BAN CHẤP HÀNH TP.HỒ CHÍ MINH --- CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA” LẦN 9 NĂM 2007 Tên công trình: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ
Trang 1BAN CHẤP HÀNH TP.HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 9 NĂM 2007
Tên công trình:
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU PHƯỜNG 15, QUẬN BÌNH THẠNH VÀ PHƯỜNG LINH TRUNG, QUẬN THỦ ĐỨC
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI
Mã số công trình :
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 9 NĂM 2007
TÊN CÔNG TRÌNH:
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU PHƯỜNG 15, QUẬN BÌNH THẠNH
VÀ PHƯỜNG LINH TRUNG, QUẬN THỦ ĐỨC
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI
Nhóm tác giả:
Trưởng nhóm: Nguyễn Thị Phương
Lớp: Dân số và xã hội Năm thứ /Số năm đào tạo: 3/4
Người hướng dẫn: Th.s Phạm Gia Trân
Trang 3ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
BCH TP.HỒ CHÍ MINH
TP.Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 09 năm 2007
PHIẾU DỰ GIẢI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA” LẦN 9 NĂM 2007
1 Tên công trình:
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU PHƯỜNG 15, QUẬN BÌNH THẠNH
VÀ PHƯỜNG LINH TRUNG, QUẬN THỦ ĐỨC
2 Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội
3 Tóm tắt mục đích của công trình-những vấn đề mới
Với 5 chương của đề tài nghiên cứu đã khái quát tình hình sử dụng và tiết kiệm nước của người dân thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là phường 15 quận Bình Thạnh, phường Linh Trung quận Thủ Đức Tính thực tiễn của đề tài góp phần nêu nên được ý thức, hành vi tiết kiệm nước trong sinh hoạt của người dân tại hai phường Từ đó cung cấp cho người đọc những cơ sở đáng giá khách quan
về tình hình sử dụng nước trong sinh hoạt của người dân thành phố
Qua đề tài nghiên cứu cho thấy những khó khăn, yếu kém còn tồn tại và đưa ra những giải pháp giúp người dân thực hiện tiết kiệm nước trong sinh hoạt được hiệu quả
Hy vọng đề tà sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa thực tiễn cho các ban ngành liên quan
Trang 4Ngày tháng năm sinh:05/12/1986
Địa chỉ Email: tominhvuong_2007@yahoo.com
Khoa/Trường: Khoa Địa Lý K25 Trường ĐH KHXH&NV
giải ký tên
(Ký tên, đóng dấu)
Trang 5UNICEF Tổ chức Nhi đồng thế giới
Trang 6-o0o -
Trang DANH MỤC VIẾT TẮT
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
CHƯƠNG I 13
TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ – VĂN HÓA – XÃ HỘI QUẬN THỦ ĐỨC VÀ QUẬN BÌNH THẠNH 13
1.1 Đặc điểm tự nhiên 13
1.2 Đặc điểm kinh tế văn hóa – xã hội 18
1.3 Tóm tắt chương I 19
CHƯƠNG II 21
ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ-KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU 21
2.1 Tuổi 21
2.2 Trình độ học vấn 21
2.3 Số người sống trong gia đình 23
2.4 Nghề nghiệp tạo ra thu nhập chính 24
2.5 Tổng thu nhập bình quân mỗi tháng 24
2.6 Tóm tắt chương II 24
CHƯƠNG III 25
KIẾN THỨC VỀ NƯỚC SẠCH VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC 25
CỦA NGƯỜI DÂN 25
3.1 Kiến Thức Nước Sạch 25
3.2 Kiến thức về tiết kiệm nước 26
3.3 Tóm tắt chương III 29
CHƯƠNG IV 30
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN 30
4.1 Nhu cầu nước sạch của người dân Tp Hồ Chí Minh và nguồn cung cấp .30
4.2 Thái độ – Hành vi sử dụng và tiết kiệm nước của người dân 37
4.3 Nhận xét mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và hành vi sử dụng nước và tiết kiệm nước của người dân 45
4.4 Tóm tắt chương IV 46
CHƯƠNG V 48
TÓM TẮT, KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 48
5.1 Tóm tắt đề tài 48
5.2 Kiến nghị 50
5.3 Giải pháp cụ thể 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 1: YÊU CẦU CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT 58
Phụ lục 2 Giới thiệu dự án cấp nước 66
Phụ lục 3 Giải pháp “xin đừng lãng phí nước mưa” 67
Phụ lục 4 Phiếu thu thập ý kiến 68
Trang 7TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Với 5 chương của đề tài nghiên cứu đã khái quát tình hình sử dụng và tiết kiệm nước của người dân thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là phường 15 quận Bình Thạnh, phường Linh Trung quận Thủ Đức Tình hình sử dụng và tiết kiệm nước của người dân chủ yếu được nghiên cứu dưới các chủ đề như loại nước sử dụng, các hạng mục tiêu thụ nhiều nước cũng như những hạng mục người dân thực hiện tiết kiệm nước mang tính thường xuyên nhất,… Tính thực tiễn của đề tài góp phần nêu nên được ý thức, hành vi tiết kiệm nước trong sinh hoạt của người dân tại hai phường Từ đó cung cấp cho người đọc những cơ sở đáng giá khách quan về tình hình sử dụng nước trong sinh hoạt của người dân thành phố Thực tế cho thấy người dân tại hai phường nghiên cứu đều có ý thức thực hiện các hành vi tiết kiệm nước dựa trên sự hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân, tuy nhiên cũng còn tồn tại những khó khăn đối với việc phổ biến kiến thức, cách tiết kiệm nước khoa học tới người dân tại hai phường nghiên cứu
Từ những khó khăn, yếu kém còn tồn tại đề tài đã ra những giải pháp giúp người dân thực hiện tiết kiệm nước trong sinh hoạt được hiệu quả
Hy vọng đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa thực tiễn cho các ban ngành liên quan
Trang 8Bản đồ 1 dơn vị hành chính quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh
Trang 9Bản đồ 2 dơn vị hành chính quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh
Trang 10
I Đặt vấn đề
Tp.HCM được đánh giá là nơi có nguồn nước dồi dào trong việc khai thác, sử dụng làm nguồn nước sạch cho sinh hoạt của người dân Nguồn nước đang được cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt của người dân thành phố chủ yếu được khai thác từ hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai, sông Vàm Cỏ Đông với tổng khối nước khai thác 800 000m3/ngày đêm và nguồn nước ngầm từ các giếng khoan là 530 000m3/ngày đêm Đây chính là những nguồn nước được đưa vào xử
lí, tại các nhà máy nước của thành phố đáp ứng nhu cầu về nước sạch của người dân Ở một đô thị lớn như Tp.HCM đang trong giai đoạn CNH – HĐH thì nguồn nước sạch trong sinh hoạt của người là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển toàn diện của xã hội và thúc đẩy sự phát triển về kinh tế nói chung
Theo số liệu thống kê thì năm 2006 dân số của thành phố là 8 triệu người với nhu cầu sử dụng nước sạch mỗi ngày của người dân là trên 2,5 triệu m3, nhu cầu sử dụng thì lớn trong khi tình trạng sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân đang nảy sinh, tồn tại những vấn đề đáng quan tâm Hiện nay trên địa bàn thành phố đã xây dựng được một số nhà máy xử lí nước như Nhà máy nước Thủ Đức quận Thủ Đức, nhà máy nước Tân Hiệp (công suất 300 000m3/ngày đêm) và Nhà máy nước ngầm Hoócmôn (công suất 120 000m3/ngày đêm) Nhìn chung quy mô khi thác của các nhà máy nước này vẫn còn nhỏ So với diện tích của thành phố 2.095km2 thì việc phân bố đường ống cấp nước chưa được đồng đều (khoảng 2000km/toàn thành phố) thêm vào đó các đường ống này được xây đựng cách đây 50 – 70 năm nên hiện nay đang bị xuống cấp nghiêm trọng, bị mục nát, ống bị ăn mòn nặng tạo thành lớp dày trên đường ống Đây cũng là nguyên nhân làm thất thoát nguồn nước sạch của thành phố gây ảnh hưởng tới việc cung cấp nước sạch theo nhu cầu của người dân Vậy có phải tình trạng thiếu nước sạch trong sinh hoạt của người dân là do việc thất thoát khi truyền tải hay do ý thức sử dụng và bảo vệ nguồn nước sạch của người dân?
