1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng đạo đức trong triết học nho gia thời tiên tần và ý nghĩa lịch sử của nó

108 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 838,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, trong phạm vi của một luận văn khoa học và khả năng còn nhiều hạn chế, người viết xin được tiếp tục tìm hiểu, góp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

PHAN ANH TUÂN

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA THỜI TIÊN TẦN VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

PHAN ANH TUÂN

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA THỜI TIÊN TẦN VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN SINH KẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5

4 Phương pháp nghiên cứu luận văn 6

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu luận văn 6

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIA THỜI TIÊN TẦN 7

1.1 Điều kiện lịch sử của sự hình thành tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiền Tần 7

1.2 Quá trình hình thành tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần 12

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIA THỜI TIÊN TẦN - GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ 19

2.1 Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần 19

2.2 Giá trị và hạn chế cơ bản của tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần 81

2.3 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần đối với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay 86

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nói đến triết học Phương Đông không thể không đề cập đến triết học Trung Quốc Trong lịch sử phát triển của triết học Trung Quốc, thời

kỳ phát triển rực rỡ nhất gắn với điều kiện chính trị – xã hội đầy biến động Đó thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông mà đỉnh cao là chế độ “tông pháp” nhà Chu đang bị suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành

Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, đặc biệt là trong nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã có tác động rất lớn đến chính trị, xã hội

Nó đã làm thay đổi hình thức sở hữu và kết cấu giai cấp trong xã hội Nếu như trước đây đất đai thần dân dưới gầm trời này không ở đâu không phải là của các vị vua thì đến lúc này, cái quyền sở hữu tối cao và tuyệt đối đó đã bị một lớp người mới (giai cấp địa chủ) chiếm đoạt – chế độ tư hữu về ruộng đất xuất hiện Nếu như trước đây các vị vua nhà Chu được mệnh danh là thiên tử thì giờ đây, cái danh nghĩa ấy là hình thức để các nước chư hầu lợi dụng để tạo ra những cuộc chiến để “chiếm đoạt đất đai làm cho người chết đầy đồng, chiếm đoạt thành trì làm cho người chết đầy thành”[60, 667]

Trong buổi giao thời này, dường như tất cả mọi thứ đều cuốn vào vòng hỗn loạn, sự thay đổi về kinh tế – xã hội, chính trị kéo theo sự đảo lộn những giá trị đạo đức truyền thống Điều này cũng đã được Tề Cảnh Công thốt lên với Khổng Tử rằng “vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con” [60, 353]

Chính trong thời kỳ loạn lạc ấy đã nảy sinh những yêu cầu cấp bách trong đời sống tinh thần của quần chúng lao động khốn khổ Đó là khát vọng được sống trong cuộc sống hòa bình, một đất nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của một minh quân Khát vọng đó là cơ sở để các nhà tư tưởng lúc bấy

Trang 5

giờ đưa ra các phương pháp khác nhau để ổn định lại trật tự chính trị – xã hội Chính thực tiễn chính trị – xã hội sôi động ấy đã tạo ra hiện tượng “bách gia tranh minh” Trên đất nước Trung Quốc rộng lớn, nơi nào cũng có các nhà tư tưởng thể hiện học thuyết của mình như trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng Song nổi bật hơn cả là trường phái Nho gia với chủ trương dùng đức trị, dùng đạo đức để giáo hóa con người, khôi phục ổn định lại xã hội

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [20, 85-86 ], Đảng và nhân dân

ta luôn quan tâm tâm đến giáo dục, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đã đạt những kết quả quan trọng trong mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Tuy nhiên, khách quan mà nói thì nền giáo ở dục nước ta vẫn ít nhiều còn tồn tại những hạn chế yếu kém cần khắc phục Một trong những hạn chế cơ bản

đó là việc giáo dục đạo đức con người chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là trong sinh viên học sinh Hiện nay, có không ít các trường học, các trung tâm đào tạo chỉ chú trọng đến dạy chữ, dạy nghề mà chưa quan tâm đến giáo dục đạo đức

Xuất phát từ việc thiếu quan tâm đến giáo dục đạo đức cùng với tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến tình trạng xuống cấp và lệch chuẩn đạo đức ở nước ta hiện nay đang diễn ra nghiệm trọng Những giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống bị băng hoại và lệch chuẩn diễn ra từ trong gia đình đến ngoài xã hội tạo sự quan tâm và lo ngại rất lớn từ Đảng, nhà nước và dư luận Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ:

“Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ,

Trang 6

đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ” [21, 263] Trước thực trạng đó, thiết nghĩ trong sự nghiệp đổi mới đất nước, bên cạnh chủ trương lấy phát triển kinh tế là một nhiệm vụ trọng tâm thì chúng ta cũng phải quan tâm đến giáo dục đạo đức ở mỗi con người là một nhiệm vụ chủ yếu và cần phải thực hiện ngay

Cũng như các nước Á Đông, Việt Nam là đất nước chịu ảnh hưởng rất lớn tư tưởng đạo đức của Nho gia Kể từ khi du nhập vào nước ta, tư tưởng đó

đã được ông cha ta cải biến, vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng đất nước và đấu tranh giải phóng dân tộc Vì vậy, trước thực trạng sa sút và xuống

cải tạo những tư tưởng có giá trị của đạo đức Nho gia thời Tiên Tần đối với việc khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức là rất cần thiết và hữu ích

Từ việc xác định tầm quan trọng cũng như ý nghĩa thực tiễn và lý luận

to lớn của vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tư tưởng đạo đức trong triết

học Nho gia thời Tiên Tần và ý nghĩa lịch sử của nó” làm luận văn thạc sỹ

Triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Nho gia được xem là một trong những trường phái chính trong lịch sử triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại Vì vậy đây là đề tài được rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm và tiếp cận ở nhiều góc độ, hình

thức khác nhau

Hướng thứ nhất là các công trình nghiên cứu tư tưởng đạo đức của

Nho gia thời kỳ Tiên Tần trong tổng thể của nền văn hóa Trung Quốc Tiêu

biểu cho hướng nghiên cứu này là các tác phẩm: Đại cương triết học sử

Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, Nxb Thanh niên, 1999; Lịch sử văn minh Trung Hoa của Will.Durant, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1997 (bản dịch

Trang 7

của Nguyễn Hiển Lê); Lịch sử văn hóa Trung Quốc của Đàm Gia Kiện chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Trung Quốc triết học sử đại

cương của Hồ Thích, Nxb Văn hóa thông tin, 2005; Đại cương văn hóa phương Đông của Lương Duy Thứ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997…

Hướng thứ hai là các công trình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức

của Nho gia thời kỳ Tiên Tần trong dòng phát triển của lịch sử triết học Trung Quốc Về hướng nghiên cứu này có các tác phẩm tiêu biểu như

sau: Nho giáo của Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, 2003;Lịch sử triết

học Phương Đông của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Từ điển Bách Khoa,

2006; Lịch sử triết học Trung Quốc của Hà Thúc Minh, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 1996; Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc

do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Triết lý

phương Đông giá trị và bài học lịch sử của Doãn Chính, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2005; Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc của Lê Văn Quán, Nxb Lao động, Tp Hồ Chí Minh, 2006; Đạo đức học Đông

phương của Thích Mãn Giác, Nxb Văn hóa, Sài Gòn, 2008

Hướng thứ ba đó là những tác phẩm, tài liệu của các tác giả chuyên

nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu riêng về tư tưởng của các triết gia thời

kỳ Tiên Tần Đó là tác phẩm Tứ thư (trọn bộ) của Đoàn Trung Còn dịch, Nxb Thuận Hóa, 2006; Tứ thư của Dương Hồng, Vương Thành Trung,

Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2006;

Khổng Tử của Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006; Tuân Tử của Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1994 Hướng thứ tư là các công trình nghiên cứu từng nội dung, phạm trù đạo

đức cơ bản của Nho gia và phân tích ý nghĩa thực tiễn của nó Có thể kể đến

Học thuyết chính trị – xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam

của Nguyễn Thanh Bình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Quan điểm

Trang 8

của Nho giáo về giáo dục con người của tiến sĩ Nguyễn Thị Nga và tiến sĩ Hồ

Trọng Hoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Tư tưởng Nho giáo về gia

đình và việc xây dựng gia đình mơi ở Việt Nam hiện nay của Minh Anh, Tạp

chí Triết học, 2005; Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng của Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Triết học, 2006; Nhân trong Luận ngữ của Khổng Tử của

Lê Ngọc Anh, Tạp chí Triết học, 2006

Các công trình nghiên cứu về tư tưởng đạo đức của Nho gia rất đa dạng

và phong phú đã cung cấp một nguồn tài liệu quý báu cho tác giả kế thừa và phát triển đề tài Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, trong phạm vi của một luận văn khoa học và khả năng còn nhiều hạn chế, người viết xin được tiếp tục tìm hiểu, góp phần làm sáng tỏ tư tưởng đạo đức trong triết học Nho gia thời Tiên Tần, qua đó khẳng định những giá trị cũng như những mặt hạn chế của nó trong lịch sử Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại đồng thời rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn : Phân tích, làm sáng tỏ hơn những nội

dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần; qua đó rút ra những giá trị cũng như hạn chế của tư tưởng này và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích nói trên, luận văn

phải thực hiện được nhiệm vụ sau :

- Trình bày điều kiện lịch sử và quá trình hình thành tư tưởng Đạo đức Nho gia thời Tiên Tần

- Trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Nho gia

- Đánh giá những giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức của Nho gia và ý nghĩa lịch sử của nó đối với giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Để phục vụ cho nghiên cứu luận văn, người viết dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác –Lênin Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, để phục vụ cho việc nghiên cứu

đề tài được tốt hơn, người viết còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp lịch sử và logic

