỗi gia đình có mục đích, có
tổ chức và luôn luôn vận hành phát triển Gia đình đó có những mối liên hệ về không gian và chức năng riêng ở bên trong và cả bên ngoài Những mối liên hệ này
có thể linh hoạt hay cứng nhắc giữa các thành viên và hệ thống khác nhau
Trang 22Khi coi gia đình là một hệ thống trong xã hội, việc tìm hiểu vai trò của người nam cũng như người nữ trong gia đình Chúng ta phải đặt họ trong mối quan hệ khác của hệ thống xã hội nói chung với những gia đình khác cùng với những hoạt động bên ngoài của họ
III Lý thuyết nghiên cứu
III.1.Lý thuyết chức năng - cấu trúc
Lý thuyết chức năng cấu trúc cho rằng: xã hội là một hệ thống bao gồm nhiều
bộ phận khác nhau, mỗi một bộ phận giữ một vai trò nhất định trong xã hội và vận hành một cách bình thường để thực hiện một số yêu cầu và thỏa mãn một số nhu cầu nào đó trong xã hội
Các hiện tượng xã hội, các quá trình xã hội đã tồn tại bỡi vì chúng có những chức năng tích cực nào đó để thực hiện trong xã hội Điều đó có nghĩa là sự tồn tại của chúng là nhằm để thực hiện một chức năng xã hội nào đó kể cả chúng tích cực hay tiêu cực trong con mắt người đời.1
Trong gia đình cũng vậy mỗi người đều có một vai trò riêng phù hợp với vai trò giới Dù xã hội có thay đổi như thế nào thì cũng không làm biến đổi được những vai trò nhất định của người chồng hay người vợ trong gia đình Nếu có sự thay đổi thì có thể người phụ nữ có thể tự do hơn hoặc gánh nặng hơn khi có sự thay đổi vai trò giữa vợ và chồng khi không tính đến sự can thiệp của các yếu tố khoa học kỹ thuật…cũng trong quan niệm của thuyết chức năng, sự phân công lao động trong gia đình hướng người vợ và người chồng theo những công việc nhất định phù hợp với điều kiện và khả năng của mỗi người và phù hợp với nhu cầu của xã hội
III.2 Lý thuyết chức năng về giới 1
Thuyết chức năng về giới định vị nhiều nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong cấu trúc gia đình theo chế độ gia trưởng ở hầu hết mọi xã hội
Chức năng của gia đình là xã hội hóa trẻ con và tân tạo về mặt tình cảm các thành viên trưởng thành của nó, các hoạt động chủ yếu đối với sự cấu kết xã hội và
sự tái sản xuất giá trị Vị trí cơ bản của người phụ nữ trong cấu trúc gia đình như là sản xuất chính của các chức năng cốt yếu đó
1
Vũ Quang Hà, các lý thuyết xã hội học, tập 1, Nxb giáo dục, 1999, tr30.
Trang 23Vai trò của phụ nữ là phải định hướng được cách thức để thể hiện tình cảm, những lối ứng xử, phản ứng sao cho trong các quan hệ gia đình luôn có tình cảm Điều đó làm ảnh hưởng đến các chức năng trong mọi cấu trúc xã hội khác của họ, đặc biệt là kinh tế Người phụ nữ thường được hướng tới những nghề nghiệp mang tính tình cảm và bị hạn chế về việc tham gia kinh tế của gia đình
Tuy nhiên, những chức năng trên không gây ra một hệ thống phân tầng hạ thấp giá trị và bất lợi cho phụ nữ
Các cấu trúc và điều kiện xã hội có ảnh hưởng tới sự bất bình đẳng về giới trong mọi xã hội và nền văn hóa Trong đó bao gồm sự phân biệt giới tính về vai trò,
ý thức hệ gia trưởng, gia đình và tổ chức lao động, về sinh sản và các công việc trong gia đình như nội trợ, tạo thu nhập
Nội trợ cũng được coi là lao động, nó có những sự ban thưởng vật chất vượt khỏi phạm vi nội trợ: nuôi dạy con cái… và tạo thu nhập Đó được coi là những biến
số Sự tương tác giữa các biến số này quyết định mức độ sự phân tầng giới tính, vì chúng định khuôn các cấu trúc chủ yếu của sự nội trợ và sự sản xuất kinh tế và mức
độ mà phụ nữ di động giữa hai lĩnh vực này
Lý thuyết được áp dụng để hiểu rõ hơn những vai trò mà phụ nữ đảm đương trong gia đình, cũng như vị thế của họ trong công việc đó
IV Các khái niệm công cụ
Có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, theo tác giả Trần Thị Kim Xuyến trong cuốn “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại” thì để tìm ra được những định nghĩa tối ưu về gia đình và thống nhất với nhau là một yêu cầu không dễ