Bên cạnh những mặt đã đạt được trong công tác bảo đảm nguồn nước sạch cho người dân thì vẫn còn khoảng 2 triệu người của thành phố chưa được sử
Trang 11dụng nước máy sạch của nhà nước1 Đặc biệt là hai quận Thủ Đức và quận Bình Thạnh, một quận nằm trong vùng nội thành và một quận nằm ở vùng ngoại
thành Việc sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân tại hai quận này cũng có sự khác biệt Trong năm 2005, dân số của quận Thủ Đức là 216 002 người trong đó số người dân được sử dụng nước máy sạch là 12 000 người còn 55.738 người đang phải dùng nước giếng bơm tay và 148 264 người thiếu nước sinh hoạt Còn ở quận Bình Thạnh số người được dùng nước máy sạch của nhà nước hiện có 15 000 người2 Với hiện trạng thiếu nước sạch như trên việc tìm hiểu ý thức, thái độ và hành vi TKN sạch trong hoạt động sinh hoạt của người dân tại hai quận này là việc làm rất cần thiết Đây cũng chính là lý do chọn đề tài của nhóm chúng tôi Các phát hiện và đề nghị trong nghiên cứu này sẽ cung cấp các thông tin hữu ích về các chương trình TKN cho người dân trong thời gian tới
Câu hỏi nghiên cứu:
1- Nước sạch là gì? Nước sạch bao gồm các tiêu chuẩn nào?
2- Người dân hiểu thế nào là nước sạch?
3- Trong điều kiện thiếu nước sạch, người dân làm gì để sử dụng nước hợp lý trong sinh hoạt hàng ngày?
4 Sử dụng và tiết kiệm nước sạch là như thế nào?
5 Tại sao lại nghiên cứu vấn đề sử dụng và tiết kiệm nước máy tại hai quận Thủ Đức và quận Bình Thạnh?
6 Có sự khác biệt như thế nào về ý thức, thái độ và hành vi tiết kiệm nước sạch trong hoạt động sinh hoạt của người dân tại hai phường nghiên cứu?
7 Những chương trình, giải pháp nào để nâng cao tiết kiệm nước trong sinh hoạt của người dân để khắc phục tình trạng thiếu nước?
Trang 12II Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Góp phần giảm bớt tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại Tp.HCM
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Thấy được tình trạng sử dụng và hoạt động tiết kiệm nước trong sinh hoạt của người dân hai phường
Góp phần nâng cao nhận thức và trách nghiệm của người dân về bảo vệ nguồn nước và tiết kiệm nước
Đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế sự lãng phí nước khi sử dụng
III Tổng quan tài liệu
3.1 Tổng quan về kiến thức nước sạch
3.1.1 Tiêu chuẩn về lượng nước
Có các nước phát triển bình quân một ngày, mỗi người dùng từ 100 - 150 lít nước sạch cho sinh hoạt Các nước đang phát triển từ 40 – 60 lít Trong số này chỉ có từ 3 – 4 lít cho ăn uống số còn lại cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân
Có Việt Nam hiên nay quy định tiêu chuẩn nước như sau:
- Cấp nước cho thành phố 100 lít/người/ngày
- Cấp nước cho thị trấn 40 lít/người /ngày
- Cấp nước cho nông thôn 20 lít/người /ngày
3.1.2 Tiêu chuẩn về chất lượng nước
Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước, các chỉ tiêu quan trọng được xác định:
- Yêu cầu chất lượng nước ngầm thông qua nồng độ các hợp chất độc hại trong nước và theo yêu cầu dùng nước của các ngành khác nhau của nền kinh tế quốc dân Yêu cầu dùng nước sinh họat là nghiêm ngặt nhất, tối thiểu là không được gây nguy hại cho sức khỏe con người và điều kiện vệ sinh môi trường
- Theo các chuyên gia Liên Hợp Quốc, những thập kỷ gần đây vấn đề nước sạch để sinh hoạt và ăn uống và điều kiện tối thiểu vệ sinh môi trường nổi cộm lên ở các nước châu Á, Phi, Mỹ La Tinh Hằng năm có đến hàng trăm triệu người mắc bệnh đau dạ dày, đường ruột, con số người chết lên đến 25 triệu người trên quy mô toàn cầu do các bệnh từ nguyên nhân không được dùng nước sạch
Trang 13Vì vậy, tại phiên họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc khóa 35 đã lấy thập kỷ 80 của thế kỷ 20 là thập kỷ cho nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường
* Tiêu chuẩn chất lượng nước sạch tại nước ta3
“Nước sạch có thể được hiểu là nước trong, không màu, không mùi, không vị, không chứa các chất độc và vi khuẩn gây bệnh Tỉ lệ các chất độc hại
và vi khuẩn không quá mức độ cho phép của mỗi quốc gia
Ôâ nhiễm nước là sự biến đổi các thành phần của nước khác biệt với trạng thái ban đầu Đó là sự biến đổi lý, hóa, sinh vật và sự có mặt của chúng trong nước làm cho nước trở nên độc hại…”
3.1.3 Các nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và hậu quả của việc sử dụng nguồn nước ô nhiễm
Do nhiễm độc hóa chất gây ra như kim loại nặng, các chất phóng xạ, các chất gây ung thư như:
- Chì (Pb): nước có chứa các thứ CO2 và O2 dưới dạng hoạt tính có thể hòa tan chì ở ống dẩn nước, dụng cụ đựng nước… lượng chì trong nước vượt quá 0,1mg/lít sẽ gây nguy haị cho sức khỏe
- Đồng (Cu): nước thải công nghiệp là nguyên nhân làm cho nước có kim loại đồng Lượng đồng vượt quá 1 mg/lít sẽ gây ngộ độc cho con người
Thạch tín(As): nước thải công nghiệp thuộc da, xưởng nhuộm… mang thạch tín vào sông Tỉ lệ quy định không vượt quá 0,05 mg/lít
Do vi sinh vật: 80% các bệnh nhiễm trùng liên quan đến nước là các bệnh
do virus, giun sán, côn trùng liên quan đến nước, các bêïnh ngoài da … do dùng nước bẩn trong chế biến thực phẩm, uống, vệ sinh cá nhân