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ luận văn, người viết chỉ đi sâu làm sáng tỏ khía cạnh tư tưởng đạo đức của Nho gia thời Tiên Tần thông qua tam cương, ngũ thường, quan điểm xây dựng mẫu người quân tử và quan điểm giáo dục đạo đức Đánh giá những giá trị và hạn chế của tư tưởng đạo đức trong triết học của Nho gia và ý nghĩa lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần

Chỉ ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng này đối với xã hội đương thời và ý nghĩa lịch sử của nó của nó đối với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho những ai quan tâm đến Nho giáo, quan tâm đến tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 10

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIA THỜI TIÊN TẦN

gia thời Tiên Tần

Tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần được ra đời dựa trên điều lịch sử nhất định Đó là thời kỳ mà kinh tế – xã hội Trung Quốc có nhiều biến động lớn

Về lĩnh vực kinh tế: Thời kỳ này với sự phát triển mạnh mẽ của lực

lượng sản xuất, đặc biệt là việc sử dụng và đưa vào sản xuất các công cụ vật dụng bằng sắt thay thế các công cụ bằng đá và đồng đỏ đã thúc đẩy nền kinh tế mà trong đó hai ngành trọng yếu là nông nghiệp và thủ công nghiệp có nhiều bước phát triển mới tạo ra năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn trước rất nhiều

Trong nông nghiệp người ta đã biết sử dụng sức kéo của súc vật để tăng năng suất lao động và giảm bớt sự mệt nhọc của con người Trong sách quốc ngữ có viết: “Đồng thau để đúc kiêm kích, sắt để đúc quả cân ” [11,31] Phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Thời kỳ này hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Diện tích đất đai canh tác nhờ đó mà được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến tạo điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp

Trong thủ công nghiệp, nếu thời kỳ Xuân Thu, thủ công nghiệp được coi là một nghề phụ, sản xuất chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu phục vụ chiến tranh và đời sống của tầng lớp qúy tộc, thì đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc đã dần dần phát triển trở thành ngành sản xuất ngày càng chuyên môn hóa, độc lập với hoạt động nông nghiệp Trong thời kỳ này nhiều ngành nghề

Trang 11

mới xuất hiện, đặc biệt là các nghề có liên quan tới các sản phẩm bằng sắt như nghề rèn, nghề đúc “Sản phẩm đa dạng, phong phú và tinh tế, đồ chạm vàng bạc và dát vàng bạc, hàng dệt lụa, đồ sơn là những sản phẩm thủ công tinh xảo thời Chiến Quốc; trong đó nổi tiếng nhất là hàng tơ lụa màu của nước Tề, đồ sơn có tranh vẽ màu của nước Sở” [58, 223]

Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước “Trên thị trường các nước trưng bày đủ đặc sản khắp nơi như

cá miền Đông, trân châu, ngà voi miền Nam, da tê giác miền Tây, ngựa miền Bắc ” [58, 223] Tiền tệ đã xuất hiện “Trước kia, vua tôi các nước tặng, cấp, đút lót, chuộc tội, dâng hiến thường dùng xe ngựa, gấm, ngọc, chung đỉnh, đồ qúy có khi dùng cả gái đẹp, nhạc sư, không thấy nói đến tiền vàng Đến thời Chiến Quốc, tiền tệ đã lưu hành rộng rãi, vai trò của tiền ngày càng được thừa nhận” [58, 236] “Trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có

và ngày càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống” [11, 33] Sự hình thành và phát triển của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ

Nền kinh tế thay đổi và có nhiều bước phát triển mới đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Nó làm thay đổi thể chế chính trị – xã hội của nhà Chu Biểu hiện của sự tác động đó là sự thay đổi về kết cấu giai cấp trong xã hội và hình thức sở hữu ruộng đất

Trước đây, trong cơ cấu kinh tế gắn với chế độ tỉnh điền Mỗi đơn

vị của tỉnh điền gồm có chín mảnh, tám mảnh chung quanh được giao cho nông dân cày cấy để trực tiếp thu hoa lợi, mảnh giữa là công điền, tám nhà chung quanh phải chung sức canh tác cho nhà nước Trên cơ sở của chế độ “tỉnh điền” hình thành nên hai bộ phận chính là qúy tộc và

Trang 12

thường dân và tương ứng với chế độ đó là hình thức sở hữu ruộng đất dựa trên chế độ vương quyền Đến thời Chiến Quốc, sự phát triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là sử dụng công cụ lao động bằng sắt trong lĩnh vực nông nghiệp và việc mở mang thủy lợi đã làm cho diện tích canh tác

do nông nô khai hoang càng nhiều Tầng lớp quý tộc mới (địa chủ) có quyền thế về kinh tế đã tấn công và chiếm dụng diện tích đất này Từ đó hình thành nên hình thức sở hữu mới về ruộng đất: sở hữu tư nhân về ruộng đất thay thế cho chế độ tỉnh điền trước đây

Về mặt chính trị – xã hội: Thời Tây Chu chế độ tông pháp, “Phong

hầu kiến địa” giúp nhà Chu duy trì được một thời gian dài hưng thịnh của mình Nhà Chu thấy rằng đất đai mình chinh phục được quá rộng lớn

để một người có thể cai trị, các vua nhà Chu đã chia đất đai thành những vùng và chỉ định một người nào đó để cai trị vùng đó dưới danh nghĩa của mình (chư hầu), lựa chọn một người thân trong họ, một người có thể tin tưởng trong bè cánh, hay vị thủ lĩnh một bộ lạc đã cùng họ chống lại nhà Thương Mỗi vị thủ lĩnh địa phương có quyền sắp đặt mọi vùng đất quanh mình và cử lực lượng dân phòng riêng Và nhà Chu ban cho họ những quà tặng như xe ngựa, vũ khí bằng đồng, người hầu và súc vật Các vị tù trưởng này được phong các tước vị và cai quản vùng lãnh địa của mình như một tiểu quốc thần phục nhà Chu Những vị vua địa phương này truyền ngôi cho con trai mình và tước vị của họ là cha truyền con nối Và để cai trị vùng đất của mình tốt hơn, vị chư hầu đó lại phong những tước nhỏ hơn cho những người đã từng cầm đầu các nhóm dân ở nơi đó trước khi họ đến

Đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự

Trang 13

lễ nghĩa nhà Chu hầu như không còn được tôn trọng như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì với các nước chư hầu Thiên tử không còn xét xử được những cuộc tranh chấp giữa các nước chư hầu Các lãnh chúa nhỏ và vừa xưa nay vẫn dựa vào quyền uy của Thiên tử giờ đây trở nên thất vọng Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu đề ra khẩu hiệu “tôn vương bài di”, nhưng thực chất là mưu cầu lợi ích cá nhân, mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ đã đua nhau xuất binh đánh nhau suốt mấy trăm năm Thời Xuân Thu có khoảng 242 năm nhưng đã xảy ra tời 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơm một trăm nước Trong đó có những nước mạnh nhất bấy giờ thay nhau làm bả chủ thiên

hạ như nước Tề, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Để tập trung tất cả tài lực và vật lực cho các cuộc chiến tranh, các quốc gia này đều thi hành chính sách “bá đạo” dựa trên sức mạnh và ra sức bóc lột nhân dân và các nước khác Chính sách này đã đẩy nhân dân lao động vào cuộc sống hết sức khổ cực Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc, còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân ngày thêm khốn khổ

Việc các nước chư hầu thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống; chinh phạt giữa các nước chư hầu làm mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Quý tộc chỉ lo ăn chơi, hưởng lạc và ra sức bóc lột người lao động, đẩy họ vào cuộc sống khốn khổ quanh năm suốt tháng

Trang 14

Kinh Thi đã viết về sự bất công trong xã hội lúc bấy giờ và sự căm giận, oán trách của nhân dân đối với bọn quý tộc thời nhà Chu như sau:

không hề nghe những lời than vãn bên ngoài, có kẻ thì khó nhọc không thở ra hơi

Có kẻ thì nằm mát thảnh thơi, có kẻ thì việc vua bề bộn Có kẻ thì chè chén vui chơi, có kẻ thì hằng buồn rầu lo sợ” [11, 21]

Tình trạng bất công đó kết hợp với những cuộc chiến tranh liên miên đã đẩy người dân lao động vào cảnh khốn cùng Họ đã đứng dậy đấu tranh chống lại nhà Chu, đẩy nhà Chu đến bờ diệt vong Sự rối loạn

xã hội này cũng đã tạo ra tình trạng phi nhân tính, mất hết đạo đức trong mối quan hệ giữa con người với con người Tình trạng bề tôi giết vua, con giết cha không còn là chuyện lạ trong xã hội Người ta ước tính có

36 vụ giết vua, còn những vụ con giết cha, anh em, vợ chồng sát hại nhau không biết bao nhiêu mà kể

Bổi cảnh lịch sử lúc bấy giờ cho thấy rằng, cách tổ chức và quản lý

xã hội theo kiểu nhà Chu không còn thích hợp nữa Xã hội cần phải thiết lập lại trật tự kỷ cương, đưa vào thế ổn định để phát triển Trước vấn đề bức xúc của thời đại, các nhà tư tưởng không thể làm ngơ được Khắp nơi trên đất nước Trung Quốc rộng lớn xuất hiện nhiều trung tâm, tụ điểm của những kẻ sĩ Họ xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau nhưng nhìn chung đều đứng trên lập trường của giai cấp mình để phê phán trật

tự xã hội cũ Tình hình trên đã tạo nên cục diện “ Bách gia tranh minh”

mà kết quả là làm xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, nhiều học phái khác nhau trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc Các nhà tư tưởng thời bấy giờ

