Kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN HẠ LONG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-000
-TRẦN HẠ LONG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS, TS LƯƠNG MINH CỪ
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, dìu dắt tận tình của quý thầy (cô), các nhà khoa học trong và ngoài Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS, TS Lương Minh Cừ và PGS, TS Trịnh Doãn Chính – những người thầy đã luôn nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ tôi trong công tác nghiên cứu khoa học và có những định hướng cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này Tôi luôn trân trọng những tình cảm mà các thầy
đã giành cho tôi Các thầy luôn là những tấm gương sáng trong lao động, trong nghiên cứu khoa học để tôi luôn hướng tới trong bước đường tương lai của mình
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm, quý thầy, cô trong khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học ở trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tài chính - Marketing cùng tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Cơ bản của Trường đã có luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và công tác
Xin cảm ơn các anh (chị) học viên Cao học, chuyên ngành Triết học khóa
2008 - 2011 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình tôi, những người thân yêu nhất đã luôn là chỗ dựa vững chắc, giúp đỡ động viên trong những lúc khó khăn, tạo điều kiện cho tôi học tập để có kết quả ngày hôm nay
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của tôi Những kết luận khoa học chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
Trần Hạ Long
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 01
PHẦN NỘI DUNG 08
Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 08
1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 08
1.1.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 08
1.1.2 Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - cơ sở xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 15
1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 24
1.2.1 Truyền thống dân tộc Việt Nam, gia đình và những phẩm chất cá nhân của Nguyễn Ái Quốc 24
1.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 30
1.2.3 Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa 34
Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 47
2 1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 47
2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thuộc địa 47
2.1.2 Chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh 62
Trang 62 2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay 81
2.2.1 Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong lịch sử và
vấn đề đặt ra trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay 81 2.2.2 Những quan điểm và giải pháp chủ yếu của Đảng về xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc 90
KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước vẻ vang Với truyền thống anh hùng, bất khuất, đoàn kết dân tộc ta đã đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp nhiều lần, giành được và giữ vững nền độc lập dân tộc, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ đưa dân tộc ta tiến bước sánh ngang với các dân tộc khác trên thế giới
Kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; thắng lợi của công cuộc đổi mới, đưa vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao
Những thành tựu to lớn đó đã chứng tỏ đường lối đổi mới, xây dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn
Hiện nay, chúng ta bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế với rất nhiều thời cơ và thuận lợi nhằm phát triển đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thuận lợi đó chúng ta cũng phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức không nhỏ Nếu chúng ta không có những biện pháp giải quyết tốt thì những nguy cơ, thách thức này sẽ là những lực cản rất lớn đến sự phát triển của đất nước, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc Những nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01 năm 1994) của Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại Đó là, sự tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với nhiều nước
Trang 8trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tệ nạn tham nhũng và quan liêu; sự triển khai “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch vẫn còn gia tăng, v.v
Ngày nay, các thế lực phản động tiếp tục dùng nhiều âm mưu thủ đoạn tinh
vi hơn để xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng
tư tưởng của Đảng ta Chúng xuyên tạc, phủ nhận những thành quả cách mạng của dân tộc ta; âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động mối quan hệ dân tộc, xúi giục gây bạo loạn, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng
Vì vậy, hiện nay việc kế thừa, bảo vệ và phát triển những giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước trong tình hình mới ngày càng trở nên cấp thiết
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và vấn
đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu của mình với hy vọng đóng góp một phần khẳng định một lần nữa những giá trị to lớn, quý báu của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đồng thời góp phần xây dựng, minh chứng thêm cơ sở khoa học để Đảng, Nhà nước thêm thông tin, nhận thức Từ
đó hoạch định đường lối, chính sách dân tộc một cách đúng đắn, khoa học nhằm xây dựng, phát triển đưa dân tộc ta lên một tầm cao mới trong thời kỳ hiện đại của lịch sử thế giới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới Trong suốt cả cuộc đời và sự nghiệp của mình, Người đã phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân Tư tưởng của Hồ Chí Minh là một di sản tinh thần đặc sắc, phong phú cho toàn Đảng, toàn dân ta, và được thể hiện rõ ràng đường lối chính sách của Đảng
Trang 9và gắn liền với thực tiễn các giai đoạn lịch sử nước ta kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh được rất nhiều các tổ chức và các học giả có uy tín trong và ngoài nước quan tâm nhiên cứu, trong đó có hàng trăm các công trình trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến lĩnh vực tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan trực
tiếp đến đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và vấn đề xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay” như: Hồ Chí Minh với sự nghiệp
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do PGS.TS Vũ Đình Hòe và PGS.TS Bùi
Đình Phong (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia (2010) Trong đó các tác giả đã tập trung phân tích làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc ta Nội dung cuốn sách được coi như là những tổng kết bước đầu về cống hiến to lớn, quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam Trên cơ sở đó các tác giả khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với độc lập dân tộc và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay; Cuốn sách Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh do PGS TS Phùng Hữu Phú chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia (1995), nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ chiến lược đại đoàn kết do Hồ Chí Minh khởi xướng nhằm tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, và của quốc tế vì mục tiêu độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Từ đó các tác giả rút ra ý nghĩa về lý luận và thực tiễn góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Ngoài ra còn có các công trình khác, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở nhiều
góc độ khác nhau như Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc do PTS Nguyễn Thế Thắng chủ biên, Nxb Lao động, Hà Nội (1999);
Sự hình thành tư tường Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc của TS Nguyễn Đình Thuận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2002); Chủ tịch Hồ Chí
