Trên cương vị là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh thấy được mối nguy hại của các tệ nạn gắn với nhà nước, với những người có chức, có quyền, nhất là trong đi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-000 -
NGUYỄN QUỲNH ANH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ VÀ NHỮNG BÀI HỌC ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-000 -
NGUYỄN QUỲNH ANH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ VÀ NHỮNG BÀI HỌC ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ ĐÌNH LỤC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Người cam đoan
Nguyễn Quỳnh Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 01
PHẦN NỘI DUNG 07
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô,
LÃNG PHÍ……… 07
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí… 07 1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí……… 07
1.1.2 Tiền đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí… 13 1.1.3 Phẩm chất cá nhân và trải nghiệm của Hồ Chí Minh 25
1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí 29
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tham ô, lãng phí và nguyên nhân, tác hại của tham ô, lãng phí 29
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương hướng, biện pháp đấu tranh chống tham ô, lãng phí 41
Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 65
2.1 Thực trạng tham nhũng và cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay 65
2.1.1 Nhận thức chung về tham nhũng……… 65
2.1.2 Thực trạng tham nhũng ở Việt Nam hiện nay 68
2.1.3 Thực trạng cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay 80
Trang 52.2 Những bài học rút ra từ việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt
Nam hiện nay 90
2.2.1 Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh với tham nhũng……… 93
2.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật để đấu tranh với tham nhũng 97
2.2.3 Đẩy mạnh việc phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng……… 102
2.2.4 Nâng cao hiệu quả việc phát hiện, xử lý tham nhũng……… 108
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là một “quốc nạn” gây thiệt hại lớn về nhiều mặt cho mọi quốc gia Nó làm suy yếu năng lực kinh tế, làm chậm quá trình phát triển của đất nước, khiến nhân dân mất lòng tin vào bộ máy lãnh đạo và đội ngũ cán bộ thi hành đường lối, chính sách… Ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam hiện nay, tham nhũng còn làm xấu đi hình ảnh của chúng ta trong mắt các bè bạn, tổ chức quốc tế, dẫn đến thái độ e ngại, dè dặt của họ trong các hoạt động đầu tư, viện trợ, cho vay Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “tham nhũng” là một trong bốn nguy cơ, thách thức lớn của đất nước, là
kẻ thù của công cuộc đổi mới Đấu tranh chống tham nhũng trở thành vấn đề
có tính sống còn, là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách không chỉ đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan công quyền mà còn là trách nhiệm chung của tất cả các tầng lớp nhân dân Trên thực tế, cuộc đấu tranh chống tham nhũng
đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo rất kiên quyết, song, hiệu quả cuộc đấu tranh này vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tại Hội nghị lần thứ 3, khóa X, Đảng nhận định:
“Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt ”[18, tr.12]*
Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, sáng lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Trên cương vị là người đứng đầu Đảng cầm quyền, đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh thấy được mối nguy hại của các tệ nạn gắn với nhà nước, với những người có chức, có quyền, nhất là trong điều kiện người có chức, có quyền lại là đảng viên của một đảng vừa lãnh đạo thành công nhân dân ta đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược,
*
Từ đây: - Số thứ nhất là số thứ tự của tài liệu tham khảo
- Số thứ hai trở đi là số trang của tài liệu tham khảo.
Trang 7giành độc lập cho Tổ quốc Vì vậy, trong các bài nói và viết của mình, ngay
từ những ngày đầu giành được chính quyền cho đến sau này, Người rất chú ý đến giáo dục cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, và cũng chính Hồ Chí Minh là người lãnh đạo nhà nước Việt Nam dân chủ đầu tiên đề cập việc chống tham ô, lãng phí, coi chúng là giặc “nội xâm” cần phải loại trừ Người đã vạch rõ bản chất, các hình thức biểu hiện, tính chất nguy hiểm của tham ô, lãng phí và đưa ra phương hướng, biện pháp đấu tranh phòng, chống các tệ nạn đó Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí là di sản vô cùng quý giá, có giá trị to lớn đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và dân tộc”[12, tr.127] Từ đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đã được tiến hành một cách rộng rãi, toàn diện và
có hệ thống hơn Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu bước đầu mới chỉ thống nhất ở một số nội dung cơ bản: Nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh; Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, về nhà nước của dân, do dân, vì dân; Tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức, nhân văn, văn hóa; Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Thực tế còn nhiều nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về chống tham ô, lãng phí chưa có điều kiện được tìm hiểu sâu Theo đó, việc nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về chống tham
ô, lãng phí nhằm tìm kiếm, xây dựng nền tảng tư tưởng và cơ sở lý luận, từ đó rút ra những bài học góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam là một việc làm rất cần thiết
cả về phương diện lý luận và thực tiễn
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí và những bài học đối với
Trang 8cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” để làm luận văn
tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Triết học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Là nền tảng, cơ sở lý luận cơ bản của cách mạng Việt Nam nên tư tưởng
Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu bởi rất nhiều công trình khoa học, với những nội dung, theo các mục tiêu, ở nhiều cấp độ và do các tác giả khác nhau tiến hành Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí đã có một
số công trình, bài viết nghiên cứu, tiếp cận trên những phương diện sau:
Thứ nhất, những công trình, bài viết ít nhiều đề cập trực tiếp đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí Có thể kể đến Tư tưởng Hồ Chí Minh
với vấn đề chống tham nhũng của Bùi Mạnh Cường, Nxb.Lao động – Xã hội
(2003), tác phẩm này là tập hợp những bài viết thể hiện một số luận điểm của
Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí, quan liêu và vận dụng những luận
điểm đó vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; Cuốn Tệ quan liêu,
lãng phí và một số giải pháp phòng chống của các tác giả thuộc Ban chỉ đạo
Trung ương 6 (2) - Viện khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia
(2006), đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về quan liêu, lãng phí và giải pháp phòng, chống đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa những tệ nạn này với tham ô… Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí cũng được thể
hiện qua một số bài viết trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Tìm hiểu, học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ
Chí Minh tổ chức năm 2009, cụ thể là: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với
vấn đề thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí của Bùi Bá Linh; Tu dưỡng đạo đức, chống tham ô, lãng phí, quan liêu theo tư tưởng Hồ Chí Minh
của Trần Văn Nhưng; Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng,
lãng phí trong giai đoạn hiện nay của Hoàng Xuân Sơn…
Trang 9Thứ hai, những công trình, bài viết phản ánh tình trạng tham nhũng và
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay Một số tác
phẩm tiêu biểu như: Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam và thế giới của
Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Hoà Bình và Bùi Minh Thanh (Chủ biên),
Nxb.Công an nhân dân (2007); Nhận diện tham nhũng và các giải pháp
phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay của Phan Xuân Sơn và Phạm
Thế Lực (Chủ biên), Nxb.Chính trị quốc gia (2008); Tham nhũng và chống
tham nhũng ở nước ta của Vũ Xuân Kiều, Tạp chí Cộng sản (số 9/1996); Tham nhũng và chống tham nhũng của Đoàn Văn Khuy, Báo Sài Gòn giải
