1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng vô vi của đạo gia thực chất và ý nghĩa lịch sử

105 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 736,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số những điểm xuyết về các công trình nghiên cứu kể trên chưa thể làm rõ được sức ảnh hưởng của Lão Tử cũng như tác phẩm của ông đối với người phương Tây nhưng có thể khẳng định điều

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS HÀ THIÊN SƠN

TP HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự

hướng dẫn của TS Hà Thiên Sơn Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa

từng được công bố Các số liệu, tài liệu, trích dẫn trong luận văn chính xác,

có nguồn gốc rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010

TRỊNH THỊ THANH

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 01

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO GIA 13

1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành Đạo gia 13

1.1.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa thời Xuân Thu – Chiến Quốc 13 1.1.2 Bối cảnh chính trị - xã hội thời Xuân Thu – Chiến Quốc 20

1.2 Những nhà triết học tiêu biểu và tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia 25

1.2.1 Những nhà triết học tiêu biểu của Đạo gia 25

1.2.2 Tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia 32

Chương 2 NỘI DUNG, THỰC CHẤT, ẢNH HƯỞNG VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA ĐẠO GIA 46

2.1 Nội dung, thực chất tư tưởng vô vi của Đạo gia 46

2.1.1 Nội dung tư tưởng vô vi của Đạo gia 46

2.1.2 Thực chất tư tưởng vô vi của Đạo gia 60

2.2 Ảnh hưởng và ý nghĩa của tư tưởng vô vi 65

2.2.1 Ảnh hưởng của tư tưởng vô vi trong lịch sử 65

2.2.2 Ý nghĩa của tư tưởng vô vi trong giai đoạn hiện nay 76

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Là một trong các trường phái triết học chủ yếu thời Xuân Thu – Chiến Quốc, Đạo gia đã có những đóng góp quan trọng làm rạng rỡ lịch sử tư tưởng Trung Hoa

Trên cơ sở quan điểm về Đạo, Đạo gia đã đề xướng học thuyết vô vi trong các vấn đề đạo đức, nhân sinh và chính trị - xã hội Vô vi nguyên nghĩa

là “không làm” nhưng thực chất “không làm” không phải là không làm gì mà

là cách làm tự nhiên theo Đạo, không phải gượng ép, không bắt buộc mọi vật

phát triển trái với quy luật tự nhiên Vô vi còn là giữ gìn, thuận theo cái tự

nhiên, cái chất phác, vui với cái vốn có

Mặc dù, một số nhà triết học phê phán là cực đoan, bài xích khoa học tiến bộ, chủ trương đưa con người trở về với cuộc sống thuần phác hoang sơ nhưng nếu xét về phương diện cân bằng sinh thái, phát triển bền vững mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người thì tư

tưởng vô vi của Đạo gia thực sự có ánh ngọc sáng chói

Ngày nay, với thời đại đua tranh vào vũ trụ, con người đã và đang

“cưỡng lại” tự nhiên, không ngừng phát triển công nghệ kỹ thuật, phát minh

ra vô số những tiện ích phục vụ cuộc sống Song tỷ lệ thuận với sự phát triển của xã hội loài người là sự hủy hoại nghiêm trọng đối với tự nhiên Điều này dẫn đến những hiện tượng thiên nhiên như: hạn hán, lũ lụt, động đất… ngày càng gia tăng và khắc nghiệt Thêm vào đó, môi trường sống của con người cũng bị ô nhiễm nặng nề khiến cho sức khỏe bị suy giảm, nhiều loại bệnh nan y xuất hiện Nguyên nhân chính là do con người đang quay lưng lại với

tự nhiên, làm mất cân bằng sinh thái

Không chỉ mất cân bằng trong quan hệ với tự nhiên, cuộc sống của con người cũng mất cân bằng do phải cạnh tranh với nhau, phần nhiều chạy theo lợi ích vật chất mà không tìm được một khoảng nghỉ ngơi cho tâm hồn

Trang 6

Tất cả điều đó đang dẫn đến những căng thẳng làm phá hoại cuộc sống hạnh phúc của con người

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu tư tưởng vô vi của Đạo gia, trước hết

thấy được ý nghĩa đối với việc ngăn chặn sức phá hoại tự nhiên của khoa học

kỹ thuật, nhằm khắc phục những hiện tượng tự nhiên đang xảy ra ngày càng khắc nghiệt, hướng khoa học vào mục đích vừa phục tùng con người, vừa cải thiện và bảo vệ tự nhiên Như Ikeda Taisaku, nhà xã hội học nổi tiếng Nhật Bản từng viết: “Khoa học kỹ thuật không nên dùng vào mục đích chinh phục

và thống trị giới tự nhiên (bao gồm cả các sinh vật ở trong đó) Khoa học nên làm cho con người và tự nhiên hài hòa, nhịp nhàng, khiến cho nó hoạt động có quy luật phát huy hiệu quả với mức độ tốt nhất” [dẫn theo 23, tr.189 - 190]

Bên cạnh đó, tư tưởng vô vi của Đạo gia cũng khuyên mọi người phải

trừ khử những thái quá, bất cập hướng con người vào cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, tránh cuộc sống bon chen, chạy theo nhu cầu vật chất

Như vậy, nghiên cứu tư tưởng vô vi của Đạo gia không những giúp

chúng ta hiểu rõ hơn sự sâu sắc của tư tưởng triết học Đạo gia mà còn gợi

mở những suy ngẫm, những lý giải cho các vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra

và đòi hỏi phải giải quyết Đó chính là những mâu thuẫn xảy ra trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người

Mặt khác, xu hướng toàn cầu hóa đã và đang thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia Việc tìm hiểu, nghiên cứu nền văn hóa lâu đời rực rỡ của Trung Quốc, một nền văn hóa lớn và là một trong những cái nôi của triết học thế giới, đã và đang được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm

Tư tưởng Đạo gia được truyền vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên thông qua con đường xâm lược và với mục đích đồng hóa dân tộc, nhưng ngay khi du nhập vào nước ta, Đạo gia từ học thuyết của nước ngoài đã bị chi phối mạnh mẽ bởi văn hóa truyền thống của dân tộc, trở

Trang 7

thành học thuyết của dân tộc, từ công cụ của bọn xâm lược trở thành công cụ của người Việt

Do tồn tại thời gian dài ở Việt Nam, lại là công cụ tư tưởng của giai cấp phong kiến người Việt, Đạo gia đã có những ảnh hưởng sâu sắc đối với

tư tưởng dân tộc; ảnh hưởng quan trọng hơn cả là ảnh hưởng về mặt thế giới quan và nhân sinh quan Nhiều quan niệm về thế giới, về xã hội, về con người của các nhà tư tưởng Việt Nam có nguồn gốc từ tư tưởng của Đạo gia, chính những ảnh hưởng này đã góp phần làm nên sắc thái tư tưởng Việt Nam

Cho nên, nghiên cứu tư tưởng Đạo gia nói chung, tư tưởng vô vi nói

riêng còn là điều kiện để nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng triết học Việt Nam trong lịch sử

Với những ý nghĩa đó, trên cơ sở kế thừa thành tựu nghiên cứu của

người đi trước, chúng tôi đã chọn tư tưởng vô vi của Đạo gia – thực chất và

ý nghĩa lịch sử làm đề tài luận văn của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Đạo gia là một trong những trường phái triết học chủ yếu, chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng truyền thống Trung Quốc Trải qua hàng ngàn năm, dù là tiêu cực hay tích cực, Đạo gia cũng đều có ảnh hưởng rất sâu xa đối với nền văn hóa Trung Hoa và những quốc gia chịu ảnh hưởng của nền văn hóa này Chính vì vậy, nghiên cứu về Đạo gia là đề tài hấp dẫn không chỉ đối với các học giả Trung Quốc mà còn đối với các học giả phương Đông và phương Tây Khối lượng các công trình nghiên cứu về Đạo gia vì thế mà cũng khá đồ sộ Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn và giới hạn hiểu biết của mình, chúng tôi không thể giới thiệu một cách đầy đủ mà chỉ có thể khái quát một vài nét về lịch sử nghiên cứu và một số những công trình tiêu biểu của các học giả phương Tây, Trung Quốc và ở Việt Nam

Trang 8

Ở phương Tây, tư tưởng triết học của trường phái Đạo gia chủ yếu

được nghiên cứu thông qua tác phẩm Đạo đức kinh Bắt đầu từ thế kỷ XVI, cuốn Đạo đức kinh đã được dịch sang các tiếng Latin, Pháp, Đức,

Anh…Theo thống kê của các học giả phương Tây, từ năm 1816 đến nay tác

phẩm Đạo đức kinh đã có khoảng trên 250 các bản dịch với nhiều thứ tiếng

khác nhau

Leibniz - nhà triết học Đức thế kỷ XVII, là một trong những nhà triết học phương Tây đầu tiên chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lão Tử Trong những

năm truyền giáo ở Trung Quốc, ông đã từng có ý đồ dịch cuốn Đạo đức kinh

Người được coi là tiếp thu nguồn tư tưởng trực tiếp nhất từ Đạo đức

kinh là nhà triết học Heidegger Ông đã cùng với học giả Đài loan Tiêu Sư

Nghị dịch chung một phần của Đạo đức kinh

Ở Nga, đại văn hào L Tônxtôi cũng đã từng giới thiệu, dịch, xuất bản

các trước tác của Lão Tử, trong đó bản dịch tiếng Nga Lời thánh nhân Lão

Tử đã được xuất bản vào tháng 11 năm 1909

Tại Việt Nam, hiện đang lưu hành cuốn Thay đổi tư duy – Thay đổi

cuộc sống – Sống với tuệ của Đạo của tiến sĩ Wayne W.Dyer (Bản Quyên

dịch) trong đó chứa đựng những nghiên cứu, suy ngẫm và áp dụng Đạo đức

kinh

Trong quá trình nghiên cứu và dịch Đạo đức kinh có một điều thú vị

là, người phương Tây ban đầu dịch ba chữ Đạo đức kinh lần lượt là “Con

đường” (the way), “Đức tính” (virtue) và “Kinh điển” (classic) Mãi đến thập

kỷ 90 của thế kỷ XX, vẫn có người phân Đạo đức kinh thành “Đạo kinh” và

“Đức kinh” Song hiện giờ cách dịch tên thông thường là dịch âm tiếng Hán

“Dao De Jing” hoặc “Dao Te Chinh” Trong rất nhiều bản dịch Đạo đức

kinh, bản dịch bằng tiếng Anh có tiêu đề Đạo và sức mạnh của nó của nhà

Hán học Anh đương đại Waley là có sức ảnh hưởng nhất tại phương Tây hiện nay

Trang 9

Một số những điểm xuyết về các công trình nghiên cứu kể trên chưa thể làm rõ được sức ảnh hưởng của Lão Tử cũng như tác phẩm của ông đối với người phương Tây nhưng có thể khẳng định điều này thông qua thống kê của tổ chức Khoa học Giáo dục Liên Hiệp Quốc Theo đó, các danh tác văn hóa thế giới được dịch sang tiếng nước ngoài có lượng phát hành nhiều nhất,

ngoài cuốn Kinh Thánh ra chỉ có Đạo đức kinh

Các học giả phương Tây cũng có nhiều công trình dịch thuật sách của Trang Tử từ thế kỷ XIX như Balfour, Frederic Henry (1881); Giles, Herbert Allen (1926); Martin Palmer, James Legge, Burton Watson Sau những năm

