Hầu hết tác phẩm của những tác giả nữ hiện đang nổi tiếng ở Trung Quốc đều đã và đang được dịch ra tiếng Việt: Thiết Ngưng Những người đàn bà tắm, Chơi vơi trời chiều, Thành phố không m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG 2008
VĂN HỌC NỮ TRUNG QUỐC THỜI KỲ MỚI (1986 – NAY)
Chủ nhiệm đề tài:TS TRẦN LÊ HOA TRANH
TP HỒ CHÍ MINH - 2009
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUÁT 7
Chương 1: Khái quát văn học Trung Quốc thời kỳ mới (1986-nay) 7
Chương 2: Vấn đề phụ nữ qua cái nhìn của “người trong cuộc” 49
PHẦN 2: MỘT SỐ TÁC GIẢ NỮ CHÍNH 106
Chương 1: Thế hệ các nhà văn nữ “đàn chị” 106
Chương 2: Thế hệ các nữ nhà văn 7X, 8X 128
Chương 3: Một số khuôn mặt tiêu biểu của văn học nữ hải ngoại (Đài Loan, Hồng Kông, Anh, Mỹ, Pháp…) 144
KẾT LUẬN 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
Trang 3DẪN NHẬP
Từ thập niên 1980 trở lại đây, văn học của các tác giả nữ đã đạt được nhiều thành tựu trên thế giới, và trở thành một hiện tượng mang tính toàn cầu Nhà văn nữ hiện nay không chỉ là một bộ phận mà còn là niềm vinh quang cho một nền văn học Trường hợp của J.K Rowling với thành công của Harry Potter (văn học thị trường) hay của Toni Morrison (Nobel 1993), Elfriede Jelinek (Nobel 2004), Doris Lessing (Nobel
2007)…(văn chương bác học)… xác tín rất rõ điều đó Văn học Châu Á cũng nổi lên những hiện tượng văn học nữ như Nhật có các cây bút nữ đương đại tiếng tăm
Yoshimoto Banana, Yamada Amy, Kanehara Hitomi, Ogawa Yoko… Văn học
Bangladesh có nhà văn nữ rất nổi tiếng Tahmima Anam… Văn học Việt Nam đương đại cũng có nhiều nhà văn nữ nổi bật như Thuận, Linda Le (ở Pháp), Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh… (trong nước) Văn học đương đại Trung Quốc cũng không phải là một ngoại lệ Trong quá trình tiếp biến những giá trị văn hóa phương Tây, các nhà văn nữ Trung Quốc cũng đã tạo ra một tiếng nói riêng
và gây tiếng vang trong nước lẫn nước ngoài
Ngoài ra, văn học Trung Quốc vẫn luôn là mối quan tâm và có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam Không chỉ là ảnh hưởng từ văn học cổ điển, chúng ta gần đây còn thấy
có một sự giao thoa và gần gũi đáng ngạc nhiên giữa trào lưu văn học nữ Trung Quốc
và văn học nữ Việt Nam Những hiện tượng như Đỗ Hoàng Diệu, Vi Thùy Linh, nhóm
“Nguyệt thực”… (Việt Nam) thực ra không khác với Vệ Tuệ, Miên Miên, Xuân Thụ (Trung Quốc) tuy mức độ và tầm cỡ khác nhau Do đó kết quả của công trình không chỉ
sẽ là một tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu văn học Trung Quốc (đặc biệt
là văn học Trung Quốc đương đại, vốn chỉ mới được dịch rầm rộ nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức của các nhà nghiên cứu) ở bậc đại học và sau đại học trong các môn như: Văn học Trung Quốc, Văn học Trung Quốc đương đại, Văn học và phụ nữ… cho các Khoa Ngữ văn và Báo chí, Khoa Đông phương (ngành Trung Quốc học), Khoa Ngữ văn Trung Quốc…mà còn là một tài liệu so sánh khi giảng dạy các môn Văn học Việt Nam đương đại hay môn Văn học so sánh của Khoa Ngữ văn và Báo chí
Trang 41 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp so sánh lịch sử loại hình
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
- Phương pháp thống kê, đối chiếu
2 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
2.1 TRONG NƯỚC
Dịch phẩm văn học đương đại Trung Quốc chiếm số lượng nhiều nhất trong mảng văn học nước ngoài Hầu hết tác phẩm của những tác giả nữ hiện đang nổi tiếng ở
Trung Quốc đều đã và đang được dịch ra tiếng Việt: Thiết Ngưng (Những người đàn
bà tắm, Chơi vơi trời chiều, Thành phố không mưa, Cửa hoa hồng), Trì Lợi (Triền miên nước và lửa, Xin chào các tiểu thư, Hễ sướng thì hét lên), Vương An Ức
(Trường hận ca), Trương Kháng Kháng (Người đàn bà “quậy”), Tàn Tuyết (1 số truyện ngắn trên mạng tiền vệ, evăn, tập truyện ngắn Đào nguyên ngoài cõi thế…),
Vệ Tuệ (Búp bê Thượng Hải, Thiền của tôi, Gia đình ngọt ngào của tôi, Tuyển tập Vệ Tuệ, Điên cuồng như Vệ Tuệ), Cửu Đan (Quạ đen), Miên Miên (Kẹo), An Ni Bảo Bối (Hoa bên bờ, Đảo tường vy), Sơn Táp (Thiếu nữ đánh cờ vây, Bốn kiếp thùy liễu, Vương hậu, Mưu phản, Hoàng đế và giai nhân…), Xuân Thụ (Búp bê Bắc Kinh), Trương Duyệt Nhiên (Mèo đen không ngủ, Thủy tiên đã cưỡi chép vàng đi, Anh đào
xa tít tắp, Mười yêu…)… Có thể kể tên một số dịch giả quen thuộc: Trần Đình Hiến,
Ông Văn Tùng, Sơn Lê, Trác Phong, Nguyễn Lệ Chi, Trần Trúc Ly, Lê Huy Tiêu, Nguyễn Viết Chi, Trang Hạ, Nguyễn Thanh An, Tạ Thanh Thủy, Thành Ân, Phương Linh, Nguyễn Xuân Nhật…
Nhưng việc nghiên cứu thì lại khá ít ỏi Có một số công trình nghiên cứu trong
nước đề cập đến các nhà văn nữ đương đại Trung Quốc, đó là: Một Số Vấn Đề Văn Học Trung Quốc Thời Kỳ Mới (Hồ Sĩ Hiệp, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM 2003)
có đề cập đến một số nhà văn nữ như Như Chí Quyên, Tàn Tuyết, có nhắc qua đến
Trang 5Diệp Văn Linh, Hàn Ửng, Triệu Mai, Trì Lệ, Trì Tử Kiến, Vương Anh Kỳ, Phương Phương, Lục Tinh Nhi, Hàn Tiểu Huệ, Tốt Thục Mẫn… và có một bài riêng về
Đường Mẫn Tiểu Thuyết Trung Quốc Thời Kỳ Đổi Mới (Lê Huy Tiêu, NXB Đại học
Quốc gia HN 2006) có nhắc đến Trương Khiết và một số nhà văn nữ trẻ thế hệ 7X
Cuốn Phê Bình Văn Học Trung Quốc Đương Đại (Trần Minh Sơn, NXB Khoa Học
Xã Hội HN 2004) cũng đề cập đến một số nhà văn nữ nổi tiếng như Thiết Ngưng, Trương Khiết…
Ngoài ra có một số bài báo hoặc lời tựa trước các tác phẩm dịch như của Vương
Trí Nhàn, Vũ Công Hoan… Hay có một số bài báo tranh luận về Điên cuồng như Vệ Tuệ đăng trên các báo Giáo dục thời đại, Tuổi trẻ…
Một nguồn tư liệu nữa là trên nhiều trang web và trang web văn học như evan, tienve, vnexpress, tuoitreonline, damau, dactrung, vietbao… có nhiều bài viết liên
quan đến văn học Trung Quốc đương đại nói chung và văn học nữ nói riêng, đặc biệt,
họ quan tâm đến các hiện tượng văn học nữ trẻ như linglei, 8X… nhưng chỉ dừng lại mức độ dịch tác phẩm, các bài phỏng vấn hoặc giới thiệu sách
Một nguồn tư liệu nữa mà trong quá trình thực hiện công trình này chúng tôi đã tìm hiểu đó là các trang web riêng, nhật ký điện tử cá nhân Nhiều cá nhân hứng thú với văn học đương đại Trung Quốc đã tiến hành thực hiện việc dịch tác phẩm, dịch các bài báo và đăng tải trên trang web cá nhân, nhật ký điện tử cá nhân Một số bài, tác phẩm sau đó cũng được họ đăng tải trên các báo in nhưng đương nhiên số lượng bài viết trên mạng vẫn nhiều hơn Ví dụ như blog của Trang Hạ, một dịch giả chuyên dịch các tiểu thuyết nổi tiếng trên mạng, hay trang web của Hứa Nhuệ Anh, chuyên dịch các bài báo Trung Quốc và một ít tiểu thuyết… Đây cũng là một nguồn thông tin khá quý giá
Tuy vậy, những bài báo, thông tin nói trên, như đã nói “bột” thì nhiều nhưng chưa
“gột nên hồ”, hoàn toàn không có hệ thống và mang tính chất tùy hứng, nghĩa là người dịch thích tác giả nào, thích quan điểm nào thì sẽ chọn dịch chứ không mang tính cung cấp một cái nhìn toàn diện và khoa học Vì vậy, giữa hằng hà sa số thông tin, việc chọn lọc và hệ thống lại là điều quả thực hết sức khó khăn, chúng tôi sử dụng
Trang 6những tư liệu này kết hợp với một số tư liệu đã có từ tiếng Anh (để góp phần cho độc giả thấy được phương Tây nhìn những hiện tượng văn học Trung Quốc đương đại như thế nào) và tư liệu tiếng Hoa
Điều đó cho thấy văn học nữ Trung Quốc đương đại gây hứng thú đối với các dịch giả và độc giả Việt Nam nhưng chưa nhận được sự quan tâm nhiều của các nhà nghiên cứu
3.2 NƯỚC NGOÀI
Ở Trung Quốc, văn học nữ được giới thiệu khá nhiều và đánh giá đa dạng Hầu
hết những cuốn sách phê bình đều có nhắc đến hiện tượng các nhà văn nữ với những cụm từ như “văn học nữ lưu”, “trào lưu văn học mỹ nữ”, “ văn học linglei”, hoặc những cụm từ như “nữ tính văn học”, “nữ tính tự giác”…Tại Trung Quốc, tính đến nay đã có ba hội thảo học thuật nhà văn nữ đương đại Với các nhà văn nữ đàn chị thì đánh giá gần như thống nhất, ví dụ việc ca ngợi Tàn Tuyết, Thiết Ngưng, Trì Lợi, Vương An Ức … Còn với các nhà văn “thế hệ 7X, 8X” như Vệ Tuệ, Xuân Thụ, Miên Miên… thì đánh giá rất phong phú, có khi bất đồng, trái ngược
Có thể tham khảo ở một số cuốn: Trung Quốc Đương Đại Văn Học Sử ( Lịch sử
văn học đương đại Trung Quốc, Hổng Tử Thành, Bắc Kinh Đại học xuất bản xã
1999), Trung Quốc Đương Đại Tiên Phong Văn Học Tư Trào Luận (Luận về trào lưu
tiên phong của văn học Trung Quốc đương đại, Trương Thanh Hoa, Giang Tô văn
nghệ xuất bản xã 1997), Nhị Thập Thế Kỷ Mạt Trung Quốc Văn Học Hiện Tượng Nghiên Cứu (Nghiên cứu về những hiện tượng văn học Trung Quốc cuối thế kỷ XX,
Tào Văn Hiên, Tác gia xuất bản xã 2003)… nhưng các nhà văn nữ chỉ được đề cập tản mát, không có riêng một công trình nào cả
Ở các nước sử dụng tiếng Anh: như Anh, Mỹ, Hồng Kông, tác phẩm của các nhà
văn nữ được dịch khá nhiều và được hoan nghênh Tàn Tuyết và Vệ Tuệ là 2 tác giả
nữ được dịch và phát hành nhiều nhất ở Mỹ Tuy vậy nhìn chung vẫn có hiện tượng
dịch đi trước nghiên cứu phê bình Ở Mỹ đã có bộ sách 7 cuốn Contemporary Chinese Woman Writers (Các Nhà Văn Nữ Đương Đại Trung Quốc) hoặc từng cuốn lẻ như Seven Contemporary Chinese Woman Writers ( Bảy Nhà Văn Nữ Đương Đại Trung
Trang 7Quốc), hầu hết đều là giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của một số nhà văn nữ như Như Chí Quyên, Trương Khiết, Vương An Ức, Thẩm Dung,Trương Kháng Kháng,