Qua số liệu điều tra các hộ gia đình tại các quận huyện ngoại thành trên Tp.HCM như Củ Chi, Hoóc Môn, Thủ Đức… các gia đình chủ yếu là dùng nước giếng khoan hoặc giếng đào nhưng phần lớn không có hệ thống xử lý nước, nước bơm lên là dùng ăn uống trực tiếp, đây chính là nguyên nhân dễ dẫn đến các chứng bệnh nêu dưới đây
3
QĐ số 09/2005/QĐ – BYT ngày 11/3/2005
Trang 14* Bảng1: Các loại bệnh nhiễm trùng đường ruột và thời gian tồn tại của các vi khuẩn trong nước 4
Thời gian sống ( ngày)
- Sau bữa ăn, ngâm tất cả chén dĩa, vật dụng khác sử dụng trong bữa ăn
vào chậu rữa chén thay vì rửa ngay với xà phòng hoặc hoặc nước rửa chén là
nước sạch Thao tác này giúp giảm lượng nước rửa chén sau cùng
- Chỉ sử dụng máy rửa chén khi chất đầy chén đĩa vào vào bồn và cho
máy hoạt động theo chu trình TKN
* Trong phòng tắm và nhà vệ sinh
Khi đánh răng rửa mặt, rửa tay, cạo râu, bạn chỉ nên mở vòi nước khi nào cần dùng đến hoặc tốt nhất là dùng li thay vì dùng tay hứng nước dưới dòng nước chảy tự do
Điều chỉnh cơ cấu xả nước bồn cầu đến mức thấp để lượng nước xả ra vừa
đủ cho một lần sử dụng ( nếu loại bồn cầu không có chế độ xả nước ít và nhiều)
Kiểm tra lại van cao su dạng cầu trong bồn xả nước ở tolet xem có bị rò rỉ nước không Khi nước chảy rỉ chậm từ bồn, bạn khó có thể phát hiện được, cách
thức đơn giản nhất là dùng bột màu cho vào bồn xả Nếu nước trong bồn cầu thấy màu, bạn nên thay van cao su mới
Trang 15* Trong khi giặt đồ
Nếu có thể được, nên giặt đồ hết công suất của máy, tức đem dồn quần áo
dơ thật nhiều để giặt một lần
Việc ngâm trước quần áo bẩn sẽ giúp giảm thiểu số lần nước xả sau này Chọn các loại cây cảnh và hoa ít cần nước tưới cho mỗi ngày Đối với các gốc cây lớn nên ủ rơm hay cỏ khô quanh gốc để chống mất nước Nên tưới vào chiều tối
Việc lắp đặt hệ thống nước thải cho hồ bơi nếu có thể sử dụng lại nguồn nước này giúp tiết kiệm rất nhiều nước Trong trường hợp cho phép, nước thải sau cùng có thể dùng để tưới cây và bãi cỏ
* Với một số dụng cụ lắp thêm vào hệ thống cấp nước, ta có thể tiết kiệm một số lượng nước nữa
Ở đầu vòi sen, việc lắp thêm một miếng than chế dòng nước có thể giảm lượng nước phun ra từ 20 lít/phủ xuống còn 8 lít/phút Trong khi tia phun vẫn đủ mạnh cho nhu cầu Ngoài ra, nếu dùng loại vòi sen có nhiều kiểu tia phun mạnh yếu sẽ giảm thiểu lượng nước khi tắm
Việc giảm thể tích nước xả trong các kiểu bồn tolet cũ có thể giảm một nữa lượng nước Thao tác đơn giản như sau:
- Đặt một bình nhựa chứa đầy nước vô trong bồn xả
- Lắp một tấm cao su tự chia bồn xả thành hai phần (phần không xả nằm sau tấm cao su) Tuy nhiên, bạn không phải cải tạo hay thay đổi cơ cấu xả nước
vì nó không ảnh hưởng dến lượng nước xả mỗi khi hư hỏng không hoạt động như mong muốn
3.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Vấn đề sử dụng và TKN là việc xảy ra hàng ngày của mỗi người dân, mỗi
hộ gia đình Nó không có gì xa lạ nhưng đề cập về vấn đề này lại có không nhiều
đề tài nghiên cứu đến Có thể nói việc sử dụng nước sạch thì hầu hết tại địa bàn hai quận này đều dùng tới tuy nhiên xài như thế nào cho tiết kiệm thì ít ai quan tâm Nhất là khi mà nhu cầu sử dụng nước máy sạch và giá tiêu dùng nước máy sạch ngày càng tăng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước này cũng diễn ra phổ biến
Trang 16Nghiên cứu về mối quan hệ của nguồn nước sạch trong cuộc sống của
người dân Tp.HCM trong năm 2000 có đề tài “Tìm hiểu hiện trạng sử dụng nước
của huyện Nhà Bè Tp.HCM” của sinh viên Trần Thị Mộng Cẩm, khoa Địa Lý,
Trang 17V Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.1.1 Dữ liệu thứ cấp
Số liệu thống kê về tình hình KT-XH từ năm 2000-2005 của UBND Quận Thủ Đức và Quận Bình Thạnh, đây là những số liệu thống kê về số dân sinh sống trong phường, các hoạt động kinh tế diễn ra trong giai đoạn trên
Các báo cáo về tình hình sử dụng nước của Trung tâm y tế dự phòng thành phố cùng với báo cáo của Tổng công ty cổ phần cấp nước Sài Gòn, Công ty cấp nước Gia Định đã cho biết số trạm cung cấp nước, tình trạng thiếu nước cụ thể của người dân hai phường
Các bài báo được đăng tải trên các báo và website đã cung cấp các nội dung có liên quan tới đề tài như số liệu về tình trạng thiếu nước tại thành phố, các hướng đóng góp, phương thức TKN
5.1.2 Dữ liệu sơ cấp
5.1.2 a Địa điểm thu thập
Phường Linh Trung-Quận Thủ Đức và phường 15-Quận Bình Thạnh
5.1.2 b Số mẫu và tiêu chí chọn mẫu
Đối tượng nghiên cứu là người dân sống thường trú tại hai phường và tiêu chí chọn số mẫu được xác định như sau:
Hộ gia đình đang sử dụng nước máy
Chỉ người dân địa phương sinh sống tại hai phường này
Trang 18VI Giới hạn nghiên cứu
Trong phần nghiên cứu đề tài: “Vấn đề sử dụng nước và tiết kiệm nước sinh hoạt của người dân tại Phường Linh Trung-Quận Thủ Đức và phường 15-Quận Bình Thạnh, Tp.HCM” chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu chính là các
hộ gia đình đang sử dụng nguồn nước máy trong sinh hoạt tại hai phường tuy
nghiên do vấn đề kinh phí và thời gian, chuyên môn có hạn nên đề tài chỉ tập
trung vào việc tìm hiểu vấn đề dựa trên các chỉ số
VII Kế hoạch nghiên cứu
1 Hoàn thành đề cương nghiên cứu (lần 2)
2 Xử lí các tài liệu có liên quan tới đề tài
(lần 2)
3 Công việc viết đánh máy chỉnh sửa đề tài