50 cho đến nay, các bản dịch và bài nghiên cứu về Trang Tử của các tác giả phương Tây hoặc người Âu gốc Hoa nở rộ, nhiều không kể xiết

Nghiên cứu tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử, các nhà triết học phương Tây đều muốn từ đó tìm ra phương thuốc hay để cứu vãn cơn khủng hoảng văn minh phương Tây Họ đã phát hiện ra sự lý giải hài hòa mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên; thái độ trung dung trong đối nhân xử thế và

phương pháp tu hành bồi dưỡng đức hạnh trong Đạo đức kinh, chúng có tác

dụng rất tích cực trong việc bù đắp sự thất lạc tinh thần và ý chí cường quyền trong văn minh phương Tây

Ở Trung Quốc, ngay từ thời cổ đại cho đến nay, tư tưởng triết học của

Đạo gia, đặc biệt là đối với cuốn Đạo đức kinh đã không ngừng được khảo

cứu, chú giải, phân tích Tuy nhiên, trong giới hạn hiểu biết của mình chúng tôi chỉ có thể đề cập đến một số học giả và các công trình nghiên cứu đã

được dịch sang tiếng Việt đó là Trung Quốc triết học sử đại cương của tác giả Hồ Thích và Trung Quốc triết học sử của Phùng Hữu Lan Hai ông đã

vận dụng vốn tri thức Hán học uyên bác và phương pháp nghiên cứu thu nhận từ phương Tây vào nghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc nói chung

và Đạo gia nói riêng, vì vậy đây được xem là những công trình nghiên cứu không chỉ có uy tín ở Trung Quốc mà còn được đánh giá cao ở Việt Nam

Trang 10

Ngoài ra một công trình khác là Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa của

tác giả Dương Lực đã dành tới bảy chương để nghiên cứu về Đạo gia với tư cách là một thành tố của nền văn hóa Trung Hoa thời cổ đại

Tại Việt Nam, mặc dù quá trình nghiên cứu triết học Trung Quốc cổ đại đã bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, nhưng mãi đến năm 1954 mới xuất hiện các công trình nghiên cứu về Đạo gia Giai đoạn này, bên cạnh việc dịch các tác phẩm kinh điển, là việc ra đời hàng loạt các công trình nghiên cứu về Đạo gia với tư cách là một trong những trường phái chủ yếu trong lịch sử tư

tưởng Trung Quốc Đó là các công trình: Lịch sử triết học phương Đông tập

1 và 2 của Nguyễn Đăng Thục; Đại cương triết học Trung Quốc hai tập của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê; Lão Tử Đạo đức kinh, Trang Tử Nam hoa kinh của Nguyễn Duy Cần, Lão Tử triết học khảo cứu của Ngô Tất Tố và Nguyễn

Đức Thịnh…

Sau năm 1986, công cuộc đổi mới đã thổi một luồng sinh khí mới vào việc nghiên cứu triết học Trung Quốc cổ đại nói chung, triết học Đạo gia nói

riêng Tiêu biểu cho đến giai đoạn hiện nay là hàng loạt các công trình: Lão

Tử Đạo đức kinh, Trang Tử và Nam Hoa kinh của Nguyễn Hiến Lê; Lão Tử: đạo đức huyền bí của Giáp Văn Cường và Trần Kiết Hùng; Trang Tử: trí tuệ của tự nhiên của Nguyễn Hồng Trang; Trí tuệ Lão Tử, Trí tuệ Trang Tử hai

tập của Đỗ Anh Thơ; Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham

chiếu của Cao Xuân Huy… Bên cạnh đó là các giáo trình, các tập bài giảng

về lịch sử triết học như Lịch sử triết học của khoa Triết học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Tập bài giảng lịch sử triết học của khoa Triết học, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại cương triết học Đông Phương của

Minh Chi và Hà Thúc Minh và một số các công trình do tác giả Doãn Chính

chủ biên như: Lịch sử triết học Trung Quốc: giai đoạn Thương – Chu đến

giai đoạn Xuân Thu – Chiến Quốc, Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc,

Trang 11

Tuyển tập triết học Trung Quốc cổ đại, Đại cương lịch sử triết học phương Đông

cổ đại…

Mặc dù, các công trình nghiên cứu về Đạo gia khá đa dạng và phong phú về nội dung song nhìn chung có thể chia làm hai hướng:

Hướng thứ nhất, nghiên cứu về Đạo gia thông qua việc chú giải, bình

chú và phân tích tư tưởng triết học của hai tác phẩm là Đạo đức kinh của Lão

Tử và Nam hoa kinh của Trang Tử

Hướng thứ hai, nghiên cứu về Đạo gia với tư cách là một trong

những trường phái chủ yếu trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc

Nghiên cứu về Đạo gia, nội dung quan trọng mà tác giả nào cũng đề cập tới là khái niệm Đạo Tuy nhiên, mỗi người lại có những quan điểm khác nhau

Nghiên cứu Đạo của Lão Tử, tác giả Nguyễn Duy Cần cho rằng Đạo được thể hiện dưới hai nguyên lý: “nguyên lý tuyệt đối” là cái sinh ra vũ trụ

và “nguyên lý quân bình” là cái chi phối sự vận động của vạn vật [5, 19] Nguyễn Đăng Thục thì cho Đạo là thực thể tuyệt đối nhưng đây là thực thể tâm linh, tiên thiên về thời gian và không gian [101, tr.152] Cao Xuân Huy đồng thời với việc thừa nhận quan điểm Đạo là bản thể của vũ trụ như các học giả khác, ông còn nói thêm rằng Đạo tồn tại phổ biến trong bản thân mỗi vật Ông phân tích, sở dĩ Đạo của Lão Tử là Đạo thường chính vì đó là

tr.12-sự thống nhất giữa “thường vô” và “thường hữu” [38, tr.419-420] Nguyễn Hiến Lê thì vừa kế thừa quan điểm các học giả khác, vừa có những kiến giải

mới về Thể và Dụng của Đạo Tác giả Trương Văn Chung trong Đại cương

lịch sử triết học Trung Quốc thì xem xét Đạo ở khía cạnh bản thể luận với ba

Trang 12

điểm này là Nguyễn Đăng Thục, ông viết “Về Đạo thì Trang Tử cũng như Lão Tử đã quan niệm giống nhau…” [101, tr.214] Nguyễn Duy Cần viết:

“Triết học của Trang Tử cùng với Lão Tử có nhiều điểm không đồng, nhưng rất đồng về quan niệm Đạo và Đức” [29, tr.39] Quan điểm thứ hai cho rằng Đạo của Trang Tử có nhiều điểm khác, thậm chí thụt lùi so với Đạo của Lão

Tử Đại diện cho quan điểm này là Lương Gia Tĩnh Ông viết: “Về vũ trụ quan, quan niệm về Đạo, Trời của Trang Tử có một bước thụt lùi so với quan điểm Đạo, Đạo trời của Lão Tử… Trang Tử đã không phát triển được nhân

tố tích cực, nghiêm túc trong lý luận về Đạo” [87, tr.116] Quan điểm thứ hai này còn ít được đề cập, vì vậy cần được tiếp tục được nghiên cứu để có kết luận chính xác hơn

Về nhận thức luận của Trang Tử, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho

đó là một loại tương đối luận Nguyễn Duy Cần cho Trang Tử là ông tổ của tương đối luận [xem 29, tr.48] Lương Gia Tĩnh cũng viết: “Về nhận thức luận…Trang Tử chủ trương thuyết tương đối làm cơ sở lý luận cho nhân sinh quan của mình” [87, tr.116] Nhưng theo Nguyễn Đăng Thục thì Trang Tử không chủ trương tương đối hay hoài nghi mà Trang Tử chỉ phản đối biện luận, vì tranh luận phải trái thì sẽ không thể tìm thấy chân lý tuyệt đối, toàn diện [xem 101, tr.195]

Một khái niệm quan trọng khác thuộc về triết lý nhân sinh cũng được

các học giả bàn nhiều đó chính là khái niệm vô vi Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Duy Cần bàn đến thuyết vô vi ở trong lĩnh vực chính trị, còn Cao Xuân Huy lại xếp vô vi vào trong lĩnh vực tư tưởng, luân lý Nhưng các học giả đều thống nhất với nhau khi cho rằng vô vi nghĩa là không làm khác,

không làm trái tự nhiên

Chính vì những nhận định và đánh giá khác nhau như trên nên những

tư tưởng của Đạo gia nói chung, tư tưởng vô vi nói riêng vẫn cần có sự

nghiên cứu đánh giá sao cho phù hợp hơn, khoa học hơn

Trang 13

Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu trên, còn có một số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:

- Đạo, triết lý vô vi, tri túc và tri chỉ trong “Đạo đức kinh” của Lão Tử

của tác giả Trần Hồng Lưu đăng trên tạp chí Khoa học xã hội số 8 (72), năm

2004

- Quan niệm của Trang Tử về vũ trụ và nhân sinh trong “Nam Hoa

Kinh” của tác giả Nguyễn Hoành Xanh đăng trên tạp chí Khoa học xã hội số

8 (72), năm 2004

- Về học thuyết vô vi của Lão Tử của tác giả Nguyễn Thị Hồng đăng

trên tạp chí Triết học, số 3 (166), tháng 3 năm 2005

Tất cả các công trình nghiên cứu nói trên đã giới thiệu dưới nhiều góc

độ khác nhau về bối cảnh ra đời, các nhà tư tưởng tiêu biểu cũng như những

tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia Trong đó, hầu hết công trình dành cho

học thuyết vô vi một số lượng trang đáng kể với những bàn luận hết sức sâu

sắc Tuy nhiên, có thể nhận thấy so với Nho gia số lượng những công trình nghiên cứu chung về Đạo gia cũng như những công trình đi sâu tìm hiểu tư tưởng triết học của Đạo gia khá khiêm tốn nếu không muốn nói là vừa ít về

số lượng vừa ít về nội dung

Bên cạnh đó, những năm gần đây, giới học thuật, giới văn học ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam thảo luận nhiều về quan hệ giá trị hiện đại của Nho gia, Nho gia với hiện đại hoá, nhưng thông báo, thảo luận về ý nghĩa hiện đại của Đạo gia vẫn còn chưa đầy đủ lắm Điều này có lẽ là do so với Nho gia những tư tưởng của Đạo gia được đánh giá là “hệ thống triết lý vừa cao siêu, vừa thâm trầm, sâu sắc” [13, tr.300] nên việc tiếp cận với những tư tưởng này là tương đối khó

Tuy nhiên, trên cơ sở những thành quả của các công trình nghiên cứu

trước đó, chúng tôi mạnh dạn tiếp cận nội dung tư tưởng vô vi của Đạo gia,

phân tích để chỉ ra thực chất, ảnh hưởng và ý nghĩa của tư tưởng này

Trang 14

Trong số các công trình nghiên cứu về Đạo gia, chúng tôi chủ yếu tiếp cận một số các tài liệu của các nhà nghiên cứu có uy tín như: các bản dịch

Lão Tử Đạo đức kinh, Trang Tử Nam hoa kinh của Thu Giang, Nguyễn Duy

Cần, của Nguyễn Hiến Lê, đồng thời có đối chiếu với các bản dịch khác của

Đạo đức kinh và Nam hoa kinh để trích dẫn Bên cạnh đó, chúng tôi cũng kế

thừa các công trình nghiên cứu của tác giả Doãn Chính, Phùng Hữu Lan, Đỗ Anh Thơ… để phân tích tư tưởng triết học của Đạo gia, đồng thời tham khảo thêm các công trình nghiên cứu khác

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Luận văn làm rõ tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia, trong đó chủ

yếu phân tích nội dung tư tưởng vô vi để chỉ ra thực chất, ảnh hưởng và ý

nghĩa của tư tưởng này

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để hoàn thành mục đích nói trên luận văn phải thực hiện những nhiệm

vụ sau:

- Tìm hiểu bối cảnh lịch sử ra đời và những tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia

- Trình bày và phân tích nội dung tư tưởng vô vi, từ đó chỉ ra thực

chất, ảnh hưởng và ý nghĩa của tư tưởng này

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài

ra, trong quá trình nghiên cứu người viết còn vận dụng có hệ thống và nhất quán các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh

và đối chiếu, quy nạp và diễn dịch…

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trang 15

Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ trình bày và phân tích nội

dung tư tưởng vô vi của Đạo gia thông qua tư tưởng của hai đại biểu thời

Xuân Thu – Chiến Quốc là Lão Tử và Trang Tử, từ đó chỉ ra thực chất, ảnh hưởng và ý nghĩa của tư tưởng này Tuy nhiên, để có cơ sở phân tích cũng như đánh giá đúng thực chất từ đó chỉ ra ảnh hưởng và ý nghĩa của tư tưởng

vô vi, chúng tôi khái quát bối cảnh ra đời và những tư tưởng triết học cơ bản

của trường phái Đạo gia thông qua tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử, đặc biệt

là tư tưởng về Đạo – tư tưởng cơ bản, xuất phát điểm hình thành tư tưởng vô vi

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn đi sâu tìm hiểu và phân tích tư tưởng vô vi của Đạo gia –

một trong những trường phái tiêu biểu của triết học Trung Quốc cổ đại

Đồng thời chỉ ra thực chất, ảnh hưởng của tư tưởng vô vi trong lịch sử và ý

nghĩa của tư tưởng này đối với việc điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người trong giai đoạn hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể làm tài tiệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu,

học tập môn Lịch sử triết học Phương Đông trong các trường đại học, cao

đẳng cũng như tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có hai chương và bốn tiết

Trang 16

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH VÀ

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO GIA

1 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH ĐẠO GIA

1.1.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa thời Xuân Thu – Chiến Quốc

Triết học không chỉ là sản phẩm tư tưởng chủ quan của các triết gia

mà là một trong những hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, cho nên ở mỗi một thời đại đặc thù sẽ có những học thuyết triết học đặc thù phản ánh những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của thời đại ấy Chính vì thế, để hiểu được nội dung, ý nghĩa của những học thuyết triết học, chúng ta luôn phải xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh ra đời của trường phái triết học

đó Tuy nhiên, để xác định được bối cảnh ra đời của trường phái triết học Đạo gia quả thật không phải là vấn đề dễ dàng Bởi vì, cho đến nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về thời gian ra đời của trường phái Đạo gia liên quan tới người khởi xướng là Lão Tử

Mặc dù vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng bối cảnh phát sinh trường phái triết học Đạo gia cũng chính là bối cảnh phát sinh trường phái triết học Nho gia (tuy rằng hai học thuyết ấy nhìn từ bên ngoài có vẻ đối nghịch nhau), đó chính là bối cảnh xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc – thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên

Trước khi bước vào thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, xã hội Trung Quốc đã trải qua ba vương triều nối tiếp nhau là Hạ, Thương và Tây Chu

Triều Hạ đánh dấu sự ra đời của nhà nước đầu tiên ở Trung Quốc, cũng bắt đầu từ đây về sau, việc cha truyền con nối ngôi vua (thế tập) được xem là một việc đương nhiên hợp với đạo lý

Trang 17

Tuy nhà nước đã ra đời, nhưng trình độ phát triển về mọi mặt còn rất hạn chế, thành tựu chủ yếu của giai đoạn này là các loại đồ gốm và các loại dụng cụ làm bằng xương, sừng, vỏ trai Bộ máy nhà nước cũng còn rất đơn giản, chỉ mới có chức vụ quản lý một số ngành kinh tế gọi là Mục chính (quản lý việc chăn nuôi), Xa chính (quản lý xe), Bào chính (phụ trách việc tiến dâng thức ăn cho vua) v.v…

Bước sang đời Thương, xã hội có bước phát triển lớn về mọi mặt Tiến bộ nổi bật nhất trong nền kinh tế đời Thương là việc sử dụng phổ biến

đồ đồng thau Những đồ đồng như: đồ tế lễ, đồ uống rượu, vũ khí, cấu kiện

xe ngựa, công cụ thủ công nghiệp… được chế tác với trình độ nghệ thuật rất cao, không những có hình dáng đẹp mà còn được trang trí bằng những hoa văn rất tinh vi Nghề làm đồ gốm đến đời Thương cũng có những tiến bộ mới với các loại gốm đỏ, đen, xám, đồ sành, đồ gốm trắng và gốm tráng men Ngoài ra, các nghề khác như nghề làm đồ đá, ngọc, xương, đồ gỗ, đồ da… cũng tương đối phát triển

Về văn hóa, xuất hiện chữ “giáp cốt” là loại chữ được khắc trên mai rùa hoặc xương thú dùng để bói Người đời Thương cũng sáng tạo phương pháp làm lịch dù chưa thật chính xác nhưng cũng đã rất tiến bộ Về chính trị,

sự phân hóa giai cấp đã hết sức rõ rệt, tầng lớp nô lệ tồn tại khá đông và thường bị chôn theo trong các mộ của quý tộc

Tuy đầu đời Thương, xã hội bước đầu đã có sự phát triển về mọi mặt, nhưng đến cuối đời, các vua thường dâm loạn, bạo ngược làm cho nhân dân cực khổ và vô cùng oán hận, đến thời vua Trụ, nhà Thương bị nhà Chu tiêu diệt

Triều Chu tồn tại kéo dài hơn 8 thế kỷ và được chia làm hai thời kỳ là Tây Chu và Đông Chu Từ khi thành lập đến năm 771 trước Công nguyên, triều Chu đóng đô tại Cảo Kinh ở phía Tây nên gọi là Tây Chu

Trang 18

Tây Chu là thời kỳ xã hội tương đối ổn định Sau khi chinh phục được nước Thương và các bộ tộc nhỏ khác, tất cả đất đai trong nước đều thuộc

quyền sở hữu của vua Chu Vì vậy, trong Kinh Thi có câu:

“Ở dưới gầm trời Đâu cũng đất vua Khắp trên mặt đất

Ai cũng dân vua”

Vua Chu giữ lại một vùng xung quanh kinh đô cho mình, còn đất đai trong cả nước được phân phong cho anh em, bà con và các công thần của nhà vua Khi phong đất còn kèm theo phong tước, những người được phong đất và tước trở thành các vua chư hầu của nhà Chu Vua chư hầu tuy không có quyền sở hữu hoàn toàn về đất được phong nhưng được truyền lại cho con cháu Đối với vua Chu, vua các nước chư hầu có nghĩa vụ hàng năm phải đến chầu, nộp cống, ngoài ra còn phải đem quân đến giúp mỗi khi có chiến sự xảy ra

Trong các làng xã, ruộng đất được chia cho nông dân để cày cấy, mỗi

hộ được chia một mảnh ruộng rộng 100 mẫu gọi là điền Để chia ruộng đất

thành từng phần như vậy và để dẫn nước vào ruộng, người ta đắp những bờ vùng, bờ thửa và đào những con mương ngang dọc, do đó tạo thành những

hình như chữ “tỉnh” ( ) ở trên cánh đồng nên gọi là “Tỉnh điền”

Về mặt xã hội, sự phân hóa giai cấp đã trở nên sâu sắc hơn với ba giai cấp là quý tộc, nông dân và nô lệ Đứng đầu giai cấp quý tộc là vua gọi là Thiên tử Thiên tử là người có quyền rất lớn về hành chính và tư pháp, cũng

là người có quyền sở hữu cao nhất về ruộng đất Dưới Thiên tử là các vua chư hầu; dưới vua chư hầu là các quan lại lớn, nhỏ Nông dân là giai cấp đông đảo nhất và là lực lượng giữ vai trò quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, là những người cày cấy ruộng “tỉnh điền” Giai cấp có địa vị xã

Trang 19

hội thấp kém nhất là nô lệ Họ được xem như một loại hàng hóa và vẫn thường bị chôn theo quý tộc