Trang 10Minh với việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam của Chu Đức
Tính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001), v.v Các cuốn sách tập trung nghiên cứu, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trên các phương diện tiếp cận khác nhau
Đặc biệt, kỷ niệm lần thứ 106 ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 05 năm 1996, Ủy ban dân tộc miền núi cùng với Học viện Chính trị quốc
gia thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học – thực tiễn với đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam” Trong Hội thảo này có 45
bản báo cáo của các nhà khoa học và hoạt động thực tiễn, đã làm nổi bật về sự quan tâm sâu sắc và tình cảm gắn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc ở Việt Nam Các bài tham luận đã làm sáng tỏ một số vấn đề chủ yếu như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc ở miền núi trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc; chủ tịch Hồ Chí Minh với việc phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc miền núi những vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong chủ nghĩa xã hội, trong sự nghiệp đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng bào các dân tộc với Bác Hồ, v.v
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 65 ngày thành lập mặt trận dân tộc thống nhất (18 tháng 11 năm 1930 – 18 tháng 11 năm 1995), ngày 03 tháng 11 năm 1995, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học - thực
tiễn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc thống nhất” Gần 50 tham luận trong Hội thảo này đã nêu bật tư tưởng chiến lược đại
đoàn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người Nhiều ý kiến phân tích và khẳng định sự đúng đắn, tính nhất quán trong đường lối, chủ trương thực hiện chiến lược đại đoàn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta về đoàn kết giữa các tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đoàn kết giữa miền ngược với miền xuôi, giữa Trung –
Trang 11Nam – Bắc và đoàn kế quốc tế Hội thảo cũng khẳng định cuộc đời của chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn là tấm gương tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc
Kỷ niệm 113 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 05 năm
2003, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo khoa học “Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới” Gần 30 bản tham luận của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đã khẳng
định vai trò to lớn và sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Các tham luận cũng đã khẳng định sự thống nhất giữa tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh với đường lối đại đoàn kết của Đảng ta Từ đó cho thấy, quá trình từ nhận thức, xây dựng và củng cố phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta là những kinh nghiệm quý báu để bảo vệ xây dựng và chấn hưng đất nước trong thời kỳ mới
Ngoài ra, có thể kể đến một số bài báo nghiên cứu đề cập đến vấn đề này
như: Nguyễn Dương Bình (1990), “Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề dân tộc”, Tạp chí Dân tộc học, (01), Tr 13 – 22; Nguyễn Thị Kim Dung (2003), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và miền núi vào việc thực hiện chính sách dân tộc hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (06), Tr 30 – 33; Phạm Hồng Chương (2003), “Tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (07), Tr.25 – 27; Phạm Thế Duyệt (2003), “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc và những vấn đề đặt ra cho hệ thống chính trị hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (16), Tr.3 – 7; Lê Nhị Hoà (1998),
“Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa và sự lựa chọn con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (04), Tr 28 – 31; Nam Hưng (1994), “Một số suy nghĩ về sự kết hợp giữa giải phóng dân tộc và giải phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (03),
Trang 12Tr.15 – 17; Nguyễn Bá Linh (1993), “Những nhân tố quyết định đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (02), Tr.3 – 18; Trịnh Nhu (1996), “Quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (06), Tr.22 – 24; Nguyễn Duy Quý (2004), “Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học, (05),
Tr.11 – 15, và nhiều bài báo khác nữa
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc đã được nhiều tổ chức
và nhiều nhà khoa học có uy tín quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu Nhưng thực sự chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề này một cách có hệ thống Tuy vậy, những công trình, những tài liệu với các cách tiếp cận trên là tư liệu hết sức bổ ích đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ Triết học của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của đề tài
Đề tài tập trung làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc Từ đó làm rõ những giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc hoạch định đường lối chiến lược và chính sách của Đảng trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của đề tài:
Từ mục đích nêu trên đề tài có nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày và phân tích làm rõ những tiền đề dẫn đến sự hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
Thứ hai, trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc
Thứ ba, tìm hiểu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản
Việt Nam vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay
Trang 134 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử làm cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu Đồng thời tác giả luận văn cũng
đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: lịch sử
và lôgíc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, đối chiếu, v.v để nghiên cứu và trình bày luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những nội dung và giá trị cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc, trên cơ sở đó góp phần khẳng định rõ thêm vai trò đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ta hiện nay Đồng thời, luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường Đại học và Cao đẳng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 2 chương với 4 mục, 9 tiểu mục với 98 trang viết
Trang 14Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới Cả cuộc đời và sự nghiệp của người gắn liền với lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về vấn đề dân tộc nói riêng là sự kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại
và thực tiễn thời đại Người đã sống Đây là thời kỳ thế giới xẩy ra nhiều biến động to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, v.v
Từ những năm 40 của thế kỷ XIX phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ và trở thành thống trị ở các Anh, Pháp và một số các nước khác của châu Âu Đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản phương Tây bước sang một giai đoạn mới, chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa đã làm biến đổi cơ cấu kinh
tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất với quy mô ngày càng lớn Vì vậy, nó đã đặt ra những yêu cầu bức xúc về nguồn nguyên liệu, nhân công và thị trường tiêu thụ hàng hóa Để giải quyết những vấn đề này, các nước tư bản đế quốc, trong nước thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì đẩy mạnh quá trình xâm lược và áp bức nhân dân các nước thuộc địa, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, nơi cung cấp nguyên vật liệu, khai
Trang 15thác sức lao động và xuất khẩu tư bản “Chỉ chín nước 1 với tổng số dân
lãnh thổ các nước thuộc địa rộng gấp năm lần lãnh thổ của các nước chính quốc, còn số dân của các nước chính quốc chưa bằng 3/5 số dân của các nước thuộc địa… Số dân của các thuộc địa Anh đông gấp 8 lần rưỡi số dân nước Anh