phóng (ngày 10/3/2002) Các công trình, bài viết trên đã vạch rõ thực trạng, tính chất nguy hiểm, nguyên nhân của tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đồng thời đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng Ở đây, những luận điểm của Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí được đề cập với tư cách là một trong những nền tảng
tư tưởng, phương pháp luận quan trọng để các tác giả xây dựng khung lý thuyết cho công trình khoa học của mình
Thứ ba, các công trình, bài viết nghiên cứu những lĩnh vực khác trong tư
tưởng Hồ Chí Minh như tư tưởng về chính trị, về đạo đức, song có những nội dung liên quan đến tư tưởng về chống tham ô, lãng phí Với những công trình
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, có thể kể đến Tư tưởng chính
trị của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh của Lê Minh Quân,
Nxb.Chính trị quốc gia (2009); Đại cương lịch sử các tư tưởng và học thuyết
chính trị trên thế giới của Nguyễn Thế Nghĩa (Chủ biên), Nxb.Khoa học xã
hội (1999)… Trong hai tác phẩm trên, các tác giả đã khái quát những luận điểm chính trị của Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, vạch ra sự nguy hiểm của sự tha hoá quyền lực nhà nước đối với sự tồn vong của nhà nước Với những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 10về đạo đức, có thể kể đến Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - Truyền thống dân
tộc và nhân loại do Vũ Khiêu chủ biên, Nxb Khoa học xã hội (1993); Tìm hiểu tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh của Nguyễn Thế Thắng,
Nxb.Lao động (2002); Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cho cán
bộ, đảng viên của Phạm Quốc Thành, Nxb.Chính trị quốc gia (2004)… Những
công trình đó đã làm rõ những phẩm chất đạo đức của người cách mạng theo
tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu lên những nguyên tắc tu dưỡng đạo đức, qua đó chống tham ô, lãng phí, quan liêu
Mặc dù thấy được tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí, song, những công trình, bài viết nói trên mới chỉ dừng lại ở việc bàn luận, nêu suy nghĩ, cảm tưởng về tấm gương, lời nói, việc làm, sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh hoặc nêu ra một số quan điểm cụ thể trong tư tưởng của Người mà chưa thật sự đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vận dụng tư tưởng đó vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí và
những bài học đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, mục đích của luận văn là xác lập cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, từ đó
rút ra những bài học nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
Để đạt được những mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm
vụ sau đây:
Thứ nhất, phân tích làm rõ cơ sở hình thành và những nội dung cơ bản
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí
Thứ hai, phân tích thực trạng tham nhũng và cuộc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, rút ra những bài học đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở
Việt Nam hiện nay
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó tác giả cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp thống kê và so sánh
- Phương pháp lịch sử và logíc
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí, chú trọng vào những nội dung cơ bản nhất như: bản chất, nguyên nhân, tác hại của tham ô, lãng phí; phương hướng, biện pháp đấu tranh chống những tệ nạn này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở hình thành và những nội
dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí
Về thực tiễn, luận văn đã đánh giá thực trạng tham nhũng và cuộc đấu
tranh chống tham nhũng ở Việt Nam, rút ra những bài học đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng và có thể sử dụng vào việc hoạch định chính sách, pháp luật để phòng, chống tệ nạn này Ngoài ra, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết
Trang 12Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ
Sự hình thành của bất cứ một tư tưởng nào cũng là kết quả của sự tương tác giữa yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan Đó là sự phản ánh điều kiện sinh hoạt của xã hội đương thời; sự kế thừa, chắt lọc những quan điểm, học thuyết tồn tại từ trước và sau cùng khúc xạ qua lăng kính của cá nhân nhà tư tưởng Tư tưởng Hồ Chí Minh về tham ô, lãng phí dĩ nhiên cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí
Vào cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn tư bản độc quyền, tức là chủ nghĩa đế quốc Để mở rộng thị trường, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản , các nước đế quốc đua nhau phát động các cuộc chiến tranh xâm lược, tranh giành thuộc địa
và nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng vây kìm kẹp của chúng Tính đến năm 1914, các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật đã chiếm hữu một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân 523,4 triệu người (trong khi diện tích các nước đó chỉ là 16,5 triệu km2 và dân số là 437,2 triệu)
Không chỉ đàn áp, bóc lột nhân dân ở các nước thuộc địa, bộ máy cai trị của chủ nghĩa đế quốc và tay sai còn không từ bất cứ thủ đoạn nào để vơ vét của cải, công sức của nhân dân chính quốc Bởi vậy, qua nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã nhận rõ tính chất tiêu cực của chế độ chính trị tư sản, đó là “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân thuộc địa, một vòi hút máu nhân dân chính quốc Người đã đi đến kết luận: chủ nghĩa tư sản, đế quốc
ở đâu cũng tàn bạo, bất công; người lao động ở đâu cũng bị đọa đày, đau khổ,
Trang 13“dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”[44, tr.266] Tuy nhiên, chính sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc đã khoét sâu những mâu thuẫn của thời đại, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của những con người cùng khổ trên toàn thế giới Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc đã gắn phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phong trào công nhân lại với nhau ngày một chặt chẽ Năm 1917, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga “đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người”[55, tr.300 – 301] Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới đã phá vỡ một mắt khâu quan trọng trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, đưa chủ nghĩa xã hội từ chỗ là ước mơ cao đẹp của loài người trở thành hiện thực Mặc dù gặp nhiều khó khăn, song, nhà nước Xô - Viết non trẻ đã lèo lái con thuyền cách mạng đứng vững trước thù trong, giặc ngoài, chống mọi tiêu cực, lạc hậu, thể hiện bản chất tốt đẹp, trong sạch của một chế độ chính trị thực sự của dân, do dân và vì dân Những thắng lợi đó là nguồn cổ vũ lớn lao, cho các dân tộc thuộc địa và hàng triệu triệu con người cần lao vùng lên giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội
Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX cho đến khi bị thực dân Pháp xâm lược vẫn
là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu; chế độ phong kiến đang trên bước đường suy vong Sự thực bộ máy chính trị nhà Nguyễn ngay từ đầu đã mang nặng tính chất quan liêu, độc đoán và sâu mọt Bậc quân vương chẳng qua là “đại địa chủ” lớn nhất trong nước, có toàn quyền phung phí tài sản quốc gia trên xương máu của nhân dân; quan lại thì phần nhiều là bọn hủ bại, bảo thủ, cầu
an, tham lam, cuồng bạo Nhà nước thực hiện chính sách tô thuế nặng nề; đất đai bị quan lại, địa chủ lũng đoạn; công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp bị o ép, cưỡng bức Với chính sách cai trị phản động của mình, nhà
Trang 14Nguyễn đã triệt tiêu những tiềm lực phát triển của đất nước, kinh tế - chính trị khủng hoảng, người dân lâm vào cảnh quẫn bách, đời sống hết sức cơ cực, các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở nhiều nơi Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây Chỉ khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vang lên, giai cấp phong kiến “mới bừng tỉnh”, song, thay vì chống xâm lược, bảo vệ đất nước, chúng lại từng bước nhân nhượng, cầu hoà và cuối cùng đầu hàng để gìn giữ lợi ích cho mình; không những thế chúng còn câu kết với Pháp quay lại đàn áp những cuộc đấu tranh của nhân dân ta Bởi vậy, khi ánh sáng Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) đã bừng cháy rực rỡ thì cả dân tộc Việt Nam vẫn đắm chìm trong ách thống trị của chế
độ thực dân, phong kiến tàn bạo
Sau khi đã cơ bản hoàn thành công việc bình định Việt Nam về mặt quân