Phương Phương, Tàn Tuyết Các nhà văn nữ Trung Quốc cũng có tên trong Từ Điển Các Nhà Văn Nữ Thế Giới như Tàn Tuyết, Trương Kháng Kháng, Trương Khiết…
Chúng tôi nghĩ rằng ở đâu cũng vậy, đối với những hiện tượng văn học mới mẻ, cần
có thời gian để công chúng tiếp nhận và thông thường các nhà phê bình không có ý định áp đặt suy nghĩ chủ quan của họ lên người đọc
Nhìn chung, đây là một hiện tượng văn học mới mẻ và đáng hoan nghênh ở một đất nước mà hơn 5000 năm qua dường như không dành chỗ cho nữ giới Một số tác phẩm khi được dịch sang tiếng Việt, do hoàn cảnh, đặc điểm văn hóa, xã hội giữa hai nước khác nhau nên có gây ra những luồng phản ứng nhất định (trường hợp tác giả Vệ Tuệ là một ví dụ) Tuy vậy, với những hiện tượng văn học còn mới và chưa có khoảng lùi thời gian nhất định để kiểm định giá trị, việc cần nhất là không cực đoan trong phê bình, quá khen ngợi, đề cao hay chê bai, vùi dập đều là không nên
3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI
- Một số tác gia nữ chính trong các trào lưu văn học
- Những đặc điểm của văn học nữ đương đại
Phần 2: Một số tác giả nữ chính
Chương 1: Thế hệ các nhà văn nữ “đàn chị”
1.1 Tàn Tuyết- Cánh chim đầu đàn của trào lưu tân tả thực
1.2 Thiết Ngưng- Nhà văn xã hội
1.3 Trương Khiết-Nhà văn của những vấn đề phụ nữ
Trang 81.4 Trương Kháng Kháng, Vương An Ức- Những nhà văn của tình yêu
…
Chương 2: Thế hệ các nữ nhà văn 7X, 8X
2.1 Vệ Tuệ- Nhà văn tiên phong của phong trào “linglei”
2.2 Hồng Ảnh – Nhà văn có y thức lịch sử
2.3 An Ni Bảo Bối- Nhà văn ăn khách nhất của “văn học trên mạng”
2.4 Miên Miên, Xuân Thụ - Nhà văn của “hè phố” và của tuổi “teen”
2.5 Quách Tiểu Lộ - một hiện tượng của văn học nữ đương đại
2.6 Trương Duyệt Nhiên,
Chương 3: Một số khuôn mặt tiêu biểu của văn học nữ hải ngoại (Đài Loan, Hồng Kông, Anh, Mỹ, Pháp…)
3.1 Trương Ai Linh, đã mang lấy một chữ tình (Khuynh thành chi luyến)
3.2 Quỳnh Dao, nhà văn có duyên với các bà nội trợ
3.3 Tam Mao, nhà văn lang bạt (Tam Mao lưu lãng ký)
3.4 Những Thế hệ nhà văn nữ Trung Quốc viết văn ở hải ngoại: Amy Tan, Anchee Min, Sơn Tp, …
Trang 9PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUÁT
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VĂN HỌC TRUNG QUỐC
THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986-NAY)
- Tình hình xã hội – văn học
- Các trào lưu, đặc điểm của từng trào lưu
- Đặc điểm của văn học Trung Quốc thời kỳ mới
- Những vấn đề của văn học Trung Quốc thời kỳ mới
1.1 Tình hình xã hội – văn học
Sau 17 năm động loạn, đặc biệt là 10 năm cách mạng văn hóa, nhân tâm ly tán, lòng tin sụp đổ Năm 1976, Mao Trạch Đông qua đời Hoa Quốc Phong lên kế vị Đại hội 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc được triệu tập năm 1977 đề ra khẩu hiệu “đoàn kết, ổn định, giải phóng tư tưởng” Tháng 10.1978, Hội nghị trung ương lần thứ 3 khóa 11 của Đảng lên án triệt để cuộc “đại cách mạng văn hóa” do “lũ bốn tên” chỉ đạo, gây thảm họa biến Trung Quốc thành “sa mạc văn hóa”, Hội nghị xác lập quyền lực của đường lối Đặng Tiểu Bình
Về văn nghệ, tại Đại hội các nhà văn Trung Quốc đầu năm 1979, đó là cuộc “hội sư” vĩ đại đánh dấu sự thức tỉnh mới của văn học Trung Hoa, mở đầu cho một thời kỳ phát triển Song song với việc phê phán “lũ bốn tên” là việc minh oan, chiêu tuyết khôi phục tên tuổi những người trước đây bị cho là “phản động”, “hắc bang”, “xét lại”… Công chúng lại thấy xuất hiện Đinh Linh, Tiêu Quân, Chu Dương, Hạ Diễn, Ngãi Thanh… Người ta tổ chức truy điệu Triệu Thụ Lý, Lão Xá, Ngô Hàm… quốc tang cho Quách Mạt Nhược (mất năm 1979) và Mao Thuẫn (mất năm 1981) được tổ chức, Quách Mạt Nhược được đặt tên làm giải thưởng khoa học và Mao Thuẫn làm giải thưởng văn chương…
Năm 1996, Trung Quốc tổng kết thành tích văn học nghệ thuật 20 năm sau cách mạng văn hóa như sau:
Trang 101.1.1 Số lượng tạp chí văn học, sách văn học xuất hiện nhiều
Năm 1952, Trung Quốc có 51 tạp chí văn học, năm 1971 có 71, hiện nay có 600 tạp chí văn học trong tổng số 8135 tạp chí các loại, xuất hiện nhiều tạp chí mới như Thập nguyệt, Đương đại, Trung Quốc tác gia, Chung sơn, Hoa Thành… Ngoài ra còn nhiều tạp chí chuyên ngành như Văn học nhi đồng, Văn học điện ảnh… 563 nhà xuất bản, trong đó ngoài Bắc Kinh và Thượng Hải thì Quảng Đông (với hai trung tâm lớn
là Quảng Châu và Thâm Quyến) cũng đã đạt đến con số đáng kể Tạp chí Văn nghệ Phật Sơn của tỉnh Quảng Đông phát hành mỗi kỳ hơn 50 vạn bản, đứng đầu cả nước
10 năm gần đây Trung Quốc cho in lại nhiều tuyển tập của các tác gia lớn như: Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược, Ba Kim… nhiều tự điển văn học được xuất bản Trung Quốc cho in lại toàn bộ những tác phẩm văn học nước ngoài ưu tú của các nước 50 tác phẩm của nữ sĩ Quỳnh Dao được tái bản trọn bộ, Tam Mao (một nhà văn trước ở Đại lục, sau định cư ở Đài Loan) cũng được nhiều người đọc và tạo thành
“hiện tượng Tam Mao”, Kim Dung được in với số lượng lớn
Số lượng sách cũng xuất bản với số lượng đáng kể: từ năm 1986 đến nay, mỗi năm
có hơn 100 bộ tiểu thuyết được xuất bản, truyện vừa 800 cuốn, còn truyện ngắn thì mỗi năm trên dưới 10,000 tác phẩm
1.1.2 Đội ngũ nhà văn trưởng thành nhanh chóng
Trước Văn cách (Cách mạng Văn hóa), Trung Quốc có 1059 hội viên Hội nhà văn, trong Văn cách, bị đấu tố, vùi dập, hội viên chỉ còn lại 900 người, nhưng đến nay, số lượng đã gia tăng nhanh chóng Ít có nước nào trên thế giới có đông đảo các thế hệ nhà văn như Trung Quốc Hiện nay Trung Quốc có hơn 5,000 hội viên hội nhà văn trung ương và gần 10,000 hội viên hội nhà văn địa phương Hiện nay Trung Quốc còn mạnh dạn kết nạp khá nhiều hội viên trẻ vào Hội nhà văn như Quách Kính Minh, Trương Duyệt Nhiên dù có nhiều ý kiến phản đối (2007)…
Bảy thế hệ nhà văn cùng sống và sáng tác gồm:
- Ba Kim, Tào Ngu, Băng Tâm, Tăng Khắc Gia (từ những năm 20-30)
Trang 11(Tính đến thời điểm hiện nay, thì thế hệ nhà văn đầu đàn thời Ngũ Tứ này đã mất:
Ba Kim đã mất năm 2005, Tào Ngu mất năm 1996, Băng Tâm mất năm 1999 Vì vậy,
có thể nói là chỉ còn sáu thế hệ nhà văn mà thôi)
- Ngụy Nguy, Lương Bân (trưởng thành từ kháng chiến chống Nhật, thập niên 30,40 thế kỷ XX)
- Vương Mông, Trương Hiền Lượng, Lưu Thiệu Đường, Đặng Hữu Mai, Tòng Duy Hy… (xuất hiện trước sau ngày giải phóng 1949) vẫn đang sáng tác sung sức
- Cao Hiểu Thanh, Lục Văn Phu (1949 và trong Cách mạng văn hóa)
- Tô Thúc Dương, Sa Diệp Tân, Giả Bình Ao, Vương An Ức, Thiết Ngưng, Hàn Thiếu Công, Mạc Ngôn, Lương Hiểu Thanh, Lý Nhuệ, Lư Tân Hoa… (sau Cách mạng văn hóa) đang là chủ lực của văn học đương đại
- Ôn Tân Hoa, Hà Đốn, Hà Thân, Vương Sóc, Phương Phương, Tàn Tuyết, Khâu Hoa Đông… (sinh ra những năm 60 và sáng tác những năm 80, 90 của thế kỷ XX)
- Thế hệ nhà văn trẻ (sinh ra những năm 70, 80 và sáng tác rất sớm, các nhà phê bình gọi đây là thế hệ “vãng sinh đại”): Vệ Tuệ, An Ni Bảo Bối, Hàn Hàn, Quách Kính Minh, Miên Miên…
1.2 Các trào lưu văn học chính
Về tên gọi của các thời kỳ trong văn học Trung Quốc từ năm 1978 đến nay trong nhiều công trình nghiên cứu cũng chưa thống nhất Thời kỳ đầu họ gọi là văn học “thời kỳ mới”, về sau thấy có vẻ chính trị quá thì gọi là “văn học thập niên
80, thập niên 90”…
Từ 1986 đến nay, Văn học Trung Quốc phát triển khá đa dạng về trường phái cũng như phương pháp nghệ thuật Các nhà văn khá tự do trong sáng tác của mình Điều này có nguyên nhân của nó:
- Từ 1942 – 1979: từ 1942, sau cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An Từ 2.5.1942 đến 23.5.1942, Mao Trạch Đông triệu tập đông đảo văn nghệ sĩ khu giải
Trang 12phóng về Diên An để “chỉnh phong”, vạch rõ đường lối mới cho họ trong bài Bài nói chuyện tại cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An, từ đó, bài nói chuyện này được coi
là nội dung cơ bản của tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông Bài nói chuyện đặt vấn đề quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, giữa văn nghệ và hiện thực, vấn đề đấu tranh văn học… Ông nhấn mạnh việc phải đại chúng hóa văn nghệ song song với
công tác nâng cao trình độ quần chúng Ông dẫn lời Lenine: “Lẽ nào trong lúc quảng đại quần chúng còn thiếu bánh mì đen, chúng ta lại cho bánh bích quy được tinh chế ngọt ngào dùng cho một số ít người hay sao?”, rồi nhấn mạnh:
“Đối với công nông binh, yêu cầu đầu tiên chưa phải là thêu hoa trên gấm mà là cho than trong giá rét.” Nhà văn phải tự cải tạo mình, đứng trên quan điểm của
Đảng, thâm nhập thực tế… Như vậy đường lối văn nghệ trong giai đoạn này là:
1,Văn nghệ phục tùng chính trị, phục vụ đại chúng đồng thời dần dần nâng cao trình độ quần chúng
2, Muốn cho văn nghệ phổ cập thì nên dùng những hình thức bình dân truyền thống, nhưng đồng thời bỏ những cái hủ lậu, lạc hậu đi, cái nào tiến bộ, cách mạng thì giữ
Đường lối này cơ bản không thay đổi sau ngày nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời cho tới sau Văn Cách
- Từ năm 1979 trở đi, người ta bỏ khẩu hiệu đó, thay thế bằng khẩu hiệu “văn nghệ phục vụ nhân dân”
- Không thể bỏ qua những ảnh hưởng của văn học nước ngoài Từ thập niên 80 trở
đi, lý luận văn nghệ phương Tây được ồ ạt giới thiệu ở Trung Quốc Các nhà văn