gì thực hiện được Sau đây tôi xin trích nêu một vài định nghĩa tiêu biểu
Định nghĩa gia đình được Murdock phát biểu như sau: Gia đình là một nhóm
xã hội được xác định bởi một nơi trú ngụ chung, sự hợp tác và tái sản xuất về kinh
tế, gồm những người trưởng thành, trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan
hệ tình dục được xã hội công nhận, với một hoặc nhiều đứa trẻ là con đẻ hoặc con nuôi của những người trưởng thành có quan hệ với nhau
Theo tác giả E W Burgess và H J Locker thì gia đình là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và những mối quan hệ con nuôi tạo thành một hộ đơn giản, tác động lẫn nhau và thống nhất với
Trang 24nhau trong vai trò tương ứng của họ là người chồng và người vợ, người mẹ và người cha, anh em và chị em, tạo nên một nền văn hoá chung
Một định nghĩa khác về gia đình được Trost phát biểu như sau: Một gia đình
là một nhóm bao gồm ít nhất một đơn vị “bố mẹ - con cái” (tương ứng với quan hệ
bố mẹ - con cái) hoặc ít nhất một đơn vị bạn đời (tương ứng với quan hệ chồng - vợ) (Trần Thị Kim Xuyến, 2002, tr 42 - 43)
Gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là mối quan hệ họ hàng Đó là sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên
cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi Những người này cũng phải sống cùng nhau (Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý – Gia đình học, 2007, trang 54)
Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình Để tìm ra được những định nghĩa tối ưu về gia đình và thống nhất với nhau là một yêu cầu không dễ
gì thực hiện được (Trần Thị Kim Xuyến, 2005) Tuy vậy, có thể hiểu gia đình ở các khía cạnh sau Gia đình là một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi trú ngụ chung, sự hợp tác và tái sản xuất về kinh tế, gồm những người trưởng thành, trong
đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tình dục được xã hội công nhận, với một hoặc nhiều đứa trẻ là con đẻ hoặc con nuôi của những người trưởng thành có quan hệ với nhau (Murdock)…
Gia đình truyền thống: là hình thái gia đình gắn liền với xã hội nông thôn,
nông nghiệp, là gia đình nhiều hơn hai thế hệ như ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị
em cùng sống chung với nhau
Gia đình hạt nhân: là những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống chỉ
có vợ chồng và con cái, vừa nhằm đáp ứng nhu cầu riêng tư của cá nhân, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất dân cư cả về thể xác lẫn tinh thần
Có nhiều khái niệm khác nhau về xã hội hoá theo tác giả Lê Ngọc Văn thì xã hội hóa (socialization) là một khái niệm, một phạm trù cơ bản của xã hội học, chỉ
quá trình các cá thể tiếp thu, học tập nền văn hoá xã hội mà anh ta đuợc sinh ra và sống - tức là lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, học những cái gì phải làm không được làm, học ngôn ngữ, học các chuẩn mực, giá trị xã hội để thích ứng được với xã hội (Lê Ngọc Văn – Gia đình Việt Nam duới chức năng xã hội hóa – 1996, trang 8)
Trang 25Xã hội hóa: Trong nguyên nghĩa, “xã hội hóa” là một thuật ngữ chuyên dùng
của ngành xã hội học nhằm chỉ quá trình con người trở thành con người xã hội khi được nuôi dưỡng trong những thiết chế xã hội, khởi đầu từ gia đình, một thiết chế xã
hội đặc thù, và tiếp đó là các thiết chế xã hội khác Một định nghĩa khác xã hội hóa:
là một quá trình suốt đời dựa trên sự tương tác xã hội qua đó cá nhân phát triển khả năng con người của mình và học các mẫu văn hóa của xã hội Đây là quá trình biến đổi từ con người sinh vật sang con người xã hội Xã hội hóa là quá trình qua đó kinh nghiệm xã hội cung cấp cho cá nhân những phẩm chất và năng lực mà chúng ta kết hợp với con người hoàn toàn Đối với xã hội nói chung, xã hội hóa là phương tiện dạy văn hóa cho mỗi thế hệ mới (John.j Macionis, Sociology, Publishing by Print Hall, Toronto, Canada)
Vai trò và vai trò giới:
Vai trò được đề cập trong đề tài này là vai trò xã hội tức là sự mong đợi của