sự, thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1933) Sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản đã khiến tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới Tuy nhiên, thực dân Pháp không mang đến phương thức sản xuất tư bản hoàn chỉnh mà vẫn duy trì quan
hệ kinh tế phong kiến; kết hợp phương thức bóc lột tư bản với phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Việc phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp
và thương nghiệp chỉ hướng tới việc bóc lột hiệu quả và mang lại lợi ích cho nước Pháp nhiều nhất; những khoản thuế vốn đã nặng nề lại ngày càng nặng
nề hơn, bởi chúng nghĩ “trên chiếc lưng cao su của người An Nam, nhà nước tha hồ kéo dài mức thuế co dãn”[21, tr.11]
Về chính trị, thực dân Pháp xây dựng ở nước ta một bộ máy hành chính mang tính đàn áp nặng nề với các công cụ trấn áp như quân đội, cảnh sát, toà
án, nhà tù; chúng cũng thực hiện chính sách “chia để trị”, dùng “người Việt để trị người Việt” Trong bộ máy đó, những viên quan “khai hóa” thực chất là
Trang 15những kẻ tham ô, hủ hóa, ăn chơi phè phỡn, lãng phí tiền bạc của những người dân An Nam khốn khổ Hồ Chí Minh đã đưa dẫn chứng một nhà khai hóa điển hình, một quan tri huyện chuyên ăn hối lộ là Buđinô đã dàn xếp việc làng Tân An đóng góp và vay tiền để làm trạm điện nhưng sau đó lại “nhượng không trạm điện cho một anh thầu khoán, để hưởng cái thú phải trả tiền điện thắp sáng các nhà công cộng và đường làng Rồi người ta bỗng nhận thấy nên chuộc lại đặc quyền đã nhượng không và muốn thế làng phải xếp ra mấy chục nghìn đồng”[44, tr 152] Một ví dụ khác có thể kể đến là:
“Một anh chủ thầu cống rãnh nào đó giao ống nước bằng vôi thay cho ống xi măng, ống không đầy một mét lại khai là dài ba mét, rồi chia nhau với các ông hội đồng thành phố là người Âu 1.600.000 phrăng Một ông kỹ sư khác, đồng thời kiêm nhiệm cả nhiệm vụ phó thống lý, biển thủ 300.000 phrăng trong việc xây cống rãnh và sửa sang lại một đường phố Một ông kỹ sư địa chính và hội đồng thuộc địa nào đó đút túi hơn 900.000 phrăng tiền công đo đạc để lập bản đồ đất đai ở ba tổng Và, vì thấy ngài “thanh liêm” lắm và có chân trong công ty độc quyền hải cảng Sài Gòn, nên Chính phủ vừa mới giao cho ngài làm luôn cả các công việc đạc điền ở nhiều tỉnh khác”[44, tr.391]
Chuyện làm đường xe lửa ở Đông Dương cũng là một minh chứng cho sự lãng phí và tham ô của những viên quan Pháp nói riêng và cả bộ máy thực dân cai trị nói chung: “Có nước nào trên thế giới dám khoe như Đông Dương có nguyên liệu và nhân công rẻ mạt mà dám làm một đường xe lửa phải tốn phí
từ 16 đến 20 phrăng một xăngtimét không ? Đường Lạng Sơn, đắp để dùng vào việc bình định vùng ấy, dự trù hết có 4 triệu, nhưng làm xong tốn đến 38 triệu Chỉ việc nghiên cứu để đặt đường xe lửa ở Đông Dương cũng đã tốn hết số tiền lớn có thể đủ làm cả quãng đường ấy”[44, tr.393 – 394]
Trang 16Không kém các nhà “khai hóa” Pháp, những quan chức tay sai người Việt cũng dùng mọi thủ đoạn để vơ vét, bòn rút tiền bạc của nhân dân để sống
xa hoa, lãng phí Bởi vậy, ngay cả một người Pháp khi đến Đông Dương cũng phải thốt lên: “Nếu đem so sánh với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện”[44, tr.370]
Về văn hóa, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, ngu dân, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các tệ nạn như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc Vì thế, Hồ Chí Minh đã viết: “rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại”[44, tr.28] Những chính sách trên của thực dân Pháp đã làm cho kết cấu xã hội - giai cấp của Việt Nam có sự phân hoá mạnh mẽ Giai cấp địa chủ được chia thành
ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ; một bộ phận không nhỏ tiểu, trung địa chủ mâu thuẫn về mặt lợi ích và không chịu nỗi nhục mất nước nên
đã tham gia chống thực dân và bọn phản động bán nước Giai cấp nông dân vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất khi bị đẩy vào con đường bần cùng hóa, không lối thoát đã trở thành lực lượng đông đảo nhất, là động lực cơ bản của cách mạng Giai cấp tư sản Việt Nam cũng có một bộ phận gắn
bó, làm tay sai cho thực dân - đế quốc (tư sản mại bản), bên cạnh đó là những
tư sản loại vừa và nhỏ bị tư bản Pháp chèn ép, có tinh thần chống xâm lược, giành độc lập dân tộc (tư sản dân tộc) Tầng lớp tiểu tư sản bao gồm tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do cũng là bộ phận có lòng yêu nước nồng nàn, lại
bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng Giai cấp công nhân Việt Nam tuy non trẻ song đã phát triển nhanh chóng và là lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để, lại mang bản chất quốc tế; giai cấp công nhân khi liên minh với giai cấp nông
Trang 17dân và tư sản dân tộc, tiểu tư sản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do
Có thể nói, những gì mà thực dân Pháp mang đến cho nhân dân Việt Nam không phải là sự “khai hoá văn minh”, mà là sự chuyên chế về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa; các quyền cơ bản của con người bị tước đoạt, chà đạp một cách thô bạo Hồ Chí Minh từng nói về “nhà khai hoá” như sau: “khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể làm những
việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất”[45, tr.56] Song, sự áp bức và
bóc lột của thực dân Pháp gia tăng bao nhiêu thì tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và lòng tự tôn dân tộc của nhân dân ta càng được hun đúc mạnh mẽ bấy nhiêu Các phong trào chống Pháp, giải phóng dân tộc với nhiều hình thức phong phú và đa dạng đã bùng cháy ở khắp nơi trên đất nước Song, các phong trào ấy đều lần lượt thất bại, bị đàn áp dã man, bởi không được sự soi
sáng của một lý luận cách mạng đúng đắn, khoa học Điều kiện lịch sử - xã
hội đầy sôi động đó đã góp phần hình thành ở Hồ Chí Minh tư tưởng về giải phóng dân tộc và xây dựng một nhà nước trong sạch, thật sự hướng tới nhân dân, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân Trong nhà nước đó, những cán bộ,
viên chức nhà nước phải thật sự là công bộc của nhân dân và những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong môi trường quyền lực chính trị (tham ô, lãng phí, quan liêu) cần phải được tiêu trừ
Bên cạnh hoàn cảnh, điều kiện đã nêu, sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí còn chịu sự ảnh hưởng của quê hương và gia đình của Người Nghệ Tĩnh là mảnh đất anh hùng, là “lá cờ đầu” của phong
trào chống thực dân Pháp lúc bấy giờ; chốn địa linh, nhân kiệt ấy cũng là quê hương của nhiều bậc hiền nhân, chí sĩ ôm hoài bão to lớn, giàu lòng yêu nước, thương dân như Trần Tấn, Đặng Như Mai, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi với nhân dân, các anh chị của Người đều tham gia hoạt động cách mạng và bị bắt
Trang 18bớ, tù đày hàng chục năm Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1863 - 1929), thân phụ của Người là tấm gương lớn của một vị quan thanh liêm, hết lòng với dân, với nước Những phẩm chất, nhân cách được hình thành từ nền giáo dục của gia đình, những truyền thống của quê hương đã dẫn dắt Hồ Chí Minh nhận thức được tội ác của thực dân phong kiến, sự thối nát của chế độ chính trị mà chúng áp đặt trên đất nước Việt Nam Đây là hành trang chuẩn bị của Hồ Chí Minh trên bước đường tìm kiếm chân lý giải phóng dân tộc, cũng là cơ
sở hình thành tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về chống tham ô, lãng phí
1.1.2 Tiền đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí được hình thành trước hết trên cơ sở tiếp thu truyền thống yêu nước, thương dân, cần cù, tiết kiệm và những quan điểm chống tham ô, lãng phí trong lịch sử dân tộc
Dân tộc Việt Nam có những truyền thống văn hoá vô cùng quý báu,
những truyền thống đó đã hun đúc nên tâm hồn, trí tuệ và khí phách của Hồ Chí Minh Trong bảng giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam thì truyền thống yêu nước là nhân tố cơ bản đứng đầu Chính lòng yêu nước đã tạo cho nhân dân ta ý chí quật cường, không quản ngại hy sinh gian khổ bảo vệ nền độc lập cho nước nhà, đấu tranh chống những trở lực đi ngược lại với lợi ích của dân, của nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng
vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[49, tr.171] Truyền thống yêu nước không chỉ là tình cảm, phẩm chất, tinh thần mà còn là trí tuệ, hành động, là dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam, là cơ sở hình thành truyền thống vì dân, thương dân, yêu nước luôn gắn liền với thương dân, thể hiện bằng những việc