Mặc dù, công cụ sản xuất thời Tây Chu vẫn còn là đồng thau nhưng nhờ sự tích lũy kinh nghiệm lâu đời và nhờ việc quy hoạch đồng ruộng gắn liền với hệ thống tưới nước, sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển đáng

kể Nhờ đó, giai cấp thống trị đã thu được nhiều lương thực chất đầy các

kho Phản ánh tình hình ấy, bài Phú điền trong Kinh Thi có đoạn:

“Thóc của cháu vua Cao như nóc nhà Kho của cháu vua Như gò như núi”

Về thủ công nghiệp, các nghề đúc đồng thau, và các nghề làm đồ gốm,

đồ đá, đồ ngọc, xương da, gỗ, nghề dệt… đều đạt đến trình độ khá cao Việc mua bán cũng đã diễn ra trong phạm vi cả nước, tiền tệ được sử dụng nhưng hiện tượng lấy vật đổi vật còn rất phổ biến

Thời Tây Chu kéo dài đến năm 770 trước Công nguyên thì chuyển sang giai đoạn Đông Chu Năm 781 trước Công nguyên, nhân vua Chu là U Vương phế hoàng hậu họ Thân và thái tử Nghi Câu, phong Bao Tự làm hoàng hậu, cha Thân hậu là Thân hầu liên kết với giặc Tây Nhung, tấn công Hạo Kinh, thiêu hủy kinh đô nhà Chu, giết chết U Vương, lập thái tử Nghi Câu lên làm vua, lấy hiệu là Chu Bình Vương (năm 771 trước Công nguyên) Sau đó một năm, vì đất Thiểm Tây luôn bị giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung đe dọa nên Chu Bình Vương phải dời đô về phía đông, đến Lạc Ấp từ đây bắt đầu triều đại Đông Chu Giai đoạn Đông Chu tương đương với hai thời Xuân Thu (770 - 475 trước Công nguyên) và Chiến quốc (475 – 221 trước Công nguyên) Đây là thời kỳ mà lịch sử Trung Quốc có những biến động dữ dội về chính trị bên cạnh sự phát triển nhanh chóng về kinh tế

Trang 20

Tiến bộ mới quan trọng nhất trong lĩnh vực kinh tế thời kỳ này là sự ra đời của đồ sắt Đến thời Chiến Quốc, đồ sắt càng được sử dụng một cách phổ biến với nhiều loại công cụ như lưỡi cày, lưỡi cuốc, xẻng, liềm, búa… Đồng thời với việc sử dụng đồ sắt, thời Xuân Thu, người Trung Quốc đã biết dùng súc vật làm sức kéo Vấn đề thủy lợi cũng được coi trọng, lúc bấy giờ đã có một hệ thống thủy lợi trải khắp khu vực Trường Giang

Do công cụ sản xuất tiến bộ, hệ thống thủy lợi lại được mở mang, nông dân có khả năng khai khẩn thêm nhiều đất hoang nên sự chênh lệch về tài sản trong hàng ngũ nông dân ngày càng rõ rệt Hơn nữa, do kỹ thuật sản xuất tiến bộ, việc đầu tư công sức vào ruộng đất cũng khác nhau, vì vậy, nhiều nông dân không muốn thực hiện việc định kỳ chia lại ruộng đất như trước Thời kỳ này, một số nông dân đã có ruộng đất riêng

Trước kia, ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước nên không được mua bán, nhưng đến thời Xuân Thu, hiện tượng mua bán ruộng đất đã xuất hiện Sự ra đời của hiện tượng mua bán ruộng đất là kết quả tất yếu của chế độ ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân; đồng thời việc mua bán ruộng đất lại thúc đẩy chế độ ruộng tư phát triển nhanh chóng Đến thời Chiến Quốc, chế độ ruộng tư càng phát triển mạnh mẽ, chế độ “tỉnh điền” đang đi đến chỗ tan rã hoàn toàn Trong hoàn cảnh ấy, ruộng đất ngày càng tập trung vào tay các địa chủ lớn, nông dân nhiều người bị mất ruộng đất, do đó lúc bấy giờ có câu: “Nhà giàu ruộng liền bờ bát ngát, người nghèo không có tấc đất cắm dùi” [68, tr.143] Để phù hợp với chế độ ruộng đất mới, nhà nước

đã bỏ việc thu thuế đồng loạt như trước thay vào đó là bắt đầu đánh thuế theo diện tích ruộng đất Điều này chứng tỏ nhà nước đã thừa nhận sự chênh lệch về ruộng đất trong hàng ngũ nông dân và thừa nhận quyền tư hữu ruộng đất của nông dân là hợp pháp

Ngành thủ công nghiệp đến thời Xuân Thu cũng phát triển hơn trước Trong các nghề thủ công truyền thống, nghề đúc đồng thau có nhiều cải tiến

Trang 21

rõ rệt Sản phẩm bằng đồng thau thời kỳ này nói chung có hình dáng thanh thoát, trang trí đẹp mắt Nhờ có công cụ bằng sắt, nghề mộc cũng tiến bộ rất nhiều Ngoài các ngành nghề truyền thống, thời kỳ này còn xuất hiện một số nghề mới như nghề luyện sắt, nghề sơn Nghề làm muối cũng rất được coi trọng Đến thời Chiến Quốc, các nghề thủ công lại càng có những bước tiến mới Riêng nghề luyện sắt có sự tiến bộ về mặt kỹ thuật Ngoài việc rèn sắt, người ta còn biết kĩ thuật đúc, do đó đã luyện được cả gang và thép Sách

Chu lễ đã mô tả về sự phát triển của các ngành thợ chuyên môn như sau:

“thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…” [dẫn theo 12, tr.33] Thợ thuyền tuy nhiều nhưng vì trình độ còn thấp nên chưa có ảnh hưởng lớn trong

xã hội

Trên cơ sở phát triển thủ công nghiệp, hoạt động thương nghiệp đến thời Xuân Thu cũng phát triển hơn trước Việc lưu thông hàng hóa mở rộng làm cho tiền tệ ngày càng phát triển Tiền đồng ra đời vào cuối thời Xuân Thu, đến thời Chiến Quốc được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: trao đổi hàng hóa, trả tiền thuê nhân công, cho vay lấy lãi, nộp thuế Tuy nhiên, thương nghiệp cũng chưa thực sự phát triển do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm sẻ bảy do nạn chư hầu cát

cứ, đi lại khó khăn, hơn nữa nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi

là nghề rẻ mạt nhất bởi “nông bản, thương mạt”

Bên cạnh sự phát triển về kinh tế, khoa học và văn hóa thời kỳ này cũng có những thành tựu đáng kể

Những tri thức về nông học và sinh vật học đã được ghi chép lại trong

Kinh Thi, một tuyển tập thi ca gồm 305 bài, được sáng tác trong khoảng thời

gian 500 năm, từ thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu, là một trong những cuốn sách cổ nhất của Trung Quốc đã nói tới hơn 200 loài thảo mộc, chứng

tỏ sự phong phú về tri thức sinh vật học của người Trung Quốc cổ xưa Trên

Trang 22

cơ sở những kinh nghiệm lao động sản xuất nông nghiệp của nhiều thế hệ, người Trung Hoa cổ đã xây dựng được cả một hệ thống các phương pháp canh tác chuyên canh, chu kỳ thường là ba năm, phương pháp bón phân cho đất, phương pháp trồng trọt theo thời vụ và kỹ thuật “dẫn thủy nhập điền”

Lĩnh vực văn học, tiêu biểu là tác phẩm Kinh Thi – một công trình

sáng tác tập thể, do nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ khác nhau viết nên, trong đó căn bản là những sáng tác từ nhân dân lao động Tác phẩm không chỉ có giá trị về văn học mà còn phản ánh tình hình chính trị, kinh tế, phong tục, tập quán, đời sống tình cảm và nguyện vọng của nhân dân Trung Hoa trong thời gian từ thời Tây Chu đến cuối thời Xuân Thu

Lĩnh vực sử học, tiêu biểu với các bộ sử có giá trị như: Xuân Thu, Tả

truyện, Quốc ngữ, trong đó Xuân Thu là bộ biên niên sử vào hạng xưa nhất

thế giới, phản ánh sinh động tình hình xã hội loạn lạc từ thời Xuân Thu qua thời Chiến quốc

Việc nghiên cứu thiên văn và chế ra lịch pháp để phục vụ yêu cầu sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện từ đời Thương Vào thời Chiến Quốc, các sách thiên văn học của Can Đức (người nước Sở) và Thạch Thân (người nước Ngụy) đã ghi chép được đến 800 vì tinh tú, trong đó xác định được vị

trí của 120 vì tinh tú Cam thạch tinh kinh là bảng ghi chép các hành tinh xưa

nhất thế giới Dựa trên sự hiểu biết về thiên văn, người ta đã phân biệt được các thời tiết của một năm: lập xuân, xuân phân, lập thu, thu phân, lập hạ, hạ chí, lập đông, đông chí Từ đó lịch pháp, lúc đầu là âm lịch cũng được chế

ra Tuy âm lịch dựa theo tuần trăng để tính tháng, nhưng người Trung Quốc cũng đã biết căn cứ vào mặt trời để tính năm

Về mặt y dược học, người Trung Quốc cổ đại cũng đạt được nhiều thành tựu Các nhà y học đã tiến hành mổ xẻ cơ thể con người, do đó họ đã biết nội tạng và bộ máy tuần hoàn khá rõ Họ còn nghiên cứu nguyên nhân của các bệnh tật: dùng các phương pháp xem, nghe, hỏi, bắt mạch để chuẩn

Trang 23

đoán bệnh, dùng châm cứu và thuốc sắc để chữa bệnh Hai cuốn sách có tính

chất tổng kết y học và dược học có giá trị cao là Hoàng đế nội kinh và Thần

nông bổn thảo kinh đã xuất hiện thời Chiến Quốc

Ngoài ra, người Trung Quốc cổ đại còn đạt được một số thành tựu về toán học, cơ học, sinh vật học…

Cùng với sự phát triển về kinh tế, những tri thức văn hóa và khoa học

mà nhân dân Trung Hoa đạt được đã góp phần thúc đẩy, phát triển đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại Không những thế, nó còn góp phần phát triển trình độ nhận thức, làm cơ sở cho thế giới quan triết học nảy nở và phát triển

Trong khi các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc đạt được những thành tựu nhất định thì chính trị - xã hội lại rơi vào thời kỳ khủng hoảng, đen tối

Sự phát triển của các ngành kinh tế và sự thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất làm cho cơ cấu giai cấp trong xã hội cũng thay đổi