đã học tập khá nhiều từ các lý luận này để làm giàu cho sáng tác của mình, giúp họ biểu hiện sinh động cuộc sống và xã hội Trung Quốc
Trang 13Từ đó đến nay, nhìn chung Văn học Trung Quốc đi qua khá nhiều trào lưu văn học (có nhà nghiên cứu đã thống kê có đến 28 trào lưu văn học1) Trong đó, chúng tôi điểm qua một số trào lưu chính sau:
1.2.1 Văn học thời kỳ đầu sau cách mạng văn hóa là “văn học bộc lộ”,
“văn học chấn thương” (thương ngấn) (1976-1981) Những vết thương, nỗi đau trong tâm hồn và thể xác người trí thức được miêu tả chân thực như những chứng
cứ xác thực nhất cho một giai đoạn lịch sử đen tối Phê phán những chính sách sai lầm, những chủ trương cực tả dẫn đến sự đày đoạ vô cớ, những cái chết oan khốc
từ chủ tịch nước, các nguyên soái lừng danh đến các học giả, văn nghệ sĩ và những người dân vô tội, tố cáo bọn phản động, Hồng vệ binh… Điển hình của Văn học
giai đoạn này có thể kể như Trương Hiền Lượng (Một nửa đàn ông là đàn bà, Cây lục hóa…), Lưu Tâm Vũ (viết truyện ngắn là chủ yếu: Mèo mắt to, Chủ nhiệm lớp,
Vị trí tình yêu, Tỉnh lại đi em ơi…), Trịnh Nghĩa (Cây phong…), Phùng Ký Tài (Ôi), Thẩm Dung (Mãi mãi là mùa xuân), Vương Á Bình (Sứ mệnh thiêng liêng), Khổng Tiệp Sinh (Bên bờ sông nhỏ), Lư Tân Hoa (Vết thương), Diệp Tân (Năm tháng sa đà), Tòng Duy Hi (Ngọc lan đỏ dưới tường ngục) … Văn học vết thương
tạo nên một phong trào lớn trong nền văn học mới Trung Quốc; dù sự tồn tại của
nó không dài nhưng ảnh hưởng đến các trào lưu, khuynh hướng khác rất lớn, là trào lưu đi đầu trong việc dám nhìn thẳng và nói thật về quá khứ, về lịch sử, đem lại cho văn học một cái nhìn mới đầy tính nhân văn Đó là nhờ sự ra đời của tiểu thuyết “vết thương” mà Văn học Trung Quốc đã được giải thoát khỏi y muốn phải phục tùng chính sách và những quan niệm sai lầm, vạch trần sự phi nhân tính của
xã hội, dám nói lên sự thật…
1.2.2 Văn học phản tư (1981-1985): phản tư có nghĩa là nhìn lại, suy nghĩ lại trong khi dòng Văn học thương ngấn nặng về phơi bày, tố cáo Lúc này các nhà văn không phơi bày những uất ức trong lòng họ sau 10 năm Cách mạng Văn hóa nữa, mà suy gẫm lại những năm tháng đó, tìm cách giải thích những nguyên nhân
1 Hồ Sĩ Hiệp, Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại, Nxb.Tổng hợp
Trang 14gây ra 10 năm động loạn, qua đó đưa ra giải pháp cho xã hội để bi kịch không lặp lại Ví dụ những tác phẩm viết về sai lầm của cải cách ruộng đất 1950, phong trào
chống hữu phái 1957… Một số tác phẩm tiêu biểu: Câu chuyện bị cắt xén sai (Như Chí Quyên), Lời chào Bôn sê vích (Vương Mông), Lý Thuận Đại làm nhà (Cao Hiểu Thanh), Truyền kỳ núi Thiên Vân (Lỗ Ngạn Chu), Dương Liễu Chi (Quách Minh) …
Tuy vậy, cũng cần nói thêm rằng, hai trào lưu trên nở rộ vào khoảng thập niên 80 thế kỷ XX và hiện nay hai trào lưu văn học này không còn phát triển mạnh như trước, nhưng “vết thương Văn cách” vẫn còn là một nỗi đau khắc khoải được khá nhiều tác giả đề cập đến trong tác phẩm của mình, dù ít hay nhiều, dù không còn là chủ đề chính mà chỉ được nhắc sơ qua Và đặc biệt là nghệ thuật của những tác phẩm sau này vượt lên hẳn so với những tác phẩm cùng viết về chủ đề vết
thương của thời kỳ 1978 – 1985 Có thể kể như Balzac và cô thợ may Trung Hoa (Đới Tư Kiệt), Kinh Thánh của một người (Cao Hành Kiện), Đỗ Quyên đỏ
(Anchee Min) hay những tác phẩm của Dư Hoa (Huynh đệ), Thíết Ngưng (Những người đàn bà tắm)…
1.2.3 Văn học cải cách (1985-1990): Đây là giai đoạn Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách, mở cửa để cải thiện tình hình kinh tế đất nước Công cuộc cải cách và những bài học thành công, thất bại, những chuyển biến xã hội và con
người đã được phản ánh vào văn học Một số tác giả như Vương Mông (Thanh âm mùa xuân), Chu Khắc Cần (Trăng núi không hiểu chuyện thầm kín), Trương Hiền Lượng, Giả Bình Ao (Phế đô), Tô Thúc Dương (Khoảng giữa cuộc đời), Mạc Ngôn (Rừng xanh lá đỏ)… Qua các tác phẩm, các nhà văn chứng minh rằng, cải
cách mở cửa có thể làm thay đổi quan hệ xã hội, phương thức sản xuất, nếp sống nếp nghĩ của mọi người; đồng thời cũng chỉ rõ cuộc cải cách đó ảnh hưởng đến quan niệm đạo đức, thước đo giá trị, truyền thống văn học của cộng đồng xã hội Dòng tiểu thuyết này cũng phê phán một số lãnh đạo các cấp lợi dụng cải cách trục lợi cá nhân Nói chung cả ba dòng văn học này đều đề cập đến mối tương quan giữa chính trị và văn học
Trang 151.2.4 Văn học tầm căn (1984-nay) Các nhà văn Trung Quốc ngoài việc bám chắc vào hiện thực còn muốn vượt qua thế giới hiện thực, chỉ ra những quy luật quyết định sự phát triển của dân tộc và sự sinh tồn của nhân loại Và đó là dòng văn học tầm căn (tìm về cội nguồn) Ba dòng văn học trước có khi gây ra sự phản cảm vì sự xã hội hóa và chính trị hóa, thì các nhà văn “tầm căn” quay về ca ngợi tinh thần dân tộc và văn hóa truyền thống, chú trọng đến văn hóa, lịch sử của Trung Quốc Khuynh hướng này quan tâm tới nguy cơ đánh mất giá trị văn hóa
mà Trung Hoa gặp phải khi bước vào hiện đại hóa: Gót sen ba tấc, Roi thần (Phùng Ký Tài), Viễn thôn (Trịnh Nghĩa), Đàn hương hình (Mạc Ngôn), Cha, cha, cha; Nữ, nữ, nữ, Từ điển Mã Kiều, Sông Nam núi Bắc (Hàn Thiếu Công), Tháng Chạp, Tháng Giêng (Giả Bình Ao), Ba vua: Vua cờ, Vua trẻ con, Vua cây (A
Thành)… Giá trị của dòng văn học này là vượt lên trên bình diện hiện thực để đi sâu vào lịch sử, suy gẫm văn hóa học và nhân loại học để tìm hiểu Trung Quốc
1.2.5 Văn học thực nghiệm: (còn được gọi bằng nhiều cái tên như văn học
“phái hiện đại”, “tiên phong”, “trào lưu mới”) chú trọng cách tân, vượt lên truyền thống, tìm kiếm một kiểu sáng tác mới nhấn mạnh đến tính hiện thực Nhà văn đó
phải ý thức sáng tạo cái mới rõ rệt và có phong cách riêng: Sống của Dư Hoa, Thương lão đích phù vân (Phù vân già cỗi) của Tàn Tuyết, Tô Đồng với Đèn lồng
đỏ treo cao, Mạc Ngôn với Đàn hương hình, Báu vật của đời…
Có lẽ đây là trường phái, khuynh hướng được ưa chuộng nhất hiện nay, gần với chủ nghĩa hiện đại phương Tây Các nhà văn chịu ảnh hưởng của các lý thuyết văn học của Rolan Barthes, Milan Kundera… và có sự kết hợp với văn học truyền thống chứ không phải chỉ bắt chước rập khuôn phương Tây Thành tựu của khuynh hướng này có thể nói là đem lại sự khởi sắc cho văn học Trung Quốc gần đây với những đặc điểm như:
- Khai thác tối đa chức năng, dung lượng của thể loại tiểu thuyết
Trang 16- Phong cách ngôn ngữ mới lạ (ảnh hưởng “tiểu thuyết mới” những năm 50,
60 của Pháp) Nhiều khi đi đến quá cầu kỳ, biến văn học thành một “trò chơi văn bản”
- Chú trọng tự sự học: vai trò người kể chuyện, cấu trúc kể chuyện … được
kỹ xảo hóa cao độ (trường hợp Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Đàn hương hình của Mạc Ngôn, Thiếu nữ đánh cờ vây của Sơn Táp…)
- Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, hậu cấu trúc, hậu bi kịch… 1.2.6 Văn học tân tả thực (khoảng giữa thập niên 80 thế kỷ XX): những tác
giả chính có thành tựu ở khuynh hướng này là Lưu Chấn Vân (Lông gà đầy đất, Hoa vàng cố hương, Điện thoại di động, Thị trấn tháp phố…), Trì Lợi (Nhân sinh phiền não, Hễ sướng thì hét lên…), Phương Phương (Phong cảnh), Lý Nhuệ
(Ngân thành cố sự, Cây không gió…), Mạc Ngôn…Văn học tân tả thực ra đời
trong hoàn cảnh sau Cách mạng văn hóa, Trung Quốc bước vào thời kỳ mở cửa, mặt trái của kinh tế thị trường là coi trọng đồng tiền, những giá trị đạo đức bị đảo lộn, những khái niệm về mục đích sống, lý tưởng bị nhạo báng, coi thường… Các tác giả của dòng văn học này ý thức được điều đó, nhưng họ không thỏa mãn với chủ nghĩa hiện thực cũ kỹ trước đây cả về thủ pháp lẫn nội hàm Khác với những nhà văn thuộc phái “thực nghiệm”, nhiều khi quá chú trọng đến hình thức ngôn từ
mà tác phẩm trở nên cao nhã, khó đọc, các nhà văn “tân tả thực” hướng đến ngôn
từ dễ đọc, thô ráp, bình dân, chú ý đến những nội dung tầm thường, vụn vặt,
những lớp người dưới đáy xã hội Họ tuyên bố: “Phương pháp sáng tác của tiểu thuyết tân tả thực vẫn là lấy tả thực làm đặc trưng chủ yếu, nhưng đặc biệt chú trọng tới hình thái nguyên sinh của cuộc sống hiên thực, chân thành đối mặt với hiện thực, đối mặt với nhân sinh” (chuyển dẫn từ Tạp chí VHNN số 1.2008) Trào lưu văn học này được đánh giá là “mở” đến mức tối đa Về thực chất, dòng văn học này có mầm mống từ lý luận “chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến” ở Âu châu từ mấy mươi năm trước mà một thời các nước xã hội chủ nghĩa quy kết là “lý luận xét lại” trong văn học Dòng văn học này yêu cầu nhà văn phải có thái độ trung
Trang 17thực, cởi mở và tự nhiên trong sáng tác, tránh rập khuôn và sáo mòn trong tư duy sáng tạo nghệ thuật
Đặc điểm của trào lưu văn học này nói gọn lại như sau:
- Chú trọng miêu tả những khó khăn sinh tồn của tầng lớp người bình dân, đặc biệt chú ý đến những chi tiết tầm thường, vặt vãnh, nhỏ bé Họ không có ý vẻ vời, thanh lọc mà đưa sự vật về đúng bản chất của nó Đó là lý do tại sao đọc tác phẩm của dòng văn học này mới đầu có vẻ khó chịu vì những chi tiết đôi khi bị
“dung tục hóa”, “tầm thường hóa”
- Nhân vật chính là những người dưới đáy xã hội, kém cỏi, đứng bên rìa cuộc sống, họ không phải là anh hùng, là điển hình giai cấp… nên họ dễ nhận được sự đồng cảm của xã hội