4 Hoàn thành đề tài và nộp đề tài
Trang 19CHƯƠNG I TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ – VĂN HÓA – XÃ HỘI
QUẬN THỦ ĐỨC VÀ QUẬN BÌNH THẠNH
Theo thống kê năm 2006, diện tích của phường Linh Trung là 706 ha, dân số
là 31.204 người(trong đó thường trú là 11.707 người và tạm trú là 19.497 người)
Số hộ trong phường là 4.295 hộ (số hộ thường trú là 2.594 và tạm trú là 1.701 hộ)
Ranh giới của phường Linh Trung:
Phía Bắc giáp với huyện Dĩ An
Phía Nam giáp với phường Linh Chiểu và Linh Tây
Phía Đông giáp với Quận 9
Phía Tây giáp với Bình Dương
1.1.1.b Quận Bình Thạnh
Bình Thạnh là Quận ở nội thành TP.HCM, với diện tích tự nhiên là 2.76km2, dân số tính đến năm 2005 là 435.300 người Quận có 28 phường bao gồm từ phường số 1 đến phường 28
Vị trí chiến lược của quận là nơi giao nhau của các nút giao thông quan trọng của Tp.HCM bởi vì Bình Thạnh là điểm giao thông đầu mối, nơi gặp gỡ của quốc
lộ 1A và quốc lộ 13, quận còn là cửa ngõ đón con tàu Thống Nhất Bắc – Nam đi
Trang 20qua cầu Bình Lợi vào ga Hòa Hưng, và có Bến xe miền Đông tạo điều kiện thuận lợi cho quận phát triển kinh tế – xã hội thuận lợi
Diện tích của phường 15 với diện tích 0,51Km2, gồm 73 tổ dân phố với dân
số thống kê năm 2005 là 20.900 người
Ranh giới của phường 15:
Phía Bắc giáp với phường 24
Phía Đông giáp với phường 17 và 25
Phía Nam giáp với phường 7, Quận 1
Phía Tây giáp với phường 2
1.1.2 Khí hậu
Tp HCM nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Cũng như các tỉnh
ở Nam Bộ, đặc điểm chung của khí hậu – thời tiết Tp HCM là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt làm tác động chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Theo tài liệu quan trắc trong nhiều năm của trạm khí tượng Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí tượng chủ yếu cho thấy những đặc trưng khí hậu Tp HCM như sau:
- Lượng bức xạ dồi dào, từ khoảng trung bình 140 kcal/cm2/năm, số giờ nắng trung bình/tháng là 160 – 270h, nhiệt độ không khí trung bình là 27oC, nhiệt độ cao tuyệt đối là 400C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 13,80C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng tư (các quận nội thành phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận phía Nam và Tây Nam
- Độ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm là 79,5%, bình quân mùa mưa là 80% và chỉ số cao tuyệt đối tới 100%, bình quân mùa khô là 74,5% và mức thấp tuyệt đối tới 20%
- Chế độ gió: Tp.HCM chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính và thịnh hành
là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Đông Bắc Gió Tây – Tây Nam từ Aán Độ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 tới tháng 10, tốc độ trung bình là 3,6 m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s gió Bắc – Đông Bắc từ biển đông thổi vào trong mùa khô khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình là 2,4 m/s Ngoài ra còn có gió Tín Phong hướng
Trang 21Nam–Đông Nam khoảng từ tháng 3 tới tháng 5 tốc độ trung bình là 3,7 m/s về
cơ bản Tp.HCM không thuộc vùng có gió bão, ít chịu sự ảnh hưởng của các trận
bão đổ vào Việt Nam
1.1.3 Tài nguyên nước
Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc, đây là một ưu thế lớn để phát triển kinh tế vì chúng không những cung cấp lượng nước ngọt khá lớn cho nền kinh tế nước nhà mà còn giúp tăng cường cho hệ thống đường thủy Có Việt Nam có 9 hệ thống sông lớn, lượng nước có thể chủ động sử dụng là
325x109m3/ngày Ngoài ra còn có 460 ao hồ vừa và lớn.Trữ lượng nước dưới đất
ở Việt Nam dồi dào, nằm trong các tầng chứa nước Trữ lượng nước dưới đất theo tài liệu thăm dò khoảng 1,2x109m3 /ngày
Tại Tp.HCM trữ lượng nước cũng tương đối dồi dào bao gồm cả nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm
- Nước mặt: Nguồn nước được khai thác phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất cho người dân ở Tp.HCM chủ yếu là nguồn nước từ các sông lớn như sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông Với hệ thống kênh rạch dài khoảng 7.880 km, tổng diện tích mặt nước là 35.500 ha Do đó đã cung cấp một lượng nước lớn cho nhu cầu sinh hoạt của người dân.Tại hai phường nghiên cứu cũng có các con sông chảy qua, tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức có sông suối Cái và sông Xuân Trường còn tại phường 15, quận Bình Thạnh có một phần sông Thị Nghè chảy qua Chất lượng các nguồn nước này hiện nay bị ôi nhiễm nặng, duy chỉ có phường Linh Trung sông Xuân Trường có đủ điều kiện để khai thác sử dụng nước
- Nước dưới mặt đất: Riêng trên địa bàn Tp.HCM, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất tại các tầng chứa nước có thể khai thác là: 2.501.159 m3/ngày
Trên địa bàn Tp.HCM, hiện có trên 100.000 giếng khai thác nước ngầm,
đa số khai thác tập trung ở tầng chứa nước Pleistocen và Plitocen 56.61% tổng lượng nước khai thác dùng cho mục đích sản xuất, còn lại dùng trong sinh hoạt
Trang 22 Bảng 2 Bảng phân bố các yếu tố vật lý ở các tầng chứa nước
STT Tầng chứa nước Q động Q tĩnh Q đàn hồi Cộng
hạ thấp liên tục như tại các trạm Tân Sơn Nhất và Linh Trung (Thủ Đức) đang bị
hạ thấp ngoài ra mực nước ngầm cũng hạ thấp do thay đổi theo mùa