xã hội đối với hành vi ứng xử của một cá nhân trong một tình huống xã hội cụ thể
và trong một khung cảnh xã hội nhất định nào đó
Một nhà tâm lý học người Pháp đã xem “vai trò như một tập hợp ứng xử của mỗi cá nhân mà người khác mong đợi”
Vai trò: Vai trò của cá nhân như là một vai diễn là một hoặc nhiều chức năng
mà cá nhân ấy phải đảm trách trước xã hội Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định
Trong cuốn xã hội học của Phạm Tấn Dong – Lê Ngọc Hùng – Nxb Đại học quốc gia Hà Nội – 1997 Tác giả đã cho rằng vai trò được các nhà xã hội học vay mượn từ kịch bản của sân khấu để miêu tả các vai trò ảnh huởng như thế nào trong đời sống xã hội giống như các nghệ sỹ trên sân khấu, tất cả chúng ta đóng các vai trò trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Gắn với mỗi vai trò là một kịch bản mà
nó nói với chúng ta phải ứng xử như thế nào với người khác và sẽ hành động trở lại
chúng ta ra sao Vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể (Sđd tr.208)
Vai trò giới: vai trò giới là vai trò xã hội, là công việc và hoạt động cụ thể mà
phụ nữ và nam giới thực sự đang làm sao cho phù hợp với giới của mình
Trang 26Khi phân loại vai trò giới, trên thực tế người phụ nữ thường làm những nhóm công việc sau:
Lao động kiếm sống: công sở, nhà máy, đồng ruộng…
Lao động nuôi dưỡng, tái sản xuất sức lao động: nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình
Công việc cộng đồng: công tác ở thôn, ấp…
Vai trò giới: Vai trò giới là những hành vi được học trong bất cứ một cộng
đồng xã hội nào hay một nhóm mà quy định những hoạt động, nhiệm vụ và trách nhiệm cho nam giới và phụ nữ Vai trò giới bị chi phối bởi độ tuổi, giai cấp, chủng tộc, dân tộc, tín ngưỡng và bởi môi trường địa lý, kinh tế và chính trị Những thay đổi trong vai trò giới thường xảy ra tương ứng với những thay đổi kinh tế, các điều kiện chính trị và tự nhiên bao gồm cả những hoạt động phát triển
Cả nam giới và phụ nữ đóng nhiều vai trò trong xã hội Vai trò giới của phụ
nữ bao gồm các vai trò tái sản xuất, sản xuất và quản lý cộng đồng, trong khi vai trò của nam giới bao gồm vai trò sản xuất và hoạt động chính trị Nam giới có thể tập trung vào một vai trò sản xuất cụ thể và thực hiện lần lượt các vai trò của mình Ngược lại, phụ nữ phải thực hiện nhiều vai trò cùng một lúc và đảm bảo thực hiện trọn vẹn từng vai trò
Lối sống và lối sống phụ nữ nông thôn
Lối sống: là tổng hòa các hình thức hoạt động sống của con người có sự
thống nhất không thể tách rời các điều kiện thực tại của xã hội
Theo viện khoa học xã hội Nga: lối sống là cách thức cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình, là khả năng lựa chọn các phương thức cụ thể của hoạt động sống trên cơ sở con người biết đánh giá hoạt động sống của mình tương quan với điều kiện sống
A.P.Butenco định nghĩa: “lối sống là một phương thức hay tính chất toàn bộ hoạt động sống của cá nhân xác định, một nhóm xã hội hay toàn xã hội Phương thức này trước hết chịu sự quy định của các phương thức sản xuất, mức sống, toàn
bộ các điều kiện địa lý, tự nhiên và lịch sử xã hội, cũng như các phương hướng giá trị Lối sống cho ta thấy con người sống ra sao và sống vì cái gì, họ làm cái gì, cuộc sống của họ là những hành động hoặc hành vi nào”
Trang 27Theo Giáo sư Vũ Khiêu: “lối sống là một phạm trù xã hội học, khái quát toàn
bộ hoạt động sống của các dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thức kinh tế xã hội nhất định biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hoá”
Lối sống phụ nữ nông thôn:
Trong đề tài này lối sống phụ nữ nông thôn được đề cập là lối sống của phụ
nữ được hình thành trong không gian xã hội nông thôn Nó bao gồm tất cả các hoạt động, các mối tương quan của phụ nữ nông thôn Lao động sản xuất, tái lao động sản xuất, văn hóa tinh thần, chính trị xã hội Đặc biệt họ lao động, sinh hoạt trong tình trạng vắng bóng lao động của người chồng