- Vẫn coi trọng cốt truyện, nhân vật, chi tiết Có tiếp thu những thủ pháp nghệ thuật khác như huyền thoại, dòng ý thức… ngôn ngữ thông tục, dễ hiểu, không cần đến sự giải thích của các nhà phê bình
Trung Quốc còn nhiều trào lưu văn học khác được các nhà phê bình đề cập như: vãng sinh đại, tiểu thuyết nữ tính chủ nghĩa … nói chung khá mới mẻ và tự
do gần với đời sống văn học phương Tây
Thực ra cách chia này chưa hẳn chính xác Vì có những tác phẩm bao gồm đặc điểm cả 2, 3 trào lưu Như những tác phẩm của Mạc Ngôn vừa có khuynh hướng văn học Phản tư, vừa có khuynh hướng văn học Tầm căn… thực ra khi các nhà văn sáng tác thì họ không để ý xem phải sáng tác theo trào lưu nào, đó là việc của các nhà lý luận phê bình Tiểu thuyết do nhà văn sáng tạo, còn tư trào là do các nhà phê bình phát minh ra, và họ nhét nhà văn vào những cái túi tư trào do họ
tự đan (trích lời Mạc Ngôn, trong cuốn Mạc Ngôn, Những lời tự bạch) Do đó tên
gọi không quan trọng mà cái chính là chỉ ra được đặc điểm của từng tác phẩm
Trang 18Có một cách chia khác nữa theo nhà nghiên cứu Trương Thanh Hoa:
- Tầm căn, chủ nghĩa lịch sử khai sáng: suy gẫm và phê phán của mọi người về hiện thực (kiểu Trương Hiền Lượng, Vương Mông) Có thể bao gồm ba thể loại: vết thương, phản tư, tầm căn
- Tân lịch sử hoặc chủ nghĩa lịch sử thẩm mỹ: chú trọng đến tư duy duy mỹ trong sáng tác Có những cách tân trong nghệ thuật (kiểu Cao Hành Kiện, Tàn Tuyết)
- Chủ nghĩa lịch sử du hý: văn chương mang tính chất giải trí (một số nhà văn trẻ hiện nay như Quách Kính Minh, Hàn Hàn…)
Hay có người cho rằng văn học Trung Quốc hiện nay đang tồn tại hai loại văn học: văn học cao nhã và văn học thông tục
Văn học cao nhã có xu hướng xa rời thời đại và độc giả, hướng đến cái mới, tìm tòi phương pháp thể hiện, coi nhẹ nội dung, thời đại, xã hội
Văn học thông tục (trong lịch sử văn học Trung Quốc, loại văn học này thường hay viết về nghĩa hiệp, công án, kỳ tình…) ngày nay phát triển rầm rộ với văn học quan trường, văn học du lịch, văn học kiếm hiệp, văn học ma, văn học trinh thám, văn học pháp chế… đặc điểm của loại văn học này là cốt truyện ly kỳ, hấp dẫn, đáp ứng tính hiếu kỳ của độc giả Cũng có một số tác phẩm có nội dung không lành mạnh như bạo lực, dâm đãng, làm băng hoại thanh niên1
Giai đoạn hiện nay, văn học Trung Quốc cũng ảnh hưởng bởi nền kinh tế thị trường, chính sách mở cửa… nên có những mặt tốt và xấu song hành tồn tại Ví dụ: trào lưu văn học quan trường, trào lưu văn học mỹ nữ (Đường Mẫn, Tam Mao,
Vệ Tuệ, Miên Miên, Cửu Đan, Sơn Táp…), văn học chạy theo đồng tiền (với việc giới truyền thông quảng cáo và lập danh sách những nhà văn có sách bán chạy nhất, viết nhanh nhất…) Văn học Trung Quốc đương đại chưa có sự kiểm định giá
1
theo nhận định của Lê Huy Tiêu, Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ đổi mới, NXB ĐHQG
Hà Nội 2006
Trang 19trị chính xác nên việc cực đoan khen hoặc chê quá mức đều không đúng tinh thần khoa học
1.3 Đặc điểm của văn học Trung Quốc thời kỳ mới
1.3.1 Đẩy lùi ảnh hưởng của văn học truyền thống và tư tưởng Nho giáo: Theo lời của học giả Nguyễn Hiến Lê (trong Văn học hiện đại Trung Quốc, NXB Nguyễn Hiến Lê SG 1965): văn học Trung Quốc như một con sông lớn, mà
ở mỗi thời kỳ con sông này có nhiều nhánh nhỏ, tuy có khác nhau chút ít nhưng nhìn chung vẫn chịu ảnh hưởng của mỹ học truyền thống và tư tưởng Nho giáo, nhưng sang đến thời hiện đại thì khác hẳn, con sông văn học Trung Quốc gặp một khúc quanh gập ghềnh, thay đổi hẳn Quá trình chuyển mình từ văn học cổ điển
sang văn học hiện đại là một quá trình chậm chạp, từ thời Thanh (Hồng Lâu Mộng…), đến thời cận đại (Lương Khải Siêu, Hoàng Tuân Hiến, Đàm Tự
Đồng…), sang thế kỷ XX, bắt đầu từ thời Ngũ Tứ (1919) thì văn học hiện đại hình thành và rõ nét Đến thời đương đại thì nó càng biến chuyển rõ rệt hơn Những tư tưởng Nho giáo hoàn toàn bị đẩy lùi từ thời Ngũ Tứ dưới khẩu hiệu “Hỏa thiêu Khổng gia điếm” (Đốt sạch cửa hàng họ Khổng) của văn học mới, sang đến thời Văn học sau 1949 cũng không còn bóng dáng Và đến văn học đương đại thì gần như không còn dấu vết Kể cả những ảnh hưởng khác của văn học truyền thống như hình thức, mỹ học cổ điển cũng đã bị thay đổi
1.3.2 Tiếp thu và chịu ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây: Thực ra không phải đến thời kỳ đương đại thì văn học mới ảnh hưởng văn hóa phương Tây Quá trình này có lẽ hình thành từ sau chiến tranh Thuốc phiện (1842) Ban đầu người Trung Quốc tiếp thu kỹ thuật, công nghệ phương Tây, và họ còn biện minh rằng
“văn minh vật chất của phương Tây cao, nhưng văn hóa tinh thần của người Trung Quốc còn cao hơn” như một hình thức thắng lợi tinh thần để không ngó ngàng đến văn hóa phương Tây… Nhưng sau đó thì họ phát hiện phương Tây cũng có triết học, có văn học, có âm nhạc… ảnh hưởng này gần như là một quá trình vô thức và không cưỡng nổi Quá trình này phải xét đến công lao của các dịch giả (Lương Khải Siêu, Nghiêm Phục, Lâm Thư…) mà dịch phẩm của họ đã tác động rất nhiều
Trang 20đến các thế hệ nhà văn Trung Quốc Ví dụ, thế hệ nhà văn Ngũ Tứ như Hồ Thích,
Lỗ Tấn đã chịu ảnh hưởng từ thuyết tiến hóa qua bản dịch Thiên diễn luận
(Huxley) mà Nghiêm Phục đã dịch
Chúng ta đã từng thấy ảnh hưởng của Nietzsche, các nhà văn Nga, Nhật đối với Lỗ Tấn, Phiếm thần luận và văn học lãng mạn phương Tây đối với Quách Mạt Nhược, văn học Pháp đối với Ba Kim, kịch Tsekhov, B.Shaw với Tào Ngu… và chính họ chứ không ai khác làm rạng rỡ văn học thời kỳ Ngũ Tứ Do đó vấn đề là tiếp thu như thế nào? Một nhà văn lớn không thể nhờ những ảnh hưởng nước ngoài mà có thể vĩ đại được
Đến thời kỳ sau, Trung Quốc gần như chỉ dịch văn học Liên Xô và các nước Đông Âu Giai đoạn Cách mạng Văn hóa thì bị ngưng trệ Và sau đó thì bùng phát dữ dội Công việc dịch thuật đóng vai trò rất quan trọng trong việc giới thiệu và giao lưu văn hóa Trong một thời gian ngắn, hầu hết các tác phẩm nổi tiếng, các nhà văn lớn, các trào lưu sáng tác, trường phái lý luận của phương Tây trong vòng 100 năm qua đều được dịch và giới thiệu ở Trung Quốc: lý luận chủ nghĩa hình thức, phê bình mới, chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, tiếp nhận văn học, hiện tượng học, ký hiệu học, hậu hiện đại, văn học so sánh…
Nhiều nhà xuất bản cho ra đời hàng loạt tác phẩm lý luận văn học phương Tây: Tủ sách học thuật thế giới nổi tiếng dịch ra tiếng Hán, Tuyển tập tư liệu triết học giai cấp tư sản ngoại quốc hiện đại Việc dịch các tác phẩm văn học ngoài nước cũng được quan tâm Ra đời một số tủ sách như Văn học ngoại quốc đương đại, Văn học Nga- Xô Viết, Văn học Nhật Bản, Nghiên cứu Văn học nước ngoài, Tập san nghiên cứu văn học ngoại quốc, Đại báo văn học ngoại quốc…
Việc du nhập ồ ạt văn hóa nước ngoài đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống xã hội (nhất là có sự tác động song song của việc cải cách mở cửa theo mô hình kinh tế thị trường), đến cách nghĩ, cách cảm, cách viết của lớp trẻ Du nhập tràn lan, thiếu gạn đục khơi trong nên trong chừng mực nào đó cũng gây ra sự hỗn loạn
Trang 21- Hoặc là người ta tẩy chay, bài xích một cách cực đoan, giản đơn, cho phương Tây là tà thuyết Chỉ cần căn cứ vào lý luận Xô viết cũ là quá đủ dùng cho
họ và con cháu đời sau rồi
- Một số khác thì tôn sùng phương Tây và vứt bỏ lý luận văn học Xô viết, cho là hết thời, xem phương Tây là thần tượng, hoàn toàn đồng ý, chấp nhận và đồng cảm với nó, cho rằng học thuyết phương Tây hoàn toàn đúng đắn, có thể giải quyết mọi vấn đề của lý luận văn học Ví dụ như đề cao “libido” (phiếm tính luận) của Freud và cái gì cũng giải thích bằng nó (ở ta Vũ Trọng Phụng đã làm điều này
từ lâu)
Vấn đề ở đây là bản lĩnh văn hóa: tiếp nhận như thế nào Nhiều nhà văn trẻ chịu ảnh hưởng của các lý thuyết mới: tự sự học, hậu hiện đại, dòng ý thức… và nếu vận dụng tốt thì đó là thành tựu: Vương Mông với “dòng ý thức” của phương Tây: “tuân theo hình ảnh phản chiếu của cuộc sống trong tâm linh mọi người, trải qua sự nghiền ngẫm trong tâm linh, trải qua những ký ức, lắng đọng, hoài niệm, quên lãng rồi lại hồi ức…” Hay trường hợp của Mạc Ngôn: hiện thực huyền ảo, tượng trưng nhưng mang đậm màu sắc phương Đông, triết lý nhân sinh sâu sắc… Các nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ do quá nóng vội muốn đuổi kịp và sánh vai với các nước khác sau thời gian tụt hậu Cách mạng Văn hóa nên Trung Quốc đã “diễn lại” toàn bộ các trào lưu tiểu thuyết thế giới từ giữa thế kỷ 19 đến nay một cách nhanh vội và kém chất lượng Thực ra chỉ có đứng trên mảnh đất của mình, viết những cái thuộc dân tộc mình trên cơ sở tiếp thu tinh hoa nhân loại thì mới có những tác phẩm hay mà thôi
1.3.3 Tình dục là một yếu tố thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm văn học đương đại Điều này thật ra cũng không xa lạ với truyền thống văn học Trung Quốc Trung Quốc từ xưa đã có nhiều tác phẩm gắn văn học với tính dục
Trong Tây Sương Ký, Mẫu Đơn Đình, Kim Bình Mai, Liêu Trai chí dị, Hồng Lâu Mộng, Tố Nữ kinh, Nhục Bồ đoàn (nếu xem hai tác phẩm sau cùng này là tác phẩm văn học)… yếu tố tình dục xuất hiện với mật độ cao thường được sử dụng
với nhiều chức năng: phản phong, giải phóng cá tính, giải trí, gây hấp dẫn… Sang