đã đưa ra nhiều học thuyết tìm cách lý giải và đề xuất để ổn định trật tự

xã hội Mặc gia cho rằng, chiến tranh sinh ra đau khổ là vì con người

Trang 15

không thương yêu nhau Vì vậy giáo dục con người ta lòng “nhân ái” Pháp gia cho rằng, xã hội loạn lạc là bởi pháp luật không phổ biến và nghiêm minh Phải giáo dục con người biết tuân thủ luật pháp, chính quyền phải dùng chính sách “pháp trị” Đạo gia lại cho rằng, con người sống không phải lo gì cả vì sự phát triển là theo tự nhiên Vì vậy trong cuộc sống không nên tranh giành, vì “mình không tranh giành với ai, thì không ai tranh giành với mình” Còn Nho gia, một học thuyết lớn nhất trong các học thuyết thời bấy giờ, mong muốn đưa xã hội trở về hữu đạo, trở lại với thời kỳ thanh bình và thịnh trị của thời Nghêu Thuấn Với mục tiêu đó, Nho gia đã chủ trương dùng đường lối “đức trị” dùng đạo đức để

ổ định trật tự xã hội

Sự hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần gắn liền với tên tuổi người sáng lập là Khổng Tử và hai nhà tư tưởng lớn là Mạnh

Tử và Tuân Tử

Khổng Tử (551 – 479 Tr.CN) tên Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình, Huyện Khúc Phụ thuộc nước Lỗ (phía nam tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc ngày nay) Gia đình ông thuộc dòng dõi công hầu nước Tống nhưng do những biến loạn về chính trị mà phải chạy sang nước Lỗ Mẹ Khổng

Tử là Nhan Trưng Tại còn gọi là Nhan thị, cha là Thúc Lương Ngột, làm quan

võ của triều đình nước Lỗ, mất khi Khổng Tử tròn ba tuổi Từ khi cha mất, gia đình Khổng Tử sống trong bần hàn, nhưng mẹ ông, Nhan thị vẫn quyết chí nuôi con ăn học Ngay từ nhỏ, Khổng Tử đã nổi tiếng là người siêng năng, học giỏi và thích chơi cúng tế

Thời đại của Khổng Tử xã hội Trung Hoa có nhiều biến động to lớn và sâu sắc Đó là thời kỳ giao thời giữa xã hội nô lệ sắp suy tàn và xã hội phong kiến đang manh nha hình thành Mẫu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp quý tộc mới

Trang 16

và cũ cũng như sự yếu kém của nhà Chu trong việc quản lý các nước chư hầu

đã làm xã hội loạn lạc triền miên, các vua chúa chuyên tâm hưởng thụ hoặc chém giết nhau để xưng hùng, xưng bá Đạo lý nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó phân biệt Bức tranh toàn cảnh của xã hội Trung Quốc ở giai đoạn này là sự khủng hoảng về chính trị - xã hội và đạo đức luân

lý hết sức sâu sắc

Trong bổi cảnh khủng hoảng chính trị - xã hội và suy thoái đạo đức diễn

ra nghiêm trọng, một thực tế đặt ra là cần có một biện pháp hữu hiệu để đưa xã hội từ loạn thành trị Đứng trên lập trường của một bộ phận cấp tiến trong tầng lớp chủ nô quý tộc, Khổng Tử đã chủ trương lập lại trật tử, kỷ cương cũ của nhà Chu theo đường lối đức trị Khổng Tử đã dành hết tâm huyết của mình chu du thuyết khách nhiều nước chư hầu thời đó với hoài bão được đem học thuyết của mình để giúp nước, cứu đời Tuy nhiên thời Xuân Thu biến động bất an, các nước chư hầu tranh giành bá chủ đua nhau củng cố lực lượng, chỉ chú ý tới lợi

ích trước mắt nên không áp dụng chủ trương nhân của Khổng Tử Cũng chính vì

lẽ đó, trong suốt 14 năm bôn ba, trôi dạt, du thuyết tới 72 vị quốc vương và đại phu đương quyền, nếm đủ vị đắng cay, nhưng học thuyết và tài năng của ông vẫn không có cơ hội để thể nghiệm với đời

Bất lực trên con đường chính trị, năm 484 trước công nguyên, Khổng

Tử quay về quê nhà và từ đây ông dồn hết sức lực cuối đời tập trung chỉnh lý các thư tịch cổ: Lục Kinh (sáu bộ kinh điển: kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Nhạc, kinh Thư, kinh Thi và kinh Xuân Thu)

Năm 479 trước công nguyên, Khổng Tử qua đời, thọ 72 tuổi Các học trò của ông đã tập trung các câu nói của ông soạn thành sách Luận Ngữ Luận Ngữ chép đến khi học trò của ông là Tăng Sâm chết thì dừng lại Theo nhiều nhà nghiên cứu thì Luận Ngữ được xem là tài liệu đáng tin cậy nhất để chúng ta nghiên cứu một các chính xác tử tưởng của Khổng Tử Tác phẩm

Trang 17

Luận Ngữ đã giữ lại nhiều tài liệu quan trọng về cuộc đời, học thuyết của Khổng Tử, nhất là những tư liệu về tư tưởng giáo dục và cuộc đời dạy học của ông Luận Ngữ được xem là bộ khoa thư sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc

Từ đời nhà Hán thì Luận Ngữ chính thức được đưa vào vào hệ thống sách kinh điển của Nho giáo mà kẻ sĩ buộc phải học thuộc nếu muốn tiến thân bằng con đường khoa cử [29, 25] Tuy nhiên do hạn chế về mặt lịch sử, tử tưởng đạo đức của Khổng Tử chứa đựng nhiều mâu thuẫn, thể hiện sự giằng co giữa yếu tố duy vật và duy tâm, giữa quan điểm bảo thủ và tiến bộ của ông

Sau khi Khổng Tử mất, nhiều thế hệ học trò nối tiếp đã phát triển tư tưởng của ông thành một trường phái triết học lớn có ảnh hưởng sâu rộng thời bây giờ Từ cuối thời Xuân Thu, những mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc Trong cuộc đấu tranh chống lại thế lực quý tộc cũ, tầng lớp địa chủ mới đã dựa vào học thuyết của Pháp gia để xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước và chủ trương dùng bạo lực, chiến tranh để thôn tín lẫn nhau, thâu tóm thiên hạ Đặc biệt, thời Chiến quốc, đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh nội chiến triền miên và lý trí phải khuất phục trước lưỡi gươm, ngọn giáo Trong

xã hội diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi giữa các học thuyết Nhiều học thuyết lúc đó đã ra sức bài xích Nho gia, thậm chí ngay bản thân những nhà Nho lúc đó cũng có quan điểm chống đối lẫn nhau Trong bối cảnh đó, Mạnh

Tử (371 – 289 Tr.CN) nổi lên như một nhà triết học có tài biện thuyết nổi tiếng, đã ra sức bảo vệ và phát triển tư tưởng của Khổng Tử Bác bỏ các quan điểm của các học thuyết khác, Mạnh Tử cho rằng, bản tính con người vốn là

thiện Mạnh Tử cho rằng: “ Con người vốn có lòng nhân, từ nhân mở rộng đến nghĩa, lễ, trí gọi là “tứ đoan” Lòng người có “tứ đoan”, cho nên tính

người vốn thiện Những người không thể trở thành người thiện, không phải là

do bản tính con người khác nhau, mà do không nỗ lực bồi dưỡng tính thiện,

Trang 18

chịu ảnh hưởng môi trường không tốt bên ngoài, nên tính thiện mất đi, tính ác nảy sinh” [59, 8]

Trên nền tảng học thuyết về tính “thiện”, Mạnh Tử xây dựng tư tưởng

“nhân chính” để thực hiện lý tưởng chính trị của mình Cũng giống như Khổng Tử, Mạnh Tử cũng chu du nhiều nước và thuyết giảng tư tưởng của mình Mạnh Tử cho rằng: “Các nhà thống trị lúc bấy giờ đa số đều thực hiện

“bạo chính”, sử dụng vũ lực, chà đạp nhân nghĩa, khiến dân chúng lầm than Mạnh Tử chủ trương “đem lòng dân, thương yêu dân chúng, lấy đức chế phục người, được lòng dân mới được thiên hạ” [59, 8]

Triết học Mạnh Tử còn mang tính chất duy tâm song những quan điểm chính trị –xã hội mang tính nhân bản sâu sắc cùng những biện pháp cải cách kinh tế, xã hội thiết thực của ông đã có ý nghĩa tích cực đối với xã hội đương thời và là tinh hoa trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học Trung Quốc Vào cuối thời Chiến quốc, với sự lớn mạnh của nước Tần và sự nổi dậy của giai cấp địa chủ quý tộc mới đã diễn ra quá trình phong kiến hóa trên toàn đất nước Trung Hoa rộng lớn Tuân Tử (315 – 230 Tr.CN) là nhà triết học duy vật kiệt xuất nổi lên trong thời kỳ chuyển biến xã hội đó và được xem là người

kế tục tư tưởng Nho gia, đề cao nhân nghĩa, lễ nhạc cùng chủ trương chính

danh, trọng vương, khinh bá của Khổng – Mạnh Tuy nhiên triết lý của Tuân

Tử cũng có nhiều điểm khác với Khổng Tử, thậm chí trái ngược với Mạnh Tử trên một số vấn đề cơ bản

Với sự khởi xướng của Khổng Tử, sự bổ sung và phát triển của Mạnh Tử

và Tuân Tử, Triết học Nho gia thời tiên tần có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, vấn đề chính trị – đạo đức được xem là một trong những vấn

đề cơ bản nhất trong triết học Nho gia thời Tiên Tần

Trước bổi cảnh xã hội loạn lạc, tình trạng phi nhân tính, phi đạo đức đang thống trị, chi phối đời sống xã hội, các đại biểu Nho gia đều đặt vấn đề khôi phục

Trang 19

và ổn định trật tự xã hội trong mối quan hệ với đạo đức Hệ thống những phạm trù, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức của Nho gia vừa phản ánh các mối quan hệ đạo đức vừa phản các quan hệ chính trị của xã hội và con người Đạo đức là phương tiện, công cụ để giai cấp thống trị quản lý xã hội, để hoàn thiện đạo đức của con người góp phần củng cố duy trì trật tự xã hội và tạo ra mẫu người lý tưởng để góp phần tạo ra xã hội lý tưởng