và đất đai của các nước thuộc địa Anh gấp 252 lần đất đai của nước Anh Còn nước Pháp thì chiếm một số đất đai rộng gấp 19 lần nước Pháp; và số dân ở các nước thuộc địa Pháp đông hơn số dân nước Pháp 16.600.000 người” [41,
tr 277]
Sự thống trị tàn bạo của các nước tư bản đế quốc làm đời sống nhân nhân dân lao động, đặc biệt ở các nước thuộc địa vô cùng cực khổ Điều này đã làm cho
hai mâu thuẫn lớn, đó là: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản
cùng với mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa với các nước đế quốc ngày càng trở nên gay gắt Từ đó dẫn đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc ở khắp nơi trên thế giới diễn
ra ngày càng mạnh mẽ
Bên cạnh đó, do sự phát triển không đồng đều, giữa các nước tư bản chủ nghĩa cũng đã xuất hiện mâu thuẫn và nổ ra những cuộc đấu tranh rất gay gắt để tranh giành thị trường, thuộc địa và phân chia lại thế giới Sự đấu tranh ấy đã làm nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) Cuộc chiến tranh này đã gây ra hậu quả đau thương cho nhân dân các nước trên thế giới (khoảng
10 triệu người chết và 20 triệu người bị tàn phế do chiến tranh) Đồng thời nó cũng đã làm cho các nước tư bản suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc cũng tăng thêm Tình hình này đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh của các
1 Chín nước đế quốc bao gồm: Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Nhật Bản, Hà Lan và Bỉ
Trang 16dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức bóc lột phát triển ngày càng mạnh mẽ đã đặt ra yêu cầu bức thiết là cần phải có một lý luận cách mạng dẫn đường Chủ nghĩa Mác, ra đời vào giữa thế kỷ XIX, đã đáp ứng yêu cầu đó Chủ nghĩa Mác là một học thuyết khoa học, tiên tiến của thời đại, có sức hấp dẫn lớn đối với quần chúng nhân dân lao động và những nhà tư tưởng tiến
bộ trên thế giới, vì nó đặt ra vấn đề giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa, nó đã nâng những người vô sản, những người bị
áp bức trở thành người chủ của xã hội, đưa quần chúng nhân dân trở thành chủ thể sáng tạo của lịch sử, sáng tạo ra một xã hội mới tốt đẹp hơn, xã hội mà tất cả mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc Chủ nghĩa Mác đã cổ vũ tình đoàn kết của giai cấp vô sản trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ
tư bản bằng khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại !” Chủ nghĩa Mác
đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa; giải phóng giai cấp mình, giải phóng nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa tươi đẹp Vì vậy, chủ nghĩa Mác đã trở thành lý luận cách mạng, là kim chỉ nam soi đường, chỉ lối cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhờ đó giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập trên vũ đài chính trị, chủ nghĩa cộng sản
đã trở thành một thế lực trên khắp châu Âu
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX, trung tâm của phong trào cách mạng chuyển từ các nước châu Âu sang nước Nga Vận dụng, kế thừa và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác vào tình hình mới để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, V I Lênin đã bổ sung và lý luận của chủ nghĩa Mác nhiều nội dung mới gắn với thực tiễn cách mạng và lý luận ấy trở thành chủ nghĩa Mác – Lênin, soi
Trang 17sáng cho con đường cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênnin, Đảng Cộng sản Bôsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại giành thắng lợi năm 1917 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã xóa bỏ ách áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa và những tàn dư của chế độ chuyên chế Nga hoàng Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga đã làm cho chủ nghĩa cộng sản từ lý luận trở thành thực tiễn sinh động, đã không chỉ giải phóng cho giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động, đưa họ tới địa vị của người làm chủ xã hội, mà còn làm rung chuyển thế giới, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Cách mạng Tháng Mười đồng thời còn mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng, chống lại ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ mọi hình thức nô lệ, vươn tới tự do, bình đẳng, thực hiện quyền tự quyết dân tộc
Ðánh giá về tầm vóc lịch sử thế giới, ý nghĩa quốc tế và thời đại của Cách
mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh đã viết: “Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người Cách mạng Tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đánh thức nhân dân châu Á thức tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải
Sau khi giành được chính quyền, Lênin và Đảng Cộng sản Bôsêvích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước Nga thiết lập chính quyền Xô viết - bộ máy nhà nước mới của nhân dân lao động Chính quyền Xô viết đã xây
Trang 18dựng nhiều chính sách hết sức tiến bộ như: xóa bỏ mọi phân biệt đẳng cấp, sắc tộc, tuyên bố quyền bình đảng nam nữ, tôn trong quyền tự do tín ngưỡng và thừa nhận bình đẳng và chủ quyền giữa các dân tộc
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đặc biệt sau cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công và
sự ra đời của Nhà nước Xô viết, Lênin và Đảng Cộng sản Bôsêvích đã tập hợp những lực lượng cách mạng chân chính để tiến hành thành lập một tổ chức quốc
tế mới của giai cấp vô sản Tháng 03 năm 1919 Quốc tế III – Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập tại Mátxcơva với sự tham gia của các tổ chức cộng sản từ 30 nước trên khắp thế giới Quốc tế Cộng sản được xây dựng theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Quốc tế Cộng sản đã xác định đường lối cách mạng triệt để và khoa học của phong trào cách mạng là lật đổ chính quyền tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp vô sản, thiết lập chính quyền vô sản với sự giúp đỡ của chính quyền nước Nga Xô viết, xóa bỏ chế độ
xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới xã hội cộng sản chủ nghĩa Quốc tế Cộng sản đã trở thành một tổ chức có vai trò to lớn trong việc tập hợp, tổ chức quần chúng bị áp bức trên thế giới thành một trận tuyến cách mạng rộng lớn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc
Sau khi thành lập, Quốc tế Cộng sản đã có nhiều hoạt động tích cực thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đặc biệt Quốc tế Cộng sản rất quan tâm đến vấn đề dân tộc và thuộc địa Năm 1920, tại đại hội II của Quốc tế Cộng sản, Lênin đã trình bày Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa Những nội dung trong luận cương đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề của phong trào giải phóng dân tộc Từ đó, đã vạch ra con đường đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, cũng như chỉ ra sự phối hợp giữa phong trào công nhân quốc tế và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đây chính là tác phẩm có ảnh hưởng quyết định nhất
Trang 19đến bước chuyển của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản - chủ nghĩa Mác – Lênin Đại hội đã tán thành đường lối chính trị của Lênin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết anh em của các dân tộc phương Đông và giai cấp vô sản phương Tây
Tháng 12 năm 1922, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) ra đời Đây chính là thắng lợi của chính sách dân tộc theo chủ nghĩa Lênin, thắng lợi của tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trong quốc gia công nông đầu tiên trên thế giới Từ đây, loài người tiến bộ đã tìm thấy con đường đúng đắn giải quyết vấn đề dân tộc, thủ tiêu mọi bất bình đẳng và xây dựng một cộng đồng anh em giữa các dân tộc
Chính thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, sự ra đời của nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản III là nguồn động viên, cổ vũ vô cùng to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên khắp thế giới