Trang 22đến văn học đương đại, đăc biệt là những năm cuối thế kỷ XX, tính dục trong tác phẩm thường có nhiều ẩn nghĩa chứ không đơn thuần mang chức năng giải trí và câu khách: khái quát, ví dụ, trong tác phẩm Trương Hiền Lượng là muốn ám chỉ đến thân phận chính trị, trong Mạc Ngôn là muốn nói đến giải phóng người phụ
nữ, trong Vệ Tuệ, Cửu Đan là muốn đề cập đến đòi hỏi bản năng, đến đời sống thị dân hiện đại Người đọc Trung Quốc dần dần xem đó là một yếu tố bình thường không có gì là ghê gớm, phải cấm đoán… nói chung là khá thoải mái tự do dân chủ Tuy vậy, hiện tượng này cũng có tác dụng hai mặt Một mặt cho thấy không khí dân chủ tự do trong văn học, nhưng mặt khác lại có vẻ như tuyên truyền lối sống hưởng lạc, coi thường giá trị đạo đức, truyền thống… Phương Tây giờ đây cũng còn muốn quay về truyền thống nhưng phương Đông lại làm ngược lại, giống phương Tây thập kỷ 60, phong trào hippy…
1.3.4 Tính thị trường của văn học:
Trước thời kỳ đổi mới, Trung Quốc phân biệt rất rõ, văn học là văn học, hàng hóa là hàng hóa, văn học là “kiến trúc thượng tầng”, hàng hóa là “hạ tầng cơ sở”, văn học có liên quan đến tiêu dùng, giải trí đều bị phê phán nặng nề Phong trào cải cách làm thay đổi cuộc sống, cách nghĩ của người Trung Quốc nhanh chóng Giữa cuối thập niên 80, khái niệm “văn hóa mở” cho thấy quan niệm thoáng về văn hóa và hàng hóa Hai chữ thị trường không chỉ có ý nghĩa trên lĩnh vực kinh tế mà còn biểu hiện trong văn hóa, nghệ thuật Nhà văn quen dần với khái niệm “thị trường”, “thương phẩm”, và coi đó như một sự tất yếu của xã hội Phim ảnh, sách báo, phương Tây tràn vào Đại lục, tiểu thuyết võ thuật, kiếm hiệp của Đài Loan, Hồng Kông cũng được người Trung Quốc ưa chuộng… những hoạt động này ảnh hưởng rất rõ đến tư tưởng nhà văn Trung Quốc, làm thay đổi cái gọi
là “thuần văn học” Vị trí của văn học trong thời kỳ mới đặt ngang hàng, song song với kinh tế, không ai còn phân biệt sự đối lập giữa văn học, kinh tế, đời sống
“Kinh tế thị trường” đã làm nảy sinh một khái niệm mới – đó là khái niệm “văn học thị trường”
Trang 23Nhà văn Trung Quốc ngày nay đã sống được với nghề văn, thậm chí trở nên giàu có chính đáng nhờ sáng tác Tiền tác quyền văn học khá cao, hoặc khi tác phẩm đó được chuyển thể thành điện ảnh thì nhà văn cũng được lợi Trương Hiền
Lượng mở công ty riêng, xây phim trường, Giả Bình Ao xuất bản và tái bản Phế
Đô nhận nhuận bút 1 triệu nhân dân tệ (tương đương hơn 2 tỉ tiền Việt Nam, thời
điểm năm 1993), Mạc Ngôn, Dư Hoa… nằm trong top 10 nhà văn viết nhanh nhất
Trung Quốc, Vương Sóc chuyển thể tiểu thuyết Khát vọng thành phim truyền hình
và trở thành nhà văn ăn khách, Quách Kính Minh 3 năm liền nằm trong danh sách
100 người giàu nhất Trung Quốc (Forbes Trung Quốc), năm 2007 nhà văn này còn đứng đầu danh sách Những nhà văn triệu phú Trung Quốc với thu nhập khoảng 11 triệu tệ/năm… Tình hình xuất bản ở Trung Quốc khá giống phương Tây (trường
hợp tác giả bộ sách Harry Potter trở thành tỷ phú nhờ xuất bản sách), ở Việt Nam
rõ ràng là chưa thấy
Tính chất thị trường của văn học đương đại Trung Quốc thể hiện rất rõ Năm 2004 là thời kỳ đỉnh cao của văn học trẻ, những tác giả thế hệ 8X chiếm gần 300-400 người, nhưng đến năm 2006 con số những nhà văn thuộc thế hệ 8X chỉ còn khoảng 30-40 người, giảm đến 90% Theo khảo sát của nhật báo Nam Kinh,
có đến 90% số nhà văn 8X bỏ nghề viết, 70% viết ít đi để cộng tác với các nhà xuất bản hoặc đi viết thuê với thu nhập 1.000-2.000 tệ mỗi tháng Ông Tang Vĩnh
Thanh - Phó Giám đốc nhà xuất bản Trung Tín đã bày tỏ sự lo ngại: “Chính nhà xuất bản và giới kinh doanh sách đã hại những nhà văn thế hệ 8X, tính thương mại quá độ đã bao bọc và bóp chết khả năng hiểu biết của một bộ phận những nhà văn trẻ Tuy nhà xuất bản và giới kinh doanh sách khai thác họ nhưng lại phạm phải căn bệnh thành tích Những nhà văn thế hệ 8X khi mới bắt đầu sáng tác thì
vô cùng hồn nhiên, đây cũng chính là nguyên nhân khiến họ nhận được sự ủng hộ của những người đồng lứa Tuy nhiên, dưới sức “cám dỗ” của giới kinh doanh sách, để có tiền và nổi tiếng, một bộ phận trong số họ dần dần rời xa sự thuần túy, bắt đầu tìm kiếm khẩu vị khác Theo dòng chảy sáng tác mang tính thương mại ấy
Trang 24họ chỉ có thể cho ra những sản phẩm giống nhau, hoàn toàn đánh mất cá tính của mình Sách không có cá tính, ai sẽ mua?” 1
Tính thị trường của văn học còn thể hiện ở y thức dân chủ, tự do trong sáng tác và xuất bản Ý thức thể hiện cá nhân, thậm chí là phô bày cá nhân trong tác phẩm rất rõ Một số tác phẩm cũng bị cấm hoặc phê phán nhưng nhìn chung vẫn dân chủ tự do hơn trước đó và hơn nhiều nước
1.3.5 Sự xuất hiện và trỗi dậy mạnh mẽ của văn học nữ lưu: Nhà văn nữ chiếm ưu thế trên văn đàn, sáng tác phong phú, đều tay và có tiếng vang
- Các nhà văn thế hệ 5X: Thiết Ngưng, Trì Lợi, Trương Kháng Kháng, Trương Khiết, Vương An Ức…
- Các Nhà văn thế hệ 7X, 8X: Vệ Tuệ, Cửu Đan, Sơn Táp, An Ni Bảo Bối, Miên Miên, Xuân Thụ, Trương Duyệt Nhiên…
1.3.6 Xuất hiện nhiều nhà văn Trung Quốc nổi tiếng ở hải ngoại:
Thời kỳ sau Ngũ Tứ, Trung Quốc có nhà văn Lâm Ngữ Đường viết bằng
tiếng Anh khá nhiều ở Mỹ, hai cuốn được phương Tây thích nhất là The Important
of Living (Một quan niệm về sống đẹp) và My Country and My People (Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa) Ngoài ra có thể kể: Moment in Peking (Khoảnh khắc
ở Bắc Kinh), A Leaf In The Storm (Chiếc lá trong cơn bão), Lady Wu (Võ Tắc Thiên), Gay Genius (Tô Đông Pha), Truyện truyền kỳ Trung Quốc… Tác phẩm của ông được dịch ra 14 thứ tiếng Cuốn The Important… đứng đầu số sách bán
chạy ở Mỹ suốt 11 tháng
Hiện nay, Trung Quốc có khá đông đội ngũ các nhà văn sinh sống và viết ở nước ngoài, dành được nhiều giải thưởng lớn Trong số đó có thể nhắc sơ lược một
số tên tuổi sau:
- Cao Hành Kiện (高行健, 1940 -): Nhà văn, dịch giả, nhà viết kịch, đạo diễn,
nhà phê bình và họa sĩ Trung Quốc đương đại Ông sinh tại Giang Châu, Giang
1Hannah Beech, The new radical, http://www.taiwanmilitary.org
Trang 25Tây trong thời kỳ kháng Nhật Cha là nhân viên ngân hàng, mẹ là một nghệ sĩ và
là người khuyến khích Cao đến với sân khấu và văn học Học tiếng Pháp tại Học viện ngoại ngữ Bắc Kinh (1957-1962), ra trường năm 1962 làm việc cho tạp chí
Trung Hoa tái thiết với tư cách là biên dịch Suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông
không sáng tác gì, bị đưa đi lao cải ở nông trường Ông nổi tiếng từ những năm
1980 với những thể nghiệm trên lĩnh vực kịch nói Những vở kịch của ông như
Tuyệt đối tín hiệu (绝对信号, Dấu hiệu báo động), Xa trạm (车站, Trạm xe) được viết dưới ảnh hưởng của Đợi chờ Godot (Beckett), Dã nhân 野 人…được xem
như là những tìm tòi về nghệ thuật Những vở kịch gây tranh cãi của ông kết hợp nhiều yếu tố từ kịch cổ điển Trung Hoa (hí kịch) và kịch hiện đại phương Tây mà
đại diện là Artaud, Brecht và Beckett Cuốn sách biên khảo Hiện đại tiểu thuyết sơ khảo kỹ thuật (现代小说技巧初探, Sơ khảo kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại, 1981) gây ra một cuộc luận chiến về “chủ nghĩa hiện đại”… Năm 1986, Bỉ ngạn (彼岸,
Bờ bên kia) bị cấm và từ đó đến nay không có một vở kịch nào của ông được diễn
ở Trung Quốc nữa
Năm 1982, ông bị chẩn đoán là ung thư phổi, căn bệnh này đã giết chết cha ông trước đó vài năm Như một định mệnh ông sắp xếp và chấp nhận cái chết thì
lại được xác nhận là chẩn đoán nhầm (một phần tự truyện trong Linh Sơn) Lúc này Xa trạm và một số tác phẩm khác của ông lại bị phê phán cho là học theo
phương Tây suy đồi và làm ô uế tinh thần Trung Quốc khiến ông mệt mỏi Ông quyết định rời Bắc Kinh đi lang thang dọc sông Dương Tử, mười tháng ròng đi
qua 15.000km lãnh thổ Trung Quốc đã thai nghén tiểu thuyết Linh Sơn (灵山, Núi
thiêng), câu chuyện về một người đàn ông tìm kiếm sự yên tĩnh trong tâm hồn và
tự do Chuyến du hành “odyssey” đó đã cho ông khám phá đất nước Trung Quốc với tư cách là một nhà khảo cổ học, một nhà sử học, một nhà văn… Chiều sâu tự
thuật trong Linh Sơn là cuộc khám phá cội rễ, nhân loại, mối quan hệ giữa người
và người, giữa người và bản thân… Trong cuộc hành trình đơn độc, nhân vật chính tìm kiếm nhằm xoa dịu nỗi cô đơn nhức nhối của mình đã phóng chiếu ra
Trang 26nhân vật Mi để có người trò chuyện với Ta, Mi lại phóng chiếu ra Nàng và Hắn…
một mối quan hệ kép giữa các vai của một con người Linh Sơn hoàn thành năm
1989 khi Cao Hành Kiện đã sang Pháp và định cư tại đây, được xuất bản tại Đài Bắc năm 1990, được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh năm 1995 Ông được trao
giải Nobel năm 2000 Ngoài Linh Sơn, ông còn có Nhất cá nhân đích Thánh Kinh (一个人的圣经, Kinh thánh của một người, 2000) miêu tả cái nhìn về Cách mạng
Văn hóa qua đôi mắt của một nhà văn như là một nạn nhân chính trị Tác phẩm này cũng sử dụng nhiều đại từ nhân xưng như “anh” (Cao lúc còn trẻ), “anh ấy” (lúc già), và “cô ấy” (người phụ nữ Đức gốc Do Thái)
“Từ kinh nghiệm viết văn của tôi, có thể nói rằng văn chương vốn dĩ là sự xác nhận của một người về giá trị của chính anh ta và nó có giá trị trong suốt quá trình viết văn, văn học được sinh ra là để phục vụ nhu cầu tự thể hiện mình của nhà văn Dù cho nó có ảnh hưởng đến xã hội sau khi nó được hoàn tất hay không
và ảnh hưởng này không do nhà văn quyết định” (Diễn từ nhận giải Nobel 2000)