Khổng Tử đề xuất học thuyết chính danh nhằm phát huy trách nhiệm,

vị trí vai trò ở mỗi người Chính danh là điều căn bản của việc làm chính trị,

đưa xã hội từ “loạn” thành “trị” và điều kiện để thực hiện, trau dồi nhân và

lễ Có thể nói rằng, quan điểm trung thứ, nhân – lễ – chính danh là vấn đề

cốt lõi nhất chi phối toàn bộ những quan điểm về luân lý đạo đức cũng như chính trị xã hội, là cơ sở của đường lối đức trị, tạo nên bản sắc riêng trong triết lý chính trị – đạo đức của Khổng Tử

Mạnh Tử chủ trương “nhân chính”, “dân bản”, ông kịch liệt phê phán các nước dùng bạo lực thôn tính lẫn nhau Ông khuyên các bậc vua chúa phải

vì nhân nghĩa chứ không nên vì lợi “Phải xem dân là gốc của một nước, có

dân mới có nước, có nước mới có vua Ý dân là ý trời Vì vậy hễ ai được lòng dân chúng thì được làm vua thiên hạ.” [12,60]

Tuân Tử với quan niệm về “tính ác”, ông cho rằng bản tính con người

là ham lợi do đó dẫn đến tranh giành nhau mà gây ra tội ác Vì vậy, thánh

nhân mới chế định thành ra lễ để uốn nắn bản tính của con người thành ra thiện Do quan niệm như vậy nên Tuân Tử rất coi trọng lễ và xem việc thực thi lễ là một yêu cầu có tính bắt buộc để xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, thái bình, thịnh trị Mặc dù đề cao lễ song Tuân Tử coi trọng cả chính

hình (pháp luật) Ông đòi hỏi người cầm quyền dùng hình pháp thì thưởng, phạt phải công minh, tức phạt không quá cái tội, ban thưởng tước lộc không vượt quá cái đức

Trang 20

Thứ hai, Nho gia thời Tiên Tần chứa đựng nhiều giá trị mang tính nhân

văn sâu sắc

Các đại biểu Nho gia rất quan tâm đến con người, đề cao cao tư tưởng

nhân nghĩa, tình yêu thương đối với con người Học thuyết về Tính thiện dù

còn mang nặng màu sắc duy tâm song cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều muốn khơi dậy phần nhân tính con người, đẩy lùi và diệt trừ cái xấu, cổ vũ cho cái thiện, lên án cái ác để xây dựng mối quan hệ hài hòa, tốt đẹp giữa người với người Trong đường lối “đức trị” của Khổng Tử , chủ trương “nhân chính”,

“dân bản” của Mạnh Tử mặc dù còn tính chất ảo tưởng trong một xã hội có sự phân chia giai cấp song nó cũng chứa đựng giá trị nhân bản, nhân văn rất đáng trân trọng với mục tiêu cao cả là hướng tới con người và vì con người

Mặt khác, trong những quan điểm của mình, Nho gia luôn đề cao vị trí, vai trò của mỗi người trong mối quan hệ với xã hội Có thể nói, con người trong quan điểm của Nho gia không phải là con người chung chung mà là con

người cụ thể có ý thức, trách nhiệm, có lương tâm, am hiểu nhân, nghĩa, lễ, trí

tín Điều này có thể thấy rõ trong quan điểm về “ngũ luân”, các đại biểu Nho

gia đã khéo lồng ghép các mối quan hệ xã hội thông qua những chuẩn mực

đạo đức như trung, hiếu, nghĩa, tín… nhằm phát huy vị trí, vai trò và sự bình

đẳng trong mối quan hệ giữa người với người trong xã hội

Thứ ba, tư tưởng Nho gia thời Tiên Tần đang nỗ lực thoát khỏi ảnh

hưởng của thế giới quan thần quyền thời nhà Hạ, nhà Thương và giai đoạn đầu nhà Chu nên các yếu tố tôn giáo, thần bí ít nhiều cũng phai nhạt hơn so với thời đại trước đó

Mặc dù ít nhiều có đề cập đến vấn đề bản thể, nhận thức, quỷ thần nhưng đó không phải là vấn đề trọng tâm trong tư tưởng đạo đức của Khổng

Tử Khổng Tử chỉ chú trọng giải quyết mối quan hệ giữa người với người trên

bình diện đạo đức – chính trị Trong học thuyết Thiên mệnh, Khổng Tử thừa

Trang 21

nhận có trời đất, quỷ thần là lực lượng siêu nhiên có ảnh hưởng đến thế giới con người Tuy nhiên, trong tư tưởng của ông, ông cho rằng trời đất, quỷ thần

đó là việc cao xa không nên bàn Con người nên kính trọng quỷ thần nhưng không nên gần gũi làm gì Mục tiêu mà Khổng Tử hướng đến đó là giải quyết những vấn đề tồn tại của đời sống trần tực nhằm xây dựng một xã hội thái bình, vua sáng, tôi hiền, cha con, anh em hòa thuận Do đó, trong quan điểm của mình, Nho gia không chỉ chủ trương đào tạo những con người truyền đạo mà còn biết hành đạo Vì vậy, trong quan điểm mẫu người lý tưởng, Nho gia xác

định con đường mà người quân tử phải theo là tu thân, tề gia để giúp đời trị

quốc, bình thiên hạ

Khác với quan điểm Khổng Tử và Mạnh Tử, đôi khi còn lấy tư tưởng

Thiên mệnh và đạo đức truyền thống nhà Chu làm giá đỡ trong việc thực hiện

đường lối của mình, triết học Tuân Tử đã thể hiện quan điểm duy vật về tự nhiên và đề cao vai trò nhân tố chủ quan của con người Ông cho rằng xã hội loạn hay trị, thịnh hay suy đều do con người chứ không phải trời định Tuân

Tử cho rằng trời không phải là vị chúa tể tối cao có nhân cách mà chỉ là quy luật khách quan vốn có của tự nhiên Vai trò của con người là nhận thức và vận dụng quy luật của tự nhiên để cải tạo phục vụ cho cuộc sống con người Như vậy, với sự khởi xướng của Khổng Tử, sự bổ sung và phát triển của Mạnh Tử và Tuân Tử, tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần có giá trị rất lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong chủ trương ổn định trật tự

xã hội và giáo dục đạo đức con người Thực tế cho thấy các nhà tư tưởng đời sau thông qua sự “chú giải” mà có thể thu hẹp hoặc mở rộng những nội dung đạo đức của Nho gia thời Tiên Tần nhưng vẫn trên danh nghĩa bảo vệ

và phát triển nó

Trang 22

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC

NHO GIA THỜI TIÊN TẦN - GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ

VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tác động lớn đến chính trị,

xã hội nhà Chu và làm thay đổi nhận thức con người Các nước chư hầu

và những người dân khốn khó dường như không còn niềm tin vào sự trị

vì của nhà Chu, họ quay lưng với những giá trị đạo đức truyền thống Tình trạng trên đã tạo nên sự bất ổn về chính trị, xã hội đẩy nhà Chu vào

bờ diệt vong Trước bổi cảnh đó, Nho gia chủ trương dùng đường lối đức trị, dùng đạo đức để giáo hóa, ổn định trật tự xã hội, nhằm cứu vãn nhà Chu khỏi rơi vào thế diệt vong Nội dung tư tưởng đạo đức Nho gia thời Tiên Tần chủ yếu được thể hiện qua các nội dung: Quan niệm về tam cương, ngũ thường, quan niệm về mẫu người quân Tử và quan niệm

Quan điểm về Tam cương

Trong các quan hệ xã hội Nho gia xác định năm mối quan hệ cơ bản

và thông thường của mỗi đời người gọi là ngũ luân gồm quan hệ vua – tôi (quân thần), quan hệ cha – con (phụ tử), quan hệ chồng – vợ (phu phụ),

Trang 23

quan hệ anh – em (huynh đệ), quan hệ bạn bè (bằng hữu ) Mỗi một mối quan hệ lại có tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng Trong mối quan hệ vua – tôi, vua phải nhân từ, bề tôi trung thành, trong quan hệ cha – con: cha hiền, con phải hiếu thảo, trong quan hệ vợ – chồng: chồng biết tình nghĩa,

vợ nghe lẽ phải, trong quan hệ anh – em: anh phải tốt, em ngoan, trong quan hệ bạn bè thì bạn bè phải giữ đuợc chữ tín Trong ngũ luân lại có ba mối quan hệ cơ bản nhất gọi là tam cương (quân thần vi cương, phụ tử vi cương, phu thê vi cương) Ba mối quan hệ cơ bản này Nho gia đều đưa ra từng tiêu chuẩn riêng cho từng mối quan hệ

Trong quan hệ vua – tôi, Nho gia chống lại việc duy trì ngôi vua theo kiểu cha truyền con nối, lên án việc chức tước truyền theo huyết thống, dòng dõi, mặc dù trong xã hội đương thời vẫn có ba kiểu lên ngôi được thừa nhận; lên ngôi do cha truyền con nối, lên ngôi do vua trước truyền lại và lên ngôi do đổi mệnh vua tức giết vua đang cầm quyền mà người giết vua thuận theo ý trời và ý dân Khổng Tử cho rằng người cầm quyền phải có đức, có tài mà không cần tính đến đẳng cấp xuất thân của họ Khi bàn đến Trọng Cung, người học trò của mình, Khổng Tử nói: “Con bê

là con của con bò lang , mọc lông màu đỏ, hai sừng cân đối ngay ngắn Người ta cho là vì mẹ nó lang không định dùng nó làm vật tế Nhưng thần núi thần sông có lỡ bỏ rơi nó đâu” [60, 209] Dù Trọng Cung có tài đức nhưng hoàn cảnh xuất thân thấp kém nên không được ra làm quan Dựa trên câu nói về học trò của mình, với tư tưởng là một nhà dân chủ, Khổng Tử đã phản đối quan niệm cha truyền còn nối, ông cho rằng một người dù nghèo nhưng có tài trị quốc an dân thì có thể làm quan