Trong khi các nước phương Tây có sự phát triển mạnh mẽ, một số nước trở thành đế quốc thì hầu hết các nước phương Đông vẫn còn là những quốc gia phong kiến bảo thủ, trì trệ, lạc hậu Do vậy, khi bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược thì phần lớn chính quyền phong kiến ở các quốc gia này đều bất lực trong vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc và trở thành thuộc địa của các nước đế quốc
Cuối thế kỷ XIX, tình hình kinh tế - chính trị Trung Quốc lâm vào suy thoái Triều đình Mãn Thanh bảo thủ không còn đảm đương được vai trò lịch sử của mình nên đã liên tiếp thất bại trước những cuộc chiến tranh của các nước đế quốc và dần dần rơi và cảnh bị các nước thực dân đế quốc xâu xé
Đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có sự chuyến biến quan trọng đó là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, do nhà các mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn lãnh đạo, lật đổ nền quân chủ chuyên chế Mãn Thanh và sau đó thành lập nền cộng hòa của Trung Hoa dân quốc, thực hiện cương lĩnh chính trị theo học thuyết Tam
Trang 20dân: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc
Cùng với Cách mạng Tân Hợi 1911 của Tôn Trung Sơn, phong trào Duy Tân của hai nhà tư tưởng tiến bộ Trung Quốc lúc bấy giờ là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cũng ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà nho tiến bộ của Việt Nam Từ đó thúc đẩy phong trào cách mạng theo khuynh dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Nhật Bản là một trong số những nước hiếm hoi ở châu Á không bị các nước
đế quốc xâm lược và trở thành thuộc địa, thậm chí nước Nhật sau này đã phát triển và trở thành một đế quốc hùng mạnh đi xâm lược, áp bức các dân tộc khác
Đó là vì năm 1868 khi Thiên hoàng Minh trị lên ngôi, đã nhanh chóng thi hành chính sách mở cửa, canh tân đất nước Đồng thời cử phái đoàn tham quan, học hỏi, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, thể chế chính trị, hiến pháp của các nước châu Âu và châu Mỹ để áp dụng vào quá trình phát triển đất nước Từ đó đã tạo
ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, đưa Nhật Bản từ một nước phong kiến trở thành một nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên ở phương Đông Sau
đó Nhật Bản cũng thi hành chính sách thực dân đế quốc, bành trướng xâm lược các nước khác Từ năm 1879 đến 1894, Nhật Bản liên tiếp gây chiến tranh với các nước Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan Đặc biệt trong cuộc chiến tranh với nước Nga 1904 – 1905, Nhật Bản đã giành thắng lợi Chiến thắng đó đã gây tiếng vang lớn và tác động lớn đến phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á Từ đó có rất nhiều nhân sĩ, chính khách châu Á đến Nhận Bản để mong học hỏi kinh nghiệm và nhờ Nhật giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc ở nước mình
Ở các nước Đông Nam Á, ngay từ đầu thế kỷ XV các nước đế quốc đã bắt đầu xâm lược các nước ở khu vực này Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thì toàn bộ các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc và bị bóc lột hết sức nặng nề Mặt khác cũng đồng thời đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh
Trang 21chống xâm lược, giải phóng đất nước ở các quốc gia này, nhưng hầu hết không
có một thắng lợi đáng kể nào Duy chỉ có nước Xiêm (Thái Lan) đã nhận thức được cục diện chính trị thế giới và đã xây dựng được chương trình hành động để bảo vệ được chủ quyền, tuy vậy cũng không thoát khỏi sự lệ thuộc và bị khống chế bởi sức mạnh kinh tế - chính trị của các nước đế quốc
Đầu thế kỷ thứ XX, do ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng mới, phong trào đấu tranh ở các nước Đông Nam Á chuyển sang khuynh hướng dân chủ tư sản
1.1.2 Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - cơ sở xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam
đã diễn ra bước chuyển mạnh mẽ về mọi mặt Xã hội Việt Nam từ chế độ phong kiến, quân chủ chuyên chế chuyển sang chế độ xã hội thuộc địa nửa thực dân, phong kiến Sự chuyển biến này được đánh dấu vào năm 1958 khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng Trong khi triều đình nhà Nguyễn hèn hạ từng bước đầu hàng thực dân Pháp thì các phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân liên tiếp nổi lên Tuy nhiên, tất cả các phong trào yêu nước đều lần lượt thất bại vì không có một đường lối chiến lược đúng đắn và không xuất phát
Trang 22giáo, thực hiện mục tiêu phá hoại khối đoàn kết của dân tộc Việt Nam Bên cạnh
đó thực dân Pháp vẫn duy trì bộ máy chính quyền phong kiến, hợp tác với bọn quan lại, địa chủ nhằm biến chúng trở thành tay sai đắc lực để dễ bề thống trị dân tộc Việt Nam
Sau này, khi đánh giá chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam, trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân chúng ta một quyền tự do dân chủ nào
Chúng thi hành pháp luật hết sức dã man Chúng thiết lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước, thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của
“Về kinh tế, chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và
Trang 23dân buôn, trở nên bần cùng
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân
ta một cách vô cùng tàn nhẫn” [44, tr 2]
Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để dễ bể thống trị Chúng đầu độc nhân dân ta bằng rượu và thuốc phiện; dung túng, duy trì các tập tục lạc hậu; hủy hoại các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tuyên truyền tâm lý tự ti vong bản Chúng tìm cách cấm đoán ngăn chặn những ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới du nhập vào Việt Nam
Dưới sự tác động của các chính sách bóc lột của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã diễn ra sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc Bên cạnh những giai cấp có tính chất truyền thống cũ (giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân) trong xã hội Việt Nam xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp mới Đó là giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản thành thị
Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam vốn đã tồn tại từ lâu đời, nay thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng không xóa bỏ mà vẫn tiếp tục duy trì và củng
cố địa vị của giai cấp này để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa của chúng Tuy nhiên, xét về mặt tư tưởng và tinh thần yêu nước có thể chia giai cấp này thành hai hạng: Hạng thứ nhất có quyền lợi và địa vị do phục vụ đắc lực cho thực dân Pháp mà ngày càng được cùng cố Cho nên lực lượng này rất trung thành và cam chịu làm tay sai cho thực dân Pháp, áp bức bóc lột nhân dân, phản bội lại quyền lợi của dân tộc; hạng thứ hai, tuy cũng là địa chủ phong kiến nhưng bị thực dân Pháp chèn ép về kinh tế, hơn nữa họ sinh ra trong một dân tộc có truyền thống yêu nước, không cam chịu nỗi nhục mất nước, đã đứng về phía quyền lợi của dân tộc, tham gia chống chủ nghĩa thực dân và bọn tay sai phản động
Giai cấp nông dân là lực lượng lao động đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, chiếm khoảng 90 % dân số Họ phải chịu hai tầng áp bức bóc lột: chủ nghĩa thực dân và địa chủ phong kiến Phần lớn nông dân bị tước đoạt hết ruộng
Trang 24đất, họ bị bần cùng hóa, bị mất nhà cửa Họ phải đi tha phương cầu thực, một số
ra thành thị làm công nhân, một số làm phu mỏ, phu đồn điền, số còn lại tiếp tục
ở lại quê hương, gắn bó với đồng ruộng Nhưng dù họ có ở lại quê hương hay đi làm thuê ở nơi khác thì cũng đều bị bóc lột hết sức nặng nề Do vậy, họ có mâu thuẫn sâu sắc với cả thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến tay sai, họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc và yêu cầu ruộng đất Do chiếm phần lớn dân số và là đối tượng bị bóc lột nặng nề nhất nên họ cũng chính là lực lượng to lớn có tinh thần cách mạng mạnh mẽ Vì vậy, nếu được lôi kéo vào phong trào cách mạng