Cách đây 165 triệu năm biển tiến vào bao phủ thành phố và bồi đắp một lớp trầm tích phủ cùng với sự phát sinh những tinh thể pirit đồng Các dấu vết của thời kỳ này còn để lại trên đá màu đen chứa nhiều pirit đồng, vàng đồi Long Bình Sau đó dưới tác động của các vận động kiến tạo và tạo sơn, dưới ảnh hưởng của khí hậu trái đất trở nên khô khan, đất đai thành phố thoát dần khỏi đáy biển, dưới ánh nắng mặt trời đã bị tác động bởi hooc môn của ngoại lực, chấm dứt thời kỳ biển tràn vào bồi đắp trầm tích
Cách đây 170 triệu năm, tác động của cuộc vận động tạo núi trung sinh đã gây ra đứt gãy và phun trào mắc ma, còn để lại dấu vết tại Phương Mai, Tân Văn Long Bình (Thủ Đức) với các miệng núi phun trào tại Phương Mai, kiểm tra lại các đứt gãy tạo thành hai hệ thống đứt gãy đan vào nhau như một hệ thống ô vuông
Trang 23Một đứt gãy hướng Tây Bắc – Đông Nam trùng hướng với hướng chảy của sông Sài Gòn cùng với các đứt gãy dọc sông Đồng Nai, sông Vàm Cỏ…tạo
ra sụt lún không đồng bộ, tạo thành các bậc thang giữa móng nền Thành phố với các tỉnh bạn xung quanh
Các dứt gãy theo hướng Đông Bắc – Đông Nam cũng sụt lún không đồng
bộ, làm cho móng nền thành phố nghiêng về phía biển Đông và sụt lún ở phía Tây Nam
Hai hệ thống đứt gãy đan vào nhau có biên độ sụt lún và nâng lên không đều, tạo cho địa hình địa mạo thành phố vừa có dạng bậc thang vừa có khối tảng
Hệ thống sông ngòi chảy theo các khe nứt nên những uốn lượn có gấp khúc rõ nét trên sông Sài Gòn và các sông rạch vùng Duyên Hải
Giai đoạn lấp đầy các vùng sụt lún
Sau một giai đoạn dài yên tỉnh, dưới tác động của khí hậu dài trái đất ẩm ướt các dòng sông cổ phát triển, tiếp tục xói mòn các bề mặt nổi lên khỏi mặt nước biển cuốn trôi các vật liệu đem ra bồi đắp các vùng cửa sông, các vùng ven biển hoặc các vùng trủng trong đất liền càc đầm hồ
Cuộc vận động tạo núi Hymalaya chỉ có tác động tạo thêm nhiều đứt gãy phụ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, hoặc Đông Bắc – Tây Nam chia cắt khối móng nền thành phố thành ô khối cao thấp không đồng đều nhau Các khối dương là khối Thủ Đức, khối Tân Sơn Nhất và các khối có đặc biệt của khối dương là: khối Củ Chi, khối Thị Nghè, ở các khối này có hiện tượng nâng lên và bào mòn là chính
Các khối âm là khối ở Bình Chánh, khối Nhà Bè và khối Cần Giờ ở đó hiện tượng sụt lún và bồi đắp là chủ yếu
Kèm theo hiện tượng đứt gãy là hiện tượng phun trào mắc ma diễn ra ở nhiều nơi.Với lịch sử phát triển đa dạng và phong phú vừa mang đặc trưng riêng vừa mang tính chất chung của các cấu trúc đo chất chung quanh Tuy nhiên đã tạo nên một diện tích nhỏ của Thành phố, chỉ hơn 3000 km2 những cảnh quan địa lý khác nhau các ngọn đồi đỉnh tròn bát úp nằm bên cạnh cánh đồng ngập nước, các đầm lầy sông biển hoặc đầm lầy cửa sông nằm cạnh các bãi bồi cao thấp hoặc các giống cát ven biển
Trang 241.2 Đặc điểm kinh tế văn hóa – xã hội
so với năm 1997) Ngoài ra, Thủ Đức còn là nơi sản xuất cây mai ghép và lan cắt cành, cùng với hai loại vật nuôi có giá trị kinh tế cao là cá giống và bò sữa Về nông nghiệp duy trì hàng năm ở mức 38–40 tỷ đồng/năm Không những đem lại giá trị kinh tế cao mà còn phù hợp với quá trình đô thị hóa
Từ năm 1997 đến nay cơ sở hạ tầng của Thủ Đức đã được thay đổi rõ nét, hoàn chỉnh và hiện đại hơn Với số vốn đầu tư là 2.000 tỷ đồng, hàng năm các công trình đã được đưa vào sử dụng: Trung tâm y tế, đường vành đai khu chế xuất Linh Trung 1, chợ nông sản thực phẩm Thủ Đức Với phương châm là
”nhà nước và nhân dân cùng làm” Quận đã triển khai chương trình “bê tông hóa“ nhân dân đóng góp 50%, quận hổ trợ 50% Từ sự hợp này đã thực hiện được trên 260 công trình đường liên tổ dân phố, liên khu phố, đã tạo chuyển biến trong quá trình đô thị hóa, làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn của địa bàn Đặc biệt chính quyền quận đã giải quyết việc làm cho hơn 79.113 lao động và trợ vốn cho trên 14.940 lượt hộ nghèo trong phát triển kinh tế
Trang 251.2.1.b Quận Bình Thạnh
Từ 1975 đến nay, trong quá trình khôi phục, cải tạo và xây dựng nền kinh
tế theo định hướng XHCN cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể Kinh tế nông nghiệp đã được đẩy lùi về vị trí thứ yếu và hiện nay chiếm một tỉ trọng rất nhỏ Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, Thương nghiệp – Dịch vụ – Du lịch trở thành ngành kinh tế chủ yếu Vì vậy mà đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa nhanh chóng và diện mạo nền Kinh tế – Văn hóa – Xã hội của quận đã có nhiều thay đổi đáng kể
1.2.2 Văn Hóa – Xã Hội
1.2.2.a Quận Thủ Đức
Thủ Đức là quận được thành phố công nhận là một trong những quận hoàn thành phổ cập giáo dục THCS sớm của thành phố Các phong trào vận động quần chúng xây dựng đời sống mới ở khu dân cư, chương trình vì người nghèo, đền ơn đáp nghĩa ngày càng được đi vào chiều sâu Các hoạt động lễ hội của Quận, Phường được tổ chức đa dạng và phong phú hơn Để tạo mọi điều kiện cho các nhà đầu tư và nhân dân, UBND quận đã triển khai thực hiện đồng bộ theo cơ chế
“một cửa, một dấu” Theo quy định của UBND Thành phố từ năm 2000 đến nay
đã từng bước đưa tin học hóa vào trong phục vụ công tác quản lý nhà nước
1.2.2.b Quận Bình Thạnh
Bình Thạnh có 21 dân tộc, đa số là người kinh Là một trong những khu vực khá cổ xưa của thành phố, nơi quy tụ của nhiều lớp cư dân qua các thời kì lịch sử Có Bình Thạnh cho tới ngày nay hầu như có mặt nhiều người từ miền Bắc, miền Trung đến sinh sống, lập nghiệp Chính vì vậy mà các hoạt động văn hóa rất phong phú và đa dạng
1.3 Tóm tắt chương I
Tp.HCM là một thành phố tương đối lớn với diện tích 2095 km2 gồm 19 quận và 5 huyện thị Trong đó phường Linh Trung, quận Thủ Đức có diện tích là 7,06 km2, dân số 31.204 người và phường 15 quận Bình Thạnh với diện tích là 2,76 km2, dân số là 20.900 người Điều kiện tự nhiên tại hai phường mang nét đặc điểm chung của Tp.HCM với mùa rõ rệt (mùa mưa từ tháng 4 tháng 11),
Trang 26nhiệt độ trung bình là 270C, độ ẩm tương đối là 79,5% Tp.HCM cũng là nơi có nguồn nước dồi dào với tổng diện tích nước mặt là 35.500ha và trữ lượng nước ngầm có thể khai thác khoảng 2,5 triệu km3/ngày là những tiềm năng rất lớn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất của người dân
Hoạt động công nghiệp diễn ra mạnh tại quận Thủ Đức, còn quận Bình Thạnh lĩnh vực thương mại dịch vụ phát triển Bên cạnh đó đời sống Văn hoá-Xã hội không ngừng được cải thiện, trình độ giáo dục được nâng cao, an ninh quốc phòng ổn
Trang 27lệ nhỏ chiếm 7,3% nhóm tuổi này không có sự chênh lệch giữa hai phường Nhìn chung nhóm tuổi từ 32 – 45 ở phường Linh Trung cao hơn phường 15 Trong khi nhóm tuổi từ 46 tới 59 phường 15 lớn hơn phường Linh Trung, nhưng
tỷ lệ này chiếm không đáng kể Như vậy những người được phỏng vấn tại hai phường chủ yếu là trong độ tuổi từ 32 tới 59, chiếm gần 70%
2.2 Trình độ học vấn
Trình độ học vấn mang một ý nghĩa rất lớn trong quá trình nhận thức, thái độ
và hành vi của mỗi con người Trình độ học vấn là kiến thức cơ bản làm nền tảng
cơ bản để mỗi người có thể tiếp nhận được tri thức khoa học như đối với người công nhân, mức tiếp thu quy trình công nghệ và kỹ thuật sản xuất yêu cầu cao đã buộc họ phải có trình độ văn hóa nhất định Trình độ học vấn sẽ giúp người dân chủ động tiếp nhận các thông tin và những kiến thức cần thiết về TKN Nhìn chung trình độ học vấn của dân cư hai phường là rất cao: Đông nhất là số người
có trình độ cấp III chiếm tới 38,5% và ít có sự khác biệt giữa hai phường (trong
đó ở phường 15 chiếm 42,6% và phường Linh Trung chiếm 34,7%) Số người có trình độ học vấn từ THCN đến thạc sĩ chiếm 31,3%, phường Linh Trung có tỷ lệ cao gấp đôi so với phường 15 (ở Phường 15 chiếm 21,3%, phường Linh Trung chiếm 40,8%) Số người tham gia phỏng vấn không có trong nhóm mù chữ, trình
độ học vấn thấp nhất là cấp I chủ yếu ở phường 15, chiếm 19,1% Như vậy yếu
tố về trình độ học vấn tại hai phường được phỏng vấn đã tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định, ở mức độ trình độ học vấn cao người dân đã phần nào đáp ứng được các điều kiện phát triển của nền kinh tế trí thức trong thời đại hiện nay
Trang 28* Bảng 3 Phân bố phần trăm về đặc điểm Dân số-Kinh tế -Xã hội của dân số nghiên cứu
Trang 292.3 Số người sống trong gia đình
Số người sống trong gia đình của 100 hộ được phỏng vấn ở cả hai phường tương đối ít Số hộ có quy mô từ 1 – 4 người chiếm 51,3% (phường 15 là 56,%, phường Linh Trung là 50%) Số hộ có từ 5 – 9 người chiếm 40,8%, không có sự chênh lệch giữa hai phường nghiên cứu (phường 15 chiếm 37,5%, phường Linh Trung là 44%) Số hộ có từ 10 ngưới trở lên chiếm tỉ lệ thấp nhất, chiếm 6,1% (phường 15 là 12,5%, phường Linh Trung hầu như không có)
* Bảng 4 Phân bố phần trăm về đặc điểm Dân số-Kinh tế -Xã hội của dân số nghiên cứu
Nghề nghiệp
Trang 302.4 Nghề nghiệp tạo ra thu nhập chính
Ngành nghề lao động thu được trong mẫu điều tra bao gồm làm dịch vụ, bán
vé số, chạy xe ôm, chăn nuôi, công nhân, giáo viên, giảng viên, trong đó số người được hỏi chủ yếu là kinh doanh, buôn bán tỷ lệ này cao nhất là ở phường Linh Trung chiếm tới 50%, ở phường 15 là 36,2% Công nhân viên chức cũng chiếm một tỉ lệ khá cao ở phường Linh Trung chiếm tới 40%, ở phường 15 là 36,2% Các nghề nghiệp khác, thất nghiệp thì chiếm tỉ lệ rất nhỏ, ở phường Linh Trung chỉ chiếm 4%, ở phường 15 thì hầu như không có
2.5 Tổng thu nhập bình quân mỗi tháng
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, mức thu nhập của hai phường dao động từ 500.000 đ tới 10.000.000đ, mức độ thu nhập của hai phường có sự chênh lệch là rất lớn trong đó cá biệt có hộ có mức thu nhập tới 27.000.000 đ Thu nhập
từ 500.000đ tới 3.500.000đ chiếm 61% (trong đó phường Linh Trung chiếm 66%, phường 15 chỉ chiếm 55,3%) Thu nhập trên 10.000.000đ chỉ chiếm 8,2% trong đó phường 15 chiếm tỷ lệ lớn hơn phường Linh Trung, mức chênh lệch gần 10% (phường 15:13.3%, phường Linh Trung: 4,3%)
- Hoạt động lao động chính của người dân ở hai phường là kinh doanhbuôn bán và công nhân viên chức
- Mức thu nhập từ 500.000đ tới 3500.000đ chiếm tỷ lệ cao nhất, trong đó số người được phỏng vấn có thu nhập dưới 500.000đ /tháng không có nhiều
Trang 31CHƯƠNG III
KIẾN THỨC VỀ NƯỚC SẠCH VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC
CỦA NGƯỜI DÂN
3.1 Kiến Thức Nước Sạch
3.1.1 Kiến thức nước sạch
Qua điều tra đã cho thấy kiến thức về nước sạch của người dân chủ yếu mang tính cảm quan và định tính Nước sạch theo người dân là nước không màu, không mùi không vị chiếm 18,6%, ý kiến này tập trung ở phường Linh Trung nhiều hơn phường 15 (phường Linh Trung là 22,4%, phường 15 là 14,6%) Số lượng người cho rằng nước sạch là nước trong chiếm 19,6% (trong đó phường Linh Trung là 14,3%, phường 15 là 25%) sự chênh lệch giữa hai phường là 10% trong các ý kiến trả lời Số người cho rằng nước sạch là nước không chứa chất độc hại cho cơ thể chiếm tỉ lệ cao nhất là 30,9% trong đó Phường 15 là 29,2% thấp hơn so với phường Linh Trung là 32,7% Nước đã qua xử lý được 29,9% hộ đồng ý và ít có sự chênh lệch giữa hai phường, phường 15 là 29,2%, phường Linh Trung là 30,6%
3.1.2 Kiến thức về ô nhiễm nước
Đa số người dân cho rằng nước ô nhiễm là nước đục, có mùi khó chịu (chiếm 50%) trong đó phường 15 là 66,7% chiếm gấp đôi so với phường Linh Trung là 36,7% Nước ô nhiễm là nước chứa chất độc có 46,6% số hộ trả lời, tỷ lệ này cao nhất phường Linh Trung là 63,3%, phường 15 là 25,6 tuy nhiên ở cả hai phường
có ít người nêu ra được các chất độc chứa trong nước Nước chưa qua xử lý chứa
tỉ lệ rất thấp chỉ 2,3%
Trang 32* Bảng 5 Phân bố phần trăm về kiến thức nước sạch của người dân
100
41
22,4
14,3 30,6 32,7
1
100
90
Nước ô nhiễm
Nước đục, mùi hôi
Nước chưa qua xử lý
100
38
36,7
- 63,3
-
100
49
50 2,3 46,6 1,1
100
87
3.2 Kiến thức về tiết kiệm nước
3.2.1 Lãng phí nước và tiết kiệm nước
Người dân ở hai phường cho rằng sử dụng không tiết kiệm là lãng phí nước chiếm 40,2% (trong đó phường 15 là 51.4% chiếm tỷ lệ cao hơn so với
phường Linh Trung là 32%) Số ngưới cho rằng để nước rò rỉ chiếm tỷ lệ thấp (24,1% ) và không có sự chênh lệch giữa hai phường, cụ thể ở phường 15 là
21.6%, phường Linh Trung là 26% Còn số người cho rằng lãng phí nước là sử dụng nước không hợp lý chiếm 35,6%, trong đó phường 15 là 27% thấp hơn rất nhiều so với phường Linh Trung là 42%
Trang 33* Bảng 6 Phân bố phần trăm về kiến thức TKN của người dân
Tiết kiệm tiền
Hạn chế ô nhiễm môi trường
Tận dụng nguồn nước
Tổng số
Số mẫu
37,8 48,6 5,4 2,7 5,4
100
37
46,3 26,8 9,8 14,6 2,4
100
41
42,3 37,2 7,7
9 3,8
-
100
90
Trang 34* (Tiếp bảng 6) Phân bố phần trăm về kiến thức TKN của người dân
Trung
Tổng số
Tiết kiệm nước là
Tiết kiệm tiền
Hạn chế ô nhiễm môi trường
Vì nguồn nước ngày cáng
-
100
97
3.2.2 Tiếp cận các thông tin tiết kiệm nước và mức độ nghe
Hầu như người dân đều đã được nghe thông tin về TKN, chiếm tới hơn 90% đã nghe, phương tiện đài phát thanh và đài truyền hình là kênh thông tin chủ yếu mà tiếp thu được với 89 người nghe thông tin về TKN qua đài truyền hình và
82 người biết được qua đài phát thanh còn trên các phương tiện truyền thông
khác như trê báo, chính quyền địa phương và từ bạn bè chiếm tỷ lệ rất ít (ở
phường 15 nhiều hơn phường Linh Trung) Mức độ nghe của người dân là
thường xuyên (chiếm 80,6%), 6 tháng/lần chiếm 16,3%, thấp nhất là 3 tháng/lần
Hộp 3 “ người dân chưa có kiến thức về nước sạch và nước ô nhiễm, chủ yếu họ chỉ đánh giá qua quan sát bằng mắt thường,mang tính cảm quan”, cán bộ Ban quản lý Công ty cấp nước Gia Định
Trang 353.3 Tóm tắt chương III
- Ý kiến trả lời của các hộ dân đa số cho rằng nước sạch là nước không chứa chất độc và nước đã qua xử lý Còn các hộ nghĩ rằng nước sạch là nước trong không màu không mùi chiếm tỷ lệ thấp nhất
- Nước ô nhiễm được nhiều người dân cho rằng đó là nước có chứa các chất độc và nước có mùi hôi khó chịu, chưa qua xử lý Có hai phường các ý kiến trả lời sự khác biệt rất lớn
- Có cả hai phường người dân đều có cách suy nghĩ khác nhau về lãng phí nước Có phường 15 chủ yếu sử dụng không tiết kiệm là lãng phí nước (chiếm 51,4%) còn ở Linh Trung cho rằng sử dụng không hợp lý là lãng phí nước (42%)
- Các thông tin về TKN đã được phổ biến tới người dân, trong đó phương tiện truyền thông đạt hiệu quả cao là các đài truyền hình, truyền thanh địa phương và trung ương Bên cạnh đó các sách báo hướng dẫn cụ thể cách TKN ít được người dân biết tới
Trang 36CHƯƠNG IV HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ TIẾT KIỆM NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN
4.1 Nhu cầu nước sạch của người dân Tp Hồ Chí Minh và nguồn cung cấp
Nguồn nước cung cấp cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của gần 8 triệu người dân TP HCM hiện nay chủ yếu khai thác nguồn nước mặt từ hệ thống các sông Sài Gòn, Đồng Nai, Vàm Cỏ… với tổng số lượng trên 800.000m3/ngày và khai thác tầng nước ngầm khoảng 530.000m3/ngày Trong khi nhu cầu sử dụng nước của toàn thành phố khoảng 2,5triệu m3/ngày
Để đáp ứng nhu cầu nước sạch, trong những năm qua, TP.HCM mở rộng và xây dựng nhiều nhà máy sử dụng nước có quy mô lớn như nhà máy Thủ Đức, công suất 750.000m3/ngày, nhà máy cấp nước ngầm Hooc Môn với công suất 50.000m3/ngày, nhà máy nước Bình Trị Đông với công suất 12.000m3/ngày, nhà máy nước Tam Hiệp với công suất 300.000m3/ngày Bên cạnh đó, tại TP cũng có khoảng 120.000 giếng khoan với quy mô nhỏ, tập trung nhiều ở các huyện ngoại thành như Hócmôn, Củ Chi, Bình Chánh Do tính đa dạng của nguồn nước nên
đã cung cấp được cho phần nhiều nhu cầu về nước sinh hoạt của người dân thành phố
Có nội thành và ven thành phố hiện nay đã có mạng lưới cung cấp nước của
đô thị, tuy nhiên cũng không thể đủ cho nhu cầu sử dụng của người dân thành phố nên một số người dân phải tìm nguồn nước cho mình bằng các giải pháp khác nhau và phổ biến nhất là hiện tượng khai thác nước ngầm tại chỗ để sử dụng thông qua các hình thức giếng khoan, giếng đào…chất lượng nước ngầm tại các giếng khoan này tùy thuộc vào tính chất của nước như độ pH, hàm lượng sắt… nên đã ảnh hưởng đến tiêu chuẩn về nước sinh hoạt Có một số quận nhân dân phải đi lấy nước ở nơi cấp nước tập trung về sinh hoạt thì tốn thời gian, sức lực… giá thành lại cao Nguồn nước này ưu tiên cho việc sử dụng ăn uống, nước ao hồ chứa trong tự nhiên mà người dân sử dụng thì không đảm bảo vệ sinh cho người dân điển hình như tại phường Hiệp Bình Phước quận Thủ Đức mới có 20% trong tổng số 5.162 hộ được trực tiếp sử dụng nước sạch, còn lại phải mua nước sạch
từ các hộ tư nhân với giá từ 20.000 – 30.000 đ/m3 Có các vùng huyện Nhà Bè
Trang 37hiện vẫn phải mua nước sạch từ các hộ nước tập trung ở các khu vực trung tâm hoặc từ các xe bồn lưu động để phục vụ nhu cầu sinh họat với giá rất cao so vơi giá nước của các ngành bán nước
Trong vấn đề sử dụng nước sạch của thành phố hiện nay vẫn tồn tại khó khăn chính là “cung” không đủ “cầu”, tổng công ty cấp nước Sài Gòn cho biết: Tổng công ty cung cấp cho TP HCM gần 1 triệu m3 nước sạch /ngày đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, hiện còn thiếu khoảng 400.000 m3 nước sạch cho nhu cầu sử dụng của người dân Trong một số khu vực như Quận 7, 9, 4… thiếu nước sạch từ nhiều năm qua và ngày càng trầm trọng do các địa phương này đang trong quá trình đô thị hóa, dân số tăng nhanh, nhiều khu dân cư mới, khu chế xuất, khu công nghiệp được xây dựng Bên cạnh đó mạng lưới đường ống cấp thoát nước dài trên 2.000 km của TP HCM được xây dựng khá lâu (từ 50 – 70 năm) quá cũ
kỷ, mục nát chưa được thay thế kịp thời Cụ thể như chi nhánh cấp nước Chợ Lớn có trên 400 km đường ống nước thì có tới 60% đường ống cũ, mục nát, tương tự chi nhánh cấp nước Gia Định có 350 km đường ống thì có khoảng 60% đường ống củ mục nát… do vậy hiện nay nước sạch mỗi ngày toàn thành phố thất thoát khoảng 334.000 m3 chiếm trên 38% tổng lượng nước sản xuất ra Những tháng gần đây, nguồn nước máy của thành phố còn bị nhiễm bẩn, nước đục vẫn chưa giải quyết được dứt điểm ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu hộ dân sử dụng nước máy và tiêu hao một lượng lớn nước và chi phí về tiền bạc của
xã hội Trước tình hình thiếu nước sinh hoạt của người dân còn ở mức cao nên thành phố đã phối hợp cùng với các chương trình cung cấp nước của UNICEF và một số chương trình tài trợ đầu tư giải quyết cấp nước ở vùng nông thôn Sau đây
là một số hệ thống cấp nước tập trung
Trang 38* Bảng 7 Tỉ lệ người dân ngọai thành được sử dụng nước qua các hệ thống cấp nước tập trung 6
Số hộ sử dụng nước Quận,
(người)
Giếng bơm tay (người)
Nước giếng máy + công nghiệp
Số hộ còn thiếu nước
2010 tỉ lệ hộ được cấp nước sạch trong khu vực nội thành đạt 95% với 180
lít/người/ngày Nằm trong kế hoạch giải quyết triệt để những vấn đề khó khăn còn tồn tại trong công tác đảm bảo đầy đủ nhu cầu về sử dụng nước sạch của người dân thành phố, nhiệm vụ chính đã được UBND thành phố đề ra là giảm tỉ
lệ thất thoát nước đến năm 2010 còn 26% (năm 2007 tỉ lệ thất thoát nước là 38%), nâng công suất cấp nước toàn thành phố đạt từ 1,8 – 2 triệu m3/ngày
6
Nguồn:Trung tâm y tế dự phòng thành phố Hồ Chí Minh
Trang 394.1.1 Tình hình sử dụng và nguồn cung cấp nước tại phường 15, Quận Bình Thạnh
Quận Bình Thạnh có lợi thế chính là một quận có vị trí tiếp giáp với các quận trung tâm, nên được mạng lưới cấp nước đô thị phủ trên toàn địa bàn quận Hiện nay toàn quận có khoảng 435.300 người, trong đó có 15.000 người được sử dụng nước sạch của nhà nước, số người còn sử dụng nước giếng bơm tay là 1.292, số hộ còn thiếu nước sạch
Theo số liệu thống kê tháng 3 năm 2007 của Đội quản lý đồng hồ Công ty cổ phần cấp nước Gia Định, Tp Hồ Chí Minh trên địa bàn phường 15 có 3.519 cái đồng hồ tính mức tiêu thụ nước sạch của hộ dân với công suất tiêu thụ 103.930 m3 Đánh giá theo số đồng hồ tính mức tiêu thụ nước sạch của hộ dân qua các năm cho thấy tỷ lệ sử dụng nước máy sạch tăng đều từ 3.046(1/2005) đến 3.504 (1/2006) đồng hồ, trong giai đoạn 2/2006 đến 3/2007 số lượng hộ sử dụng đồng hồ nước tăng chậm đều, từ 3506(2/2006) đến 3519 (3/2007) Cũng trong giai đoạn từ 1/2005 đến 3/2007, mức độ tiêu thụ nước của người dân biến đổi liên tục: cao nhất là 110.623 m3 (tháng 5/2006) và thấp nhất là 96.467 m3(tháng 2/2005) Công ty cổ phần cấp nước Gia Định là đơn vị chính và duy nhất của Quận Bình Thạnh phụ trách cung cấp nước cho phường 15, theo đánh giá của đơn vị thì đây là một trong những phường của quận được đáp ứng gần như đầy
nước-đủ về lượng nước máy sạch cho sinh hoạt của người dân
Trang 40* Bảng 8 Tình hình sử dụng nước của phường 15 - Quận Bình Thạnh (giai đoạn 1/2005-3/2007).7
7
Nguồn: Báo cáo số lượng đồng hồ nước theo quận, phường năm 2006-2007 Đội quản lý đồng hồ nước-Công ty cổ phần cấp nước Gia Định, Tp.Hồ Chí Minh