Theo Khổng Tử, người làm chính trị yêu cầu cần thiết nhất đó là phải có đức nhân Trong cương lĩnh mở đầu của Đại học có viết: “Minh minh đức, tân dân, tại chỉ ư chí thiện” [17, 7] Trước hết, mình phải suy

Trang 24

xét mà làm cho cái đức tánh mình tỏ sáng ra (minh minh đức) Cái đức tánh ấy, mỗi người vẫn có nơi mình, nhưng đối với những kẻ chưa xuy sét thì nó chưa ứng hiện ra Kế đó, khi thấy cái đức tánh đ ã tỏ sáng nơi mình rồi, mình nên đứng ra mà cải cách cho mọi người, khiến họ bỏ điều

cũ mà theo điều mới, lìa sự dở mà lấy sự hay (tân dân) Kế nữa, mình nên nhắm mức trọn lành mà theo và ở yên nơi mức ấy (chỉ ư chí thiện) “ Cầm quyền lãnh đạo quốc gia cần phải dựa vào đạo đức thì dân chúng đều quy thuận Tự mình giống như sao bắc đẩu vậy, ở cố định một nơi còn các vì sao khác đều chầu quy quanh nó” [60, 121] Người lãnh đạo

quốc gia phải dựa vào đạo đức, sức mạnh giáo hoá của lễ nghĩa, của văn

minh tinh thần Nếu chú trọng xây dựng mặt đạo đức, chủ trương phát huy tác dụng quy phạm của đạo đức xã hội, người lãnh đạo quốc gia sẽ giống như ngôi sao bắc đẩu ngự ở một góc trời, còn dân chúng thiên hạ thì giống như các hành tinh khác đoàn kết xung quanh người lãnh đạo Người lãnh đạo có đức sẽ được nhân dân ủng hộ, thiên hạ thái bình Người lãnh đạo thất đức sẽ bị nhân dân phản đối Người đứng đầu một quốc gia phải đạt được cả nhân đạo và thiên đạo để tạo thành một minh quân, một bền trên chính trực Trong mối quan hệ giữa vua – tôi, Khổng

Tử đưa ra một số yêu cầu đối với vua Vua phải đảm bảo cho dân được

ấm no, phải xây dựng lực luợng quân sự hùng hậu, phải chiếm được lòng tin của dân Trong đó yêu cầu vua phải chiếm được lòng tin của dân là yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất đối với vua Bên cạnh đó vua phải biết làm cho dân giàu và biết giáo hoá dân

Tử Cống hỏi Khổng Tử về quản lý chính sự quốc gia

Khổng tử nói: “Phải đầy đủ lương thực, đầy đủ binh lực, được nhân dân tín phục”

Tử Cống hỏi: “Nếu bỏ đi một trong ba điều đó, nên bỏ điều nào?”

Trang 25

Khổng Tử nói: “Bỏ đi binh lực”

Khổng Tử nói: “Bỏ lương thực Từ cổ đến nay con người ta không

ai tránh được cái chết Nhưng nếu nhân dân không còn tin phục nữa, thì

Như vậy, theo Khổng Tử muốn có nền chính trị tốt đẹp, sáng suốt anh minh thì cần phải làm tốt ba điều trên Tuy nhiên Khổng Tử cho rằng

sự tín nhiệm của nhân dân là quan trọng hơn cả Bởi vì, việc trị nước dành được sự tín nhiệm của nhân dân, sẽ tạo nên sức mạnh không có kẻ thù nào phá nổi Điều này cũng được Mạnh Tử nhấn mạnh khi đề cập mối quan hệ giữa vua với dân Mạnh Tử nói: “Người được lòng dân có thể làm thiên tử, người được lòng thiên tử có thể làm chư hầu, người được lòng chư hầu có thể làm đại phu” [59, 84]

Vua còn phải biết tôn trọng người đức độ và có năng lực làm việc, phải biết rộng lượng với những người cộng sự của mình, biết ứng xử với bề tôi sao cho đúng luân lý Khổng Tử dạy rằng: “Đối với nhà cầm quyền phải thực hành ba việc: Thứ nhất phải phân công việc cho quan chức dưới quyền, họ làm xong thì xem xét lại Thứ hai: Ai phạm lỗi nhỏ thì dung thứ cho họ Thứ ba: Cử dùng những người hiền đức và tài cáng” [60, 366] Trong cuộc nói chuyện với Tề Tuyên Vương, Mạnh Tử cũng chỉ rõ mối quan hệ vua - tôi Đó là mối quan hệ hai chiều Vua thế nào thì bề tôi ứng

xử tương ứng như thế ấy Vì lẽ đó sự đức độ và nhân từ đối với dân của vua

là một điều cần thiết “ Vua coi bề tôi như thủ túc, thì bề tôi coi vua như tâm phúc; vua coi bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi coi vua như người thường; vua coi bề tôi như đất rác, thì bề tôi coi vua như kẻ thù” [59, 90]

Vua phải lấy dân làm gốc Tuân Tử nói: “Trời sinh dân không phải là

vì vua, mà trời lập ra vua là vì dân” [38, 122] Vua phải yêu dân, “thương

Trang 26

yêu người dưới như giữ gìn con đỏ” [38, 128] Vua mà tàn bạo thì trăm họ khinh như khinh lũ què quặt, ghét như ghét loài qủy

Vua phải là người khéo hợp quần, giỏi hợp quần Tuân Tử nói:

“Con người ta sức khỏe không bằng trâu bò, chạy không nhanh bằng ngựa, sở dĩ thắng được lòai vật, sai khiến được loài vật là nhờ biết sống hợp quần Nhưng tính người vốn ác, đa dục, nếu nhậm tình, tính dục thì tất sinh tranh đọat, hết cả hợp quần Vua là người khéo dùng lễ để chia trên dưới định phân cho mọi người một cách công bằng hợp ý, nhờ vậy

mà đời sống tập thể thuận hòa” [38, 122]

như cha mẹ mình Trong quan hệ giữa dân và vua, dân vì vua là trung vua vì dân để đuợc lòng dân tin cũng là trung vậy Hết lòng với người khác mà ngay thẳng thì gọi là trung Dân trung với vua, mà vua nghĩ cách làm lợi cho dân cũng là trung với dân Bề tôi không nhất thiết phải chết với vua mới là trung Nói về đức tính này, Khổng Tử khen ngợi

Quản Trọng là người góp công lớn giúp vua Tề Cảnh Công trị nước an dân mà không dùng đến binh lực

Tử Cống nói rằng: “Quản Trọng chẳng là người nhân chớ gì? Chúa

mình là công tử Củ bị vua Hoàn Công giết, Quản Trọng chẳng có gan dạ chết theo, lại đi tìm làm tướng giúp Hoàn Công” Đức Khổng giải rằng: “Quản Trọng làm tể tướng cho Hoàn Công, giúp cho Hoàn Công làm bá chủ các nước chư hầu Chính nhờ tài trị của người mà thiên hạ đổi loạn ra trị; cho đến nay dân chúng còn hưởng ân đức của người Nếu chẳng có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc và vắt vạt áo bên tả như người man di Hà như kẻ nam

nữ thường tình vì tấm lòng trung nhỏ hẹp mà tự treo cổ bên ngoài lò gạch,

thành ra đời chẳng ai biết sao?” [17, 233]

Trang 27

Quản Trọng và Thiệu Hốt từng giúp cho công tử Củ tranh giành ngôi vua với Tề Hoàn Công Khi công tử Củ bị Tề Hoàn Công giết thì Thiệu Hốt thắt cổ tự tử theo Đáng lý ra Quản Trọng cũng tự sát theo Thiệu Hốt nhưng lại làm tể tướng phù tá Tề Hoàn Công Tử Lộ vì thế mà

cho rằng QuảngTrọng không phải là người có nhân

Khổng Tử cho rằng Quản Trọng nếu chết giống Thiệu Hốt thì chỉ được tiếng khen là trung một cách hẹp hòi Quản Trọng biết tránh cái chết để ra làm tướng giúp vua Tề Hoàn Công cứu dân thoát nạn xâm lăng, giúp dân tránh cơn khổ cực, người đời sau vẫn còn nhớ ơn Dám bỏ lời khen nhỏ để lập công trạng lớn, như thế không phải người thường Cho nên, Khổng Tử không trách Quản Trọng về sự sống chết, mà khen Quản Trọng về công trạng

Trung không nhất định là bất sự nhị quân, chỉ có nghĩa là tận tâm,

thành thật giúp người; cho nên Khổng Tử nói : “Từ, hiếu thì trung”

Mạnh Tử cho kẻ làm tôi phải hết sức khiến vua theo đạo nhân nghĩa mà trị nước, trị dân, mới là trung Nói về trung của bề tôi, Tuân Tử chia bề tôi làm bốn hạng: “Có bậc đại trung, có bậc thứ trung, có bậc hạ trung,

có kẻ quốc tặc Lấy đức mà báo đáp vua để cải hóa được vua là bậc đại

trung Lấy đức mà sửa lỗi vua và giúp vua là bậc thứ trung Lấy điều

phải mà can ngăn vua làm cho vua giận là bậc hạ trung Không lo đến sự

vinh nhục của vua, không lo đến nước trị hay loạn, chỉ gom góp của cải, dung túng kẻ càn dỡ để giữ lợi lộc, nuôi bè đảng là kẻ quốc tặc” [8, 625]

Trong quan hệ cha – con, Khổng Tử đề cập đến phạm trù hiếu và

sau này được Tăng Tử hoàn thiện và phát triển Trong quan hệ cha con Khổng Tử không nhấn mạnh đến của cải con cái dành cho cha mẹ mà chủ yếu nói đến tâm để đánh giá lòng hiếu thảo Mạnh Ý Tử hỏi về đạo

hiếu Khổng Tử nói: “Cha mẹ lúc còn sống, phải theo lễ mà đối xử phụng

Trang 28

sự Cha mẹ chết, phải theo lễ mà an táng, theo lễ mà cúng tế” [60, 227]