và được tổ chức tốt họ sẽ phát huy được vai trò quan trọng của minh trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
Giai cấp tư sản là giai cấp mới, ra đời trong quá trình thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đa phần trong số họ là nhà buôn hoặc địa chủ đi lên Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời trong điều kiện bị thực dân Pháp chèn ép,
số lượng ít ỏi, tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối Trong quá trình phát triển có thể chia giai cấp tư sản Việt Nam thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản là những nhà tư sản lớn, họ làm trung gian giữa tư bản nước ngoài và thị trường trong nước, gắn chặt lợi ích của mình với lợi ích của thực dân Pháp, thực chất là làm tay sai cho các thế lực đế quốc bóc lột nhân dân mình Tư sản mại bản vừa cấu kết chặt chẽ với tư bản nước ngoài vừa cấu kết chặt chẽ với giai cấp địa chủ phong kiến phản động trong nước để bóc lột nhân dân lao động, duy trì địa vị và lợi ích của mình Vì vậy, tư sản mại bản cũng là đối tượng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Tư sản dân tộc là một bộ phận đông đảo trong giai cấp tư sản, gồm những tư sản vừa và nhỏ, hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Do chính sách độc quyền của thực dân Pháp, họ cũng bị chèn ép và không đủ sức đương đầu với sự cạnh tranh của đế quốc Trong mối quan hệ với
đế quốc Pháp, tư sản dân tộc cũng là những người mất nước, có mâu thuẫn về
Trang 25quyền lợi với thực dân phong kiến, nên họ cũng có tinh thần chống thực dân, phong kiến
Do vậy, giai cấp tư sản không đủ điều kiện để lãnh đạo cách mạng, nhưng trong quá trình cách mạng cần phải biết khôn khéo, lôi kéo bộ phận tư sản dân tộc tham gia vào phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
Tầng lớp tiểu tư sản trong thời kỳ này bao gồm học sinh, trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, những người làm nghề tự do, dân nghèo thành thị… Những người này cuộc sống cũng rất bấp bênh, họ cũng bị bóc lột, luôn bị de dọa phá sản, thất nghiệp và rất nhiều trong số họ trở thành những người vô sản Tầng lớp tiểu tư sản đặc biệt là giới học sinh, trí thức tiến
bộ cũng có tinh thần yêu nước và hăng hái hoạt động cách mạng Do vậy tầng lớp tiểu tư sản cũng là một lực lượng cách mạng rất quan trọng và là bạn đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai giai cấp công nhân Việt Nam nhanh chóng phát triển về số lượng Đa phần trong số họ xuất thân trực tiếp từ giai cấp nông dân - những người bị tước đoạt ruộng đất, không còn tư liệu sản xuất vì vậy phải
đi làm thuê để kiếm sống qua ngày Đặc điểm này làm cho giai cấp vô sản Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để liên minh với giai cấp nông dân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Cùng với giai cấp nông dân họ là giai cấp
bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất do vậy họ là những người có tinh thần cách mạng triệt để nhất Mặc dù giai cấp công nhân còn non trẻ, số lượng ít nhưng họ làm việc tập trung ở các thành thị, nhà máy, hầm mỏ, đồn điền nên rất thuận lợi cho
sự đoàn kết thống nhất trong đấu tranh cách mạng So với các giai cấp khác thì giai cấp công nhân Việt Nam là một giai cấp mới, tiên tiến, đại diện cho một phương thức sản xuất mới, tiến bộ Do vậy, khi được tổ chức lại, được trang bị
Trang 26lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin thì họ sẽ trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho dân tộc Như vậy, chính sách bóc lột tàn nhẫn của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, chuyển từ chế độ xã hội phong kiến sang chế độ xã hội thuộc địa nửa thực dân phong kiến Trong xã hội này đã xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản ngày càng trở nên gay gắt Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai bán nước và mâu thuẫn giữa nhân dân lao động, chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến Trong đó mâu thuẫn cơ bản chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai bán nước Điều này cũng đã đặt ra yêu cầu đối với cách mạng Việt Nam là phải giải quyết hai nhiệm vụ có quan hệ mật thiết với nhau Đó là phải giành độc lập dân tộc và giành ruộng đất về cho nông dân
Tuy nhiên, tất cả những phong trào yêu nước chống thực dân Pháp từ những năm 30 của thế kỷ XX trở về trước đều chưa có một đường lối đúng đắn vì chưa đặt vấn đề giải quyết triệt để hai mâu thuẫn này Chính vì thế mà tất cả các phong trào này đều thất bại
Có áp bức thì có đấu tranh, đó là chân lý Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp
nổ súng xâm lược Việt Nam, bất chấp chủ trương đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn, nhân dân ta với tinh thần yêu nước nồng nàn đã liên tiếp vùng lên chống xâm lược Có thể kể một số phong trào tiêu biểu sau đây:
Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
Phong trào Cần Vương (1885 – 1896): Phong trào do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết (lúc ấy là quan Thượng thư Bộ binh trong triều đình nhà Nguyễn) phát động Ngày 04 tháng 07 năm 1885, Tôn Thất thuyết cùng vua Hàm Nghi phát bất ngờ cho binh lính tấn công vào các trại lính Pháp ở Huế, nhưng sự việc không thành Tôn Thất Thuyết phải dẫn vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng
Trang 27Trị) Tại đây, ngày 13 tháng 07 năm 1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương và tiếp tục chiến đấu Hưởng ứng chiếu cần vương, nhân dân ta khắp nơi dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, văn thân yêu nước
đã nổi lên chống thực dân Pháp Cuối năm 1888 vua Hàm Nghi chẳng may bị bắt, nhưng phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp vẫn tiếp tục phát triển Tiểu biểu như: cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1892) ở đồng bằng Bắc Bộ do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) ở Thanh Hóa do Trần Xuân Soạn, Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo; Khởi Nghĩa Hùng Lĩnh (1887 – 1892) cũng ở Thanh Hóa do Tống Duy Tân và Cao Điển lãnh đạo; khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1895) ở Hà Tĩnh do Phan Đình Phùng
và Cao Thắng lãnh đạo Bên cạnh đó còn có cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (1884 – 1913) ở Bắc Giang do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo
Các phong trào khởi nghĩa nói lên tinh thần yêu nước, kiên cường chống xâm lược của nhân dân ta Nhưng các cuộc khởi nghĩa đều thất bại vì đã không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, còn một bộ phận lớn giai cấp địa chủ, phong kiến đã đầu hàng thực dân Pháp Những thất bại này cũng chính là sự thất bại của hệ ý thức tư tưởng phong kiến trước các nhiệm vụ lịch sử của dân tộc
Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
Sau thất bại của các phong trào Cần Vương và phong trào Yên Thế, các sĩ phu yêu nước hướng ra nước ngoài tìm con đường cứu nước Dưới ảnh hưởng của các trào lưu dân chủ tư sản của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, của Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc và sự thành công của phong trào Duy Tân và sự lớn mạnh của Nhật Bản, các sĩ phu yêu nước Việt Nam hướng sang Trung Quốc và Nhật Bản để tìm ra một đường lối cứu nước mới Tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh
Phan Bội Châu là người đại diện cho xu hướng bạo động, chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đổ thực dân Pháp và tay sai, khôi phục độc lập,
Trang 28thống nhất, sau đó thiết lập nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến Năm 1904 Phan Bội Châu lập ra Duy Tân hội với mục đích là đánh Pháp giành độc lập cho
Tổ quốc Ông chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp Vì vậy từ 1906 – 1908 ông tổ chức phong trào Đông Du để đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập nhằm đào tạo những người có trình độ văn hóa và quân sự cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước Nhưng năm 1908 Nhật và Pháp ký giao ước với nhau, Nhật trục xuất những thành viên trong phong trào Đông Du về nước, phong trào Đông Du tan rã Sau này khi nhận định nguyên nhân thất bại của phong trào Đông Du, Nguyễn Ái Quốc cho rằng hạn chế của Phan Bội Châu khi