Với đề tài nghiên cứu này, lối sống được hiểu như là cách thức người phụ nữ nông thôn tham gia vào các mối quan hệ xã hội bằng những hoạt động của mình Các lĩnh vực hoạt động ấy là:
Hoạt động lao động sản xuất: là những hoạt động mang lại cho người phụ nữ nông thôn bằng tiền hoặc hiện vật Bao gồm các chỉ báo về nghề nghiệp, nghề chuyên môn (giản đơn hay phức tạp), nghề ổn định hay không ổn định
Hoạt động lao động tái sản xuất: là hoạt động lao động không mang lại cho người phụ nữ khoảng thu nhập bằng tiền Những công việc ấy được gọi là những công việc không tên Dù vậy nó đóng một vai trò đặt biệt trong sinh hoạt gia đình Bao gồm các chỉ báo về công việc nội trợ, chăm sóc giáo dục con cái…
Hoạt động văn hoá tinh thần: bao gồm các chỉ báo về loại hình sinh hoạt trong thời gian nhàn rỗi, tâm lý tình cảm, tâm tư nguyện vọng…
Hoạt động chính trị xã hội: bao gồm các chỉ báo về việc tham gia các tổ chức
xã hội, các mối quan hệ với bà con họ hàng, với láng giềng xung quanh
Lao động: theo nghĩa thông thường, lao động là sự tác động ý thức của con
người, nhằm để thoả mãn những nhu cầu và lợi ích riêng của con người
K.Marx nhận định: “lao động dường như là một phạm trù rất đơn giản, và sự suy nghĩ về lao động nói chung cũng cũ kỹ như vậy Tuy nhiên, đứng ở góc độ kinh
tế mà nói, với tất cả sự đơn giản của nó, lao động lại là một phạm trù cũng hiện đại
Trang 28như những quan hệ đẻ ra sự trừu tượng hoá thuần tuý và đơn giản ấy”- Xã hội học chuyên biệt, Thanh Lê - Huệ Tuân, tr 13
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất:
Lao động cụ thể: là lao động có ích của những nghề chuyên môn nhất định, hao phí sức lao động dưới một hình thức cụ thể, mỗi lao động cụ thể có một mục đích riêng, phương pháp riêng, công cụ riêng, đối tượng riêng, và có một kết quả nhất định Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng hàng hoá Do đó là một phạm trù vĩnh viễn
Lao động trừu tượng là sự hao phí sức lao động nói chung không kể đến nghề nghiệp chuyên môn cụ thể Lao động trừu tượng tạo nên giá trị của hàng hoá
Trong lao động sản xuất có hai loại lao động: lao động đơn giản và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động của những nghề nghiệp không cần phải đào tạo, học tập về mặt chuyên môn nhưng mọi người vẫn có thể làm được
Lao động phức tạp là lao động của những nghề nghiệp chuyên môn cần có quá trình học tập và đào tạo
Trong cùng một lượng thời gian thì lao động phức tạp tạo ra lượng giá trị lớn hơn so với lao động giản đơn K marx nhận định: “lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn” Hơn bất cứ hiện tượng xã hội nào khác, lao động mang đầy đủ đặc trưng của xã hội học Đó là tiêu điểm hội tụ của những quan hệ phức tạp và luôn luôn phát triển của mối quan hệ con người với tự nhiên, con người và con người trong quá trình lao động sáng tạo ra của cải vật chất Những công việc nhằm tái sản xuất sức lao động cũng là một dạng lao động trong hoạt động sống của con người
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển
tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu xã hội đề ra (Từ Điển Tiếng Việt Viện khoa học xã hội Việt Nam Viện ngôn ngữ học Trung tâm từ điển ngôn ngữ học Việt Nam 1992 trang 395)
Giáo dục: là những cách khác nhau trong đó kiến thức – kể cả thông tin và
kỹ năng thực tế cũng như quy phạm và giá trị văn hóa được truyền đạt đến từng thành viên trong xã hội Một bộ phận quan trọng trong giáo dục là giáo dục học
Trang 29đường, đó là sự dạy bảo chính thức dưới sự hướng dẫn của thầy cô được đào tạo chuyên môn ( Từ Điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Khoa Học Xã Hội,
H 1992)
Cơ hội tiếp cận giáo dục:
Cơ hội: hoàn cảnh thuận tiện gặp được để làm việc gì thường mong ước Tiếp cận: đến gần có sự tiếp xúc (Minh Tâm – Xuân Lãm – Thanh Nghề - Từ điển tiếng việt Nxb Thanh Hóa tr 1325)
Vậy cơ hội tiếp cận giáo dục là những điều kiện thuận lợi gặp được giúp cho
cá nhân trong xã hội có thể tham gia vào hệ thống giáo dục trong trường học