Khổng Tử nói: “ Khi cha còn sống thì quan sát chí hướng của người con, khi người cha chết thì quan sát hành vi của người con Nếu ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi những quy tắc của đạo làm con

đối với cha, như vậy được gọi là người con có hiếu vậy [60, 115]

Hiếu theo quan điểm của Khổng Tử cũng không đơn thuần là sự phụng dưỡng và chăm sóc cha mẹ mình Nếu sự phụng dưỡng chăm sóc

ấy mà không xuất phát từ tâm, lòng thành thì chưa phải là người con có hiếu Tử Du hỏi về đạo Hiếu Khổng Tử nói: “Ngày nay thấy ai có thể nuôi dưỡng được cha mẹ, thì người ta gọi là có hiếu Nhưng đến như giống chó ngựa thì người ta cũng nuôi được vậy Cho nên nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ trong khi nuôi dưỡng, thì nuôi cha mẹ và nuôi chó ngựa có khác gì nhau?” [60, 127]

Theo Khổng Tử, phận làm con cần phải thực hiện các điều sau đây:

“Làm con không được vi phạm lễ nghĩa mới là có hiếu với cha mẹ Đối xử với cha mẹ không được vi phạm lễ, khi cha mẹ còn sống phải theo lễ mà đối

xử, khi cha mẹ mất phải theo lễ mà an táng, rồi những khi cúng tế phải giữ đủ

lễ phép nghiêm trang, thành kính như khi cha mẹ còn sống vậy Thế gọi là có

hiếu là điều cơ bản của đạo hiếu

Làm con phải giữ gìn thân thể của mình cũng là có hiếu: cha mẹ vô

cùng yêu quý con cái Rất sợ và đau buồn nếu con cái mắc phải bệnh tật Vì vậy phận làm con phải biết giữ gìn thân thể của mình cho khoẻ mạnh để

tránh nỗi lo lắng, đau khổ cho cha mẹ Như vậy mới giữ trọn được đạo hiếu

Làm con phải nuôi dưỡng được cha mẹ mà không kính trọng thì

chưa phải là có hiếu Theo Khổng Tử, cha mẹ có công sinh thành và

nuôi con khôn lớn Khi cha mẹ già yếu mất sức lao động, người con đương nhiên phải nuôi dưỡng cha mẹ, làm việc thay cho cha mẹ… Đó là

Trang 29

nói có thể nuôi dưỡng được cha mẹ, nhưng đây mới chỉ là yêu cầu tối thiếu Khổng Tử cho rằng điều quan trọng hơn phải có lòng hiếu kính, bởi vì nuôi chó ngựa cũng phải cho chúng ăn, thế thì nuôi cha mẹ không kính trọng với nuôi chó ngựa thì có khác gì nhau

Làm con đối với cha mẹ phải luôn giữ được vẻ hoà vui là đã thực

hiện được đạo hiếu Đối xử với cha mẹ, việc cho ăn cho uống là dễ làm,

làm việc thay cho cha mẹ cũng dễ dàng Riêng đối với cha mẹ, bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều giữ được nét mặt vui vẻ là điều hết sức khó khăn Đối xử với cha mẹ, không có sự quan tâm tự đáy lòng được xem là

hiếu ư? Cho ăn mặc mà đối xử vô lễ, được gọi là hiếu ư? Làm thay

công việc cho cha mẹ, nhưng không nhẫn nại, không tử tế được xem là

hiếu ư ? Cho nên Khổng Tử cho rằng hiếu chân chính là đối với cha mẹ

luôn giữ được vẻ vui tươi, chân thành, từ nội tâm đến biểu hiện ra ngoài hoàn toàn thống nhất, không để cho cha mẹ ưu tư, phiền muộn bực mình,

không đưa lại phiền phức cho cha mẹ” [60, 128] Quan điểm về chữ hiếu

của Khổng Tử không phải là quan điểm một chiều , Ông nhấn mạnh :

“Con cái nhất nhất không phải nghe theo lời cha mẹ Ông thường dạy rằng, phận làm con thấy cha mẹ lầm lỗi phải can gián một cách nhẹ nhàng, thấy ý tứ cha mẹ chẳng thuận theo lời khuyên của mình, thì mình vẫn một lòng cung kính và chẳng trái nghịch Như cha mẹ giận mà khiến mình làm công việc cực khổ, chớ có đem dạ oán hờn” [60, 175] Nghĩa là khi cha mẹ có làm điều gì trái đạo, thì con phải dùng cách ôn hòa mà can ngăn Nếu cha mẹ không nghe, thì phải tỏ lòng cung kính và hiếu thảo, rồi dần dần lựa cách nói cho cha mẹ biết lẽ phải m à sửa đổi lại Dẫu có khi cha mẹ giận mà đánh đập hay bắt chịu khổ sở, cũng không oán

Ai Công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “ Con theo mệnh cha có phải

là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không?” Hỏi ba lần mà

Trang 30

Khổng Tử không thưa Khi Ngài ra ngoài hỏi Tử Cống và hỏi ý thầy thế

nào Thầy Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là

trung, còn ngờ gì nữa?” Khổng Tử nói: “Ngươi không biết gì Đời xưa

đấng minh quân làm vua nước Vạn thặng có tránh thần bảy người, thì vua không làm điều lỗi; làm vua Thiên nước Thiên thặng có tránh thần năm người, thì xã tắc không nguy; làm chủ một nhà, có tránh thần ba người, thì lộc vị không suy Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ, kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa Cho nên con theo mệnh cha há đã

là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu trung vậy” [31, 108] Vì vậy con cái hiếu với cha mẹ

không có nghĩa là cha làm thế nào cũng phải theo Có khi cha làm điều gì trái lẽ, thì phải hết sức can ngăn, để cho cha không bị những điều lầm lỗi

Nhưng chí cốt phải theo lễ mà can ngăn Hiếu có hợp lễ mới thật là hiếu Như vậy, Khổng Tử không chủ trương ngu trung, ngu hiếu không

bắt buộc con người phải phục tùng bề trên vô điều kiện Đối với Khổng

Tử, Con cái phải biết ghi ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha mẹ Cha mẹ phải hiền từ, biết yêu thương nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập

Chủ trương xem gia đình là nền tảng của xã hội, Nho gia rất coi trọng các mối quan hệ trong gia đình Ngoài những tiêu chuẩn đạo đức Nho gia đặt

ra mối quan hệ cha con, Nho gia đặt ra những yêu cầu trong mối quan hệ giữa

vợ và chồng

Trong mối quan hệ giữa vợ – chồng, theo quan điểm của Nho gia thì

vợ chồng phải hoà thuận Khổng Tử nói “ Vợ chồng hòa thuận thì giống như gảy đàn hợp xướng, toát lên khúc nhạc ăn khớp với lời ca êm tai thánh thót” [60, 65] Vợ về nhà chồng phải biết giữ nết, biết nghe lời phải trái, biết kính trọng và thuận ý nhà chồng Mạnh Tử nói: “ Khi một cô gái đúng

Trang 31

tuổi xuất giá, người mẹ dạy cho phận sự của kẻ làm vợ Khi đưa con về nhà chồng, bà mẹ ân cần dạy bảo rằng: “Con về nhà của con (tức nhà chồng) thì nên kính nhường giữ mình cho khéo, đừng trái ý với chồng Nên lấy nết thuận, tùng làm phép chính, đó là đạo làm vợ [60, 641] Như vậy

khi về nhà chồng thi người con gái phải biết theo lễ mà ứng xử, biết kính

trọng người trên và thuận ý chồng Người chồng là trụ cột trong gia đình phải “vui với việc đồng áng” vợ phải “ luyện tập nữ công” Nho gia chủ trương đề cao nghĩa, sự chung thủy trong vợ chồng Quan hệ vợ chồng phải trong sáng Hễ người chồng ngoại tình, ai giết cũng không có tội, như vậy

đàn ông mới tuân theo điều nghĩa Người phụ nữ phải trong sạch Hễ người

vợ nào bỏ chồng mà lấy chồng khác thì con cái của ả ta không nhìn ả ta là

mẹ Ngoài những tiêu chuẩn trên, Nho gia đặt ra bốn đức tính tốt mà người con gái phải đạt được, đó là công, dung, ngôn, hạnh Tức là người con gái phải biết khéo léo trong việc làm, hài hòa trong sắc diện, mềm mại trong lời nói và nhu mì trong tính nết

Quan điểm về Ngũ thường

Trong quan niệm Ngũ thường, Nho gia xác định năm tiêu chuẩn về đức tính là những quy định về giao tiếp, lễ nghi mà con người phải có, phải tuân

theo đó là năm phạm trù đạo đức: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

Nhân

Nhân trước hết là người, nhưng không phải chủ đích nói về người với tư cách là một thực thể mà hàm ý nhân nói về một đức lý tưởng của con người trong quan hệ giữa người với người Theo Nho gia đức lý tưởng này bao hàm trong nó mọi đức tính tốt đẹp khác Phùng Hữu Lan

cho rằng: “chữ nhân được Nho gia dùng như đại từ chỉ sự toàn đức của

con người” [32,123]

“Cầu nhân mà được nhân, còn oán ai nữa” [17,105]

Trang 32

“Như thánh với nhân, sao ta khôg dám” [17, 117]

“Người có chí và người có nhân chẳng vì lẽ bảo tồn sinh mạng mà làm hại đức nhân; hạng người ấy có khi phải tự mình quên sanh để giữ tròn đức nhân vậy” [17,243]