Trước hết, sự xuất hiện chế độ ruộng tư đã dẫn đến sự phân hóa trong giai cấp thống trị Do có ruộng đất riêng, một số Khanh đại phu, sĩ đã biến thành những địa chủ mới Đến thời Chiến Quốc, không những quan lại nhà nước mà một số nhà buôn giàu cũng mua được nhiều ruộng đất trở thành những thương nhân kiêm địa chủ

Sự tan rã của chế độ “tỉnh điền” đã làm cho giai cấp nông dân bị phân hóa Một bộ phận nông dân vẫn giữ được 100 mẫu ruộng được chia trước kia, có khi còn khai khẩn thêm được một ít nữa, đã trở thành nông dân tự canh Một bộ phận hoàn toàn “không có tấc đất cắm dùi” thì phải làm tá điền hoặc cày thuê cho địa chủ Một bộ phận có một ít ruộng đất nhưng chưa đủ nuôi sống gia đình thì phải lĩnh canh thêm ruộng đất của địa chủ và họ phải nộp tô cho địa chủ một nửa sản phẩm của mình

Trang 24

Những người làm nghề công thương trước kia bị lệ thuộc vào nhà nước do đó chưa hình thành những tầng lớp độc lập Bắt đầu từ thời Xuân Thu, trong xã hội mới xuất hiện một số thợ thủ công và người buôn bán tự

do Càng về sau, tầng lớp thợ thủ công cá thể xuất hiện càng nhiều Họ chuyên làm nghề nghiệp của mình rồi đem sản phẩm đổi lấy các loại tư liệu sinh hoạt Mạnh Tử nói: “Thợ gốm, thợ rèn đem sản phẩm đổi lấy thóc”, Hàn Phi cũng nói: “Người thợ đóng xe muốn người ta giàu sang, người thợ đóng áo quan muốn người ta chết non” [dẫn theo 68, tr.144]

Sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán cũng đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực lớn về kinh tế, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ

Như vậy, chính sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế đã kéo theo sự sụp

đổ của nền chính trị do quý tộc chủ nô chiếm giữ Chế độ thống trị này vốn dựa trên cơ sở kinh tế của sở hữu ruộng đất “tỉnh điền”, quyền sở hữu đất đai thuộc về Thiên tử vì vậy các chư hầu phải thần phục Thiên tử Nhưng bước sang thời Xuân Thu – Chiến Quốc, chế độ ruộng đất “tỉnh điền” tan rã, ruộng đất tư phát triển khiến cho mô hình Thiên tử và chư hầu khủng hoảng, chế độ thống trị quý tộc dần đi đến sụp đổ

Mặt khác, sau khi Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp không lâu, trong cung đình đã xảy ra việc cha con tranh nhau ngôi vua làm cho thế lực nhà Chu ngày càng thêm yếu Đã thế Vương kì của Đông Chu (Lạc Ấp) vốn là một vùng nhỏ hẹp, nhưng phần thì phải phân phong cho các công thần, phần thì bị một số nước chư hầu lấn chiếm, nên đất đai còn lại càng hẹp Do uy thế chính trị của nhà Chu bị giảm sút, nhiều nước chư hầu không chịu triều cống cho vua Chu nữa Vừa bị suy yếu về chính trị vừa gặp nhiều khó khăn

về kinh tế, nên về danh nghĩa, vua Chu tuy vẫn là vua chung của cả nước, nhưng thực tế thì không đủ sức để điều khiển các nước chư hầu

Trang 25

Nhân thế lực của vua Chu suy yếu, một số nước không những không tuân theo mệnh lệnh của Thiên tử mà còn xâm phạm lãnh địa của nhà Chu Cũng trong quá trình ấy, nhà Chu và một số nước chư hầu lại bị các tộc

“Man”, “Di” đe dọa từ phía Nam và phía Đông Trước tình hình đó, các nước chư hầu lớn lần lượt nêu chiêu bài “Tôn vua bài Di” để cứu vãn tình hình, nhưng thực chất là để mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Thời Xuân Thu chỉ có khoảng 242 năm mà xảy ra tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Đầu thời Tây Chu có rất nhiều nước, đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn một trăm nước

Ngoài các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước, trong từng nước cũng luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa vị, quyền thế giữa bọn quý tộc với nhau Trải qua cuộc những cuộc chiến tranh lâu dài của các nước và trong nội bộ các nước, đến thời Chiến Quốc có bảy nước lớn là Yên,

Tề, Triệu, Ngụy, Hàn, Tần, Sở (trong số đó ba nước Triệu, Ngụy, Hàn được thành lập trên cơ sở phân chia nước Tấn) Bảy nước này đã tạo thành cục diện “thất hùng”, thường gây chiến tranh để thôn tính lẫn nhau với quy mô lớn và mức độ ngày càng ác liệt Chính vì thế, thời kỳ này gọi là thời Chiến Quốc

Năm 362 trước Công nguyên, trong tất cả những quốc gia lớn thời đó, vương quốc Tần là mạnh nhất Tần Hiếu Công lên ngôi đã tích cực phát triển nông nghiệp, củng cố và chuẩn bị binh bị Do những cuộc cải cách của Thương Ưởng, vào những năm 359 đến 350 trước Công nguyên, về kinh tế,

tổ chức hành chính, pháp luật, tiền tệ, thuế má, chế độ khen thưởng, quan hệ gia trưởng và công xã nông thôn ở nước Tần hoàn toàn tan rã Chính từ những cải cách trên và sử dụng pháp trị, nước Tần đã trở thành nước hùng mạnh nhất trong “thất hùng” Sự hùng mạnh của Tần làm cho sáu nước phía đông đều lo sợ Vì vậy, năm 333 trước Công nguyên, theo sáng kiến của Tô Tần, tướng quốc của nước Yên, sáu nước Yên, Tề, Triệu, Ngụy, Hàn, Sở đã

Trang 26

lập thành một liên minh gọi là “Hợp tung” để chống Tần Để phá hợp tung của các nước phía Đông, năm 328 trước Công nguyên, tướng quốc của Tần

là Trương Nghi dùng mánh khóe ngoại giao để chia rẽ các nước phía Đông, lôi kéo các nước này liên minh với Tần gọi là “Liên hoành” nhưng thực chất

là bắt các nước này phải thần phục Tần Từ năm 230 đến năm 221 trước Công nguyên, nước Tần lần lượt diệt Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề thống nhất Trung Quốc chấm dứt thời kỳ Chiến Quốc

Việc gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các lãnh chúa phong kiến

đã dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt nước chư hầu nhỏ đồng thời phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống Chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt, sự rối loạn xã hội ngày càng tăng Đồng thời, chiến tranh tàn khốc trên quy mô lớn và liên tục giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhân dân lao động ngày càng cùng cực hơn Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ Xuân Thu biểu hiện qua các tệ nạn xã hội như “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu Những tệ nạn trên đã dẫn tới những cảnh như tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa xảy ra thường xuyên Việc

“tang viếng, tế lễ, chúc mừng” trở thành thủ đoạn ngoại giao chứ không còn

là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và trật tự xã hội Như vậy, chế độ lễ nghi nhà Chu đã trở thành các hình thức sáo rỗng

Bên cạnh thực hiện các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau, tranh giành quyền lực, các lãnh chúa phong kiến còn tăng cường bóc lột nhân dân lao động Vì thế, người dân ngoài phải đi lính thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc, còn phải chịu sưu thế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai cũng thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân càng thêm khốn khổ Dân lưu vong, đồng ruộng bỏ

hoang Hiện thực này đã được miêu tả qua mấy câu thơ trong Kinh Thi:

Trang 27

“Việc vua không rồi, không thể cấy lúa, cha mẹ còn trông vào đâu?

Giằng giặc ông trời xanh kia, biết đâu là nơi chốn?”

Trong khi người dân phải chịu cảnh cùng cực thì các vương hầu lãnh

chúa quý tộc sống rất xa hoa Bài Chặt gỗ đàn của Kinh Thi đã lên án sự bóc

Do đói rét, cực khổ, nạn trộm cướp nổi lên, bọn thống trị lại tăng cường “hình pháp” làm cho đời sống nhân dân càng thêm nghẹt thở, đồng thời làm xuất hiện những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô lệ Tất cả những tình hình ấy đã đẩy mâu thuẫn xã hội lên đến đỉnh cao

Như vậy, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên ở thời Xuân Thu – Chiến Quốc đã làm cho chế độ lãnh địa thái ấp dựa trên sự bóc lột cống thuế của nông dân công xã dần dần tan

rã Trong khi đó, quan hệ địa chủ tá điền đã xuất hiện và ngày càng có vai trò quan trọng Xã hội Trung Quốc đang chuyển sang hình thức bóc lột mới: chế

độ phong kiến hình thành

Chính những biến động lớn về chính trị - xã hội của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ đã làm xuất hiện nhiều nhà tư tưởng và nhiều trường phái triết học khác nhau với những lý giải và phương pháp giải quyết “cứu đời, cứu người” Trong đó, trường phái Đạo gia chủ trương xuất thế (ra khỏi đời) hoặc tị thế (lánh đời) không can thiệp vào việc xã hội Nhưng không can thiệp cũng chính là một phương thế có mục đích ổn định xã hội

Trang 28

1.2 NHỮNG NHÀ TRIẾT HỌC TIÊU BIỂU VÀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA ĐẠO GIA

1.2.1 Những nhà triết học tiêu biểu của Đạo gia

Sự hình thành và phát triển của Đạo gia gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà tư tưởng, nhưng tiêu biểu nhất phải kể đến hai nhà hiền triết có công sáng lập và hoàn thiện Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử

Lão Tử được xem là người mở đầu cho trường phái triết học Đạo gia Tuy nhiên, sự tồn tại của ông trong lịch sử hiện vẫn đang còn được tranh cãi, bởi cuộc đời và sự nghiệp của ông mang đầy huyền thoại, cũng thấp thoáng mập mờ, nửa hư, nửa thực như triết lý của ông

Dựa vào hai thiên Khổng Tử thế gia và Lão Tử liệt truyện trong cuốn

Sử ký của Tư Mã Thiên, đa số các học giả cho rằng Lão Tử có thể sống cùng

thời với Khổng Tử và có dạy lễ cho Khổng Tử Ông nói với Khổng Tử rằng:

“Khổng Khâu à! Ta nghe rằng, người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người có lòng nhân tiễn nhau bằng lời nói Ta không phải là giàu sang, mạn phép coi mình là người có lòng nhân mà tiễn ông bằng lời này: kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống vì ham phê bình người; kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy tới thân vì hay nêu cái xấu của người Người buôn giỏi thì biết giấu của báu khiến người ta thấy dường như là không có hàng hóa vậy, người quân tử có phẩm đức cao thượng thì giấu đức ở bên trong, diện mạo dường như là ngu độn vậy Mong rằng ông nên bỏ đi cái khí kiêu căng và lòng tham muốn sắc dục của mình, những cái đó đều không có ích gì cho ông cả” Quay trở về nước Lỗ, Khổng Tử bảo với học trò rằng: “Con chim ta biết nó bay, con cá ta biết nó lội, con thú ta biết nó chạy Đối với loại biết chạy thì ta có thể dùng lưới để săn, đối với loài biết lội thì ta có thể dùng câu

để bắt, đối với loài biết bay thì ta có thể dùng tên để bắn, đến như con rồng cưỡi mây, cưỡi gió trên trời, thì ta không sao biết được Nay ta gặp được Lão

Tử, ông ta như con rồng vậy” [xem 97, tr.6-7]

Trang 29

Nhưng một vài tài liệu khác lại cho rằng Lão Tử có thể sống sau Khổng Tử hàng trăm năm, vào thời Chiến Quốc Điều này được Vũ Đồng,

tác giả cuốn Đại cương triết học sử Trung Quốc, dựa vào tư tưởng của Đạo

đức kinh mà đoán rằng Lão Tử sinh trước Mặc Tử và Dương Chu Cụ thể

hơn, ông căn cứ vào niên đại các thế hệ con cháu của Lão Tử được Tư Mã

Thiên chép trong Sử ký, tính ngược lên mà cho rằng có lẽ Lão Tử sinh vào

khoảng năm 430 trước Công nguyên

Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự là Bá Dương,

thụy là Đam, còn gọi là Lão Đam Ông sinh ra ở huyện Khổ, nước Sở thời Xuân Thu (hiện nay là Lộc Ấp thuộc tỉnh Hà Nam)

Lão Tử đại diện cho tầng lớp quý tộc cũ đã sa sút, bất lực trước sự thay đổi của thời thế, cam chịu cuộc sống ẩn dật, trở về nơi điền viên thôn

dã, hòa nhập với tự nhiên Ông là người học cao, hiểu rộng có nhiều điều kiện tiếp xúc với tư liệu văn hiến Tương truyền, ông từng làm quan sử, giữ kho chứa sách, tàng trữ thất sử nhà Chu, đây là một chức vụ tương đương với trưởng quan trông coi thư viện quốc gia Lão Tử đã giữ chức quan này ba mươi năm nhưng sống trong thành nhà Chu suốt một thời gian dài, nhìn thấy triều Chu ngày càng suy vi và rối loạn, ghét cảnh cai trị ngày càng thối nát nên ông quyết định từ quan và đi về phía Tây, trên lưng một con trâu nước qua nước Tần Khi ông đi đến cửa phía Tây của ải Hàm Cốc thì gặp người gác cửa tên Doãn Hỷ, người này đã thuyết phục ông rằng: “Ngài sắp ẩn cư rồi, ngài đem hết tài học sâu rộng của mình cất giữ lại trong lòng thì đáng tiếc thay Xin hãy viết lại thành sách để lại cho chúng tôi vậy!” [xem 97, tr.7] Theo yêu cầu của người lính đó, Lão Tử đã viết và để lại cuốn sách gồm 81 chương, chia làm hai thiên: thượng và hạ trong đó trình bày ngắn gọn và súc tích toàn bộ tư tưởng của ông Trước đây, sách của Lão Tử được gọi theo tên ông, nhưng đến giữa thế kỷ II trước Công nguyên, Hán Cảnh Đế

Trang 30

(156 – 140 trước Công nguyên) cho rằng ý nghĩa của tác phẩm Lão Tử thâm thúy nên gọi là kinh và từ đó cuốn Lão Tử còn có tên gọi là Đạo đức kinh

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có những quan điểm khác nhau về tác giả

thực sự của Đạo đức kinh

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Đạo đức kinh là tác phẩm được các

môn đệ của trường phái Đạo gia viết về sau này, ghi lại tư tưởng của Lão Tử, chứ không phải là trước tác của chính Lão Tử

Trong khi quan điểm thứ hai cho rằng: tác phẩm này không phải do nhiều người viết vì phong cách của nó rất thống nhất, từ đầu đến cuối đều

viết bằng một ngôn ngữ cực kỳ trau chuốt và bay bổng Đạo đức kinh là một

cuốn sách tinh tế, được viết bằng hình thức đa nghĩa Nội dung của tác phẩm phản ánh quan niệm của tầng lớp ẩn sĩ, nhưng chắc là do một người viết mới đạt đến trình độ thống nhất và chuẩn mực như thế Không những thế, khi

nghiên cứu Đạo đức kinh chúng ta cũng thấy rõ sự khác biệt của nó với các

tác phẩm văn chương khác ở sự cô đọng, kín đáo và rất khái quát Không tên người, tên vật, tên địa danh, không nhắc tới bất kỳ một lễ nghi, đình đám, cung đình hay chiến tranh cụ thể nào Thiên nhiên cũng trở nên vô hình, tôn giáo cũng không được nhắc đến, lại càng không hề có những dấu vết về các nghi thức bùa chú, bói toán, v.v… Công việc sáng tạo của tác giả dường như

cũng thấm đẫm tinh thần vô vi Chính tính kiệt tác và thuần nhất của nó càng khiến chúng ta nghiêng về kết luận: Đạo đức kinh chỉ có thể là trước tác của

một nhân vật thượng đẳng trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc và cho đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận nhân vật đó là Lão Tử

Trang Tử là người kế thừa, phát triển tư tưởng triết học của Lão Tử, đồng thời là người mở ra học phái Trang Tử thời Tiên Tần

Trang Tử tên thật là Trang Chu Về niên đại của Trang Tử, còn nhiều

quan điểm khác nhau Theo Tư Mã Luận trong Trang Tử Tống nhân khảo

Trang Tử sinh năm 370 và mất năm 298 trước Công nguyên Còn theo

Trang 31

Nguyễn Đăng Thục, niên đại của Trang Tử là 369 – 286 trước Công nguyên Như vậy, có thể Trang Tử sinh vào khoảng nửa cuối thế kỷ thứ IV trước Công nguyên và mất vào những năm đầu của thế kỷ thứ III trước Công nguyên Có một điều chắc chắn, đó là Trang Tử sống cùng thời với Mạnh Tử

và Huệ Thi thời Lương Huệ Vương và Tề Tuyên Vương

Trang Tử là người gốc xứ Mông, nước Tống – một nước nhỏ ở giữa hai tỉnh Sơn Đông và Hà Nam của Trung Quốc hiện nay Ông chưa từng làm quan, chỉ làm nhân viên quản lý tất viên (coi vườn sơn) ở xứ Mông, sau đó lui về sống ẩn dật, viết sách trên núi Nam Hoa cho tới cuối đời

Tuy là một ẩn sĩ nhưng Trang Tử được nhiều người biết tới bởi tư tưởng, phong cách và trước tác của mình

Nhắc đến ông, người ta nghĩ ngay đến một nhà triết học có phong cách ung dung, khoáng đạt, thái độ thản nhiên đến lạnh lùng trước mọi biến

cố của thời cuộc và đời sống, xem sống, chết chỉ là những hình thức của sự

tồn tại này chuyển sang một tồn tại khác Thiên Chí lạc của Nam Hoa kinh chép: Vợ Trang Tử chết, Huệ Tử - tể tướng nước Lương đến viếng, thấy

Trang Tử ngồi duỗi chân, hai tay gõ vào bồn thản nhiên hát Huệ Tử bảo:

“Mình ăn ở với người ta, có con với người ta, bây giờ người ta già chết, không khóc cũng còn được đi, lại còn ngồi gõ bồn mà hát, chẳng quá lắm sao?” Trang Tử đáp: “Không phải thế Lúc nhà tôi mới mất, tôi cũng như mọi người thương tiếc lắm chứ Nhưng xét lại, hồi trước thì vốn là không sinh, chẳng những không có sinh mà vốn lại không có hình, chẳng những không có hình mà vốn lại không có khí Con người ta chẳng qua là tạp chất biến hóa ra có khí, khí biến hóa mà có hình, hình biến hóa mà có sinh, có sinh lại biến hóa mà có tử Có khác nào xuân, hạ, thu, đông bốn mùa cứ tuần hoàn đi lại không? Vả lại, chết là về với tạo hóa Người ta đã yên nghỉ nơi cự thất, thế mà còn theo đuổi, khóc lóc thì hóa ra ta không biết mệnh trời ư? Cho nên tôi không khóc nữa” [xem 12, tr.156]

Trang 32

Ngay cả khi sắp chết, đệ tử của ông muốn hậu táng cho ông, Trang Tử nói: “Ta có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm châu báu, vạn vật làm lễ táng Đám tang ta như thế chưa đủ sao, còn thêm chi nữa?” Học trò băn khoăn sợ để xác thầy trên mặt đất sẽ bị diều, quạ tha, Trang Tử liền nói: chôn dưới đất thì bị sâu bọ đục, có khác gì [xem

12, tr.156]

Mặc dù là một nhà hiền triết với học vấn uyên bác, có tài hùng biện nhưng Trang Tử không ham chức tước, coi việc làm quan nhẹ tựa phù vân Trang Tử cho rằng chạy theo quan cao, lợi lộc chỉ là “vật làm hại mình, làm mình mất đi bản tính trong cuộc sống thế tục” Phương châm sống của ông là

“không để áo mão trói buộc ý chí, không để sự bần cùng đẩy mình vào cuộc sống tầm thường” Vì thế, tuy gia đình vợ con ông sống nghèo khó, túng quẫn, nhưng ông vẫn là người có nhân cách và bản lĩnh Ở mục Lão Trang

Thân Hàn Liệt truyện, trong Sử ký của Tư Mã Thiên, có đoạn nói đến nhân

cách của ông như sau: Vua Uy Vương nước Sở nghe nói Trang Tử là người hiền trong thiên hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn mời về làm tướng quốc Khi sứ giả đến, Trang Tử đang ngồi câu cá, rất lâu ông vẫn không quay lại, mắt vẫn chăm chăm nhìn mặt nước và nói với sứ giả rằng: Lợi ngàn vàng đáng trọng thật, ngươi không thấy con bò làm đồ lễ hy sinh ngày tế đinh sao? Được nuôi nấng bao nhiêu năm, rồi được trang sức văn vẻ để đưa vào Thái miếu Lúc ấy dù có muốn làm con lợn mồ côi há còn được nữa không? Ngươi bước đi ngay, đừng đến làm nhục ta Thà ta chơi ở trong bùn lầy dơ bẩn còn thấy vui thú hơn là để cho kẻ có nước trói buộc ta… [xem 12, tr.155]