Trong giai đọan hiện nay, giáo dục giữ một vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước Nhưng có phải tất cả các cá nhân trong xã hội đều được thông qua giáo dục hoàn chỉnh, tận dụng hết được nguồn lao động tham gia vào công cuộc đổi mới đất nước Điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong xã hội
Công bằng xã hội trong giáo dục: công bằng xã hội trong giáo dục là bảo
đảm cơ hội học tập cho mọi người, là sự bình đẳng trong tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục, trong đối xử như nhau với mọi học sinh, sinh viên học tập tại các cơ
sở giáo dục khác nhau (Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hưng – Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp - Nxb chính trị quốc gia, năm 2004, trang 258)
Xã hội học tập: xã hội học tập là một xã hội mà ở đó ai cũng được học tập và
tự học thường xuyên, suốt đời và ai cũng có trách nhiệm đối với việc học tập từ trong gia đình ra ngoài xã hội (Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp - Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hưng - Nxb chính trị quốc gia, năm 2004, trang 258)
Nghèo đói: Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống
tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia
Trang 30Tuy nhiên nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ như: giáo dục, văn hóa, y tế, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống, mà nghèo còn trong tình trạng đe dọa
bị mất những phẩm chất quí giá đó là lòng tin và lòng tự trọng
Thời gian nhàn rỗi: Thời gian nhàn rỗi là cái còn lại trong ngày, trong tuần,
trong tháng khi trừ đi thời gian lao động Đối với những người cao tuổi đó là toàn bộ thời gian hưu trí của họ Nhàn rỗi được hiểu theo hai cách: hoặc nó là cái lắp đầy toàn bộ thời gian tự do, hoặc nó chỉ lấp được một phần thời gian này và gạt bỏ những lúc nghỉ ngơi, những lúc dành cho sinh hoạt (Thanh Lê – Từ điển xã hội học
- Nxb khoa học xã hội Hà Nội)
V.Giả thuyết nghiên cứu và mô hình phân tích
V.1 Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài đưa ra các giả thuyết về vai trò của cha trong gia đình có tác động đến vấn đề kinh tế, học tập của con em trong các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ như sau:
- Các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ có sự biến đổi về đời sống kinh
tế và xã hội (lao động tạo thu nhập, chi tiêu trong sinh hoạt, vấn đề học tập, vui chơi giải trí ) sau sự cố sập cầu Cần Thơ
- Các gia đình nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ sử dụng nguồn vốn từ sự trợ giúp của các tổ chức chính, trị xã hội vào các sinh hoạt thiết yếu hàng ngày nhưng
họ cũng đã để một phầncho đầu tư phát triển sản xuất
- Việc học tập của con em trong các gia đình (thiếu vắng vai trò của người cha) gặp khó khăn hơn các con em trong các gia đình đầy đủ
Trang 31của gia đình có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố này Đặc biệt, trong đó
có yếu tố kinh tế tác động mạnh đến các yếu tố còn lại trong gia đình
Vai trò người cha
Điều kiện học tập Kết quả học tập Định hướng nghề
nghiệp
Học tập của con
Trang 32CHƯƠNG II VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CHA ĐỐI VỚI CƠ HỘI HỌC TẬP
CỦA CON EM TRONG GIA ĐÌNH
A VÀI NÉT VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
A.I.Địa bàn nghiên cứu
Xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh nằm ở phía Tây-Tây Nam tỉnh Vĩnh Long, giáp huyện Tam Bình về phía Đông giáp huyện Châu Thành và Lai Vung của tỉnh Đồng Tháp về phía Bắc Phía Tây Nam ngăn cách với thành phố Cần Thơ bởi sông Hậu; phía Đông nam giáp với huyện Càng Long và Cầu Kè, nằm cạnh sông Hậu Giang, tiếp giáp thành phố Cần Thơ, là trung tâm kinh tế, văn hóa khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Xã Mỹ Hòa vị trí thuận lợi phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch sinh thái Trong kinh tế nông nghiệp có thế mạnh vuờn cây ăn trái, đặc sản bưởi Năm roi