Trang 19làm mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân đó là chăm lo phát triển kinh tế, xây dựng một nhà nước trong sạch với những vị quan thanh liêm, hết lòng vì dân Bên cạnh truyền thống yêu nước, thương dân, dân tộc Việt Nam còn là một dân tộc cần cù, chăm chỉ lao động và biết tiết kiệm, chắt chiu, dành dụm; đó là một yếu tố giúp cho đất nước vượt qua những giai đoạn
khó khăn, gian khổ, vững vàng trước những sóng to, bão lớn
Chính bởi truyền thống yêu nước, thương dân, cần cù, tiết kiệm nên nhân dân Việt Nam đã tỏ thái độ căm ghét với hiện tượng “tham ô”, “lãng phí”, coi
đó là kẻ thù, là ung nhọt cần phải loại bỏ Những khi nhà nước không thật sự
vì dân, quan lại chỉ biết đục khoét, ăn chơi, thì nhân dân xem chúng không khác phường cướp giật:
“Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”
Thực tế, những triều đại thịnh trị trong lịch sử phong kiến Việt Nam đều
là những triều đại biết chăm lo cho dân, vua quan thanh liêm, không xa hoa, lãng phí Thời kỳ Lý - Trần, “thế nước” và “lực nước” của Đại Việt đã khá vững mạnh, triều đình thực hiện chính sách “thân dân”, chống những tiêu cực nảy sinh trong môi trường quyền lực chính trị Trần Thủ Độ (1194 – 1264) - bậc công thần của triều Trần được biết đến với tư cách là một nhà thực hành pháp trị, ông luôn làm gương cho đội ngũ quan chức về việc giữ gìn đạo đức quan lại không vì tình riêng, cậy quyền thế mà xâm phạm phép công Với những người thẳng thắn phê bình, can gián, Trần Thủ Độ chẳng những không trừng trị mà còn khen ngợi, ban thưởng cho họ Trần Thủ Độ có thể coi là một tấm gương về sự thanh liêm, trong sáng Không chỉ Trần Thủ Độ, các vua nhà Trần, trong đó nổi bật là Trần Nhân Tông đã chứng tỏ sự sáng suốt, liêm chính của đấng minh quân Trần Nhân Tông luôn chủ trương đẩy mạnh việc khai hoang mở rộng diện tích canh tác, chăm lo tu bổ và xây dựng hệ thống thuỷ lợi, miễn giảm thuế cho nhân dân Ông thường căn dặn quan lại phải biết
Trang 20thương dân, phải trân trọng những đóng góp của nhân dân đối với đất nước Bởi thế, ông không chỉ nghiêm khắc với chính bản thân, quần thần mà với cả
vị vua kế thừa Ông không ngừng khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, giữ gìn chân tâm Có lần, vua Anh Tông uống rượu say quá, Trần Nhân Tông đã nổi giận xuống chiếu triệu tập, Anh Tông sợ sệt phải nhờ Đoàn Nhữ Hài soạn biểu tạ tội Nhân Tông xem xong mới cho gọi vua vào và bảo rằng: “Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được, trẫm còn sống mà ngươi còn dám làm như thế, huống chi sau này”[39, tr.544 – 545]
Cuối thời nhà Trần, xã hội Việt Nam lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, cuộc cải cách của Hồ Quý Ly không cứu vãn được tình thế mà còn gây thêm mâu thuẫn nội bộ, ảnh hưởng sâu sắc đến ý thức đoàn kết thống nhất của nhân dân khi xảy ra nạn ngoại xâm, vì vậy, đầu thế kỷ XV, nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Minh Thất bại của Hồ Quý Ly đã khẳng định một chân lý bất diệt: Dân là gốc của nước, một nền chính trị dù có quy mô rộng lớn, có đầy đủ những biện pháp cưỡng chế, áp bức đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu nảy sinh tiêu cực, không được quần chúng ủng hộ thì sớm hay muộn cũng đi tới diệt vong Mặc dù vậy, hai chục năm sau (1460 - 1497) cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra và toàn thắng, quân Minh đầu hàng và rút lui một cách nhục nhã, triều đại nhà Lê được thành lập, đất nước trở lại thanh bình và bước vào cuộc chấn hưng; tư tưởng yêu nước, thương dân ở thời nhà Lê đã được nâng
lên một tầm cao mới Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu tâm trạng: Quốc phú
binh cường chăng có chước, bằng tôi nào thuở ích chưng dân - Dịch nghĩa:
Nếu không có kế sách gì làm cho nước giàu, binh mạnh thì mình nào có ích gì cho dân [71, tr.408]… Trong thời Lê, quan điểm chống tham ô, lãng phí cũng được thể hiện rõ nét qua tư tưởng của vua Lê Thánh Tông (1442 – 1479) - một nhà cách tân vĩ đại của dân tộc Trong đường lối trị nước, đóng góp to lớn của ông là đã kết hợp thành công giữa “đức trị” với “pháp trị” Đứng trên bình
Trang 21diện “đức trị”, ông chủ trương giáo dục con người theo những nguyên tắc của Nho giáo; thực hiện việc “nhậm hiền”, tức là lựa chọn và đề bạt những người
có tài đức cao giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình; chủ trương “quả dục”, tức là phải tu dưỡng sao cho ít tham vọng cá nhân để khỏi làm hại đến lợi ích của nhà nước Đứng trên bình diện “pháp trị”, ông chủ trương xây dựng và hoàn thiện pháp luật, quan tâm xây dựng một đội ngũ quan lại có đức, có tài, tôn trọng kỷ cương phép nước Bộ Quốc triều hình luật được ban hành dưới triều Lê Thánh Tông tổng cộng 13 chương, 722 điều thì có 6 chương, 52 điều nói về các tội liên quan đến sự tha hoá về quyền lực chính trị Nội dung các điều luật đề cập đến nhiều khía cạnh của tham ô, lãng phí như hình thức, đối tượng thực hiện và các loại hình phạt đối với những tội này… Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà thời này được coi là một giai đoạn đất nước phát triển toàn diện về mọi mặt, thái bình, thịnh trị; các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại và trong xã hội được xử lý kịp thời, quốc triều hình luật trở thành khuôn mẫu về lập pháp trong một thời gian dài sau đó
Tới thời nhà Nguyễn, mặc dù đã chịu nhiều điều tiếng và cũng là triều đại đã dâng nước ta cho thực dân Pháp, song, ở thời kỳ đầu nhà Nguyễn cũng thể hiện sự kiên quyết xây dựng một bộ máy nhà nước liêm khiết Hoàng Việt luật lệ – Luật Gia Long dành hẳn 9 điều trình bày xuyên suốt về các tội tham ô (quyển 17 – Hình luật) Trong đó, triều đình trừng phạt khá nghiêm những hành động tham ô, nhũng nhiễu: chỉ cần nhận hối lộ hay sách nhiễu dân lấy tiền, đồ vật, của cải tương đương một lượng là đã bị pháp luật xử lý (lấy lại những cáo sắc vua ban, xoá tên trong sổ quan, bãi chức, đánh roi ) Vua Minh Mạng (1791 – 1840) là một vị vua triều Nguyễn rất quan tâm và đề cập trực tiếp tới chống sự tha hoá của quan lại Trong 10 huấn điều (10 điều dạy)
về đạo đức làm người do ông ban bố vào năm 1834 thì đã có 3 điều (các điều
1, 2 và 4) nói về việc kẻ làm quan không được lợi dụng phép công để tư túi, giữ lòng ngay thẳng, tránh các thói tật có liên quan tới quyền lực [22, tr.149 -
Trang 22150] Ông cho áp dụng chế độ dưỡng liêm (nuôi dưỡng tính liêm khiết), tức là chế độ cấp tiền thêm ngoài tiền lương nhằm khuyến khích đức tính thanh liêm của giới quan chức Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) là nhà tư tưởng xuất sắc của dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX, là một trong những người gieo mầm khai hóa đầu tiên ở nước ta cũng đã tạo nên cả một hệ thống quan điểm về chống tham ô, lãng phí, quan liêu Đặng Huy Trứ yêu cầu người làm quan phải liêm khiết bởi tác hại của tham ô, lãng phí đối với đời sống nhân dân là rất lớn Ông đả kích những viên quan đi kinh lý bắt cấp dưới đưa đón linh đình, dâng tặng phẩm; những hành động lãng phí của công; vạch trần những mánh khóe không tự mình lấy của đút mà cho người nhà nhận hoặc cho người hầu, con ở giở thủ đoạn vòi vĩnh Đặng Huy Trứ viết: “Thanh là điều quan lại phải thực hiện Của cải đối với người ta như dầu mỡ đối với đồ vật Đã vấy bẩn thì không thể gội sạch Huống chi ta lấy một thì dưới lấy mười, ta lấy mười thì dưới lấy hàng nghìn Ta được vừa miệng thì dân bị hút máu Ta có cái khoản đãi bạn bè thì vợ con của dân chỉ còn cháo Nghĩ như thế, há lại không giữ chữ thanh liêm hay sao”[72, tr.12] Các biện pháp chống tham ô, lãng phí mà Đặng Huy Trứ đề ra bao gồm: 1.Chú trọng việc kiểm tra, giám sát, bao gồm
cả các quan chức lẫn những người phục vụ của họ: “… Ngăn cấm việc xâm phạm của công để mưu cầu tư lợi Phải chú trọng kiểm tra, kiểm soát để chống bọn gian tham.”[40, tr.400]; 2.Giáo dục đạo đức cho đội ngũ quan lại, “dạy họ biết “cán”, “cần”, “cương trực”, “công liêm” Cán là có tài làm việc lớn Cần
là biết tiếc thì giờ Cương trực là giữ chân tính và công liêm là giữ trong sạch…”[40, tr.400]; 3.Lưu ý thân quyến của quan để họ đồng tâm chỉnh đốn đức hạnh, vun đắp phúc trạch…
Có thể nói, tham ô, lãng phí, quan liêu là những hiện tượng tiêu cực mà các nhà nước đều phải đương đầu với nó Lịch sử dân tộc Việt Nam đã để lại nhiều quan điểm về chống tham ô, lãng phí, mà không ít trong số đó mang tính tích cực, tiến bộ và rất khả thi Chính truyền thống yêu nước, thương dân,
Trang 23cần cù, tiết kiệm và những quan điểm chống tham ô, lãng phí đã trở thành nguồn chất liệu quý báu để Hồ Chí Minh kế thừa, chắt lọc từ đó xây dựng nên
tư tưởng của mình