Tư tưởng của Trang Tử được đúc kết thành bộ sách Trang Tử mà ta quen gọi là Nam Hoa kinh để phân biệt với Đạo đức kinh của Lão Tử Nam Hoa tức Nam hoa Chân nhân là thần hiệu của Trang Tử được phong vào đầu

đời Đường Huyền Tông

Trang 33

Nội dung của tác phẩm Nam Hoa kinh không nhằm giải quyết trực

tiếp các vấn đề đạo đức và chính trị cho nên vừa đậm chất triết học vừa giàu

tính nghệ thuật Nói cách khác, Nam Hoa kinh không chỉ là một tác phẩm

triết học mà còn là một tác phẩm văn học xuất sắc của thời kỳ “văn triết bất

phân” Cùng với Đạo đức kinh, Nam Hoa kinh được xem là tác phẩm kinh

điển của Đạo gia, một viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa cổ đại Trung Hoa

Phần lớn nội dung trong tác phẩm được thể hiện thông qua hình thức ngụ ngôn Đây là thể loại thích hợp để Trang Tử chuyển tải những tư tưởng triết học vừa thâm trầm, vừa có phần bí hiểm của mình Bởi, ngụ ngôn là một loại hình tượng, là một “hư cấu mỹ lệ”, thể hiện được nhiều mối quan

hệ, nhiều tầng, nhiều lớp, đan xen nhau một cách hữu hiệu, độc đáo Việc sử dụng hình thức ngụ ngôn thể hiện được tôn chỉ trong nguyên tắc trình bày những quan điểm triết học của Trang Tử là: “Có lời là vì ý, được ý hãy quên lời” Nguyên tắc này bao quát toàn bộ tư tưởng triết học của ông, làm cho

nó mơ hồ, huyền hoặc, nửa sáng, nửa tối, vừa hư vừa thực khiến cho người đọc như mơ như tỉnh, chỉ cảm nhận mà không thể diễn đạt hết bằng lời Nó giống như bức tranh mộc mạc, đường nét bố cục đơn sơ, nhưng lại chứa đựng tất cả, vì tất cả đang biến động, biến hóa như con rồng uốn lượn, cuộn mình tan lẫn trong mây

Nam Hoa kinh được viết bằng bút pháp bay bổng, phóng khoáng

nhưng không kém phần dí dỏm “hồn nhiên như mây bay trong núi, như suối trong đất tuôn ra cuồn cuộn, trong trẻo mà nhẹ nhàng, tự nhiên không khiên cưỡng”

Tác phẩm gồm ba mươi thiên được chia làm ba phần: Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp thiên Tuy nhiên, căn cứ theo tính cách, văn phong và tư tưởng của Trang Tử thì chỉ có phần Nội thiên là của ông, phần Ngoại thiên

Trang 34

và Tạp thiên có một số chỗ do ông viết, còn phần lớn là do người đời sau viết thêm vào

Tư tưởng của Trang Tử phản ánh sự suy tàn về mặt ý thức của giai cấp quý tộc chủ nô đã sa sút, mất địa vị xã hội, hoài nghi hiện thực và lo sợ cho tương lai, quay lưng với thực trạng xã hội để trốn vào tự nhiên, hoài cổ

Do không có thiện cảm với xã hội phong kiến đang lên nên về mặt triết học, Trang Tử đã phủ định văn minh xã hội mới hình thành để đạt được sự cân bằng và giải thoát về mặt tư tưởng Tư tưởng của ông bao hàm và ảnh hưởng tới rất nhiều phương diện, từ triết học, văn học nghệ thuật, đến cách sống của

xã hội đương thời

Có thể thấy một điểm chung giữa các đại biểu của Đạo gia đó là chúng ta đều biết rất ít về cuộc đời và thân thế của họ, bởi lẽ họ đều là những

ẩn sĩ, ghét thói hám danh cầu lợi Phong cách của họ giống như của Đạo, làm

mà như không làm, làm mà không kể công ơn vì thế chúng ta chỉ biết về họ qua những gì người khác ghi lại hoặc kể lại

1.2.2 Tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia

Đạo gia là trường phái triết học lấy tư tưởng Lão Trang làm hạt nhân Trong đó, Đạo là tư tưởng cơ bản xuyên suốt hệ thống triết học này Cùng với tư tưởng về Đạo là quan niệm về Đức và mối quan hệ của chúng

Học giả Trung Quốc Phùng Hữu Lan trong Đại cương triết học sử

Trung Quốc đã viết: “Danh từ Đạo học đầu tiên do các học giả nhà Hán nêu

lên, gồm cả Lão Tử và Trang Tử bởi vì học thuyết của hai người này tuy không là một nhưng đều chống lại tư tưởng truyền thống và chế độ đương thời Một điểm khác của sự tương đồng ấy là đều nói đến hai quan niệm căn bản là “đạo” và “đức” với ý nghĩa giống nhau Tư Mã Thiên đặt tên học phái này là Đạo đức gia đủ chứng tỏ rằng ông ta coi hai quan niệm đạo – đức là nền tảng của Lão học” [dẫn theo 12, tr.159]

Trang 35

Trong các văn bản cổ của Trung Quốc chữ đạo thường được dùng với

ý nghĩa là “đường đi”, là “chủ nghĩa”, “đạo lý”, “đạo đức”… Nhưng quan niệm về Đạo của Đạo gia thực chất là những nội dung về bản thể luận

Khác với các quan niệm truyền thống khi cho rằng khởi nguyên của

vũ trụ là: thái cực, trời hay thượng đế; phái Đạo gia cho rằng cái thực thể khởi nguyên của vũ trụ là Đạo Đạo có trước Thái cực, sinh ra trời đất và vạn vật Lão Tử cắt nghĩa Đạo như sau: “có một thực thể tự thành không phân chia, có trước trời đất, vừa trống không vừa lặng yên, đứng một mình không thay đổi, đi khắp mọi nơi mà không mỏi, là mẹ cả thiên hạ Ta không biết tên

thực thể ấy, gọi đó là Đạo, gượng lấy tên là Đại” (Đạo đức kinh, chương 25)

Còn Trang Tử viết: “Đạo tự bản tự căn, vốn tồn tại như xưa, khi chưa có trời đất, ở trước thái cực mà chẳng là cao, ở dưới lục cực mà chẳng là sâu, sinh

trước trời đất mà chẳng là lâu, dài hơn thượng cổ mà chẳng là già” (Nam Hoa

kinh, Đại tông sư)

Tuy gọi là Đạo nhưng đấy chỉ là tạm đặt tên còn thực chất Đạo là cái

vô danh “Đạo chẳng có thể nghe được, nghe được không còn phải là nó Đạo cũng chẳng thể thấy được, thấy được không còn phải là nó nữa Có thể nào lấy trí mà hiểu được cái hình dung của cái không hình dung được chăng? Vậy thì không nên đặt tên cho đạo” Đó là lời của Trang Tử trong thiên Tri

bắc du của Nam hoa kinh, còn Lão Tử ngay trong chương đầu tiên của Đạo

đức kinh cũng đã viết: “Đạo (mà ta) có thể gọi được, không (còn) phải là đạo

“thường” Danh (mà ta) có thể gọi được, không (còn) phải là “danh thường” Không tên là gốc của trời đất Có tên, là mẹ của “vạn vật”

Đạo là cái vô danh bởi vì ở giai đoạn đầu tiên lúc vũ trụ chưa hình thành thì con người cũng chưa xuất hiện vì thế mà chưa thể đặt tên cho cái thực thể siêu việt mà từ đó trời đất vạn vật được sinh ra Cho đến về sau, khi con người xuất hiện và đã biết suy tư mới đặt tên cho cái thực thể ấy bằng tên nọ, tên kia tùy theo trí tưởng tượng của mình Với các nhà triết học thuộc

Trang 36

trường phái Đạo gia, cái thực thể ấy tạm được gọi là Đạo hay còn gọi là Vô

danh: “Đạo thường vô danh phác: đạo thường thì không tên, mộc mạc” (Đạo

đức kinh, chương 32)

Vào lúc chưa có vạn vật, thì khó có thể quan niệm Đạo như thế nào, cho nên Lão Tử nói: “Đạo thì trống không, nhưng đổ mãi mà không đầy

Đạo như vực thẳm, dường như tổ tông của vạn vật” (Đạo đức kinh, chương

4) Còn Trang Tử cho rằng: “phần tinh túy của chí đạo mờ mịt huyền ảo

Chỗ rất mực của chí đạo lặng hẳn, tối ráo” (Nam Hoa kinh, Tại hựu)

Như vậy, Đạo là cái hư không, mơ hồ hỗn độn, nửa sáng nửa tối, nửa tồn tại và nửa không tồn tại Nó là một hỗn mang, là cái gì đó chưa có hình thù, bản sắc và tính chất Nó “nhìn không thấy, nghe không thấy, nắm không được, đón không thấy đầu, mà theo không thấy cuối, ở trên không sáng tỏ, ở

dưới không mờ tối” (Đạo đức kinh, chương 14)

Tuy nhiên, Đạo lại không phải là cái gì đó “huyền bí”, không hiện thực, mà là nguồn gốc có tính vật chất như bản thể nguyên thủy của vũ trụ

Nó biểu hiện ra thành giới tự nhiên với vô vàn các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau Quá trình vận động đó được Lão Tử miêu tả như sau: “Đạo sinh ra Một, Một sinh ra Hai, Hai sinh ra Ba, Ba sinh ra vạn vật Vạn vật đều

cõng âm mà ôm dương Hai khí xung nhau để rồi hòa nhau” (Đạo đức kinh, chương 42) hay chương 34 của Đạo đức kinh, Lão Tử viết: “Đạo lớn rộng

khắp cả bên trái và bên phải Vạn vật nhờ đó sinh ra mà không bị khước từ Thành công rồi không để tên Che chở nuôi nấng vạn vật mà không làm chủ” Còn theo Trang Tử, tiến trình vận động từ Đạo đến các sự vật được diễn tả như sau: bắt đầu từ Đạo, Đạo biến mà có khí, khí biến mà có hình, hình biến mà có sinh, sinh biến mà có tử, tử để trở về với Đạo