Đời sống của người nông dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, trong đó kinh tế vườn đóng vai trò chủ lực Bên cạnh đó địa phương ngành chăn nuôi cũng phát triển khá như: dê, bò, heo, gia cầm
Bên cạnh tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển mạnh, chủ yếu tập trung vào làng nghề truyền thống tàu hủ ky và các dịch vụ: ăn uống, nhà nghỉ, nhà trọ để đáp ứng cho công nhân khu công nghiệp, công nhân xây dựng cầu Cần Thơ Hiện nay toàn xã có 19 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, 44 cơ sở thương mại dịch
vụ, 7 nhà trọ, tạo việc làm cho 450 lao động Kinh tế tập thể: thành lập hợp tác xã bưởi Năm Roi Mỹ Hòa có 26 hội viên, chất lượng hoạt động khá, ngoài hợp đồng tiêu thụ nội địa, còn xuất khẩu được 290 tấn, doanh thu 3.171.680.283 đồng Thường xuyên củng cố và duy trì tổ hợp sản xuất, tàu hủ ky, tổ may mùng, tổ hoa kiểng, tạo được việc làm cho 70 lao động ở địa phương
Thực hiện chương trình giảm nghèo, xã đã giải quyết việc làm và tạo điều kiện cho hộ nghèo vay vốn sản xuất, đã có 457 lượt hộ vay số tiền 2.856.200.000 đồng Vận động nhân dân giúp đỡ nhau với tinh thần tương thân tương ái, hộ khá giàu giúp hộ nghèo, lá lành đùm lá rách và phân công các đoàn thể giúp đỡ đến nay
có 140 hộ thoát nghèo, toàn xã còn 165 hộ nghèo, chiếm 4.4%
Trang 33Trường học trong toàn xã có 65 phòng học kiên cố, đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng cho việc học tập của các em Chất lượng dạy và học hàng năm đều nâng lên Tỷ lệ học sinh hoàn thành tiểu học hàng năm đạt 100% Xét tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm đạt trên 97% Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học
cơ sở được trên công nhận đạt chuẩn quốc gia đúng độ tuổi Trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Tỷ lệ học sinh tiểu học cấp tiểu học bình quân 1.43% Trung học cơ sở là 4% Giáo viên đạt chuẩn 69/129 giáo viên trong toàn xã (Trích văn kiện Đại hội Đảng viên lần thứ X xã Mỹ Hòa nhiệm kỳ 2010-2015)
A.II.Mẫu nghiên cứu
Đề tài: “Vai trò của người cha đối với cơ hội học tập của con em trong gia
đình” được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu xã hội học thực nghiệm
Quá trình nghiên cứu đã tiến hành thu thập thông tin từ 80 bảng hỏi hộ gia đình có con đi học (trong đó 40 phiếu phỏng vấn các gia đình nạn nhân là vợ nạn nhân, và mẹ nạn nhân và 40 phiếu phỏng vấn các gia đình đầy đủ là phụ nữ có con
đi học) Ngoài ra, đề tài còn phỏng vấn sâu 28 trường hợp: 14 trường hợp gia đình
có chồng, con bị tử nạn trong công trình cầu Cần Thơ, 14 trường hợp phụ nữ có con
đi học trong gia đình đầy đủ Cuộc khảo sát được tiến hành từ ngày 21/06/2010 đến ngày 10/07/2010 Mẫu điều tra được tiến hành tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
Cách chọn mẫu: Đề tài nghiên cứu trường hợp, do vậy đối với các gia đình có thân nhân bị nạn, tác giả chọn tổng thể (có 40 hộ, khảo sát hết cả 40 hộ) Đề tài chọn nhóm là đối chứng so sánh, nên chọn 40 hộ gia đình có đầy đủ cả vợ chồng và có con đang đi học Đối với gia đình đầy đủ chúng tôi chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích: có con đi học và kinh tế: nghèo, trung bình, khá giả, giàu Tiêu chí phỏng vấn sâu: đối với gia đình nạn nhân: chọn các gia đình tử nạn 10
hộ, 4 hộ bị thương trong vụ sập cầu Cần Thơ Đối với gia đình đầy đủ cũng chọn 14
hộ phỏng vấn sâu theo tiêu chí kinh tế như trên:
Trang 34Tiêu chí Gia đình nạn nhân Gia đình đầy đủ
Trang 35Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2010
Tuy nhiên, bình quân số trẻ dưới 18 tuổi so sánh giữa các loại hộ này không
có sự khác biệt, bình quân số trẻ dưới 18 tuổi khá cao (1,73 em/ hộ)
B.I.2.Mức sống:
Theo đánh giá của các hộ gia đình, mức sống hiện nay phần lớn của các hộ là
từ trung bình trở lên Tuy nhiên, vẫn còn 21,3% trong tổng só các hộ khảo sát còn
có mức sống dưới trung bình Nếu so sánh giữa các loại hộ (có bị nạn hoặc không bị nạn) chúng ta thấy có sự biệt rõ rệt Đối vối các hộ bị nạn, tỷ lệ số hộ có mức sống