ấy là do chưa nhận rõ được dã tâm của đế quốc Nhật Bản Chủ trương của Phan
Bội Châu dựa vào sự giúp đỡ của Nhật Bản để đánh Pháp chẳng khác nào “đưa hùm cửa trước, rước beo cửa sau”
Tuy thất bại và chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng Duy Tân hội và phong trào Đông Du đã tập hợp được một lực lượng yêu nước chống Pháp khá hùng hậu và đặc biệt nhiều thanh niên du học sinh của phong trào Đông Du sau này đã trở thành những hạt nhân của các phong trào cách mạng tiếp theo trong công cuộc giải phóng dân tộc
Đại biểu cho xu hướng cải cách là Phan Châu Trinh Ông đưa ra quan điểm trước mắt không đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc
mà nhiệm vụ cấp bách là khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh Ông yêu cầu
thực dân Pháp sửa đổi chính sách cai trị hiện hành để có thể từng bước giúp nhân dân Việt Nam tiến tới văn minh Ông cũng tích cực tham gia giảng dạy cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, ông đả kích bọn vua quan phong kiến tay sai, chỉ trích thực dân Pháp không lo mở mang khai hóa cho dân chúng
mà chỉ lo bóc lột nhân dân Tuy nhiên, ông phản đối đấu tranh vũ trang và cầu viện nước ngoài Sau này khi nhận xét về hạn chế tư tưởng của Phan Châu
Trinh, Nguyễn Ái Quốc có nói: “Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp
Trang 29thực hiện cải lương…điều đó thật là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương” [67, tr 13] Tuy vậy, ông là một tấm gương sáng trong phong trào yêu
nước đầu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Những hoạt động của Phan Châu Trinh góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam
Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có nhiều phong trào yêu nước khác như: Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907) do Lương Văn Can và Nguyễn Quyền đứng ra mở trường tư nhằm mục đích dạy học, truyền bá một nền tư tưởng học thuật mới, một nếp sống văn minh, tiến bộ, cổ vũ lòng yêu nước, tự hào dân tộc
cho quần chúng; phong trào “Tẩy chay Khách trú” do tư sản Việt Nam phát
động nhằm mục đích tẩy chay hàng hóa của tư sản người Hoa, chấn hưng nội hóa; phong trào đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn cũng do giai cấp tư sản Việt Nam phát động nhằm chống lại sự độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài Gòn của thực dân Pháp; đấu tranh đòi cải cách, tư do dân chủ… Cùng với các phong trào này là sự ra đời của các đảng phái, tổ chức chính trị như: Đảng Lập hiến (1923) của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn; Đảng Thanh niên (1923) do Nguyễn Trọng Hy, Trần Huy Liệu lãnh đạo; Đảng Thanh niên cao vọng (1926)
do Nguyễn An Ninh sáng lập; Hội Phục Việt (1925), sau nhiều lần đổi tên cuối cùng lấy tên là Tân Việt cách mạng Đảng (1928) do một số trí thức yêu nước sáng lập; Việt Nam quốc dân Đảng (1927) do Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo Tất các các phong trào này cuối cùng đều đi đến tan rã và thất bại
Và đồng thời nó cũng phản ánh sự bất lực của hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử
Như vậy, trước yêu cầu của lịch sử, hàng loạt các phong trào yêu nước ra đời với mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho dân tộc trên lập trường của hệ tư tưởng phong kiến, hoặc lập trường của hệ tư tưởng tư sản nhưng tất cả đều thất bại Những sự thất bại này thể hiện sự bế tắc, sự khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX Và giờ đây nhiệm
Trang 30vụ lịch sử đặt ra cho cách mạng Việt Nam là phải tìm một đường lối mới, một hệ
tư tưởng mới, một giai cấp mới có đủ sức đại diện và tập hợp được sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thắng lợi
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là do sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó những nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đó là: Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, quê hương, gia đình; tinh hoa văn hóa nhân loại và những quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa Việc nghiên cứu những nhân tố này có ý nghĩa rất quan trọng để chúng ta có thể hiểu được bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc nói riêng
1.2.1 Truyền thống dân tộc Việt Nam, gia đình và những phẩm chất cá nhân của Nguyễn Ái Quốc
Truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trải qua quá trình phát triển lâu dài, dân tộc ta đã tạo ra cho mình một nền văn hóa mang đậm bản sắc riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống cao đẹp Đó
là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập, tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, sự cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động và tính lạc quan, yêu đời của dân tộc
Điểm nổi bật nhất trong truyền thống văn hóa Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước – sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình lịch sử dân tộc Ngay từ khi dựng nước chúng ta luôn luôn phải đương đầu với thiên tai, địch họa Để tồn tại và phát triển dân tộc ta phải đoàn kết chặt chẽ để bảo vệ non sông, đất nước, bảo vệ nền độc lập, thống nhất của dân tộc Cho nên lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc ta
Trang 31chính là lịch sử của sự đấu tranh chống quân thù xâm lược để giành lại và gìn giữ nên độc lập của dân tộc mình Chính vì vậy tinh thần yêu nước đã thấm sâu, trở thành máu thịt của mỗi người dân Việt Nam tạo thành sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi quân thù xâm lược Lịch sử đã chứng minh ngay từ thế kỷ thứ III tr CN dân tộc ta đã đánh tan 50 vạn quân Tần xâm lược
Sau đó, khi An Dương Vương mất cảnh giác để đất nước Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà năm 179 TCN Từ đó, nước ta nằm dưới sự đô hộ của phương Bắc cho đến năm 905 Hơn một nghìn năm Bắc thuộc dân tộc ta đã phải chịu bao nhiêu đau thương mất mát do kẻ thù xâm lược phương Bắc không chỉ vơ vét, bóc lột nhân dân ta mà còn âm mưu đồng hóa, hủy diệt nền văn hóa của dân tộc ta, âm mưu biến nước ta thành một bộ phận đất đai của họ Nhưng nhân dân ta không cam chịu khuất phục, đã nhiều lần đứng lên khởi nghĩa giành độc lập, tự chủ cho dân tộc bất chấp sự đàn áp vô cùng dã man của kẻ thù Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng… Trong những cuộc đấu tranh đó đã nhiều lần nhân dân ta đã giành được thắng lợi, đuổi
kẻ thù ra khỏi bờ cõi xây dựng được chính quyền độc lập Tuy nhiên, những chính quyền độc lập đó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi Sau đó bị tiêu diệt và nước ta lại rơi vào tay của các triều đình phong kiến phương Bắc
Tiếp sau đó là thời kỳ độc lập tự chủ (được đánh đấu bởi thắng lợi của cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ năm 905, chính quyền đô hộ nhà Đường bị lật đổ), dân tộc ta cũng luôn phải đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược của quân giặc phương Bắc mạnh hơn gấp nhiều lần, nhưng dân tộc ta cũng đã đoàn kết một lòng đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, đánh dấu bằng thắng lợi oanh liệt của chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo Nối tiếp thắng lợi này
là hàng loạt các chiến thắng vang dội khác: Lê Hoàn đánh tan quân Tống năm 981; Lý Thường Kiệt đã đánh tan 10 vạn quân Tống năm 1077; nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên – Mông thế vào thế ký thứ XIII; Lê Lợi đánh bại quân
Trang 32Minh 1428; Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh năm 1789 Trong những cuộc chiến tranh tàn khốc đó, lòng yêu nước ở mỗi người dân Việt Nam đã được thể hiện ở tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ dám xả thân vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân mình, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc Đánh giá tinh thần yêu nước của nhân dân ta chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của