Vạn vật nhờ Đạo mà sinh ra, Đạo tồn tại trong mỗi vật nên vật thể dù khác nhau đều có “tính tự nhiên của chúng”, điều đó là do tính khách quan,

tự nhiên của Đạo được hiểu nó vốn như thế, mộc mạc, thuần phác, không bị

Trang 37

nhào nặn, gọt giũa bởi con người và nó hoàn toàn độc lập với ý muốn, nguyện vọng của con người Chính tính khách quan, tự nhiên đó mà trời đất hóa sinh, phó mặc tự nhiên, không can thiệp, chẳng có lòng nhân, còn vạn vật cứ tự nhiên sinh sinh hóa hóa, tạo nên các hình thức tồn tại khác nhau với thể loại khác nhau nhưng chúng tồn tại ràng buộc với nhau một cách tự nhiên Trang Tử viết: “Thiên hạ thường có vật tự nhiên như vậy, có vật tự nhiên cong, không cần đến dây mực; có vật tự nhiên tròn, không cần dùng đến cái khuynh; có vật tự nhiên vuông, không cần dùng đến cái thước nách Vạn vật tự nhiên liền lại, dính líu với nhau không cần dùng đến keo sơn, chằng chịt buộc chặt nhau, kêu gọi nhau, vạn vật sống không biết vì cớ nào

mà sống, được không biết vì cớ nào mà được” (Nam Hoa kinh, Biền mẫu)

Tóm lại, Đạo theo quan điểm của Đạo gia không phải là cái gì đó

“huyền bí”, không hiện thực, mà là nguồn gốc có tính vật chất như bản thể nguyên thủy của vũ trụ Đạo biểu hiện ra thành giới tự nhiên với vô vàn các

sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau; chúng tác động lẫn nhau, tạo nên những quy luật khách quan chi phối sự vận động của toàn vũ trụ mà con người phải tuân theo mới có thể tồn tại lâu dài

Theo Lão Tử, trong số các quy luật chi phối sự vận động của toàn bộ

vũ trụ, có hai quy luật cơ bản nhất là luật quân bình và luật phản phục

Luật quân bình làm cho vạn vật vũ trụ vận động, biến hóa trong trạng thái cân bằng, theo một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, không có cái gì bất cập “Cao thì ép xuống, thấp thì nâng lên, có thừa thì bớt

đi, không đủ thì bù vào Đạo của trời: bớt chỗ dư mà bù chỗ thiếu” (Đạo đức

kinh, chương 78) Nếu ở đâu có sự mất cân bằng thì ở đó tự có một phản lực

để lấy lại thế quân bình Lão Tử nói rõ về sự tái lập luật quân bình của Đạo như sau: “Cái gì quanh co thì được toàn vẹn, cong queo thì được ngay thẳng, lõm xuống thì được đầy lên, hủ bại thì được đổi mới, ít thì được thêm, nhiều

thì mê muội” (Đạo đức kinh, chương 22)

Trang 38

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy luật quân bình thể hiện rất rõ trong các hiện tượng thiên nhiên nhưng trong cuộc sống, con người lại thường làm trái ngược với quy luật này: ra sức dồn vào chỗ thừa, bớt đi chỗ đã sẵn thiếu, hoặc thờ ơ với chỗ thiếu Giống như vua quan đã giàu lại càng ra sức bóc lột

để giàu thêm, dân chúng đã nghèo lại bị bóc lột cho đến bần cùng Do đó, xã hội càng thêm rối loạn, khủng hoảng Nhưng một khi sự mất quân bình đã quá khắc nghiệt thì hoặc trong tự nhiên hoặc trong xã hội sẽ xảy ra một cuộc xáo trộn kinh khủng (một cuộc cách mạng) để lập lại thế quân bình đã mất Sau những cuộc cách mạng, bất công được tháo gỡ thì những dối trá, áp bức, xảo quyệt, vô đạo được giải trừ, những người có tài đức được đề cao để tham gia vào việc thay đổi xã hội, công bằng được tái lập để bù đắp cho những người thiếu thốn, còn những kẻ giàu có, tham lam mê muội vì của cải không còn cơ hội hoành hành

Mặc dù vậy, trong xã hội cũng như trong tự nhiên thỉnh thoảng lại có những cơn biến động làm cho thế quân bình nhất thời bị lệch lạc Tuy nhiên,

sự biến động dù có khắc nghiệt tới mức nào cũng không diễn ra lâu dài được, càng khắc nghiệt lại càng chóng vánh, bởi vì quy luật của Đạo luôn luôn tiềm tàng trong vạn vật để lấy lại thế quân bình đã mất Lão Tử nói: “Gió lốc không thổi suốt buổi mai, mưa đột ngột không rơi suốt cả ngày Ai làm ra như vậy, trời đất Trời đất còn không thể kéo dài lâu, huống chi con người”

(Đạo đức kinh, chương 32)

Vì vậy, kẻ nào muốn làm những gì quá khích, trái tự nhiên dù tốt hay xấu, thì hãy coi chừng sự phản kích, bởi vì quy luật quân bình của Đạo luôn luôn làm ngược lại ý định của con người để duy trì sự ổn định trong thiên nhiên, vạn vật Lão Tử đã chỉ rõ: “Ví bằng muốn thu rút lại, ắt là mở rộng ra

Ví bằng muốn làm yếu đi, ắt là khiến mạnh lên Ví bằng muốn bỏ đi, ắt là

khiến dấy lên Ví bằng muốn cướp lấy, ắt là cấp thêm cho” (Đạo đức kinh,

chương 36) Điều này có thể ví như: muốn thu rút một nguồn nước lại, tức là

Trang 39

vô tình làm cho nguồn nước đó mạnh lên (giống như hiện tượng thủy điện) Muốn làm suy yếu một phong trào quần chúng, tức là vô tình làm cho phong trào đó mạnh lên Nếu dồn quân lính vào tuyệt địa sẽ tạo nên một sức chống trả mãnh liệt Muốn triệt phá một sở thích, tức là làm gia tăng sự khao khát

sở thích đó Muốn cướp đoạt giang sơn của một dân tộc, tức là thêm sự đoàn kết cho dân tộc ấy chống trả lại Ai hạ mình xuống thì sẽ được nâng lên; ai tự mình nâng lên sẽ bị hạ xuống

Đó là một số trường hợp nói lên sự tác động của quy luật quân bình Quy luật này tác động một cách khách quan trong tự nhiên và xã hội Ai khéo vận dụng thì sẽ thắng lợi còn người nào không giữ luật quân bình thì sẽ

bị quy luật đó chi phối gây thiệt hại hoặc thất bại Về điểm này, Lão Tử viết:

“Nhón gót lên thì không đứng vững Xoạc chân ra thì không bước được Tự

xem là sáng thì không sáng Tự xem là phải thì không chói” (Đạo đức kinh,

chương 40)

Cùng với luật quân bình, vũ trụ vạn vật còn tuân theo luật phản phục Phản là trở về, là quay ngược lại cái hướng đã đi trước Phản cũng là trở sang mặt trái của một sự vật Phục là trở lại, lấy lại cái đã mất Theo quy luật phản phục, hễ cái gì phát triển đến tột đỉnh thì tất sẽ trở thành cái đối lập với nó Chẳng hạn khi Âm biến thì biến sang Dương là đối cực của nó; khi Dương biến thì biến sang Âm là đối cực của nó Mặt trăng di chuyển để lúc khuyết lúc tròn theo từng ngày trong tháng và định kỳ lặp lại ở tháng sau Mỗi năm đều trải qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Sự chuyển biến sang cái đối lập với chính nó (tác động Phản) thể hiện rõ trong hai mùa: Hạ và Đông Mùa

Hạ nóng nực, oi bức, mùa Đông rét mướt, lạnh giá Còn sự chuyển biến để lấy lại cái để mất (tác động Phục) hiện rõ trong hai mùa: Đông và Xuân Mùa Đông cây cối trơ trụi; mùa Xuân cây cối đâm chồi nảy lộc Có lẽ nhờ quan sát những hiện tượng thiên nhiên ấy mà Lão Tử nhận ra tác động trở lại của Đạo để thiết định nên qui luật phản phục Sự chuyển dịch phản phục là

Trang 40

cơ sở cho Lão Tử viết câu: “Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ núp của

họa” (Đạo đức kinh, chương 58) Trong họa có mầm phúc, trong phúc có

mầm họa, họa có thể biến thành phúc, phúc có thể biến thành họa Đó là phản phục của Đạo

Như thế, theo Lão Tử, qui luật phản phục cốt yếu là đem vạn vật trở

về với gốc rễ, mà gốc rễ sinh ra vạn vật là Đạo Vậy phản phục là quy luật đem vạn vật về với Đạo Sự trở về với Đạo của vạn vật ở trạng thái nguyên

sơ, tĩnh lặng, trống rỗng và tự nhiên được coi là tất yếu Bởi theo Lão Tử, cái trống không là cơ sở để sinh ra cái có Chỉ có trở về với Đạo thì vạn vật mới tồn tại, phát triển, điều hòa, hanh thông Tất cả những chủ trương cố tình can thiệp vào cái trật tự tự nhiên thì nhất định sẽ bị thất bại

Tư tưởng về quy luật vận động của vạn vật đã biểu hiện năng lực quan sát tinh vi và trình độ tư duy sắc sảo của Lão Tử đối với sự vật khách quan Đây cũng là nội dung thể hiện tư duy biện chứng của ông dù còn mang tính chất tự phát, ngây thơ và trực quan

Cùng với tư tưởng về Đạo, quan niệm về Đức cũng là một nội dung hết sức quan trọng trong triết học Đạo gia Ở Trung Quốc cổ đại, chữ Đức được sử dụng rộng rãi và chủ yếu dùng để chỉ những đức tính cần có ở con người như đức nhân, đức tín, đức trung, đức hiếu… như quan niệm ngũ đức

của Nho gia gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Trong Kinh Dịch, chữ Đức có một

nghĩa khác hơn: Đức là tính chất vốn có, tự nhiên của Ngũ hành như nước thì lạnh, chảy xuống thấp, lửa thì nóng, bốc lên cao…

Theo quan niệm của Đạo gia, chữ Đức hiểu một cách khái quát là năng lực của Đạo, hay là năng lực phát triển tự do, trọn vẹn có bản tính tự nhiên ở mọi người, mọi vật, làm cho vạn vật là nó chứ không phải là cái khác Tùy theo đối tượng là sự vật hay con người mà Đức được hiểu là đặc tính vốn có của sự vật hay đạo đức của con người

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w