Tác phẩm Cao Hành Kiện sử dụng nhiều phong cách và kỹ thuật văn
chương khác nhau, và nhiều giọng điệu người trần thuật Ví dụ ở Linh Sơn là một
nhật ký du hành, miêu tả những miền quê yên tĩnh, câu chuyện tình yêu bao gồm
cả những chi tiết lịch sử lẫn huyền thoại dân gian
Còn là một họa sĩ, Cao tự minh họa tác phẩm của mình và đã có gần 30 triển lãm tranh Ông cũng dịch nhiều tác phẩm của Beckett, Ionesco, Artaud và Brecht sang tiếng Trung Ông nhận được nhiều giải thưởng như Hiệp sĩ văn
chương (Pháp) năm 1992, Huân chương Cộng đồng (Bỉ) năm 1994, Giải thưởng tiểu thuyết cho các nhà văn Trung Quốc ở nước ngoài năm 1997…
Ông là nhà văn Trung Quốc nổi tiếng nhất ở nước ngoài hiện nay Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và kịch ông được diễn khắp nơi trên thế giới Ông có nhiều cuộc Hội thảo riêng về tác phẩm của mình, được xem như là một hiện tượng của văn học Trung Quốc ở nước ngoài Tuy vậy, chính quyền Trung Quốc không công nhận tài năng của Cao Hành Kiện, họ cho rằng giải
Trang 27Nobel dành cho ông “ như là một sự sỉ nhục và cũng là sự khinh thường đối với
chúng ta” (Bắc Kinh Văn báo), “đây là một trò đùa không đúng chỗ, nó sẽ làm mất
uy tín của Ủy ban Nobel dưới con mắt một bộ phận dư luận Trung Quốc” (Văn hối báo), nhất là khi Cao lại không còn mang quốc tịch Trung Quốc từ năm 1998
Nhiều học giả nước ngoài cũng cho rằng “Cao chỉ thuộc loại tầm tầm Ở Trung Quốc còn nhiều nhà văn khác xuất sắc và quan trọng hơn”, họ cho rằng Cao Hành Kiện được giải Nobel là sự lựa chọn “mang động cơ chính trị” Tuy vậy cũng có nhiều người khen ngợi: “ bạn sẽ vỗ tay tán thưởng những đoạn văn du ký đặc sắc, những cảm xúc lang thang, những luận bàn đạo đức, những câu chuyện ngụ ngôn
mà không phải ngụ ngôn, những đoạn dân ca, những lời tán tụng giả huyền
thoại… tóm lại văn chương tuyệt đẹp” (Linda Jaivin, Pháp) Có thể đồng tình với nhận xét này của Linda Jaivin, người đọc sẽ tìm lại phong vị miêu tả thiên nhiên
trong Linh Sơn khá đẹp như văn của Thẩm Tòng Văn (một nhà văn hương thôn thời Ngũ Tứ, nổi tiếng với tiểu thuyết Biên Thành)
Tại Việt Nam, Linh Sơn cũng gây nhiều dư luận và có đến ba bản dịch khác
nhau cho thấy sức hấp dẫn của nó
- Đới Tư Kiệt: sinh ra và lớn lên tại Tứ Xuyên Thời trẻ phải trải qua một cuộc tự
cải tạo trong Cách mạng văn hoá Năm 1984, sang Pháp học đạo diễn Ông cũng từng viết khi ở Trung Quốc nhưng lúc đó vẫn phải qua kiểm duyệt ghê gớm và nhà văn phải tôn trọng đường lối chính trị đương thời Trong gần 20 năm ở Pháp, ông vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc vì ông cho rằng với một người nghệ sĩ, quốc tịch không chỉ là tờ giấy vô hồn mà nó còn dính đến vấn đề bản sắc văn hoá của con người mà anh ta đề cập trong tác phẩm của mình Ông có nhiều tác phẩm đã in và
chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh, ví dụ như Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa, Mặc cảm của D, Hai cô gái và ông chủ vườn thuốc…
Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa là tác phẩm đầu tay, thành công rực rỡ
khi ra mắt tại Pháp năm 2000, ngay lập tức trở thành best-seller và được 5 giải thưởng,đđược xuất bản tại 25 nước, được chuyển thành phim cùng tên do chính
Trang 28tác giả làm đạo diễn Phim được chính thức chọn tham dự liên hoan phim Cannes
2002 và được đề cử giải Quả cầu vàng cho phim hay nhất năm 2003 Balzac… kể
về câu chuyện hai chàng thanh niên thành thị bị đưa về nông thôn cải tạo năm
1971 trong Cách mạng văn hóa Tại đây, họ gặp và yêu một cô bé thợ may, cải tạo
cô bé này bằng văn học, bằng tiểu thuyết của Balzac Với sự tiếp cận những giá trị văn hoá phương Tây, thông qua các tác phẩm văn học cổ điển hay âm nhạc đã giúp các nhân vật chính của truyện thấy rõ hơn sự ấu trĩ và man rợ của cái gọi là Cách mạng văn hoá mà họ đang phải gánh chịu Đấy không phải là văn hoá phương Đông, nhưng nó xảy ra ở phương Đông Sự va chạm văn hoá đó tạo ra sự thay đổi trong nhận thức của mỗi nhân vật, đặc biệt là cô bé thợ may - người trước
đó mù chữ và sống với thứ bản năng hoang dã của mình Sau khi được Lạc và Mã, hai chàng thanh niên sống ở thành phố đưa về vùng núi heo hút nơi cô ở, cô khám phá ra vẻ đẹp và sự huyền diệu của văn chương Cô bé thợ may đã thay đổi không chỉ hình thức mà cả tâm hồn của mình Chi tiết cuối truyện, khi Lạc hỏi cô tại sao lại ra đi, cô trả lời rằng "Balzac đã làm cô hiểu ra một điều: Sắc đẹp của người đàn
bà là một kho tàng vô giá Cô bé thợ may ra đi sau những thay đổi do sự quyến rũ của văn hoá phương Tây mang lại, nhưng đó là một cuộc ra đi bột phát, mơ hồ và không hề đoán định được tương lai Cô bé thợ may có thể hạnh phúc, có thể không nhưng cái cô có lúc đó là một chút tự do
“Một tiểu thuyết vui vè, cảm động, tinh quái và trên hết là làm ta say mê…
Dù thấm đẫm sự dí dỏm và hài hước, Balzac… vẫn là một khúc ca lãng mạn, một tiểu thuyết về sức mạnh của nghệ thuật trong việc mở rộng cánh cửa của trí tưởng tượng, dù hoàn cảnh có thế nào đi nữa…” (Michael Dirda, trên tờ Washington
Post Book World)
Amy Tan, tác giả Trung Quốc viết văn ở Mỹ nổi tiếng đã nhận xét: “Một câu chuyện như thôi miên, cổ điển và hiện đại, một chủ nghĩa hiện thực vừa ngụ ngôn vừa bạo dạn, đầy chi tiết quí giá, lay động sâu xa đến trí tưởng tượng và trái tim tôi”
Trang 29Anchee Min, cũng một tác giả nữ viết văn ở Mỹ nhận định: “Có rất ít cuốn sách làm tôi xúc động như cuốn này Tôi đánh giá nó rất cao Bản thân tôi cũng bí mật làm quen với văn hóa phương Tây nhờ văn học trong Cách mạng văn hóa khi tôi lần đầu được đọc bản chép tay bản dịch tiếng Trung cuốn Jane Eyre của
Bronte Đới Tư Kiệt đã trình bày kinh nghiệm này một cách tuyệt vời Bất cứ ai muốn hiểu văn học và nghệ thuật phương Tây ảnh hưởng thế nào đến Trung Quốc đều nên đọc cuốn sách này”
Trong Balzac… có những chi tiết rất hài hước nhưng đều có ý nghĩa
Chúng thể hiện sự ngang ngược vô lối của chính trị với văn học, ví dụ: Mozart phải yêu Mao chủ tịch thì người dân mới nghe đàn Nó cho độc giả thấy y thức triệt tiêu cái đẹp, nghệ thuật, văn học… của nhà cầm quyền Cuộc chiến giữa một bên là những kẻ theo Mao và một bên là những người yêu cái đẹp tưởng chừng
như không cân sức nhưng cuối cùng cái đẹp đã chiến thắng Balzac… còn nhằm
cổ vũ y thức về giá trị bản thân (cô gái thợ may ý thức được “sắc đẹp của người đàn bà là một kho tàng vô giá” sau khi đọc Balzac) Trong tiểu thuyết này, văn học cứu rỗi mọi thứ: làm sáng những ngày tăm tối, khai hóa trí tuệ con người, cứu rỗi danh dự cô gái, làm cô gái ý thức giá trị bản thân… Và trên hết, bi kịch ở đây là sự cách ly người trí thức ra khỏi môi trường của họ Trong tác phẩm của ông, Cách mạng văn hóa chỉ là một cái nền và trên cái nền ấy con người hành xử như thế nào Đối với các nhà văn khác, họ nghiên cứu nó nghiêm túc hơn Đa số họ phân tích cuộc Cách mạng văn hoá ấy và những tác động của nó đến thân phận con người Trung Quốc Ông nhìn thấy và đề cập sự phi lý trong bối cảnh đấy, còn những văn nghệ sĩ trong nước thì đề cập đến sự khổ đau và tàn bạo do Cách mạng văn hoá gây ra cho con người
Ngược với vẻ đẹp hài hước, lãng mạn, thanh lịch của Balzac và cô thợ may Trung Hoa, Mặc cảm của D lại là một tiểu thuyết có giọng điệu phức tạp, lộn
xộn, bộc lộ những quan tâm của ông về sex, tình yêu và những đè nén chính trị Nhân vật chính là Mặc, một nhà tâm lí học ở Pari về Trung Quốc, nơi mà những
Trang 30cuốn sách của Freud và tâm lí học còn là những điều hết sức xa lạ Hành trình dọc theo đất nước Trung Quốc để đi tìm một trinh nữ, món quà cho một ông chánh án
để giải thoát cho một người bạn, vì dính líu đến vụ biểu tình ở Thiên An Môn mà phải chịu tù chung thân Qua đó, ông mô tả một đất nước Trung Quốc giữa quá khứ và hiện tại, giữa những thay đổi của một chế độ “tư bản chủ nghĩa nhưng theo hình thức xã hội chủ nghĩa”, những nhân vật dùng điện thoại di động nhưng lại tin vào quỷ thần, nghe nhạc hip- hop nhưng vẫn không mất tình yêu với những
chuyện dân gian Trung Quốc… Tiểu thuyết này đã được nhận giải thưởng văn học Femina năm 2003
Năm 2009, tác giả này có 1 cuốn mới: Once on a Moonless Night (Đêm
không trăng, một lần), kể về vị hoàng đế cuối cùng của Mãn Thanh, Phổ Nghi, vào những năm 1930, khi bị trục xuất khỏi Mãn Châu, đã đem theo một tấm lụa da ghi chép những kinh Phật bị mất Cuối cùng, tấm lụa này rơi vào tay một người Pháp tên là Paul d'Ampere (dịch tiếp)…
- Cáp Kim: Tên thật là Kim Tuyết Phi金雪飞 sinh tại Liêu Ninh, cha là sĩ quan
quân đội Bản thân ông cũng tham gia quân đội từ năm 1969 trong Cách mạng văn hóa Năm 1981 tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiếng Anh ở trường Đại học Hắc Long Giang, ba năm sau tốt nghiệp thạc sĩ văn học Anh-Mỹ ở đại học Sơn Đông Nhận được học bổng sang Mỹ ở trường đại học Brandeis Từ sau biến cố Thiên
An môn 1989, sự hà khắc và đàn áp của chính quyền Trung Quốc khiến ông quyết định định cư luôn tại Mỹ sau khi học xong tiến sĩ năm 1992 Tác phẩm đầu tiên
ông viết là tập thơ Between Silences (Giữa im lặng) xuất bản năm 1990
Là một hiện tượng văn học nước ngoài ở Mỹ, ông viết văn bằng tiếng Anh
và đạt rất nhiều giải thưởng văn học ở Mỹ ví dụ tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông:
Waiting (Đợi chờ 1999) đạt giải thưởng Quốc gia Sách hàng năm (National Book
Award) và giải Faulkner (PEN/Faulkner Award), ngoài ra truyện ngắn của ông xuất hiện trong nhiều tuyển tập truyện ngắn Mỹ hay nhất (The Best American
Short Stories Anthologies), tập truyện ngắn Under The Red Flag (Dưới ngọn cờ
Trang 31đào, 1997) đạt giải O’Connor về truyện ngắn (Flannery O'Connor Award for Short
Fiction), còn Ocean of Words ( Biển từ 1996) đạt giải Hemingway (PEN/Hemingway Award) Tiểu thuyết War trash (Cuộc chiến tranh rác rưởi,
2004) viết về cuộc chiến tranh Triều Tiên thì được giải Faulkner (PEN/Faulkner Award) và được vào chung kết giải Pulitzer Hiện nay ông đang dạy học ở trường Đại học Boston, bang Massachussets ở Mỹ
- Lư Tân Hoa: sinh năm 1954, từng nổi tiếng với trào lưu văn học vết thương qua
truyện ngắn Vết thương Sau khi tốt nghiệp, làm biên tập cho Văn hối báo, sau đó
ông bỏ việc, đi buôn Năm 1986, ông tự túc sang Mỹ làm Nghiên cứu sinh, hiện là
nhà văn tự do, thường xuyên đi về giữa Mỹ và Trung Quốc Tử cấm nữ là tác
phẩm nổi tiếng của ông năm 2004, gây xôn xao dư luận ở Trung Quốc, được nhận xét là “kỳ thư của một kỳ tài Ngôn ngữ trong sáng, điêu luyện, nhân vật sống
động, tư tưởng sâu sắc, có chung cái diệu kỳ của Nhật ký người điên và AQ Chính truyện của Lỗ Tấn” (Lục Sĩ Thanh, chủ tịch hội văn học Hoa văn thế giới)
Trong số những nhà văn nổi tiếng ở nước ngoài có các nhà văn nữ (sẽ được
đề cập chi tiết ở phần sau) Trong đó có người viết bằng tiếng nước ngoài Điều này thể hiện sự giao lưu và hòa nhập văn học toàn cầu
1.3.7 Sự bội thu của tiểu thuyết Khái niệm tiểu thuyết ở Trung Quốc mang một nghĩa rất rộng với biên độ
là truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, truyện cực ngắn (hay còn gọi là truyện siêu ngắn, ở Trung Quốc gọi là “vi hình tiểu thuyết” hay “tiểu tiểu thuyết”)
Một điều đáng lưu ý khác trong văn học Trung Quốc những năm vừa qua là
sự thắng mùa của tiểu thuyết Đặc biệt, từ những năm 90, ở Trung Quốc xuất hiện một loại truyện siêu ngắn đã tạo nên một làn sóng mới trên văn đàn Trung Quốc Năm 2005 là năm đánh dấu hơn 10 năm loại tiểu thuyết này phát triển
Sự ra đời của tiểu thuyết siêu ngắn ở Trung Quốc hiện nay là sự kế thừa truyền thống của những câu chuyện vụn vặt từ ngàn xưa và được phát triển trong hoàn cảnh của thời đại mới Đội ngũ nhà văn sáng tác ngày càng nhiều, trong đó
Trang 32có cả những nhà văn nổi tiếng như Vương Mông, Giả Bình Ao, Nghiêm Sa Cầm, nhưng phần lớn tác giả của thể loại tiểu thuyết này là các nhà văn trẻ như: Tạ Chí
Cường (Áo vua, Điệu múa của Chu Tử, Dùi chiếc nhẫn đá), Liêu Quốc Phương (Cái giếng, Lại gặp Mạnh Tử), Đằng Cương (Tình yêu của vô tuyến, Người dị hương, Nghiêm cấm), Tôn Hữu Phương (Trùng phùng, Ác ôn)…Tuy mức độ chưa
đều nhưng chất lượng và số lượng của các tác phẩm này đều có tiến bộ rõ, thoát ra
khỏi những quy luật của tiểu thuyết truyền thống, là “một bộ phận quan trọng
trong sáng tác văn học đương đại Trung Quốc và ảnh hưởng của nó ngày càng
nhiều” 1 Về mặt hình thức nghệ thuật, các tác phẩm tiểu thuyết siêu ngắn này rất ngắn, chỉ vỏn vẹn vài ba trang, có truyện chỉ có một trang và vài ngàn chữ với vài nhân vật Mặc dù siêu ngắn nhưng các tác phẩm đều đảm bảo những yêu cầu về đặc trưng thể loại như kết cấu, bố cục, nhân vật, tình tiết…Nội dung của những tiểu thuyết siêu ngắn là bức tranh xã hội đương đại Trung Quốc Thiên nhiên, cuộc sống và con người của đất nước Trung Hoa hôm nay đều hiện lên một cách sinh động và chân thật nhất dưới ngòi bút của các tiểu thuyết gia như lời nhận xét của nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Hiệp:“Người nghệ sĩ đã từ câu chuyện dân gian đi đến cuộc
sống tận cùng của xã hội” 2
Có thể nói văn học đương đại là thời kỳ của truyện dài với những thành tựu rực rỡ nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc Giải thưởng văn học Mao Thuẫn lần thứ 6 (2003) với hàng ngàn tác phẩm dự bình chọn và 23 tác phẩm lọt vào chung khảo đã phần nào nói lên sự phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng
ở thể loại văn học này Bảng thống kê dưới đây các tác phẩm đoạt giải Mao Thuẫn qua từng năm cho thấy điều đó
1Hồ Sĩ Hiệp (2007), Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại, Nxb.Tổng hợp Đồng
Nai, tr.96
2Hồ Sĩ Hiệp, sđd, tr 96
Trang 33Lần
trao
giải
Thời gian
Số lượng được bầu chọn Tên tác phẩm
4 Chọn lựa (Trương Bình), Lạc định trần ai ( A Lai),
Trường hận ca (Vương An Ức), Trà nhân tam bộ khúc (2 tập-Vương Húc Phong)
Đàn hương hình (Mạc Ngôn), Đông tạng ký (Tông Phác), Trương Cư Chính (Hùng Thiệu Chính), Hoài niệm sói (Giả Bình Ao), Vô tự (Trương
Trang 34Bảng thống kê: Các tác phẩm được bầu chọn giải thưởng văn học Mao Thuẫn
(1982-2003)
Qua bảng khảo sát trên, ta thấy rằng, tổng số tác phẩm 6 lần được bình chọn giải thưởng là 45 đơn vị, so với lần thứ nhất (6 tác phẩm) thì lần thứ 6 (gần đây nhất) tăng gần 4 lần và gấp đến 7 lần so với kỳ trao giải thấp nhất (lần thứ hai) Điều đó cho ta một kết luận rằng, văn học đương đại Trung Quốc là sự thắng thế của tiểu thuyết Thế nhưng, tiểu thuyết Trung Quốc đương đại được hay chưa được, tốt hay xấu vẫn là điều đáng tranh cãi ở quốc gia này Ý kiến thứ nhất cho rằng đáng lo ngại đối với tiểu thuyết những năm gần đây Tiểu thuyết trở thành
“nơi phóng uế bừa bãi về tinh thần”, “bãi rác tinh thần và tình cảm xấu xa” Các nhà phê bình gay gắt lên án tiểu thuyết đương đại “chỉ loanh quanh trong vòng sáng tác cá nhân hóa, phơi bày những chuyện kín đáo riêng tư Văn học bị son phấn bao vây, quá đam mê với cảm giác mềm yếu, đó chính là nỗi bi ai của văn học…” 1 Trong khi đó, xu hướng thứ hai lại cho rằng văn học Trung Quốc đương đại có một nội lực tốt và tiểu thuyết chẳng có gì đáng lo ngại Những người theo
xu hướng này mạnh dạn phê phán quan điểm thứ nhất: “Cách nhìn “tối” như vậy
là quá khắt khe, quá lý tưởng hóa văn học, không đếm xỉa đến hoàn cảnh lịch sử trong thời đại mà tiểu thuyết bị các hình thức tiêu dùng chèn ép thì chỉ riêng Trung
1Hồ Sĩ Hiệp, sđd, tr.75
Trang 35Quốc có những tác phẩm ưu tú đã là đáng quý lắm rồi…” Chỉ với riêng hai ý kiến
trái ngược này thôi, ta cũng thấy được bức tranh văn học đa dạng và phức tạp của Trung Quốc đương đại, mà đặc biệt là tiểu thuyết
Để kích thích sáng tác văn học và đánh dấu những chặng đường phát triển,
gần đây, Hội nhà văn Trung Quốc đã tổ chức bình chọn và công bố “Một trăm tác phẩm nổi tiếng văn học đương đại Trung Quốc” Kết quả cho thấy, trong số 73 tác
giả có tác phẩm được bình chọn thì có 2 tác giả lão thành thuộc thế hệ nhà văn đầu tiên là Quách Mạt Nhược và Lão Xá, còn lại đa số là nhà văn trẻ Nữ nhà văn Trì Lợi được xem là gương mặt tiêu biểu nhất của thế hệ nhà văn mới Cuộc bình chọn cũng cho thấy rằng, các tác phẩm trước cách mạng văn hóa được bình chọn không nhiều, trong số này đáng chú ý là các tên tuổi như: Quách Mạt Nhược, Lão
Xá, Liễu Thanh, Lương Bân, Ngải Vu, Chu Nhi Phục, Chu Lập Ba, Khúc Ba, Dương Mạt, Lý Chuẩn…Trong khi đó, tỉ lệ tác phẩm của các nhà văn thế hệ mới chiếm khá cao Lực lượng sáng tác này không những hùng hậu về số lượng tác phẩm mà phong cách nghệ thuật cũng có nhiều nét mới lạ, độc đáo Phải kể đến tên tuổi của các văn sĩ như: Trương Khiết, Trương Hiền Lượng, Thiết Ngưng, Vương An Ức, Trương Kháng Kháng, Lý Nhuệ, Trì Lợi, Dư Thư Vũ, Chu Mai Sâm, Lâm Bạch, Cách Phi…Đây là những tác phẩm tiêu biểu cho các giai đoạn văn học, nói lên sự phong phú và đa dạng của văn học đương đại Trung Quốc trong hơn nửa thế kỷ vừa qua mà chúng ta phải ghi nhận
1.3.8 Sự trỗi dậy của văn học mạng
Theo số liệu thống kê của Trung Quốc, năm 2008 số người lướt mạng ở nước này đã tăng lên 298 triệu người Qua đó Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành nước
có nhiều người sử dụng Internert nhất thế giới Sự phát triển đột biến này đạt được
là do những năm qua chính phủ Trung Quốc theo đuổi một kế hoạch đầy tham vọng là đến năm 2010, bất cứ làng nào ở Trung Quốc cũng được kết nối với mạng Đặc biệt, Internet ngày càng được giới trẻ dùng như một phương tiện để tạo ra tác phẩm gây chú ý trong công luận, đặc biệt là văn học, mà không nhất thiết phải nhờ đến nhà xuất bản Họ coi Internet là sân ga để khởi hành cho các tác phẩm của
Trang 36mình - nơi mà chế độ kiểm duyệt của nhà nước còn chưa đụng tới Thay vì im lặng, một thế hệ nhà văn trẻ Trung Quốc đã khẳng định được tiếng nói của mình trên các trang web, nhật ký điện tử (blog), báo điện tử… Nhà văn Dương Hằng Quân, một nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm văn học mạng nhận xét: “Đó là một cuộc cách mạng lớn Khi bạn viết ra một tác phẩm nào đó trên mạng vì không thể xuất bản thành sách, thì nghĩa là bạn đã tạo ra sự thay đổi”1 Thập kỷ qua là thời gian bùng nổ các website và các diễn đàn văn học mạng tập hợp hàng nghìn sáng tác của các tác giả chưa từng có tên tuổi trước đó Tác phẩm của họ được hàng triệu người sử dụng Internet đón đọc Hiện tượng này đã làm dấy lên những đoán định rằng, trong tương lai, công việc sáng tác, cũng như thưởng thức văn học
ở Trung Quốc sẽ diễn ra trong không gian ảo Tác giả nhiều khi không cần nêu danh tính, tên thật Văn học mạng thể hiện tính dân chủ, hiện đại, tự do (vì không
sợ kiểm duyệt, phê bình chính thống, doanh thu, tên tuổi…)