Trang 36khá hơn trung bình chiếm tỷ lệ khá cao và cao hơn rất nhiều so với các hộ không bị nạn (bảng 1)
Bảng 1: Mức sống chia theo loại hộ khảo sát
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2010
Chúng tôi xem xét so sánh mức sống hiện nay của các gia đình bị nạn với trước khi bị nạn do sập cầu Cần Thơ Số liệu khảo sát cho thấy phần lớn các hộ gia đình này trước đây có mức sống nghèo khổ (42,5% thuộc hộ nghèo, 27,5% có mức sống dưới trung bình và 25% có mức sống trung bình, chỉ có 5% trong số đó có mức sống trên trung bình) Mức sống trung bình của gia đình chưa gặp nạn; khá giả là không có trường hợp nào Nhưng gia đình sau khi gặp tai nạn khá giả là 2.5% và khá hơn trung bình là 42.5% Rõ ràng các gia đình nạn nhân đời sống kinh tế đã khá hơn rất nhiều Mức sống kém hơn trung bình trong gia đình đã giảm chỉ còn 5% Đặc biệt mức sống nghèo trong gia đình sau khi gặp biến cố không còn trường hợp nào.– bảng 2
Bảng 2: Sự chuyển dịch mức sống của các hộ bị nạn từ trước 2007 đến nay
STt Mức sống trung bình của gia
đình
Khi chưa gặp nạn (%)
Gia đình gặp tai nạn (%)
Trang 37Trong 40 hộ có thân nhân bị nạn đều có nhận được một khoản tiền hỗ trợ tai nạn vào thời điểm 2007 là không phải nhỏ (Bình quân 326.225.000 đ/hộ) - bảng 3
Bảng 3: Bình quân tiền hỗ trợ tai nạn cho mỗi gia đình có người bị tai nạn
Loại hộ Bình quân (đ) N Độ lệch chuẩn
Tử nạn 358.727.273 22 184842.06433
Bị thương 286.500.000 18 142828.25969 Tổng số 326.225.000 40 169156.50279
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2010
Tuy nhiên, với số tiền này, các hộ gia đình đã sử dụng vào những việc nào?
Số liệu khảo sát cho thấy, việc đầu tiên người dân cần cải thiện ngôi nhà họ đang ở (75% số hộ sử dụng tiền hỗ trợ để sửa chữa nhà cửa) và sau đó là chi cho các nhu cầu thiết yếu hàng ngày như ăn mặc, học hành (chiếm tỷ lệ cao thứ 2 sau sửa chữa nhà cửa và chi cho trả nợ cũng chiếm tỷ lệ 37% trong số hộ khảo sát và thứ 4, có 30% số hộ sử dụng tiền này để mua đất (bảng 4) Điều này cũng thể hiện rất rõ qua thực trạng nhà ở hiện nay của các hộ bị nạn so với trước khi bị nạn Phần lớn các hộ gia đình này tình trạng nhà ở vào thời điểm trước 2007 là tạm bợ (72,5%) Sau khi nhận được tiền hỗ trợ, tỷ lệ số hộ có nhà bán kiên cố chiếm đa số (38hộ/40hộ = 95%)-bảng 5
Bảng 4: Sử dụng tiền hộ trợ tai nạn của các hộ bị nạn
Thêm vốn vào các hoạt động nông nghiệp 1 4.5 4 22.2 5 12.5
Thêm vốn vào các hoạt động phi nông
Trang 38Bảng 5: Sự chuyển đổi nhà ở của các hộ gia đình có người bị nạn
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2010
Các gia đình nạn nhân có sử dụng đồng vốn vào phát triển kinh doanh là một dấu hiệu vui Qua khảo sát các gia đình nạn nhân có đầu tư cho sản xuất, kinh doanh đạt kết quả tốt và khá là tương đối cao (70%), tỷ lệ không đạt kết quả nhưng cũng không thua lỗ 25% và thua lỗ là 5% (bảng 6) Từ kết quả phân tích cho các gia đình nạn nhân việc sản xuất kinh doanh đạt kết quả khá chiếm tỷ lệ cao, điều này chứng
tỏ rằng việc sử dụng đồng vốn của các hộ gia đình có phát triển ngành nghề có kết quả khả quan Tuy nhiên về lâu dài cần có sự đánh giá lại chúng ta mới có thể khẳng định được về việc sử dụng đồng vốn hỗ trợ này
Chính quyền địa phương cũng chưa có hỗ trợ về phương pháp hay cách thức làm ăn, đào tạo nghề cho các thành viên còn lại trong gia đình Đây một phần hạn chế của địa phương vì người dân khi cầm đồng vốn trong tay thật sự họ cũng chẳng biết kinh doanh, sản xuất như thế nào cho đạt hiệu quả Phần lớn trong gia đình nạn nhân trước đây họ không có đất sản xuất, công việc chính của họ phần đông là làm thuê mướn, phụ nữ trong gia đình chủ yếu là nội trợ, họ chưa biết làm ăn hay sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng nào là hợp lý Cho nên một số hộ gia đình đình lo xa, hoặc sợ xài hết tiền trợ giúp họ đã quyết định an toàn hơn là gửi ngân hàng Mặc dù số tiền trợ giúp từ các tổ chức tương đối lớn nhưng khi vai trò trụ cột mất đi thì với vai trò là người vợ, người phụ nữ phải rất khó khăn trong cuộc sống thường nhật Việc làm ăn phụ thuộc rất nhiều vào người chồng, người phụ nữ không biết đầu tư phát triển sản xuất như thế nào cho đạt hiệu quả Đây không phải là hạn chế của gia đình, một phần là do địa phương ít quan tâm đến vấn đề sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả Bảng 6