Bên cạnh những truyền thống quý báu của dân tộc, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây để hình thành tư tưởng về chống tham ô, lãng phí
Ở phương Đông, những quan điểm về một nhà nước trong sạch, chống các tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu được hình thành rất sớm Lịch sử văn hoá Trung Quốc cổ đại đã để lại nhiều câu chuyện sâu sắc, đáng nhớ về đức thanh liêm của người làm quan Chuyện “Ông quan thanh bạch” kể về Dương Chấn là Thái thú quận Đông Lai, được Vương Mật là một người chịu ơn tiến
cử trước kia đêm khuya đem vàng đến biếu và bảo: “Xin ngài cứ nhận cho Bây giờ đêm khuya không ai biết” Dương Chấn bèn đáp: “Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết, sao lại bảo là không ai biết?” Hậu Hán Thư bình: “Dương Chấn là một ông quan thanh liêm, chỉ chăm lo việc nước, không tham nhũng, không làm giàu cho mình…”[60, tr.66] Chuyện “Không nhận cá” kể về Công Nghi Hưu làm tướng nước Lỗ, tính thích ăn cá Một hôm có người đem cá đến biếu, ông không nhận Khi người em hỏi tại sao, ông trả lời: “… Nếu ta nhận, tất ta phải giúp việc người Giúp việc người, lỡ làm trái phép thì mất quan Cho nên ta không nhận cá chính là ta muốn được có cá ăn lâu dài mãi mãi đó…”[60, tr.67] Thuyết Đại đồng nêu ra từ đời Xuân Thu thì răn dạy con người: “Như việc dùng sức lực hay năng lực, cần phải cống hiến cho quần chúng, chớ có làm hay riêng cho bản thân là cá nhân”[60, tr.180]
Xuất thân từ một gia đình trí thức, tinh tường Hán học, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và khai thác những yếu tố hợp lý trong nền văn hoá Trung Quốc
Ngoài những câu chuyện, lời nói đã đề cập trên, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng
rất nhiều của triết lý Nho giáo Người nói: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và
tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những
Trang 24điều hay trong đó thì chúng ta nên học”[49, tr 46] Học thuyết Nho giáo đề cao các giá trị đạo đức và thể hiện khuynh hướng nhập thế, hành đạo giúp đời, ước vọng về một xã hội bình trị… Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà tư tưởng
mở đầu cho trường phái Nho gia khẳng định xã hội loạn lạc, rối ren là do những kẻ cầm quyền sa đoạ, hủ hoá, khiến danh không chính “Nếu danh bất chính thì lời nói sẽ không đúng đắn, lời nói không đúng đắn thì dẫn tới việc làm sai Khi đó người trong xã hội sẽ không còn kính trọng nhau, không còn hoà khí, luật pháp lỏng lẻo và người dân sẽ mất nơi trông cậy nhờ vả”[7, tr.56) Khi “dân không có chỗ trông cậy, nhờ vả thì dân sẽ không còn tin ở bậc cầm quyền, lúc đó dù muốn hay không xã tắc cũng khó tránh bề suy sụp”[7, tr.56] Bởi lý do đó nên Khổng Tử chủ trương lập lại kỷ cương xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, giữ gìn trật tự trong bộ máy chính quyền bằng việc thực hiện chính danh Tiếp tục tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử (372 – 289 TCN) - bậc Á thánh của Nho gia đã chủ trương nhân chính, bậc vua quan phải hết lòng vì dân, đừng chỉ hướng đến cái lợi mà tha hoá, biến chất Cũng vì thế nên khi Huệ Vương hỏi: “Ông có điều gì làm lợi cho nước Lương chăng?”, Mạnh Tử đã trả lời: “Vua hà tất phải nói đến lợi Chỉ có nhân nghĩa mà thôi Nếu ông vua nói rằng làm thế nào lợi cho nước ta, quan đại phu nói rằng làm thế nào lợi cho nhà ta, kẻ sĩ và thứ dân nói rằng làm thế nào lợi cho thân ta; kẻ trên, người dưới ai nấy đều tranh nhau điều lợi thì nguy vậy”[7, tr.240] Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong chính cuộc đời hoạt động cách mạng để giành độc lập tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân của Người Quan niệm “chính danh”, “nhân chính”, “trung hiếu” của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và đưa vào đó một nội dung mới mang tính cách mạng, người cán bộ thực hiện “chính danh”, “dân chính” thì phải “trung với nước, hiếu với dân”, mỗi cán bộ, đảng viên phải là công bộc,
là đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải đấu tranh chống những tiêu cực nảy sinh trong môi trường quyền lực chính trị
Trang 25Bên cạnh văn hoá Trung Quốc và học thuyết Nho giáo, văn hoá Ấn Độ, đặc biệt là Phật giáo cũng góp phần vào việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí Những yếu tố tích cực trong triết lý đạo Phật như tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, diệt trừ dục vọng, chủ trương bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, chăm lo điều thiện, đấu tranh chống cái ác…đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển thành ngọn lửa hun đúc cho truyền thống yêu nước, nhân ái của dân tộc Người kêu gọi toàn dân, nhất là cán bộ, đảng viên phải chắt chiu dành dụm, tu dưỡng đạo đức, không
xa hoa, lãng phí, tham lam của công; đó là sự thể hiện trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân, là từ bi, bác ái
Không chỉ tiếp thu những tinh hoa tư tưởng của văn hoá phương Đông,
Hồ Chí Minh còn am hiểu sâu sắc những giá trị văn hoá phương Tây, từ đó
hình thành tư tưởng về chống tham ô, lãng phí Gần một phần ba thế kỷ bôn
ba khắp các nước Anh, Pháp, Nga, Mỹ và một số nước Châu Âu, Hồ Chí Minh đã tích luỹ cho mình được một hành trang kiến thức to lớn Điều này không có nghĩa là những hiểu biết về văn hoá phương Tây mà Hồ Chí Minh
có được chỉ đến với Người khi đã xa rời đất nước, mà ngay từ thuở thiếu thời Người đã tiếp xúc với cách mạng tư sản Pháp, với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái, chính những tư tưởng ấy đã góp phần định hướng cho hành trình tìm đường cứu nước, tìm lối thoát cho dân tộc của Hồ Chí Minh Người viết: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”[44, tr.477] Có thể nói với khát vọng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã đến với văn hoá phương Tây Người thấy rằng các tôn giáo dù ở đâu cũng hướng đến điều thiện, đến giải thoát con người, không tham lam, lãng phí Bởi thế, trong mười điều răn về đạo đức của Thiên Chúa giáo thì có tới hai điều khuyên con người nên diệt trừ lòng tham và không xâm phạm những của cải không thuộc về
Trang 26mình (Điều thứ 7: chớ lấy của người; Điều thứ 10: chớ tham của người) Hồ Chí Minh cũng tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản, nghiên cứu tư tưởng dân chủ, chủ nghĩa nhân văn và khai sáng qua các tác phẩm của Môngtexkiơ, Rútsô, Vônte… Những nhà tư tưởng này đã có một số quan điểm tiến bộ về nhà nước và pháp luật Tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Môngtexkiơ (1689 - 1755) đã đề ra việc xây dựng “đức hạnh chính trị”, cũng như khẳng định vai trò và nhiệm vụ của nhân dân trong việc bảo đảm tính trong sạch của pháp luật và bộ máy nhà nước; trong đó các quan chức không được lạm dụng quyền lực xâm phạm của công và của dân Theo Môngtexkiơ, để ngăn ngừa khả năng chính quyền lạm dụng quyền lực xâm phạm của công và của dân, cần phải dùng “quyền hành ngăn chặn quyền hành”, tức là chỉ khi quyền hành
bị một quyền hành khác ngăn chặn thì nó mới ngưng lại, không đi quá giới hạn luật định
Với trí tuệ uyên bác, Hồ Chí Minh đã tiếp cận một cách có phê phán những giá trị văn hoá phương Tây, Người đề cao những tư tưởng tiến bộ, song, cũng nhận được diện mạo thật sự của chủ nghĩa tư bản và các cuộc cách mạng tư sản Người chỉ rõ: “Tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào
để lừa dân, xúi dân, đánh đổ phong kiến Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì
nó lại thay phong kiến mà áp bức dân Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh
Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”[45, tr.274] Từ đó Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận rằng bóc lột và xâm chiếm thuộc địa là bản chất cố hữu của chủ nghĩa tư bản, cái gọi là lòng nhân đạo, về quyền tự do và độc lập của mỗi dân tộc chỉ là những luận điệu lừa bịp
để che đậy âm mưu của chúng mà thôi Vì vậy, các dân tộc thuộc địa phải nêu cao tinh thần tự lực, tự cường đứng lên giải phóng bản thân mình Song, giành được độc lập không chưa đủ, vì “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[46, tr 56], do
Trang 27đó cả nhà nước và bộ máy công chức của nó phải không ngừng đấu tranh chống tiêu cực; hết lòng, hết dạ vì dân, không được tham ô, lãng phí, sống xa hoa trên mồ hôi, công sức của nhân dân
Hồ Chí Minh từng được ca ngợi vừa có dáng dấp của một nhà “hiền triết phương Đông” vừa mang tinh thần của một nhà tư tưởng dân chủ cấp tiến phương Tây, bởi trong quan điểm của mình Người luôn coi “cán bộ Nhà nước
là công bộc của dân” chứ không phải là những ông quan đè đầu cưỡi cổ nhân dân Người khẳng định một trong những phẩm chất tối cần thiết của quan chức là Liêm, tức là không tham lam, ăn cắp của công; và Người yêu cầu “cán
bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân”[48, tr.641] Có thể nói, Hồ Chí Minh là một nhà chính trị lão luyện, sáng suốt đã thâu hái được những kinh nghiệm quý báu trong văn hoá trị nước của loài người để hình thành tư tưởng về chống tham ô, lãng phí
Tiền đề lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí là chủ nghĩa Mác – Lênin
Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin một thế giới quan và phương pháp luận khoa học có thể trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”[45, tr.268] Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng luôn nằm trong mối liên hệ, ràng buộc, chế ước lẫn nhau, vận động, phát triển không ngừng và đều bắt nguồn từ nguyên nhân vật chất, thể hiện trong lĩnh vực xã hội đó là tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Trên
cơ sở đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nghiên cứu xã hội từ nền tảng vật chất, khẳng định phương thức sản xuất chính là thước đo đời sống xã hội, mọi sự biến đổi của xã hội xét đến cùng đều bắt nguồn từ sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội thay đổi đồng
Trang 28thời cũng làm đảo lộn cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ tương ứng với nó Như vậy, với con mắt duy vật, mọi hiện tượng của xã hội từ chính trị, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh… đều có thể lý giải từ góc độ kinh tế, sự tha hoá của con người cũng do nguyên nhân kinh tế gây nên Vì vậy, để giải phóng con người thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của nền chính trị tư sản thì nhất thiết phải tiến lên xã hội chủ nghĩa, vấn đề căn bản, cốt lõi phải giải quyết là vấn đề kinh tế, xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, chặng đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội luôn chứa đựng những khó khăn, phức tạp và cả những tiêu cực nảy sinh trong môi trường quyền lực chính trị (như tham ô, lãng phí, quan liêu), vì thế các nhà nước vô sản phải kiên quyết đấu tranh với chúng
Vấn đề chống tham ô, lãng phí đã được thể hiện rõ ràng ở các tác phẩm, bài nói của V.I.Lênin trong quá trình lãnh đạo nhà nước Xô- Viết V.I.Lênin luôn đặt các cụm từ “tham ô”, “lãng phí”, “quan liêu” và “tiết kiệm” đi liền với nhau và đã có lúc Người coi đó là “phương pháp duy nhất” để cứu vãn
một nước nghèo khó Bài diễn văn có tên “Năm năm cách mạng Nga và triển
vọng của cách mạng thế giới” đọc tại Đại hội IV Quốc tế cộng sản ngày 13
tháng 11 năm 1922 của V.I.Lênin đã nhấn mạnh chính sách thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí - một trong những cách thức bước đầu đưa nước Nga Xô - Viết ra khỏi những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua của những ngày đầu giành và giữ chính quyền [2, tr.423] Trong tác phẩm
“Thà ít mà tốt”, V.I.Lênin đã viết: “Chúng ta phải thực hành tiết kiệm tột mức
trong bộ máy nhà nước của chúng ta Chúng ta phải bài trừ mọi vết tích lãng phí mà nước Nga quân chủ và bộ máy quan liêu tư bản chủ nghĩa của nó đã để lại đầy rẫy chỉ có làm cho bộ máy của chúng ta trong sạch đến tột mức, chỉ
có giảm bớt đến mức tối đa tất cả những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng
ta mới có thể đứng vững được Và đứng vững như thế, không phải là đứng
Trang 29vững ở trình độ một nước tiểu nông, ở trình độ eo hẹp về mặt đó, mà là ở trình độ ngày càng vươn lên nền đại công nghiệp cơ khí”[37, tr.458 – 459]
Để đấu tranh chống tham ô, lãng phí, V.I.Lênin chủ trương tiết kiệm, không lười biếng, không ăn cắp của công để thành của tư Người viết: “Hãy tính toán tiền nong cho cẩn thận và thành thực, hãy chi tiêu tiết kiệm, đừng lười biếng, đừng tham ô, hãy triệt để tuân theo kỷ luật trong lao động”[32, tr.211] Những biện pháp chống tham ô, lãng phí mà V.I.Lênin đề cập bao gồm việc tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, đồng thời nhà nước phải sử dụng pháp luật để ngăn ngừa và trừng trị những hành vi tham ô, lãng
phí, lười biếng Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền
Xô - Viết”, Người nhấn mạnh: “việc chính quyền Xô - Viết dùng những
phương pháp của mình và căn cứ vào những luật lệ của mình để áp dụng trong thực tiễn những khẩu hiệu ấy là cần thiết và đầy đủ để cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi triệt để Đó chính là điều không thể hiểu được đối với những kẻ
đã ngoảnh mặt làm lơ một cách khinh bỉ khi người ta nói với họ là phải đặt những khẩu hiệu “cũ kỹ” và “tầm thường” ấy lên hàng đầu”[32, tr.211 – 212] Bởi quan tâm đến sự trong sạch của bộ máy chính quyền nên V.I.Lênin đã bày tỏ thái độ rất nghiêm khắc với các hành vi tiêu cực Người viết: “Cần phải
đệ trình ngay, hết sức cấp tốc dự luật quy định rằng mức trừng phạt về tội ăn hối lộ (ăn của đút, mua chuộc, môi giới cho việc ăn hối lộ và những tội khác ) phải không dưới mười năm ngồi tù và thêm vào đó mười năm lao động cưỡng bức”[38, tr.91]; “Hãy kiểm kê tất cả những cái đã bị cướp và không để cho người ta ăn cắp những cái đó, còn nếu có những ai tìm cách vơ vét cho mình một cách trực tiếp hay gián tiếp, thì hãy xử bắn những kẻ phá hoại kỷ luật ấy đi”[32, tr.330] Bên cạnh sự kiểm tra, giám sát và trừng trị của pháp luật, V.I.Lênin không quên vai trò của giáo dục, xây dựng nền văn hóa, đạo đức mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Lênin viết: “Trong vấn đề này, nếu chỉ có pháp luật không thôi thì chưa đủ Mà cần phải tiến
Trang 30hành một công tác lớn lao về giáo dục, tổ chức, văn hóa, công tác đó không thể nào dùng pháp luật mà hoàn thành được, nó đòi hỏi một công tác lớn lao
và lâu dài”[34, tr.199] và “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội
cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản; chống lại cái tâm lý và tập quán khiến người ta nói rằng: tôi kiếm lợi nhuận của tôi, ngoài ra chẳng có cái gì đáng để cho tôi chú ý cả”[35, tr.366 - 372] Như vậy, truyền thống văn hoá dân tộc, những tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây và đặc biệt là ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác – Lênin có ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Chí Minh và góp phần hình thành tư tưởng của Người về chống tham ô, lãng phí Người nhận ra rằng muốn cứu nước, thực hiện khát vọng độc lập tự do của cả dân tộc thì không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa Song, độc lập dân tộc chỉ thực sự có ý nghĩa khi thật sự làm cho nhân dân an cư, lạc nghiệp, sống một đời hạnh phúc Muốn như vậy, cần phải xây dựng một nhà nước trong sạch, đấu tranh chống mọi tiêu cực nảy sinh trong môi trường quyền lực chính trị, coi tham ô, lãng phí, quan liêu là kẻ thù cần phải loại bỏ
1.1.3 Phẩm chất cá nhân và trải nghiệm của Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả hoạt động sáng tạo tinh thần của Hồ Chí Minh, do vậy không chỉ bắt nguồn từ những truyền thống quý báu của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại mà còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố năng lực, phẩm chất cá nhân và trải nghiệm cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Người Ở Hồ Chí Minh hội tụ những phẩm chất cao quý của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng Ngay từ đầu thế kỷ XX, nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam khi tiếp xúc với Người đã nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc
đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”[44, tr.478] Là một người yêu nước, song Hồ Chí Minh là
Trang 31một người yêu nước có bản lĩnh, có tư chất thông minh và tư duy độc lập sáng tạo Hồ Chí Minh cũng là tấm gương đạo đức trong sáng, cao đẹp, là mẫu mực về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu Bởi vậy, dù là một vị chủ tịch nước, Người vẫn luôn chan hoà với quần chúng nhân dân, không nhận về mình bất cứ một đặc quyền, đặc lợi nào Các đồng chí ở gần
Hồ Chí Minh kể:
“Có đôi tất rách đã vá đi, vá lại mấy lần Bác cũng không dùng tất mới Bác nói:
- Cái gì còn dùng được thì nên dùng Bỏ đi không nên
Khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xoá:
- Đấy, có trông thấy rách nữa đâu”[57, tr.76]
Một chuyện khác viết:
“Trong một bữa cơm, Bác thấy có món cà Nghệ, quả nhỏ, cùi ròn, ngâm mắm Bữa ấy Bác ăn rất ngon Hôm sau lại có món quà quê hương Bác ăn hết vài ba quả Thấy thế đồng chí anh nuôi lại dọn cà Bác hỏi:
- Cà muối mua hay ai cho thế?
- Thưa Bác, đồng bào Nghệ An đưa ra tặng Bác
- Có nhiều không?
- Dạ, một ô tô ạ Bác chậm rãi nói:
- Thế này nhé Cà Nghệ ăn rất ngon Bác ăn mấy bữa liền là đủ rồi Bây giờ ai muốn ăn nữa thì trả tiền cho nhân dân Nghệ An”[57, tr.102 – 103]
Chỉ một vài ví dụ đơn sơ, hình ảnh một vị chủ tịch nước đã hiện lên với
một phong thái giản dị, liêm khiết, hết lòng vì dân, vì nước Chính những yếu
tố thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh đã giúp Người tiếp thu, chắt
Trang 32lọc được những tinh hoa văn hoá nhân loại, từ đó hình thành tư tưởng về chống tham ô, lãng phí
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh cũng ảnh hưởng rất lớn đối với việc hình thành tư tưởng của Người về chống tham ô, lãng phí
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định rằng chưa ai có được quá trình hoạt động thực tiễn phong phú như Hồ Chí Minh [Xem: 56, tr.114] Người sinh ra khi thực dân Pháp đã bắt tay vào cuộc khai thác thuộc địa, chúng thực thi nhiều chính sách bóc lột tàn bạo làm nền kinh tế Việt Nam đã trì trệ lại càng trì trệ hơn Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, đời sống nhân dân bần hàn, cùng cực, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành tư tưởng về giải phóng dân tộc và xây dựng một nhà nước trong sạch, vì hạnh phúc của nhân dân Năm
17 tuổi, Hồ Chí Minh đã tham gia cuộc đấu tranh chống thuế ở Trung Kỳ Từ năm 1911 trở đi, Người bôn ba khắp các thuộc địa của Pháp, thấu hiểu được nỗi thống khổ của người lao động, nỗi nhục của các dân tộc thuộc địa khi bị lệ thuộc vào kinh tế của “chính quốc” Hồ Chí Minh đã vạch trần tính chất bịp bợm, sự bóc lột dã man của chủ nghĩa thực dân đối với người dân thuộc địa,
từ đó thức tỉnh các dân tộc đứng lên giành tự do
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời còn non trẻ nhưng đã đứng trước nhiều khó khăn thử thách hết sức
to lớn, đó là tình trạng kiệt quệ của nền kinh tế và việc thực dân Pháp trở lại xâm lược một lần nữa Là người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh trân trọng nền độc lập mới giành được nhưng Người cũng thấy rất rõ ý nghĩa to lớn của rèn luyện cán bộ, đảng viên, chống những hiện tượng tiêu cực như tham ô, lãng phí, quan liêu Bởi vậy, một trong “Sáu việc cấp bách” mà Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà xác định phải thực hiện là “giáo dục cần, kiệm, liêm, chính” cho nhân dân Để thiết lập kỷ cương, pháp luật, trừng trị, răn đe các phần tử có hành vi sai trái, tiêu cực, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 223 ngày 17.11.1946 về việc truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ với
Trang 33mức hình phạt rất cao cho tội này Bản thân Hồ Chí Minh từng băn khoăn, trằn trọc, suốt một đêm trắng thao thức suy nghĩ và cuối cùng bác đơn ân xá, giữ nguyên án tử hình đối với đại tá quân đội Trần Dụ Châu - người có hành
vi tham ô quân nhu của chiến sỹ trong kháng chiến chống Pháp Việc làm này không chỉ thể hiện quyết tâm chống tham ô triệt để của chính quyền mà còn thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật, làm gương của người lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong cuộc chiến với tham ô, lãng phí để bảo vệ chính quyền non trẻ
Với chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã giành thắng lợi rực rỡ, tuy nhiên ngay lập tức chúng ta lại phải đương đầu với một kẻ thù sừng sỏ là đế quốc Mỹ Hồ Chí Minh đã kêu gọi cả nước ủng hộ cho tiền tuyền lớn miền Nam, đẩy mạnh phát triển kinh tế để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp thống nhất đất nước, đấu tranh chống lại mọi sự phá hoại của các thế lực thù địch Đồng thời với quá trình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh cuộc chiến chống tham ô, lãng phí một cách không khoan nhượng, trên cơ sở những văn bản pháp luật dù còn sơ giản nhưng cũng không kém phần khoa học, sáng tạo Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 267 ngày 25.6.1956 về việc “Trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước và của nhân dân” Điều 7, 8 và 9 của Sắc lệnh coi việc kẻ nào lợi dụng chức quyền để trộm cắp, lãng phí, cướp bóc tài sản của Nhà nước là một tình tiết tăng nặng, với mức hình phạt được nâng từ 5 đến 20 năm tù lên tù chung thân hoặc tử hình; kèm theo là các hình phạt bổ sung như phải bồi thường thiệt hại, bị tịch thu một phần hay toàn bộ gia sản và nghiêm khắc hơn là bị tước quyền công dân Quá trình này đã giúp Hồ Chí Minh kiểm nghiệm và dần hoàn thiện quan điểm về chống tham ô, lãng phí
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí nói riêng được hình thành từ những tiền đề lý luận
Trang 34vững chắc, cơ sở thực tiễn phong phú, sinh động, thông qua trí tuệ thiên tài và nhân cách cao cả của Hồ Chí Minh Về lý luận, bao gồm truyền thống văn hoá Việt Nam nổi bật lên là chủ nghĩa yêu nước, thương dân, cần cù tiết kiệm và những quan điểm về chống tham ô, lãng phí; tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây, trong đó chủ nghĩa Mác – Lênin chính là nền tảng thế giới quan
và phương pháp luận Về thực tiễn, đó là điều kiện lịch sử - xã hội và trải nghiệm cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Hồ Chí Minh Tất cả những yếu tố đó hội tụ ở Hồ Chí Minh, một con người tài ba, thông minh sáng tạo, yêu nước, thương dân, ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành tư tưởng của Người về chống tham ô, lãng phí; giúp Người vạch rõ bản chất, nguyên nhân và tác hại của những tệ nạn này và đưa ra phương hướng, biện pháp phòng chống
1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM Ô, LÃNG PHÍ
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tham ô, lãng phí và nguyên nhân, tác hại của tham ô, lãng phí
Quan niệm của Hồ Chí Minh về tham ô, lãng phí:
Theo Hồ Chí Minh, tham ô là “hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất
trong xã hội”, bản chất của tham ô là “lấy của công làm của tư” Trong bài nói chuyện nhân dịp tết năm Nhâm Thìn (1952), Người khẳng định: “Tham ô là lấy của công làm của tư Là gian lận tham lam Là không tôn trọng của công
Là không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sỹ làm ra”[49, tr.391] Ở đây, hành vi tham ô đã được
Hồ Chí Minh hiểu theo nghĩa rộng, tức là bất cứ việc làm nào nhằm “biến của công thành của tư”, lấy tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp nhằm phục vụ mục đích chung làm tài sản riêng cho cá nhân mình, thậm chí địa phương, đơn vị mình đều được coi là tham ô Theo nghĩa này, chủ thể của hành vi tham ô không chỉ là cán bộ, công chức - những người nắm chức vụ,
Trang 35quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước Người dân bình thường nếu như
“ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế” cũng có thể là chủ thể của hành vi tham
ô Hồ Chí Minh viết: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[49, tr.484]
Ngoài hình thức tham ô, trộm cắp của công “đường hoàng”, Hồ Chí Minh còn chỉ ra một loại tham ô tinh vi, rất khó nhận thấy trong cuộc sống đời thường - “tham ô gián tiếp” Đây là việc những người có chức quyền, được hưởng bổng lộc nhưng không thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm, nghĩa
vụ của mình Người viết: “Nói đến tham ô, có người chỉ nghĩ đến ăn cắp của công làm của tư mà không thấy thứ tham ô gián tiếp Thí dụ một cán bộ, Chính phủ, nhân dân trả lương hàng tháng đều cho, nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân”[49, tr.436] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đối tượng để tham ô không chỉ là tiền bạc và các lợi ích vật chất khác mà còn là thì giờ, hiệu quả công việc cần đạt được… “Tham ô gián tiếp” tuy không nhanh chóng gây hậu quả nghiêm trọng như những hành vi trực tiếp chiếm đoạt tài sản công, nhưng nếu xảy ra hàng ngày, thường xuyên, liên tục sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động và hiệu lực của quản lý nhà nước, là một trong những mối nguy hại lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
Mặc dù chủ thể của hành vi tham ô không chỉ là cán bộ mà bao gồm cả nhân dân, song, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh nguy cơ sa ngã, suy thoái đạo đức mà rơi vào nạn tham ô của đội ngũ cán bộ, đảng viên Người viết: “Cán
bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ, dù
to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp dĩ công vi tư”[48, tr.641], những người càng có chức vụ, quyền
Trang 36hạn cao càng dễ có điều kiện để tham ô, “chiếm đoạt của công” Sở dĩ như vậy
vì cán bộ, đảng viên là những người làm việc trong môi trường quyền lực chính trị, nếu không có bản lĩnh vững vàng họ sẽ bị sức hấp dẫn của quyền lực
và những lợi ích do quyền lực mang lại lôi cuốn, thu hút; cuối cùng dùng uy quyền của mình để biến của cải của nhà nước thành của riêng; đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của tập thể, của nhân dân Dẫn chứng cho điều này rất nhiều: Đó là một hợp tác xã nông nghiệp giấu giếm sản lượng lương thực không khai nộp đầy đủ cho Nhà nước; một Ban quản trị hợp tác xã thủ công nghiệp tự ý trích lợi nhuận của hợp tác xã trả tiền “hoa hồng” cho các thành viên trong ban; một đại tá quân đội phụ trách hậu cần ăn bớt quân nhu của chiến sỹ; vài vị lãnh đạo trong một xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tự cho mình quyền được hưởng những lợi ích riêng ngoài mức lương quy định của Nhà nước; những người làm nhiệm vụ quản lý tài chính nhưng lại “thụt két”…
Cùng với tham ô, lãng phí cũng bị Hồ Chí Minh coi là một tội lỗi đối với đất nước, đối với nhân dân Lãng phí là những việc làm của cán bộ cơ quan
nhà nước, quân đội, xí nghiệp và nhân dân làm hao tổn, tốn kém vô ích sức lao động, thời giờ, tiền của Người viết: “Có người nói tham ô mới có tội, còn
lãng phí thì không có tội Thực ra việc khác nhau nhưng kết quả vẫn hao tổn của công, của Chính phủ, của nhân dân”[49, tr.436] và “Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công,
nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước thì cũng có tội”[53, tr.573]
Hồ Chí Minh đã khái quát một số dạng lãng phí bao gồm: “lãng phí sức lao động”, “lãng phí thời giờ”, “lãng phí tiền của” Người chỉ rõ: lãng phí sức lao động là “việc gì ít người cũng làm được mà vẫn dùng nhiều người”[49, tr.488], ví như việc sửa chữa cầu đường, phục vụ chiến dịch, lãng phí nhân công rất nhiều; lãng phí thời giờ là “việc có thể làm trong một ngày, một buổi, cũng kéo dài đến mấy ngày”[49, tr.489]; lãng phí tiền của “có rất nhiều hình thức”, Người nêu vài ví dụ cụ thể:
Trang 37“- Các cơ quan dùng vật liệu một cách phí phạm
- Các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không hợp lý
- Cục vận tải giữ gìn xe cộ, tiết kiệm dầu mỡ không triệt để
- Sở kho thóc làm kho tàng không cẩn thận; người giữ kho kém tinh thần trách nhiệm, để thóc ẩm ướt, hao hụt, hư hỏng
- Mậu dịch không khéo tính toán sắp xếp, để hàng hoá hao hụt, lỗ vốn
- Ngân hàng không khéo sử dụng tiền bạc, để tiền bạc ứ đọng lại, không bổ ích cho việc tăng gia sản xuất
- Cơ quan kinh tế làm kế hoạch không thiết thực, không sát với hoàn cảnh để Chính phủ phải lỗ vốn
- Bộ đội không biết quý trọng giữ gìn quân trang, quân phục và chiến lợi phẩm
- Nhân dân bỏ hoang ruộng đất, đốt vàng mã, bán trâu, cầm ruộng để làm đám cưới, đám ma ”[49, tr.489]
Hồ Chí Minh đã khẳng định tham ô, lãng phí là bản chất, căn bệnh trầm
kha của những xã hội có áp bức, bóc lột Người viết: “Tham ô, lãng phí là
những xấu xa của xã hội do chế độ “người bóc lột người” mà ra”[49, tr.494] Điều đó được thể hiện qua việc Hồ Chí Minh phê phán nhà nước tư sản, coi
đó là một con đỉa hút máu nhân dân Khi nói về sự tiêu cực trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp tại Đông Dương, Người viết: “Tất cả những kẻ có quyền thế đều sẽ lợi dụng để vơ vét cho đầy túi tham của mình và làm hại lớn cho xã hội”[45, tr.52] Người cũng chỉ rõ thế nào là công lý ở nước Mỹ: “Thế là rõ Quốc hội Mỹ đã thừa nhận rằng những tổ chức chính trị, kinh tế, pháp luật, báo chí của Mỹ thông đồng với lũ trộm cướp để ăn hối lộ và trừng trị những công nhân và công chức giác ngộ”[49, tr.278] Hệt như các quan thầy, bộ máy chính quyền tay sai của Mỹ tại miền Nam Việt Nam cũng “rặt là một bọn hủ hóa, tham ô, ba bè bảy mảng, giành nhau quyền lợi, liều mạng xoay tiền” [54,
Trang 38tr.530] Tuy nhiên, là một người thấm nhuần quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử và hiểu biết cặn kẽ quy luật phát triển, Hồ Chí Minh không hề ảo tưởng rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ không còn hiện tượng tham ô, lãng phí, Người coi chúng như “thứ cặn bã còn rớt lại của xã hội cũ – cái xã hội thối nát, trong đó bọn ăn cắp, bọn sống bám lại được coi là những kẻ
“khôn ngoan nhất đời””[53, tr.58] Bởi vậy, Hồ Chí Minh luôn cảnh tỉnh cán
bộ, chiến sỹ và nhân dân bằng việc chỉ ra những biểu hiện của tham ô, lãng
phí tại xí nghiệp, cơ quan, đơn vị, địa phương họ Trong tác phẩm Tự phê bình
(1946), Người nhắc nhở: “Tuy các chiến sỹ ta rất oanh liệt, song kháng chiến chưa thắng lợi Tuy nhiều người… làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch”[47, tr.166] Tại Đại hội chiến sỹ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất (6/1956), sau khi khen ngợi những thành tích mà các chiến sỹ đã đạt được, Hồ Chí Minh cho rằng khuyết điểm của họ còn nhiều, lãng phí cũng không ít, có chỗ còn tham ô… và nhấn mạnh:
“Những sai lầm đó phải ra sức khắc phục”[51, tr.173] Phát biểu tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định ngày 21.5.1963, về lĩnh vực thủ công nghiệp, Người phân tích: “… về mặt quản lý thì còn nhiều khuyết điểm Cuộc điều tra 83 hợp tác xã cho thấy rằng: khuyết điểm phổ biến là quản lý không tốt,
sổ sách luộm thuộm, chất lượng kém… Thường có tệ tham ô, lãng phí, quan liêu”[54, tr.84]
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tham ô là hành vi “biển thủ của công”, chủ thể thực hiện tham ô bao gồm cán bộ, đảng viên và cả nhân dân Tuy nhiên, cán bộ, đảng viên - những người nắm quyền lực trong tay là đối tượng dễ bị sa ngã, rơi vào tệ tham ô Đi liền với tham ô là lãng phí, mặc dù không xâm phạm của công, song hậu quả của lãng phí cũng không khác gì tham ô Trong chủ nghĩa xã hội, tham ô, lãng phí vẫn tồn tại và là mối nguy hại lớn đối với nhà nước và nhân dân; bởi vậy, cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác để đấu tranh với chúng
Trang 39Nguyên nhân của tham ô, lãng phí:
Tham ô, lãng phí là những căn bệnh nguy hiểm, song muốn chống tham
ô, lãng phí hiệu quả, cần phải tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân của chúng Theo Hồ Chí Minh, tham ô, lãng phí nảy sinh do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Về khách quan, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định tham ô, lãng phí
là những thói xấu mà xã hội cũ để lại cho chúng ta Người viết: “Chế độ thực dân đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác”[47, tr.8], “ chúng
ta sinh trưởng dưới chế độ nô lệ của thực dân và phong kiến, bị văn hóa, giáo dục thực dân phong kiến thấm vào đã sâu Nó làm cho nhiều người tê mê quên
cả nhân dân, quên cả Tổ quốc Nó đã làm cho những bệnh thối nát hủ bại (như chủ nghĩa cá nhân, tự tư tự lợi, tham ô lãng phí…) ăn sâu vào con người như những bệnh kinh niên…”[48, tr.83] Chính vì vậy nên “Trong thời kỳ quá độ, bên những thành tích tốt đẹp là chính, vẫn còn sót lại những cái xấu xa của xã hội cũ như: tham ô, lãng phí, lười biếng…”[53, tr.646]
Sự tác động của môi trường mới, sự lôi kéo của kẻ xấu cũng là yếu tố
khách quan dẫn đến tham ô, lãng phí; bởi không phải ai cũng có thể làm quen
và tỉnh táo vượt qua ngay được những cạm bẫy, cám dỗ, tựa như người bước
từ chỗ tối ra ánh sáng không khỏi mất mấy giây choáng váng Hồ Chí Minh viết: “Từ Cách mạng Tháng Tám thành công, chúng ta mới thoát khỏi vòng tối tăm bước lên đường sáng sủa Nhưng từ chỗ tối bước sang chỗ sáng không khỏi có người hoa mắt, choáng váng…”[50, tr.84] Khi các đơn vị bộ đội vào thành tiếp quản thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hồ Chí Minh đã cảnh báo:
“Ở thành thị tình hình phức tạp, có nhiều sự quyến rũ làm cho người ta mê muội, hủ hóa, trụy lạc…”[50, tr.358] Nếu cán bộ, chiến sỹ mất cảnh giác sẽ
bị lung lạc, bị kẻ xấu mua chuộc và cuối cùng dẫn đến tham ô, lãng phí Lợi ích vật chất mà chúng đưa ra có khi không lớn song tác hại của nó thì thật khó lường Để minh họa điều đó, Hồ Chí Minh đã đưa ra ví dụ rất cụ thể: “Nó đi
Trang 40buôn lậu, sợ anh bắt, nó cho anh cái đồng hồ, bút máy để đi thoát Cán bộ đi mua bán, nó cho ăn một ít để mua đắt, bán rẻ cho nó…”[50, tr.346]
Mặc dù, nạn tham ô, lãng phí chịu sự tác động của các yếu tố khách quan
song, theo Hồ Chí Minh, yếu tố chủ quan mới là cái quan trọng và mang tính
quyết định nhất Người cho rằng tệ quan liêu của cán bộ, đảng viên chính là nguyên nhân và điều kiện của tham ô, lãng phí; nơi nào có quan liêu thì ở đó
có tham ô, lãng phí; quan liêu càng nặng thì tham ô, lãng phí càng nhiều
Quan liêu, theo Hồ Chí Minh là sự xa rời thực tế, xa rời quần chúng nhân dân,
xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng Người mắc bệnh quan liêu thường
“Không đi sâu đi sát phong trào, không nắm được tình hình cụ thể của ngành hoặc của địa phương mình, không gần gũi quần chúng và học hỏi kinh nghiệm của quần chúng Thích ngồi bàn giấy hơn là đi xuống cơ sở để hiểu đúng thực
tế, kiểm tra việc thi hành chính sách, lắng nghe ý kiến nhân dân Thích dùng mệnh lệnh hành chính hơn là kiên nhẫn giáo dục quần chúng một cách có lý,
có tình Do đó mà đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ có khi không thấu đến quần chúng hoặc bị thi hành lệch lạc, kết quả là đã hỏng công việc lại mất lòng người”[54, tr.24]
Do mắc bệnh quan liêu mà cán bộ, đảng viên coi thường nhân dân, lúc nào cũng vác mặt là “quan cách mệnh”, không chịu học tập, tu dưỡng dẫn đến trình độ kém cỏi, phẩm chất suy thoái Như thế bệnh quan liêu làm cho nhà nước xã hội chủ nghĩa xa rời bản chất tốt đẹp của nó, xa rời nguồn sức mạnh của mình là nhân dân, là cội nguồn của hàng loạt sai phạm khác Hồ Chí Minh viết: “ bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt, vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở”[49, tr.436], “ có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát sao công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không