Một trong những hình thức quảng bá hiện nay phổ biến nhất là báo chí và internet Trong đó, internet đóng một vai trò hết sức quan trọng làm cầu nối cho các nhà văn, hình thành nên một loại hình văn học mới độc đáo: văn học mạng Không ít nhà văn, nhà thơ trưởng thành từ loại hình văn học này như: Trương Duyệt Nhiên, Bì Bì, An Ni Bảo Bối, Mộ Dung Tuyết Thôn, Dương Hằng Quân…Ở Trung Quốc hằng năm còn có cả giải thưởng văn học mạng Điều đó đã tác động không nhỏ cho sự phát triển của văn học nghệ thuật Trung Quốc những năm gần đây Các nhà văn đã dự báo rằng hiện tại và tương lai, quan hệ giữa văn học và tiêu dùng, giữa văn học và truyền thông sẽ rất mật thiết; văn học muốn phát triển không thể tách rời các mối quan hệ đó
Điển hình cho hiện tượng văn học mạng là Mộ Dung Tuyết Thôn Nhờ Internet, Mộ Dung từ một anh quản lý bán hàng vô danh ở Thành Đô bỗng trở thành một trong những tác giả đương đại nổi tiếng nhất ở Trung Quốc, sau khi anh
đưa tiểu thuyết Để tôi lại một mình, hỡi Thành Đô! lên mạng hồi năm 2001 Vẽ
1
(Thanh Huyền, Nhà văn 8X Trung Quốc-Thành công và lo lắng,
http://evan.vnexpress.net
Trang 37lên một bức tranh khá ảm đạm nhưng trung thực về cuộc sống đô thị hiện đại ở thành phố, trong đó có chuyện tình yêu, tình dục và cả chuyện cờ bạc, ma túy Cũng nhờ nó mà Mộ Dung hiện được coi là một trong những nhà tiên phong của thời đại “văn học online” ở Trung Quốc Cùng với Mộ Dung, Thái Trí Hằng cũng
là một nhà văn mạng nổi tiếng với Lần đầu bên nhau là "phát súng" đầu tiên mở ra
trào lưu văn học mạng của Hồng Kông, Đài Loan và Trung Quốc Đại lục Tác giả Thái Trí Hằng gây nên hiệu ứng dữ dội từ khi bắt đầu đăng tải từng chương lên mạng Tiểu thuyết nhỏ của anh được sáng tác trên máy tính, upload lên mạng hàng ngày, và diễn tiến câu chuyện phụ thuộc một phần vào phản hồi tức thì của độc giả Sau khi công bố toàn bộ tác phẩm trên trang web cá nhân, do cư dân mạng quá hâm mộ và nhiệt thành đề nghị, Thái Trí Hằng liền bán bản quyền, và lần đầu
ra mắt bạn đọc dưới hình thức in ấn Tháng 11-1999, cuốn sách được in 200.000 bản ngay từ lần in thứ nhất, và sau đó liên tiếp tái bản rất nhiều lần Tính đến tháng 10-2000, cuốn sách này đã tái bản đến lần thứ 10 Lượng tiêu thụ ở Trung Quốc Đại lục lên đến vài triệu bản, chưa kể các bản in lậu nhiều gấp mấy lần
chừng đó Gần đây, Lần đầu bên nhau còn được cải biên thành truyện tranh, phim
truyền hình, kịch nói
Ji Lusby, giám đốc điều hành của Penguin Trung Quốc nhận xét: “Giờ đây
các website văn học đã trở thành một phần tự nhiên của nền công nghiệp xuất bản
ở Trung Quốc Nó thực sự là một sự hội tụ của văn học in và online”
Khá nhiều nhà văn chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp và không chuyên
thành danh nhờ vào văn học mạng Ví dụ như Vưưng Hằng Tích (Mẹ điên); Cơ
Mễ (Rẽ trái, rẽ phải, Một tấm thiệp nhỏ), Nữ Vương (Nắm tay và làm tình), Oni- một bút danh (Lỡ tay chạm ngực con gái), Nhất Kiểm Hương (Trôi dạt về đâu), Nhật Biên Thủy (Đôi vợ chồng sống trong kho chứa đồ)… Hiện tượng Tiêu Đỉnh với Tru tiên, Tào Đình (Bảo Thê) với tác phẩm Xin lỗi, em chỉ là con đĩ gần đây
nổi tiếng ở Trung Quốc và sau đó được dịch và xuất bản ở Việt Nam (Trang Hạ dịch) là một ví dụ cho thấy đời sống văn học mạng khá phong phú ở Trung Quốc
Trang 38Đây là một hiện tượng mang tính toàn cầu, ở Việt Nam hiện nay cũng có khá nhiều tác giả văn học mạng trẻ thành công nhờ viết truyện trên blog cá nhân, sau
đó xuất bản, ví dụ như Trần Thu Trang (Phải lấy người như anh), Hà Kin (Chuyện tình New York), Trang Hạ (Những đốm lửa trên vịnh Tây Tử), Keng (Dị bản), Phan An (Giường), Doãn Dũng (Me Tây), Giao Chi (Tuyết đen) …
Văn học mạng thường chú ý các tiểu loại như tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết tình ái có pha yếu tố sex, tựa đề thường giật gân, câu khách (các tựa tiểu thuyết trên là một ví dụ), tác phẩm có khi bị bỏ lửng không có kết thúc, hoặc rất
lâu sau tác giả mới đưa ra kết thúc
1.3.9 Sự giao thoa, ảnh hưởng giữa văn học và các loại hình nghệ thuật khác
Từ xưa, Trung Quốc đã có truyền thống dùng văn học, điển tích văn học trong các loại hình sân khấu dân gian (những câu chuyện, phân đoạn trong một số
bộ tiểu thuyết cổ điển như Tam quốc chí diễn nghĩa (Phụng Nghi Đình, Hồi trống
Cổ thành, Tôn Phu nhân quy Thục…), Tây Du Ký, Thủy hử (Võ Tòng đả hổ, Võ
Tòng sát tẩu, Lâm Xung, Lý Quỳ, Lỗ Trí Thâm…) đã từng nhiều lần được dàn dựng trên sân khấu hí kịch thời Nguyên và kinh kịch sau này Một số tích truyện tôn giáo (nhất là Phật giáo) cũng được dựng thành kịch mà người Trung Quốc gọi
là Na kịch như Mục Liên cứu mẹ…
Sang đến thời kỳ hiện đại: truyện của Lỗ Tấn, Ba Kim, Mao Thuẫn được
dựng thành phim khá nhiều như phim Lễ Cầu phúc, AQ Chính truyện dựng từ truyện của Lỗ Tấn, phim Tằm mùa xuân, Cửa hàng nhà họ Lâm… của Mao Thuẫn Kịch của Tào Ngu cũng được dựng thành phim như Lôi vũ, Nhật xuất, Bắc Kinh nhân… Thậm chí, còn có hiện tượng dựng phim dựa vào cốt truyện của các nhà văn tiền bối này Hoàng Kim Giáp của đạo diễn Trương Nghệ Mưu năm 2007 dựa vào cốt truyện của Lôi Vũ là một ví dụ
Thời kỳ đương đại, nhất là những năm gần đây, việc chuyển thể các tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh, truyền hình càng phát triển rầm rộ Nhất là khi văn hóa nghe nhìn có phần lấn chiếm văn hóa “đọc”, việc tiếp nhận một tác
Trang 39phẩm văn chương thông qua một dạng “văn bản khác” trở thành một xu thế được đông đảo nhiều người hưởng ứng Sự chuyển thể từ tác phẩm văn học thành kịch bản điện ảnh trở thành xu hướng rộng rãi của các nhà làm phim Ở các nước Anh,
Mỹ, Nga, Pháp… và cả ở Trung Quốc Từ việc dựng các bộ tiểu thuyết cổ điển thành phim truyền hình, phim nhựa, dựng các bộ tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, các bộ tiểu thuyết tình cảm của Quỳnh Dao thành phim truyền hình… cho đến các nhà văn đương đại cũng có khá nhiều tác phẩm được điện ảnh và truyền hình để mắt tới
Vương Sóc với tiểu thuyết Khát vọng dựng thành phim truyền hình
Trương Hiền Lượng cũng có khá nhiều tiểu thuyết dựng thành phim: Một nửa đàn ông là đàn bà, Cây hợp hoan…
Thiết Ngưng có Câu chuyện tháng sáu chuyển thành phim truyền hình, Chiếc áo đỏ không cúc chuyển thành phim nhựa, đọat giải Kim Kê và Bách Hoa
1985
Tô Đồng có Thê thiếp từng bầy chuyển thành phim Đèn lồng đỏ treo cao
Dư Hoa có Sống chuyển thành phim cùng tên (được xếp vào 1 trong 18 bộ phim hay nhất Đông Nam Á thế kỷ XX) Hứa Tam Quan bán máu cũng do đạo
diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thể nhưng bị cấm công chiếu ở Trung Quốc vì lý
do chính trị
Mạc Ngôn có tiểu thuyết Cao lương đỏ chuyển thành phim cùng tên Thầy giáo ngày càng hóm hỉnh chuyển thành phim Thời hạnh phúc cũng Trương Nghệ Mưu đạo diễn, Rừng Vẹt chuyển thành phim truyền hình…
Diệp Tân có tiểu thuyết Nghiệp chướng chuyển thành phim cùng tên
…
Từ đó, nảy sinh ra hiện tượng văn học “ăn theo” điện ảnh, hay nói cách khác, khi sáng tác một tác phẩm văn học, các nhà văn có ảnh hưởng từ nghệ thuật điện ảnh, sử dụng những yếu tố, đặc điểm của điện ảnh và áp dụng trong văn học
để tác phẩm của mình dễ dàng được dựng thành phim Trường hợp này có thể
kiểm chứng trong bộ phim Harry Potter chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của
Trang 40Rowkling Những tập đầu của bộ truyện này, tác giả không hề có ý thức sử dụng những đặc điểm của điện ảnh, nhưng sang những tập cuối, chúng tôi thấy rất rõ tác giả đã sử dụng nhiều những thủ pháp điện ảnh để tiểu thuyết của mình dựng thành phim dễ dàng
Lưu Chấn Vân có kịch bản Điện thoại di động dựng thành phim với đạo
diễn Phùng Tiểu Cương, sau đó in thành tiểu thuyết tiêu thụ hơn 300,000 bản
Đới Tư Kiệt, tiểu thuyết gia sống ở Pháp, viết Balzac và cô thợ may Trung Hoa, sau đó dựng thành phim do chính mình đạo diễn Cuốn sách gần đây: Hai cô gái và ông chủ vườn thuốc, được viết nhằm mục đích dựng thành phim…
Thậm chí, chúng ta còn chứng kiến những quy trình ngược, nghĩa là, tác
phẩm điện ảnh có trước, tác phẩm văn học có sau Trưòng hợp bộ phim Vô cực
của đạo diễn Trần Khải Ca, sau khi phim ra rạp xong, được đấu giá để viết thành tiểu thuyết, và Quách Kính Minh đã dành được quyền chuyển thể bộ phim này
thành tiểu thuyết, đó là cuốn Vô cực cùng tên
Hoặc một hiệu ứng ngược Thông thường, mộ bộ phim hay phải dựa vào một tác phẩm văn học hay Đạo diễn thường không phiêu lưu chọn một tác phẩm
không mấy tiếng tăm dựng thành phim bao giờ Nhưng trường hợp của Sắc, Giới
lại khác Từ tiếng tăm của đạo diễn được giải Oscar Lý An như một tấm bằng đảm
bảo cho doanh thu, và nhờ công nghệ quảng cáo bộ phim Sắc, Giới do Lý An làm
đạo diễn, người ta đổ xô tìm đọc lại truyện ngắn này của Trương Ai Linh, nhà văn hiện đại Hồng Kông Để rồi những tác phẩm khác của bà cũng tự nhiên thành sách
“best-seller” như Khuynh thành chi luyến, Kim Tỏa Kí…
Điều đó cho thấy ảnh hưởng của điện ảnh đối với sáng tác của các nhà văn là rất rõ ràng
1.4 Những đề tài của văn học thời kỳ mới
1.4.1 Văn học viết về nông thôn
Là những sáng tác lấy nông thôn và cuộc sống nông thôn làm đối tượng chính trong tác phẩm Nông nghiệp là yếu tố chủ đạo của Trung Quốc, vì vậy, tình hình nông thông rất được sự quan tâm của xã hội và văn học