Trang 39Bảng 6: Hiệu quả của việc sử dụng vốn
Kết quả sử dụng
Đạt kết quả khá 4 40.0 9 90.0 13 65.0
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2010
Các gia đình nạn nhân sử dụng đồng vốn vào phát triển kinh doanh là một dấu hiệu vui Tuy nhiên việc sản xuất cĩ hiệu quả hay khơng mới là vấn đề sống cịn của mỗi gia đình Khi vai trị của người cha, chồng khơng cịn thì việc người phụ nữ làm ăn phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả lại càng khĩ khăn hơn Qua khảo sát các gia đình nạn nhân sản xuất, kinh doanh đạt kết quả tốt chiếm tỷ lệ thấp 5%, đạt kết quả khá 65%, khơng đạt kết quả nhưng cũng khơng thua lỗ 25% Đã thua lỗ
là 5% Từ kết quả phân tích cho thấy các gia đình nạn nhân việc sản xuất kinh doanh đạt kết quả khá chiếm tỷ lệ cao, điều này chứng tỏ rằng việc sử dụng đồng vốn của các hộ gia đình cĩ phát triển ngành nghề cĩ kết quả khá Tuy nhiên, đây cũng chỉ là kết quả trong sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, vốn đầu tư ít, nhằm trang trải vừa đủ cho cuộc sống hàng ngày Những cách làm ăn nhỏ lẻ, vốn đầu tư ít, mục đích chủ yếu là giải quyết thời gian nhàn rỗi khơng mang tính chiến lượt lâu dài đem lại hiệu quả vững chắc cho từng hộ gia đình Về mặt chính quyền địa phương cũng khơng hỗ trợ phương pháp hay cách thức làm ăn, đào tạo nghề cho các thành viên cịn lại trong gia đình Như vậy, về kinh tế các gia đình nạn nhân cịn gặp nhiều khĩ khăn
B.I.3 Vai trị Giới trong chức năng kinh tế gia đình
Nếu tính người đĩng gĩp chính trong thu nhập cho gia đình, thì trong số 40
hộ cĩ thân nhân bị nạn khảo sát cho thấy: trước ngày cầu Cần Thơ bị sự cố, người đĩng gĩp chính trong thu nhập của gia đình là những người bị nạn (18 người đã mất
và 18 người bị thương) và họ đều là nam giới trong gia đình
Trang 40Hiện nay, những gia đình này, người đóng góp thu nhập chính trong gia đình cũng đã được thay thế và trong đó người phụ nữ phải thay thế vai trò người đàn ông trong gia đình khá nhiều (55%) Trong đó, nữ làm chủ hộ chiếm 50% (bảng 7)
Bảng 7: Người đóng góp kinh tế nhiều nhất trong gia đình hiện nay của các hộ
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2010
Sự thay đổi đó cũng dẫn đến sự thay đổi thu nhập bình quân nhân khẩu từ các việc làm của các nhân khẩu trong hộ (bảng 8) Như vậy, vai trò kinh tế của người trụ cột trong gia đình có sự khác biệt về giới Nam giới được khẳng định đóng vai trò chính trong kinh tế của gia đình
Bảng 8: Bình quân thu nhập được tính từ các công việc chính và phụ của các thành viên trong hộ so sánh hiện nay với thời gian trước bị tai nạn
Loại hộ
Bình quân thu NK/hộ hiện nay (đ)
Bình quân thu NK/hộ 2007 (đ)
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2010
Tuy đời sống về vật chất có sự thay đổi như phân tích ở trên (do có sự hỗ trợ tai nạn), song khi gia đình mất đi người trụ cột lại là lao động chính, gia đình gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt trong đời sống tinh thần của các thành viên trong gia đình
Một phụ nữ mất chồng trong tai nạn cầu đã tâm sự: “Như xây bồn nước là dì cũng mướn, đóng cái ghế hay là dũa cây cưa là dì cũng mướn Cái gì cũng mướn hết Lúc anh còn sống là cái gì anh cũng biết làm hết, nhà này là anh xây luôn Dì buồn dì mới nói: phải anh còn sống thì bị thương cũng được nữa Thí dụ như mình buồn thì mình có người tâm sự như anh mất rồi là trong gia đình thì đàn ông cũng dì mà đàn bàn cũng dì Hiện tại thì dì rất khổ ”_L.T.X, ngày 27/06/2010, băng số 4 Khi được