ta Từ xưa đến nay, mỗi khỉ Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v Chúng ta phải nghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [46, tr 171, 172]
Như vậy chủ nghĩa yêu nước là một sản phẩn tinh thần cao đẹp của lịch sử dân tộc ta Đương nhiên trong thời đại phong kiến yêu nước đồng nghĩa với trung quân, trung với vua nghĩa là yêu nước Chủ nghĩa yêu nước hiểu theo nghĩa này sẽ tạo thành sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược nếu như triều đình phong kiến hết lòng vì hạnh phúc nhân dân vì lợi ích dân tộc, kiên quyết chống kẻ thù xâm lược Nhưng khi chế độ phong kiến suy vong, triều đình phong kiến phản bội lại lợi ích dân tộc, thỏa hiệp với kẻ thù, bóc lột nhân dân ta thì chủ nghĩa yêu nước trung quân lúc này trở nên bảo thủ và đối lập với chủ nghĩa yêu nước chân chính Còn chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước gắn với tinh thần đạo đức nhân văn cao cả, gắn với lợi ích của nhân dân Ở Hồ Chí Minh yêu nước không phải là trung với vua mà
là trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc
Trang 33Chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh là sự kế thừa những giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống dân tộc nhưng được phát triển với tinh thần nhân văn, đổi mới, phù hợp với thực tiễn thời đại
Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam còn là tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái
Truyền thống này hình thành cùng với sự ra đời của dân tộc Ngay từ buổi đầu dựng nước dân tộc ta đã phải chiến đấu gian khổ với thiên tai, địch họa để tồn tại và phát triển, chính vì vậy mà dân tộc Việt Nam đã sớm biết đoàn kết và gắn bó với nhau để cùng nhau vượt qua khó khăn Truyền thống quý báu đó được phản ánh trong những truyền thuyết, ca dao tục ngữ của nhân dân ta Truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc một trăm trứng, trăm trứng ấy nở
thành trăm con trai nhắc nhở “đồng bào” ta nhớ về cội nguồn, nên trong cuộc
sống phải coi nhau như ruột thịt, phải đoàn kết, yêu thương, gắn bó với nhau Ở trong ca dao cũng đã có nhưng câu thơ rất hay được đúc kết truyền thống tốt đẹp
đó như: “Nhiều điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Truyền thống này được thể hiện trong từng gia đình cho đến hàng xóm láng giềng, sống ở gần nhau, “tối lửa tắt đèn có nhau” Nền văn minh lúa
nước với tổ chức xã hội ở nông là làng, xã, gia tộc, gai đình và tổ chức phường, hội2 làm cho con người Việt Nam có tính cộng đồng, sống gắn bó mật thiết với nhau Trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thì tinh thần đoàn kết lại trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết, tướng sĩ đồng cam cộng khổ, quân dân đồng lòng tạo thành sức mạnh giúp dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Khi tổng kết thắng lợi oanh liệt của nhân dân ta trong 3 lần chống quân Nguyên – Mông, Hưng Đạo
2
(phường là tổ chức gồm những người cùng ngành nghề với nhau, hội là tổ chức liên kết những người cùng sở thích với nhau Những người trong cùng phường, hội luôn có trách nhiệm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau)
Trang 34Vương Trần Quốc Tuấn có nói: “Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây
Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc tất phải bị bắt”
Sau này trong Bình Ngô đại cáo, tinh thần đoàn kết ấy cũng đã được Nguyễn
Trãi nhắc đến trong câu: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”
Chúng ta không chỉ bao dung nhân ái với chính dân tộc mình mà chúng ta còn bao dung nhân ái với ngay cả những kẻ thù xâm lược đã từng gây nhiều tội
ác với nhân dân ta Cuối mùa xuân năm 1077, quân và dân ta dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đã đánh tan 10 vạn quân Tống xâm lược, khoảng 3 vạn quân sống sót còn lại lâm vào tình thế quẫn bách, nhà Lý đã chủ động giảng hòa
để “mở đường hiếu sinh cho giặc”, thực chất là để mở lối thoát cho quân Tống Trong kháng chiến chống quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi đã: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” Khi chiến thắng
và bắt được quân giặc nghĩa quân chẳng những không giết chúng, trái lại còn
mở đường hiếu sinh tha tội chết cho quân giặc, cấp thuyền bè, xe ngựa cho quân giặc trở về quê hương bản quán
Truyền thống quê hương và gia đình
Truyền thống quê hương và gia đình là một nhân tố quan trọng nuôi dưỡng
và hình thành lên tư tưởng, cốt cách Hồ Chí Minh Bác Hồ sinh ra trong một gia đình khoa bảng Cha của Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc là người yêu nước và sống rất gần gũi với nhân dân lao động Cụ đỗ Phó bảng năm 1901, sau đó ra làm quan Tuy nhiên vì là người có tinh thần yêu nước nên cụ thường chống đối bọn quan trên và thực dân Pháp Một thời gian sau cụ từ quan, vào Nam Bộ làm nghề thầy thuốc, sống cuộc đời thanh bạch, cho đến lúc từ trần Cuộc đời cụ là một tấm gương về sự lao động cần cù, ham học hỏi, đặc biệt là lối sống trong sáng, giản dị lòng yêu nước thương dân đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh sau này
Trang 35Quê hương của Bác cũng là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nằm ở hạ lưu sông Lam, là nơi hội tụ của các trung tâm văn hóa vùng Bắc Trung Bộ Đây cũng là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, là quê hương của các vị anh hùng nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta như: Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Tất, Đặng Dung… Cùng các lãnh tụ yêu nước giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kể XX như: Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,… Mảnh đất quê hương giàu truyền thống cách mạng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước Hồ Chí Minh
Phẩm chất, tài năng của bản thân Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất giúp Nguyến Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước đó chính là những nhân tố chủ quan thuộc về bản thân của Nguyễn Ái Quốc Đó là tư chất thông minh, lòng yêu nước thương dân, ý chí kiên cường vượt qua khó khăn gian khổ, là lối tư duy nhạy bén, độc lập, sáng tạo… của Nguyễn Ái Quốc
Được sinh ra và lớn trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng và được gia đình quan tâm giáo dục lễ nghĩa từ nhỏ nên Nguyễn Ái Quốc đã sớm có lòng yêu nước, thương dân Khi trưởng thành, chứng kiến cảnh nhân dân ta sống cảnh lầm than dưới ách áp bức bị bóc lột của chế độ xã hội nửa thực dân phong kiến lúc bấy giờ Hồ Chí Minh vô cùng đau xót và đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Trước khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước, thì ở Việt Nam cũng
đã có những phong trào yêu nước như cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, xu hướng cải cách của Phan Chu Trinh… Tuy nhiên, tất cả các phong trào ấy đều thất bại Với một lối tư duy nhạy bén độc lập sáng tạo, Người đã sớm nhận ra những hạn chế của các phong trào yêu nước trước đó Vì vậy, mặc dù rất khâm phục ý chí
và lòng yêu nước của các bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không tán
Trang 36thành đường lối cứu nước của họ và Người tự đi tìm một con đường cứu nước mới Từ thực tiễn hoạt động cách mạng dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã nắm bắt được quy luật vận động của xã hội, hiểu được bản chất của các cuộc đấu tranh của các dân tộc, người đã khái quát thành lý luận, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta đưa cánh mạng đi đến thắng lợi cuối cùng
Có thể nói Hồ Chí Minh là hiện thân của con người Việt Nam có phẩm chất cao quý: Là người có hoài bão, có lý tưởng; có ý chí quyết tâm vượt qua mọi thử thách; hết lòng hết dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có lòng nhân ái, giản