Người có nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân là

nghĩa rộng nhất của đạo làm người

Theo Nho gia đạo làm người có hàng trăm hàng vạn điều nhưng chung quy lại chỉ là những điều đối với mình và đối với người, nên nhân

có thể hiểu là cách cư xử với mình và với người

Đối với mình, người có nhân trước hết phải làm những việc khó,

sau mới hưởng thành quả mới có thể gọi là nhân [17, 93] Khác với

những người bất nhân người nhân sẵn sàng vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đó là vinh hoa hay đói nghèo, túng thiếu “Kẻ bất

nhân chẳng có thể bền chịu với cảnh nghèo túng, chẳng có thể an nhiên

lâu dài trong cảnh khoái lạc Người có nhân thì an vui với lòng nhân của mình, ở cảnh nào cũng vẫn yên ổn thảnh thơi [17, 51] Người nhân, trước

hết phải làm điều khó, rồi sau mới đến thu hoạch kết quả" [17, 93], là

"người cứng cỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói

thì gần với nhân" [17, 213] “Người có nhân cái cao cả nhất là đức nhân của mình” [17, 51], có thể vì nhân mà sát thân chứ không phải vì thân

mà hại nhân, “vì có đức nhân mà con người sẽ tự kiềm chế được mình để

tuân theo lễ tiết xã hội” [17, 181], “để vững vàng trầm tư như núi trước

mọi thử thách của cuộc đời” [17, 95] Người có đức nhân phải là người

“nghiêm trang chỉnh tề, rộng lượng, khoan dung, đức tín, lòng thành, siêng năng, cần mẫn, và biết thi ân bố đức [17, 273] Khổng Tử giải thích: việc nghiêm trang chỉnh tề sẽ làm người khác không khinh nhờn, rộng lượng khoan dung sẽ làm người khác bị thu phục, đức tính lòng

Trang 33

thành sẽ làm người khác tin cậy, thi ân bố đức sẽ làm người khác bị sai khiến và cần mẫn siêng năng sẽ đem lại nhiều điều bổ ích

Đối với người, nguyên tắc suốt đời của người có nhân là phải thương yêu người khác Khổng Tử nói: "Duy có bậc nhân mới thương

người và ghét người một cách chính đáng mà thôi" [17, 51]

Theo quan điểm của Nho gia nhân là trung – thứ Nhân là trung

tức là người nhân muốn tự lập lấy mình, thì phải lo lập cho người, muốn thành đạt cho mình thì cũng lo cho người thành đạt “Kỷ dục lập nhi lập

nhn, kỷ dục đạt nhi đạt nhn” [17,96]

Tử Cống hỏi: “Giả dụ có một người đưa lại nhiều điều tốt đẹp cho dân chúng, lại có thể giúp đỡ mọi người có một cuộc sống ấm no, người

như vậy có thể xem là người có đức nhân không?”

Khổng Tử nói: “Người như vậy, không chỉ là người có đức nhân mà còn là bậc thánh nhân nữa! Vua Nghiêu, Thuấn cũng khó làm được như vậy! Còn như người có đức nhân là người biết mình đã lập nên sự nghiệp rồi, cũng

muốn người khác lập nên sự nghiệp; mình thành đạt cũng muốn người khác thành đạt; phàm làm việc gì cũng cũng biết lấy mình để đối chiếu, lấy mình làm thử để hiểu biết ý muốn của người Đó là phương pháp trở thành người có

đức nhân vậy” [26,230]

Nhân là thứ tức là việc gì mình không muốn thì đừng đem cho

người khác “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” [17,248]

Tử Cống hỏi Khổng Tử : “Có câu nào nói mà có thể thực hiện được suốt đời không?”

Khổng Tử nói : “ Đó là thứ vậy Việc gì mình không muốn thì đừng

đem làm cho người khác” Ví như những việc phá hoại, trộm cướp, dâm loạn, láo lếu mà người ta gây ra cho mình thì mình thấy buồn khổ, vậy thì mình đừng gây những việc ấy cho người khác Khổng Tử cho rằng câu nói

Trang 34

này người ta nên thực hiện suốt đời Phàm làm việc gì, phải suy bụng ta ra bụng người, lấy tâm so tâm, lấy lòng so lòng Phàm cái gì mà mình muốn

có thì người khác cũng muốn có, nên phải để cho người ta có Phàm cái gì

mà mình muốn đạt được cũng phải để cho người ta đạt

Người có nhân là người tình cảm chân thực, hết lòng vì nghĩa, cho nên có nhân thì bao giờ cũng hiếu đễ, lễ nghĩa, trung thứ, kẻ bất nhân thì

đầy những trí thuật, rất khôn khéo, linh lợi mà tình cảm rất đơn bạc không thành thực, chỉ vì lợi không có lễ nghĩa dối trá, gian ác, phản loạn, lừa trên gạt dưới Bởi thế Khổng Tử nói rằng: “Kẻ nào miệng nói lời hoa mỹ; còn mặt mày thì trau chuốt, hình dạng thì kiểu cách, áo quần thì loè

loẹt; kẻ ấy hẳn kém lòng nhân” [17, 5]

con người luôn hướng về nhân thì con người không bao giờ nghĩ đến chuyện

hoảng loạn, do đó miệng không nói bậy và thân không chẳng làm lếu” [17,

51] Vì lẽ đó đức nhân cần thiết hơn cả những gì cần thiết khác “Nhân dân cần đức nhân hơn cả nước và lửa Ta còn nhìn thấy có người dẫm vào lửa, vào nước mà chết chứ ta chưa thấy ai dẫm vào đức nhân mà chết bao giờ” [17, 253] Đối với người cầm quyền, đức nhân như một thành trì để giữ gìn và bảo

vệ những gì họ đã đạt được Khổng Tử nói: “Mình có đủ tri thức để hiểu đạo

trị dân theo Thánh hiền, nhưng mình chẳng đủ lòng nhân để giữ gìn, dẫu mình

có được đạo ấy, rồi cũng mất đi” [17, 251] Khổng Tử chia những người có

đức nhân thành bậc thánh và bậc nhân Bậc thánh là những người thi ân bố

đức cho khắp dân gian và thường trợ giúp cho đại chúng Thông qua việc

hướng dẫn con người thực hiện đức nhân, trước hết Khổng Tử đã chú ý đến

việc tự khẳng định mình của mỗi thành viên trong xã hội Điều này cũng cho thấy một số quan điểm tích cực của Khổng Tử về vai trò tự ý thức, tự giáo dục

của chủ thể trong cuộc sống cộng đồng Tuy nhiên quan niệm về đức nhân của

Trang 35

Khổng Tử cũng chỉ là mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp của giai cấp thống

trị Điều này cũng dễ nhận thấy, bởi quan điểm về người có nhân của Khổng

Tử là người phải chấp nhận tất cả mọi hoàn cảnh để vui với cái cao cả nhất là

đức nhân “Người có nhân thì an vui với lòng nhân của mình, ở cảnh nào

cũng vẫn yên ổn thảnh thơi” [17, 51]

Nhân được xây dựng trên cơ sở quan hệ huyết thống, tức thương

người có phân biệt thân sơ, gần xa, ít nhiều đậm nhạt khác nhau xuất phát từ gia đình, họ hàng đến làng nước Trong đó tình yêu thương, kính trọng cha mẹ, anh em trong gia đình là cao hơn cả rồi mới đến họ hàng trong dòng tộc đến làng, nước Bởi theo lẽ thường, thì cha mẹ và anh em chị em là người thân thiết của ta, tất là ta phải kính yêu, rồi đối với người ngoài mới có lòng từ ái, ở với anh em không kính thuận, tức là tình cảm của ta rất bạc, làm thế nào thành được người nhân Khổng Tử nói: “Dựng lòng kính khởi đầu từ cha mẹ, là dạy dân hòa mục vậy Dựng lòng kính khởi đầu từ người huynh trưởng, là dạy dân kính thuận vậy Lấy từ mục mà dạy dân, thì dân biết quý có cha mẹ, lấy kính người huynh trưởng mà dạy dân, thì dân biết quý sự theo mệnh lệnh người trên

Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để vâng mệnh lệnh người trên, đem

những điều ấy mà thi thố ra thiên hạ, thì không có điều gì không làm

được” [31, 105] Vì lẽ đó, Hiếu đễ là nguồn gốc của nhân

Theo Khổng Tử, cội nguồn của nhân là hiếu, cũng có lúc hiếu với

nhân là một Hiếu theo Khổng Tử là vô vi, vô cải

Vô vi là phụng sự cha mẹ không trái với lễ Tức là phải có tâm, có

lòng thành với cha mẹ, khi cha mẹ còn sống phận con phải luôn vui vẻ, không được đi xa, nếu thấy cha mẹ phạm phải lỗi lầm thì nên căn ngăn dịu ngọt, nếu cha mẹ không nghe thi phận làm con vẫn phải tỏ lòng kính

Trang 36

trọng, nếu bị cha mẹ đánh đập hoặc bắt phải làm những việc khó khăn thì phận làm con cũng không được đem lòng oán giận

không ngon, ngủ không yên và ngay cả trong yến tiệc, hội hè cũng không tìm thấy niềm vui khuây khoa” [60, 489 – 450]

Vô cải là nối chí nối nghiệp cha Khổng Tử giảng rằng: “Trong khi cha mình còn sanh tiền, mình nên xem xét chí hướng, ý tứ của cha mình: Như tốt lành, chính đáng thì mình bắt chước theo Khi cha mình mất đi rồi, mình nên quan sát những việc làm của người, như phải thì mình làm theo Cha mình mất trong ba năm mà mình chẳng đổi đạo nghệ của cha,

đó mới gọi là con có hiếu” [17,9]

Như vậy có thể nhận thấy quan điểm về hiếu đối với Khổng Tử là

sự phục tùng, song phục tùng theo đạo phải, chứ không phục tùng một

cách thuận thụ, không biết phân biệt phải trái gì cả Mạnh Ý Tử hỏi hiếu

Khổng Tử đáp lại rằng: “Vô vi”, rồi sau Phàn Trì không hiểu rõ nghĩa

hai chữ ấy, mới hỏi lại Ngài giải nghĩa rõ là: “ Sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế” Vậy sự vô vi đó là sự thờ cha mẹ cho đúng lễ Lễ là hợp nghĩa lý, là vừa phải chứ không thái quá hay bất

cập, miễn là vừa sức nhà giàu hay nhà nghèo mà làm cho phải lẽ thường

Ở một góc độ khác, quan điểm về hiếu Khổng Tử cho rằng phận

làm con phải phục tùng vô điều kiện, che chở vô điều kiện đối với cha

mẹ mình Diệp Công nói với Khổng Tử: “Chỗ tôi có người rất ngay thẳng, cha ăn trộm dê mà con đứng ra làm chứng Khổng Tử đáp lại:

“Người ngay thẳng chỗ chúng tôi cũng có nhưng không xử sự như vậy Cha che chở cho con, con che chở cho cha Cái ngay thẳng nằm ngay trong việc ấy” [17,207]

Trang 37

Kế thừa quan điểm này của Khổng Tử, Mạnh Tử đẩy tư tưởng về

hiếu lên đến đỉnh điểm Mạnh Tử khẳng định rằng: “Thực chất của nhân

là hiếu” Hiếu trở thành ý nghĩa lớn lao nhất trong cuộc sống, là sự yêu

thương người thân một cách tuyệt đối

Đào Ứng hỏi: “Nếu khi ông Thuấn làm vua mà cha của ông Thuấn phạm tôi giết người thì ông Thuấn xử lý thế nào? Mạnh Tử đã không ngần ngại trả lời : Ắt vua Thuấn chẳng màng ngôi vương, sẽ coi thiên hạ như đôi dép rách, quên phắt nó đi để cõng cha trốn chạy”

Như vậy, nhân là nghĩa rộng nhất đạo làm người, là nội dung cơ

bản nhất trong quan niệm ngũ thường của Nho gia Tuy nhiên, nội dung

của nhân cũng chỉ dừng lại ở tính phổ quát Để hiểu rõ nội dung của

nhân thì phải tìm hiểu nghĩa, lễ, trí, tín mới thấy được sự cụ thể hóa của

nội dung nhân, thấy được cách thức thực hiện và con đường đạt tới nhân

Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín có mối quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc và

bổ sung cho nhau trong đó nhân là nguồn gốc của các đức tính khác Năm đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín tạo thành trục chính trong tư tưởng đạo

đức Nho gia

Nghĩa

Theo Nho gia, nghĩa được hiểu là những gì hợp với đạo lý mà con

người phải làm, bất kể làm điều đó có đem lại cho người thực hiện lợi ích gì hay không Khổng Tử nói “Bậc quân tử làm việc cho đời, không có

việc gì người cố ý làm, không có việc gì người cố ý bỏ, hễ hợp nghĩa thì làm” [17, 55] “Bậc quân tử tinh tường về việc nghĩa; kẻ tiểu nhân rành

rẽ về việc lợi” [17, 59] Khổng Tử cho rằng: Muốn làm việc gì, trước

phải xem xét coi có hợp nghĩa, phải lẽ, rồi mới làm Nghĩa tức là lợi ích

vì người khác, lợi ích vì dân tộc, xã hội và quốc gia Lợi tức là tư lợi, lợi

nhỏ của cá nhân Nghĩa tức là nói lợi ích trong phạm vi lớn Người có

Trang 38

đạo đức cao thượng, suốt đời phấn đấu cho sự thành công của sự nghiệp chung, lợi ích của tập thể Người không có đạo đức chỉ biết đến lợi ích

cá nhân, theo đuổi những dục vọng thấp hèn Người quân tử làm việc bao giờ cũng thuỷ chung, Kẻ tiểu nhân thấy lợi thì tranh giành nhau, hết lợi thì hết tình nghĩa

Mạnh Tử cho rằng nghĩa đối lập với lợi

“Mạnh Tử đến gặp vua Lương Huệ Vương

Vua Lương Huệ Vương hỏi : Cụ Mạnh, cụ chẳng ngại đường xa nghìn dặm tới đây, chắc hẳn là đem đến cho nước ta nhiều điều lợi lắm?

Mạnh Tử thưa: Thưa đức vua Vua hễ nói ra là phải nói đến điều

lợi ư ? Nói nhân nghĩa có hơn không? Nếu Vua cứ hỏi: “ Làm thế nào để

cho nước ta có lợi”? thì các đại phu cũng có thể hỏi: “Làm thế nào để gia tộc ta có lợi?” và kẻ sĩ cùng trăm họ nói chung cũng có thể hỏi: “Làm thế nào cho bản thân ta có lợi?” Cứ như vậy từ trên xuống dưới đều theo đuổi tư lợi, nước nhà sẽ nguy to!

Nước có vạn binh xa, kẻ giết vua nhất định là hạng đại phu có nghìn binh xa gây nên Nước có nghìn binh xa, kẻ giết vua nhất định là hạng đại phu

có trăm binh xa gây nên Vua thu thuế cứ mười nghìn lấy một nghìn, một nghìn lấy một trăm, lợi ấy không phải không nhiều

Nhưng ai cũng tuỳ tiện coi nhẹ việc nghĩa mà gạt ra sau, coi trọng

việc lợi mà đưa lên trước thì chưa cướp đoạt hết của nhau sẽ chưa thỏa lòng mãn nguyện

Từ trước đến nay, chưa có ai quý điều nhân mà ruồng bỏ cha mẹ, chưa ai trọng điều nghĩa mà dám ngạo mạn với vua Vì vậy nhà vua nên nói về nhân nghĩa, việc gì cứ phải nói về điều lợi?” [60, 545]

Nghĩa đồng nghĩa với nhân Trong lời dạy của mình Khổng Tử thường

nhấn mạnh đến chữ nhân Khổng Tử nói: “Bậc chí sĩ có nhân đức không bao

Trang 39

giờ cầu được để sống để làm hại đạo nhân, mà có khi còn dám hi sinh thân mình để thi hành đạo nhân”[60, 435] Bậc chí sỹ là người có học thức và có chí khí, quyết tâm làm điều mà mình cho là phải Bậc chí sĩ có nhân đức là người thường coi việc sống không trọng bằng việc nghĩa, giữ cho đức được

toàn vẹn thì lòng mới yên Vì vậy, có lúc để thực hiện lý tưởng của mình, bậc chí sĩ có nhân đức dám hi sinh thân mình

Mạnh Tử thì ví sinh mạng của con người như cá, đức nghĩa như

bàn tay gấu Giữa hai món ấy được chọn một, nho sỹ không ngần ngại gì khi phải bỏ cá Ông viết: “ Cá là món ta thích ăn, bàn tay gấu là món ta cũng chuộng Nếu chẳng được luôn cả hai món ấy một lượt, ta sẽ bỏ cá

mà lựa bàn tay gấu Sống thì ta cũng ham, nghĩa thì ta cũng mộ Nếu chẳng được cả hai thứ một lượt, ta sẽ bỏ mạng sống để giữ lấy chữ nghĩa

mà thôi” [60,163]

Như vậy, nhân và nghĩa có mối liên hệ mật thiết với nhau hình

thành nên phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà con người hướng tới Mạnh Tử

nói: “Nhân, đó là lương tâm của con người Nghĩa, đó là con đường

chính đại của con người Vứt bỏ con đường chính nghĩa mà không đi, đánh mất bản tính lương tâm của mình mà không biết tìm về, những kẻ như vậy thật đáng thương” [60, 745]

Trong quan điểm của Khổng Tử con người sẵn sàng chết vì nhân, đến Mạnh Tử con người sẵn sàng chết vì nghĩa thì nhân và nghĩa có khác gì nhau Vì vậy, nghĩa đồng nghĩa với nhân Trong nội dung của nghĩa hàm chứa nội dung của nhân, đó là sự kính trọng, lòng yêu thương con người,

hành vi ứng xử với người mà không tính đến lợi Tuy nhiên, trong mối quan

hệ nội dung giữa nhân và nghĩa, nghĩa góp phần làm sáng tỏ một phần trong nội dung của nhân Nhân được xem là toàn đức, hàm chứa trong đó không chỉ nội dung của nghĩa mà còn bao quát nhiều đức tính khác như lễ, trí, tín…

Trang 40

cho nên mối quan hệ giữa nhân và nghĩa là quan hệ bổ sung Nghĩa bổ sung góp phần làm sáng tỏ nội dung của nhân

Nhân, nghĩa là những đức tính tốt đẹp mà Nho gia muốn con người

hướng tới nhằm ổn định trật xã hội Để thực hiện nội dung nhân, nghĩa

cần phải có những quy định, những cách thức cụ thể Cách thức để thực

hiện nhân, nghĩa là lễ

Lễ

Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, khởi nguyên của chữ lễ

mang tính chất tôn giáo tức là dùng để chỉ nói cách thờ thần cho được phúc mang ý nghĩa cúng tế Đến thời nhà Chu vì mục đích tôn giáo hoá

chính trị, lễ trở nên đa dạng và phúc tạp hơn Lễ được chia thành năm loại gọi là ngũ lễ gồm : Cát lễ, Hung lễ, Quân lễ, Tân lễ, Gia lễ

Cát lễ là những quy định về tế tự Tế tự là việc linh thiêng nhất nên Cát lễ đứng đầu các lễ

Hung lễ là những quy định về ma chay, thiên tai, nhân họa

Quân lễ là những quy định về phục vụ chiến tranh, về hoạt động săn bắn, kiến tạo thành lũy

Tân lễ là những quy định về triều chính

Gia lễ là những quy định trong sinh hoạt đời thường, trong các quan hệ huyết tộc

Lễ lúc này không chỉ mang tính chất tôn giáo mà còn là những quy

định có tính chặt chẽ đối với những hoạt động của cá nhân, gia đình, hoạt động xã hội

Vì muốn khôi phục lại tôn chỉ của nhà Chu và nhận thấy rất có ích trong việc thực hiện học thuyết chính danh của mình, Khổng Tử rất coi trọng

lễ Theo Khổng Tử căn cứ vào lễ có thể xác định vị trí từng người trong các

quan hệ “Sách Lễ Ký có viết: Không có lễ không thể thờ thần của trời đất cho

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w