dị, gần gũi quần chúng; có lập trường cách mạng vững vàng; dũng cảm trong hành động; kiên trì đấu tranh sự nghiệp độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân
1.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc còn là sự kế thừa có phê phán những tư tưởng văn hóa của cả phương Đông và phương Tây
Ở phương Đông, tư tưởng Nho giáo và Phật giáo đã ảnh hưởng tới Hồ Chí Minh ngay từ thủa thiếu thời Bởi vì Người sinh ra trong một gia đình khoa
bảng, ngay tư nhỏ Người đã được học “tứ thư, ngũ kinh” – những tác phẩm kinh
điển của Nho giáo Tất nhiên, trong hệ thống triết lý của Nho giáo cũng có rất nhiều những điểm hạn chế như: nó chứa dựng những yếu tố duy tâm, bảo thủ, lạc hậu, phân biệt đẳng cấp, coi thường người phụ nữ Nhưng Hồ Chí Minh đã biết gạt bỏ những hạn chế đó và biết tiếp thu những mặt ưu điểm như tư tưởng
về đạo đức được thể hiện trong các phạm trù Nhân, Nghĩa, Lễ Trí, Tín, Cần, Kiệm, Liêm, Chính; triết lý hành động, nhập thế, hành đạo, giúp đời, tu thân, tề
gia, trị quốc; quan điểm “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”; tư tưởng về một xã hội thái bình, thịnh trị, một “thế giới đại đồng” của Nho gia Hồ Chí
Trang 37Minh đã nói: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng
Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” [46, tr 46]
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, ta còn thấy trong tư tưởng của người có nhiều nét gần gũi với triết lý nhà Phật Phật giáo được du nhập vào Việt Nam ngay từ thế kỷ thứ I sau Công nguyên Tư tưởng cơ bản của Phật giáo là giáo dục con người về lòng từ bi, hỉ xả, cứu khổ, cứu nạn rất gần gũi với tâm lý tư tưởng, tập quán của người Việt Nam Dần dần những tư tưởng của Phật giáo lan tỏa và có ảnh hưởng rất mạnh trong đời sống nhân dân ngay cả khi Nho giáo trở thành quốc giáo và đã để lại nhiều dấu ấn trong tư tưởng, tình cảm tín ngưỡng lối sống của người dân Việt Nam Lẽ đương nhiên Phật giáo là một tôn giáo cho nên trong lý luận, tư tưởng của Phật giáo không tránh khỏi có những hạn chế nhất định Nhưng những giá trị của Phật giáo được Hồ Chí Minh tiếp thu và vận
dụng như tinh thần “cứu khổ, cứu nạn”, “thương người như thể thương thân”;
lối sống đạo đức, trong sáng, giản dị, tu tâm tích đức Đặc biệt lối sống tích cực của nhà Phật là gắn bó với quần chúng nhân dân, với đất nước, khi cần thiết sẵn sàng tham gia vào cuộc đấu tranh cùng với quần chúng nhân dân chống kẻ thù bảo vệ cuộc sống hòa bình, tươi đẹp Phật giáo cho rằng đời là bể khổ Nguyên
nhân cơ bản của mọi nỗi khổ là do con người “vô minh” Vì vậy để diệt khổ, giải thoát cho con người Phật giáo cho rằng phải tu đạo, thực hiện “bát chính đạo”, tuân theo “ngũ giới”, “thập thiện” Tư tưởng giải thoát, giải phóng con
người của Phật giáo được Hồ Chí Minh kế thừa, và phát triển lên một tâm cao mới để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra cho dân tộc Người cũng hướng đến diệt khổ, giải thoát cho con người Nhưng phương pháp người thực hiện để giải thoát nỗi khổ đó là đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế để tạo thành sức mạnh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Khẳng định giá trị của tư tưởng nhà Phật đối với cuộc kháng chiến của dân tộc,
Trang 38trong thư gửi cho Hội phật tử ngày 13 tháng 08 năm 1947, Bác nói:
“Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện
Thế là: Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang
Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta Chúng đốt chùa chiền, phá tượng Phật, hành hạ tăng ni, tàn sát đạo hữu Chúng hòng phá tan đạo Phật
Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn Muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma
Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải, xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải
nô lệ” [45, tr 197]
Như vậy, ta có thể thấy Hồ Chí Minh đã tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong triết lý Phật giáo để xây dựng những nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc một cách đúng đắn, khoa học
Sau này, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn Ông là người lãnh đạo cách mạng Tân Hợi năm 1911 Đồng thời ông là người sáng lập ra Quốc dân Đảng với mục đích đấu tranh chống bọn
đế quốc giành lại giang sơn cho người Trung Quốc Ông chủ trương thực hiện
ba chính sách lớn: Liên Nga, liên Cộng, phù trợ công nông Trong nước ông chủ trương đoàn kết dân tộc, không phân chia giai cấp và hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc, ủng hộ phong trào công nhân và nông dân nhằm tạo ra một khối đoàn kết, thống nhất rộng ra trong dân tộc Về đối ngoại, ông chủ trương liên kết với nước Nga Xô viết và Quốc tế Cộng sản để làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh của cách mạng Trung Hoa Đồng thời Tôn Trung Sơn cũng chủ trương ủng hộ cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân của các nước nhỏ cùng chung cảnh
Trang 39ngộ với Trung Quốc Chủ nghĩa tam dân đã có ảnh hưởng lớn đối với Nguyễn
Ái Quốc, với nội dung “Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc” Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng tư
tưởng này vào Việt Nam và nâng lên một tầm cao mới đầy tính nhân văn và phù hợp với thực tiễn nước ta
Ngoài ra Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của nhà yêu nước tiêu biểu của
Ấn Độ là Mahatma Gandhi Ông là lãnh tụ của Đảng Quốc đại Ấn Độ, là anh hùng dân tộc Ấn Độ, đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ Tư tưởng đoàn kết dân tộc của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước châu Á bị đô hộ áp bức đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà
Hồ Chí Minh là người phương Đông, nhưng với thời gian dài hơn 30 năm hoạt động cách mạng Người đã gắn bó với môi trường phương Tây Ngay từ thời thơ ấu, khi còn học ở trường Quốc học Huế, Người đã được tiếp xúc với những khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái của cách mạng tư sản Pháp từ đó Người đã nung nấu ý định tìm hiểu nền văn minh Pháp và các nước khác để trở về giúp đồng bào dân tộc mình Sau này, trong quá trình hoạt động cách mạng Người đã
có dịp tìm hiểu, nghiên cứu những tư tưởng tiến bộ ở châu Âu nhất là những tư tưởng của các nhà triết học khai sáng Pháp như: S.L.Môngtexkiơ (1689 – 1755), nhà văn, nhà triết học, xã hội học và sử học Pháp, người đại diện cho khuynh hướng chính trị của giai cấp tư sản Pháp thế kỉ 18 và có ảnh hưởng lớn đến Cách mạng tư sản Pháp 1789; Gi.G Rút-xô (1712 – 1778), nhà xã hội học, mỹ học là một nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới Cách mạng Pháp 1789 Đồng thời qua hoạt động thực tiễn cách mạng Người cũng tiếp thu được những điểm tiến bộ trong cách mạng tư sản Pháp, cách mạng Mỹ Điều này lý giải vì sao ngay trong những dòng đầu tiên của bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 02 tháng 09 năm
Trang 401945, Hồ Chí Minh đã trích dẫn những tư tưởng tiến bộ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 Trong Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh đã
viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” [44, tr 1]
Tuy nhiên, sự tiếp thu của Hồ Chí Minh không phải là sự tiếp thu nguyên xi, máy móc mà là sự kế thừa có phê phán, khi tiếp thu những mặt tiến bộ của cách mạng tư sản Pháp, Mỹ, Hồ Chí Minh cũng nhận ra những mặt hạn chế của các
cuộc cách mạng đó, Người nói: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã bốn lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” [42, tr 274] Vì vậy, theo Hồ
Chí Minh, muốn cách mạng thành công, thành công đến nơi, nghĩa là để nhân dân được hưởng hành phúc, tự do, dân chủ, bình đẳng thật sự thì phải hy sinh, phải đoàn kết, thống nhất và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2.3 Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa
Trong các nhân tố có tác động đến quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc