Từ chỗ nhận thấy vai trò to lớn của đạo đức, đặc biệt là đạo đức Hồ Chí Minh trong việc hoàn thiện nhân cách con người, Bộ chính trị đã ra chỉ thị số 06 - CT/TW về việc tổ chức cuộc vận
Trang 1NGUYỄN THỊ LAN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Người cam đoan
NGUYỄN THỊ LAN
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 8
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 8
1.1.1 Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 8
1.1.2 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 23
1.1.3 Truyền thống quê hương, gia đình và những phẩm chất, đạo đức riêng có của Hồ Chí Minh 34
1.2 Những nội dung và đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 36
1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức 36
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng 38
1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới 55
Chương 2: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 61
2.1 Thực trạng về đạo đức của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 62
2.1.1 Mặt tích cực trong đạo đức, lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 63
2.1.2 Mặt hạn chế về đạo đức, lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 80
Trang 52.2.1 Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cho sinh viên thành phố
Hồ Chí Minh góp phần hình thành những phẩm chất, đạo đức mới đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay 88 2.2.2 Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức góp phần rèn luyện
bản lĩnh chính trị cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
hiện nay 100
2.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và tự giáo dục
đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 103
2.3.1 Một là, cần phải nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đạo đức
trong công tác giáo dục cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 103 2.3.2 Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong
việc giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
hiện nay………… 109 2.3.3 Ba là, phát huy ý thức tự giáo dục, rèn luyện của sinh viên
thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 110 2.3.4 Bốn là, giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
trong giai đoạn hiện nay phải có tính thực tiễn 112 2.3.5 Năm là, đổi mới một cách có hiệu quả phương pháp giáo dục đạo đức
cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 113 2.3.6 Sáu là, tăng cường tập hợp sinh viên thành phố Hồ Chí Minh vào
các tổ chức, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh
để giáo dục đạo đức, lối sống cho họ 117 KẾT LUẬN 122 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để duy trì sự tồn tại, phát triển đời sống của mình, con người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hoạt động nhằm duy trì trật tự kỷ cương,
ổn định xã hội Do đó, đạo đức xuất hiện với vai trò là một phương thức cơ bản điều chỉnh các hành vi ứng xử của con người trong xã hội Phong tục tập quán, dư luận xã hội và lương tâm là những công cụ có sức mạnh to lớn được loài người sử dụng để điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội Do vậy, việc xây dựng đạo đức là nhu cầu tất yếu khách quan của bất cứ xã hội nào Việt Nam cũng như mọi dân tộc khác luôn coi trọng đạo đức và có truyền thống đạo đức của mình Do đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam là trong quá trình tồn tại và phát triển đã phải thường xuyên chống chọi với thiên tai và sự xâm lược của các kẻ thù hùng mạnh ở bên ngoài Để chiến thắng trong các cuộc chiến tranh đó, dân tộc Việt Nam đã phải phát huy tất cả những sức mạnh vốn có từ vật chất đến tinh thần Việc chuyển hóa sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất mà đạo đức giữ một vai trò quan trọng đã hình thành ở nước ta một truyền thống hết sức quí báu là coi trọng đạo đức
Ngày nay, đất nước ta tiếp tục đổi mới, hội nhập để phát triển, bên cạnh những thành tựu to lớn và đáng tự hào đã đạt được, thì hiện tượng suy thoái
về đạo đức ngày một trở nên nghiêm trọng
Sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức, cùng với những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện “âm mưu diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo
Trang 7đức công dân, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của thế hệ trẻ thanh niên, sinh viên Hậu quả là một bộ phận thanh niên, sinh viên chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, thích ăn chơi, lười lao động, lao vào con đường phạm pháp như trộm cắp, lừa đảo, thậm chí buôn bán ma túy, mại dâm, giết người; thờ ơ với chính trị, truyền thống cách mạng, truyền thống dân tộc, phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp, sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội, sa đọa vào nghiện ngập, hút xách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp…tạo nên
sự “lệch chuẩn” về những giá trị xã hội
Trước thực trạng đó, nếu những sai phạm của thế hệ trẻ thanh niên, sinh viên không được ngăn chặn, sửa chữa và uốn nắn kịp thời sẽ gây tác hại không nhỏ đến sự hưng thịnh của đất nước Do đó, không chỉ có Đảng và Nhà nước ta phải có những cố gắng, quyết tâm lớn trong việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức cho con người Việt Nam, đặc biệt là cho thế hệ trẻ thanh niên, sinh viên mà còn đòi hỏi mỗi công dân phải tự rèn luyện, bồi dưỡng, phấn đấu
để nâng cao phẩm chất đạo đức của mình, góp phần ổn định xã hội trong điều kiện lịch sử mới
Từ chỗ nhận thấy vai trò to lớn của đạo đức, đặc biệt là đạo đức Hồ Chí Minh trong việc hoàn thiện nhân cách con người, Bộ chính trị đã ra chỉ thị số 06 -
CT/TW về việc tổ chức cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với mục đích làm cho toàn đảng, toàn dân, toàn quân
nhận thức sâu sắc về những nội dung và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Tạo sự chuyển biến về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách sâu rộng trong toàn xã hội
Trang 8Xuất phát từ thực tiễn đạo đức ở xã hội nước ta hiện nay Đồng thời thấy được vai trò to lớn của giáo dục trong việc phát triển toàn diện con người, trong đó đạo đức được coi là yếu tố quan trọng để xem xét, đánh giá nhân cách cá nhân, cơ sở định hướng và phát triển năng lực của mỗi người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ sinh viên, đội ngũ trí thức tương lai của nước
nhà, tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với việc giáo
dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” để làm đề tài
luận văn thạc sĩ chuyên ngành triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Sau khóa họp thứ 24 của Tổ chức khoa học, văn hóa và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) quyết định tôn vinh Hồ Chí Minh danh hiệu cao quý: “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất” năm 1990, đặc biệt từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6 - 1991) khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”[17,127] thì việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực đạo đức đã có nhiều tác phẩm, công trình, đề tài khoa học nghiên cứu công phu theo nhiều hướng khác nhau được công bố Nhiều bài nói, bài viết được đăng trên các báo, tạp chí
Trong phạm vi những nội dung có liên quan đến đề tài luận văn, có thể khái quát thành các hướng cơ bản sau đây:
Hướng thứ nhất, đó là các công trình, sách báo nghiên cứu về nội dung
và đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Với nội dung này, trước hết
cần phải kể đến các công trình tiêu biểu sau: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của tác giả Thành Duy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Tư tưởng
triết học Hồ Chí Minh” do GS,TS Lê Hữu Nghĩa làm chủ biên, Nxb Lao
Trang 9động, Hà Nội, 2000; “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (qua các phạm trù
mà Người đã sử dụng)” của TS Hoàng Trung, Nxb Đại học quốc gia,
thành phố Hồ Chí Minh, 2005
Những tác phẩm này chủ yếu làm rõ nguồn gốc và sự khác biệt cơ bản giữa đạo đức cách mạng và đạo đức cũ của xã hội phong kiến Việt Nam Nêu lên những chuẩn mực và nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội
Hướng thứ hai, đó là các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Với nội dung
này, cần phải kể đến các tác phẩm tiêu biểu: “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh,
truyền thống dân tộc và nhân loại” của giáo sư Vũ Khiêu, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1993; Bảo tàng Hồ Chí Minh, Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ, Thanh niên, 2007; Mạnh Hà, Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ, Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2007; Kể chuyện đạo đức Bác Hồ, Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003
Những kết quả nghiên cứu trên, đã nêu rõ sự kế thừa biện chứng các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị nhân văn cao quý của nhân loại trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Làm toát lên sự sáng ngời
về đạo đức qua cuộc sống đời thường của một lãnh tụ dân tộc thiên tài, một danh nhân văn hóa lớn của thế giới
Hướng thứ ba, đó là giáo dục đạo đức cho thanh niên học sinh theo tư
tưởng Hồ Chí Minh Với nội dung này cần phải kể đến các công trình tiêu
biểu: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho sinh viên ở
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Th.S Phạm Tấn Xuân Tước, PGS, TS
Huỳnh Thị Gấm, Nxb Lý luận chính trị, 2008; Trần Hậu Kiêm - Đoàn Đức Hiếu:
“Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên” Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
Trang 10“Sửa đổi lối làm việc” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Nguyễn Đức Hòa:
Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác giáo dục đạo đức học trong nhà trường phổ thông, tạp chí triết học số 5 - 2008
Những tác phẩm này đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên học sinh Chỉ rõ thực trạng đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên trong các trường phổ thông và cao đẳng, đại học
ở nước ta hiện nay Nêu lên sự cần thiết phải giáo dục tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh cho họ để đảm bảo tính toàn diện và cân đối giữa tài năng
và đạo đức trước sự chuyển mình của đất nước
Nhìn chung, tất cả các ấn phẩm, các công trình, bài viết nêu trên đã đề cập sâu sắc đến các góc độ khác nhau của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Vì vậy, đây thực sự là những tư liệu quan trọng, có giá trị để tác giả làm cơ sở đi sâu tìm hiểu, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứu trên, trong luận văn này tác giả trình bày một cách có hệ thống nguồn gốc, nội dung và đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức, góp phần làm sáng tỏ hơn ý nghĩa tư tưởng đạo đức của Người trong việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ thanh niên, sinh viên mà cụ thể là sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Làm rõ những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, rút ra ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải giải quyết những nhiệm
vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Trang 11Hai là, phân tích những nội dung và đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức
Ba là, tìm hiểu thực trạng đạo đức sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh và rút
ra ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho
họ, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và tự giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi một luận văn, tác giả chỉ tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức và rút ra ý nghĩa của việc giáo dục tư tưởng đạo đức của Người cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đưa
ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và tự giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp nghiên cứu chuyên ngành kết hợp với phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, diễn dịch và quy nạp, lôgích và lịch sử, thống kê, khảo sát, hệ thống hóa, khái quá hóa để nghiên cứu đề tài luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, luận văn đã khái quát hóa thực tiễn Việt Nam những năm
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hệ thống quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng của Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước để chỉ ra đầy đủ cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, đồng thời làm rõ tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức đã kế thừa những giá trị tư tưởng đạo đức của dân tộc
và nhân loại, và phân tích nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Trang 12Về thực tiễn, luận văn góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn về vai trò
của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho nhân dân và sinh viên Việt Nam nói chung, sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn hiện nay Đồng thời luận văn còn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và tự giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở lý luận để sinh viên
tham khảo nhằm thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Bộ Chính trị phát động
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Chương 1: Cơ sở hình thành và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Chương 2: Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Tư tưởng con người bao giờ cũng xuất phát từ những điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định, theo C Mác: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”[7,15] Đồng thời tư tưởng, ý thức của con người có tính độc lập tương đối, nên trong quá trình phát triển, bên cạnh việc thể hiện năng lực cá nhân xuất sắc, tư tưởng con người còn chịu ảnh hưởng về nhận thức và những phẩm chất, đạo đức của những người, những thế hệ đi trước hoặc đương thời ở những mức độ
ít, nhiều khác nhau
Trong lịch sử tư duy nhân loại, tư tưởng xuất chúng của các vĩ nhân được hình thành theo quy luật như thế Cũng như bao vĩ nhân khác trong lịch
sử tư tưởng nhân loại, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có cơ sở hình thành
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 1.1.1 Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Thực tiễn Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế giới chứng kiến nhiều sự kiện lịch
sử trọng đại, phản ánh xu hướng biến động đầy kịch tính của xã hội loài người Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa đã làm xuất hiện những mâu thuẫn lớn của thời đại
Sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (3 - 1919) làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền bá rộng rãi và ảnh hưởng sâu rộng đến phong trào đấu tranh của giai cấp công
Trang 14nhân trong các nước tư bản và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở những nước thuộc địa trên thế giới
Việc chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, đẩy lùi chế độ phong kiến vào quá khứ đã dẫn đến
sự xuất hiện chủ nghĩa thực dân tiến hành các cuộc xâm lược thuộc địa, xác lập quyền thống trị trên phạm vi toàn thế giới
Việt Nam, một quốc gia phong kiến nhỏ bé và lạc hậu ở phương Đông bị thực dân Pháp nổ súng xâm lược vào ngày 31 tháng 8 năm 1858 Sau khi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, làm cho xã hội nước ta chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến Việc kết hợp kiểu bóc lột thực dân với bóc lột phong kiến nhằm vơ vét tài nguyên, sức lao động, của cải để làm giàu cho nước Pháp đã gây nên những biến đổi lớn trên đất nước ta
Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ
quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành ba kỳ để tự trị, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, địa phương, chia rẽ dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương
Về kinh tế: Thông qua hai cuộc khai thác thuộc địa,thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế: tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lậpđồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của chúng Ngoài ra, chúng còn thực hiện nhiều chính sách bóc lột khác về kinh tế: cho vay nặng lãi, độc quyền, dùng hàng rào thuế quan để ngăn chặn hàng hóa nhập từ các nước khác, làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng kiệt quệ, lạc hậu, mất cân đối và phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp
Trang 15Về văn hóa: Thực dân Pháp triệt để thi hành chính sách văn hóa nô
dịch, làm băng hoại các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, gây tâm lý tự ti, vong bản, dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu, bưng bít, ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam
Về xã hội: Sự biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa… đã làm cho mâu
thuẫn và kết cấu xã hội ở nước ta thay đổi Ngoài những giai cấp và tầng lớp
cơ bản của xã hội: giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, tầng lớp tiểu tư sản đã xuất hiện thêm hai giai cấp mới đó là giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Việt Nam Mâu thuẫn mới giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động hình thành
Dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, nhân dân Việt Nam không chỉ bị mất độc lập, tự do ngay trên quê hương, đất nước của mình mà còn phải chịu cảnh đọa đày, bóc lột, giết chóc hết sức dã man Lối sống vô nhân đạo của thực dân phương Tây đã biểu hiện ngay ở cuộc chiến tranh phi nghĩa của chúng, những bài học về luân lý, đạo đức mà cha ông ta
răn dạy: “một giọt máu đào hơn ao nước lã’, “máu chảy ruột mềm” đã không
thể phát huy giá trị trước sự phản bội của triều đình nhà Nguyễn
Tuy chịu cảnh nô lệ khi nước mất, nhà tan, song, không vì thế mà tính cách dân tộc, truyền thống độc lập dân tộc của các thế hệ thời đó bị mai một, trái lại tinh thần chấn hưng dân khí rất sôi nổi và rộng khắp Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta xảy ra từ Bắc chí Nam để quyết tâm giành lại nền độc lập dân tộc, giành lại một xã hội mà ở đó người với người sống với nhau chan chứa tình thương
Thực tiễn Việt Nam đã đặt ra cho những nhà tư tưởng tiến bộ đương thời nhu cầu phải tìm ra một hệ tư tưởng mới cao hơn hệ tư tưởng phong kiến nhằm soi sáng con đường giải phóng của dân tộc ta, bên cạnh đó nhu cầu về một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức cũng trở nên cấp thiết Thế hệ sĩ
Trang 16phu yêu nước, mà tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh trong khi tiếp thu ảnh hưởng của một số học thuyết tư sản phương Tây cũng đưa ra một số
tư tưởng mới về lĩnh vực đạo đức nhằm phát huy sức mạnh của nó trong cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược và sự phản bội của triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ Nhưng do chưa vượt ra khỏi phạm vi của các “cuộc cách mạng không đến nơi” nên các sĩ phu yêu nước ở đầu thế kỷ này chưa hiểu rõ tiến trình phát triển của xã hội nước ta có những điều kiện lịch sử riêng biệt, xã hội Việt Nam chưa trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa, trong khi chế
độ phong kiến đã hết vai trò lịch sử, còn chủ nghĩa tư bản ở phương Tây đã chuyển từ tiến bộ sang phản động, không còn là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại nữa, mà trong thời đại mới giai cấp giữ vị trí trung tâm quyết định phương hướng, nội dung phát triển của thời đại là giai cấp vô sản Do vậy, mọi nỗ lực để tìm kiếm phương thức nhằm làm thay đổi chế độ xã hội,
và thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trên lập trường dân chủ tư sản của các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ không thể đem lại thành quả như mong muốn Lịch sử dân tộc không chỉ ghi nhận một hiện thực đau xót trước
sự chấm dứt khẩu hiệu “phò vua cứu nước” của phong trào Cần Vương (1885-1896) do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) của Nguyễn Thiện Thuật, khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1892) của Tống Duy Tân và Cao Điển, khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng, phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, và sự dập tắt của phong trào Đông Du (1906-1908) của Phan Bội Châu; phong trào Duy Tân (1906-1908), phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907) của Phan Châu Trinh, mà còn ghi nhận sự thất bại liên tiếp của các phong trào yêu nước sau đó
Trang 17Vấn đề đặt ra là phải được trang bị phương pháp luận khoa học cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và giải quyết đúng đắn mọi vấn đề của đời sống xã hội, trong đó có những vấn đề đạo đức ở xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Vấn đề này được người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành giải quyết một cách triệt để, toàn diện và sâu sắc
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh với sự hình thành
tư tưởng đạo đức của Người
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh trong phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và giai cấp vô sản trên thế giới
Dẫu biết rằng “Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi” Trên hành trình vượt đại dương tới Pháp, Nguyễn Tất Thành có dịp đến Xingapo, Ai cập…và thấy ở tất cả xã hội đó có hai loại người: kẻ thống trị và người bị trị Khi đặt chân lên đất Pháp, Nguyễn Tất Thành cũng chỉ thấy xuất hiện hai loại người: người bị áp bức và kẻ áp bức Ở đây, Người đã phân biệt được người Pháp tốt là nhân dân lao động và người Pháp tàn ác là kẻ thống trị, và Người
nhận thức được nỗi khổ đau của nhân dân lao động ngay ở chính quốc
Khi tiếp tục hành trình sang châu Phi, Người có dịp dừng chân lại nhiều nước như: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Angiêri…và nhận thấy nhân dân lao động vô cùng cực khổ, còn bọn thực dân thì ở đâu cũng gian ác như nhau Còn tình cảnh của nông dân miền Tây châu Phi và châu Phi xích đạo thuộc Pháp thì phải chịu cảnh đói nghèo, dịch bệnh, cướp bóc, giết chóc và tàn phá
hết sức tàn nhẫn
Chưa dừng chân ở đây, Người tiếp tục sang Mỹ để tìm hiểu xem những
gì ẩn đằng sau những từ hoa mỹ của “văn minh phương Tây” mà khi còn ở quê nhà Người chưa thể hiểu rõ Hơn một năm ở nước Mỹ (cuối năm 1912
Trang 18đến cuối năm 1913), Người nhận thấy rằng ở Mỹ không chỉ có những tòa nhà chọc trời, những xe hơi bóng lộn nối đuôi nhau trên những con đường rộng thênh thang, các công ty tài chính khổng lồ, mà nước Mỹ còn có khu lao động Háclem của những người da đen thất nghiệp Đằng sau những tòa nhà chọc trời của tầng lớp xa hoa là những con người khốn khổ, sống vật vờ dưới bóng
đổ của những tòa nhà ấy Khi đến tham quan tượng thần Tự do, Người có nhận xét sâu sắc về sự bất công: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân thần Tự do là người da đen đang bị chà đạp”[53,16] Không thể dừng chân ở nước Mỹ, cuối năm 1913 Người sang Anh, một nước tư bản có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới, một nước được mệnh danh
“Mặt trời không bao giờ lặn trên lá cờ Anh” Bốn năm sống và lao động ở đó, Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy rất rõ sự chuyển mình của nước Anh từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa đế quốc với chính sách mở rộng thuộc địa, gây chiến, tăng cường bóc lột đã làm nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân Việc thành lập Công đảng vào năm 1905 đánh dấu một bước phát triển
của phong trào công nhân Anh
Hiện thực phong phú và mới lạ đó đã cuốn hút Người gia nhập vào phong trào công nhân Anh, tham gia vào tổ chức công đoàn hải ngoại - một tổ chức bí mật của những người lao động ở các nước thuộc địa sống trên đất nước Anh Sự kiện này về mặt tư tưởng đã “khai quang điểm nhãn” ở Nguyễn Tất Thành một
nhân sinh quan mới, nhân sinh quan của giai cấp công nhân hiện đại
Cuối năm 1917 Nguyễn Tất Thành quay trở lại Pari Với lập trường giai cấp mới, năm 1919 Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp Sự lựa chọn đó của Người vì mục đích được bảo vệ quyền lợi, nền độc lập của dân tộc
mình Người có điều kiện theo đuổi lý tưởng cao quý: tự do, bình đẳng, bác ái
Không để lỡ cơ hội, ngày 18 tháng 6 năm 1919, Nguyễn Tất Thành thay
Trang 19mặt những người Việt Nam yêu nước ký tên Nguyễn Ái Quốc gửi bản yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Vécxây đòi quyền tự do, dân chủ Với bản yêu sách này, lần đầu tiên vấn đề về tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam được đặt ra trong Hội nghị quốc tế Nhưng Hội nghị Vécxây cũng chỉ là nơi để bọn
đế quốc chia nhau “chiến lợi phẩm” sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Từ đây, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ được bản chất thực sự đằng sau những “lời tuyên bố
của bọn đế quốc về quyền tự quyết cho các dân tộc chỉ là trò lừa bịp”
Những năm tháng ở Pari, với sự nhạy bén về chính trị, Nguyễn Tất Thành biết tin Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ vào năm 1917 Với tinh thần giai cấp hữu ái, Người có cảm tình với Cách mạng Tháng Mười Nga Tháng 7 - 1920
Người đọc được bản Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa Luận
cương của Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, đáp ứng những tình cảm, suy nghĩ, hoài bão được ấp ủ bấy lâu Từ đó Người quyết định đến với cách mạng Tháng Mười
và đến với Lênin
Với việc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp (12 - 1920), Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên Những sự kiện này đánh dấu sự chuyển biến về chất trong tư tưởng của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin, từ giác ngộ dân tộc
đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản
Đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và thế giới quan cộng sản, Nguyễn Ái Quốc không chỉ vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân thông qua
các bài báo, tác phẩm sắc bén tính chiến đấu của mình như: Người cùng khổ,
Nhân đạo, Đời sống công nhân, Bản án chế độ thực dân Pháp, mà còn tập
hợp, tổ chức, giác ngộ những thanh niên, trí thức, công nhân, binh lính người Việt ở Pháp vào các Hội, các đoàn thể chống thực dân Pháp
Trang 20Sáu năm ở Pháp (từ 1917 đến 1923) cũng là dịp để Người tìm hiểu những tác phẩm nổi tiếng của của các triết gia lỗi lạc thời Phục hưng và Khai sáng Pháp, trong đó có Vônte, Môngtexkiơ, Rút xô Những tư tưởng cao đẹp của những nhà khai sáng Pháp đã khai mở cho các cuộc cách mạng Anh, Pháp, Mỹ Nhưng từ những tư tưởng mới mẻ này Người đã trăn trở, suy tư vì sao các cuộc cách mạng Anh, Pháp, Mỹ sau khi thành công lại phản bội những giá trị đích thực của nó Họ thừa nhận quyền tự do, bình đẳng, kêu gọi tinh thần bác ái nhưng lại bóc lột các dân tộc khác? Qua quá trình bôn ba tìm kiếm, học hỏi, bằng những dẫn chứng sự kiện cụ thể trong hoạt động thực tiễn sinh động và tư duy chính trị sắc bén, Người đã rút ra một kết luận hết sức khoa học: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì
nó tước lục công nông, ngoài thì nó bóc lột thuộc địa Cách mạng đã bốn lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mạng lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”[40,274] Vì vậy, Người quyết tâm tìm đến mảnh đất
đã diễn ra cuộc cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh trong phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản Nga và Quốc tế Cộng sản
Cách mạng Tháng Mười Nga có vai trò và ảnh hưởng to lớn đối với cách mạng thế giới và tác động mạnh mẽ đến tư tưởng Hồ Chí Minh Nhận thấy sức mạnh “kỳ diệu” của chiếc “cẩm nang” ấy trong việc giải phóng triệt
để con người khỏi sự áp bức, bóc lột Ngày 13 tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp sang nước Nga, mở đầu một thời kỳ nhận thức và hoạt động thực tiễn mới
mẻ trên đất nước Xôviết và trong phong trào Cộng sản Quốc tế Đây là một bước
ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động của Người
Ở nước Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, giai cấp công nhân Nga liên minh với nhân dân lao động, đứng đầu là Lênin đã tiến hành thắng
Trang 21lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới
Khi Người tới nước Nga, là lúc chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin đang được triển khai rộng rãi, lúc này cả nước Nga đang bừng lên một sự chuyển đổi kinh tế đầy sôi động Tuy còn trong cảnh thiếu thốn nhưng nước Nga đã đem lại cho người dân lao động một cuộc sống tự do, bình đẳng thật
sự Nhà trẻ, trường học, bệnh viện, đường xá…ra đời để phục vụ cho cuộc sống đích thực của con người Tất cả, đã thôi thúc Người quyết tâm thực hiện
độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân
Do vậy, khi mới đặt chân đến Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay ngay vào hoạt động Tuy ở xa nước Pháp, nhưng Người thường xuyên viết báo để vạch trần tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, gửi thư yêu cầu Đảng Cộng sản Pháp phải thực hiện đúng nghị quyết về vấn đề thuộc địa Tại
đây, Người tham dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế nông dân, có những bài
phát biểu sâu sắc về tình cảnh của những người nông dân ở Đông Dương dưới
sự thống trị của thực dân Pháp và kêu gọi sự giúp đỡ của nông dân cùng giai
cấp vô sản trên toàn thế giới
Một năm rưỡi ở nước Nga, Người rất nóng lòng muốn về gần Tổ quốc, nhưng tháng 4 năm 1924 Nguyễn Ái Quốc nhận quyết định của Ban Phương Đông - Quốc tế Cộng sản vào làm cán bộ của Ban Quyết định đó đã làm thay đổi kế hoạch về nước của Người Nhận thêm nhiệm vụ mới, Nguyễn Ái Quốc phải tham gia trực tiếp vào các hoạt động của tổ chức này Trong quá trình tham gia hoạt động, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy chính sách Phương Đông của quốc tế III chưa chú ý đến Đông Dương thuộc Pháp Song bằng nhiệt huyết và tài năng của mình, Người đã gây được sự chú ý của Quốc tế III về vấn đề Đông Dương và vai trò của các cuộc đấu tranh đòi giải phóng của nhân dân các nước
thuộc địa đối với cách mạng thế giới và giai cấp công nhân
Mặt khác, Người còn yêu cầu Ban Phương Đông chú trọng bồi dưỡng
Trang 22để nâng cao trình độ lý luận cách mạng cho cán bộ Đảng và những người hoạt động cách mạng phương Đông tại các trung tâm đào tạo danh tiếng ở Liên xô lúc bấy giờ như Trường đại học Phương Đông, trường Quốc tế Lênin
Vì phải thực hiện những vấn đề của Phương Đông, Nguyễn Ái Quốc nhận nhiệm vụ của Quốc tế cộng sản về Trung Quốc hoạt động dưới danh nghĩa cố vấn chính trị cho Tôn Trung Sơn
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh ở Quảng Châu - Trung Quốc
Tháng 11 - 1924 Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến Quảng Châu Về đây, Nguyễn Ái Quốc vừa làm nhiệm vụ của một cán bộ Quốc tế Cộng sản, vừa làm nhiệm vụ của một nhà cách mạng Việt Nam Vì thế, Người không chỉ xây dựng lực lượng cho cách mạng Việt Nam, mà còn giúp đỡ phong trào cách mạng Trung Quốc và các nước trong khu vực với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng
Để làm nhiệm vụ cách mạng nước nhà, Nguyễn Ái Quốc bắt tay vào việc xây dựng lực lượng cách mạng, tổ chức cho việc truyền bá ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản thông qua việc
sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên vào tháng 6 năm 1925
Với sự ra đời của tổ chức này, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được thể hiện rõ nét Ngay trong chương trình huấn luyện cán bộ cách mạng đầu tiên, Hồ Chí Minh đã nói về tư cách của người cách mạng và
trong tác phẩm Đường cách mệnh (năm 1927) vấn đề đạo đức cách mạng
được Người đề cập đến một cách sâu sắc Người yêu cầu khi bước vào con đường cách mệnh thì trước hết người cách mạng phải có đạo đức Người nêu rõ: người cách mạng phải biết hy sinh, ít lòng ham muốn về vật chất, không ngại gian khổ hy sinh, thậm chí có thể phải hy sinh tính mạng của mình cho
Trang 23sự nghiệp chung Người cách mạng phải luôn đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân Gặp trường hợp lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải biết đặt lợi ích chung lên trên, tuyệt đối không được làm ngược lại Người cách mạng phải rất khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, cả quyết sửa lỗi mình, cẩn thận mà không nhút nhát, luôn suy nghĩ kỹ trước khi làm, nếu thấy đúng thì phải quyết tâm làm và phải dám chịu trách nhiệm trước việc mình làm
Sống, hoạt động ở Trung Quốc, Người có điều kiện tìm hiểu cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 do nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn lãnh đạo và
nhận thấy ở học thuyết “Tam dân” của ông có những điều phù hợp với hoàn
cảnh nước mình Cơ sở này đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc những kinh nghiệm quý báu, góp phần hình thành nên lý luận về độc lập cho dân tộc; tự
do, hạnh phúc cho nhân dân
Để thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia vận động xây dựng Hội nông dân Trung Quốc, làm tốt công tác giáo dục tuyên truyền trong nông dân Còn trên chiến trường, Người đã sát cánh chiến đấu cùng giai cấp công nhân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và giai cấp tư sản như là một chiến sĩ quốc tế nồng nhiệt
Khi cuộc chính biến phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch nổ ra vào tháng 4 năm 1927 Tại đây, Người lại phải chứng kiến sự truy bắt và sát hại dã man của chính quyền phản động Lý Tế Thâm ở Quảng Châu đối với những người yêu nước, trong đó có những thanh niên yêu nước Việt Nam, rồi sự thất bại trong biển máu của chính quyền Xôviết Quảng Châu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc Song, sự tổn thất này không làm cho Nguyễn Ái Quốc phải lùi bước trong việc xúc tiến thành lập một chính đảng cho dân tộc mình Dưới
Trang 24sự chỉ đạo của Người, ở trong nước các tổ chức cộng sản đầu tiên lần lượt ra đời, đó là: Đông Dương cộng sản Đảng (tháng 6 - 1929); An Nam cộng sản Đảng (tháng 9 - 1929); Đông Dương cộng sản liên đoàn (tháng 1 - 1930)
Với sự ra đời của ba tổ chức cộng sản, các phong trào cách mạng trong nước đã tiến lên một trình độ cao hơn Nhưng sự không thống nhất về tổ chức
đã dẫn đến sự không thống nhất cả về tư tưởng lẫn hành động Được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã hợp nhất các tổ chức cộng sản này thành một Đảng duy nhất lấy tên Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày
6 - 1 đến 8 - 2 - 1930 tại Cửu Long (Hương Cảng,Trung Quốc)
Sau khi hoàn thành việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm, Malaixia, Xingapo, làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao phó Giữa năm 1931, Người trở về Hồng Kông, Thượng Hải để tiếp tục hoạt động thì bị thực dân Anh bắt tạm giam vào ngày 6 tháng 6 năm 1931, 15 tháng sau Người được trả tự do
Mùa xuân năm 1934, Nguyễn Ái Quốc tới Mátxcơva Lúc này, Người
bị Quốc tế Cộng sản chỉ trích và phê phán vì cho rằng đã phạm sai lầm “hữu
khuynh và dân tộc chủ nghĩa” từ việc đặt tên Đảng cho đến việc soạn thảo
Cương lĩnh cho Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ đó, 4 năm liền từ 1934 - 1938, Nguyễn Ái Quốc phải thi hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản như một người phải đứng ngoài tổ chức Đến Đại hội
VII Quốc tế Cộng sản (7 - 1935) thì tư tưởng “biệt phái, tả khuynh” của tổ
chức này đã được nhận diện và nghiêm khắc phê bình
Đến những năm cuối của thập niên 30, thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động, Người chủ động đề nghị Quốc tế Cộng sản cho về nước hoạt động và được chấp thuận, từ Mátxcơva Người về đến Trung Quốc vào tháng
10 năm 1938 và chuẩn bị cho việc trở về Tổ quốc của mình
Trang 25Bằng sự từng trải của bản thân qua 30 năm tại chính các nước Pháp,
Mỹ, Anh và tại hầu khắp các thuộc địa châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh, nhưng ở bất kỳ ở đâu, Người cũng thấy những cảnh người lao động cơ cực đói khổ, bị bắn giết, bị đàn áp dã man Những người da đen đau đớn, quằn quại dưới sự đánh đập của những ông chủ da trắng, những người công nhân làm việc kiệt sức trong các nhà máy và sống đói rét trong những căn nhà chật chội, tối tăm Những con người gầy gò, rách dưới, bệnh tật trong túp lều đổ nát…Tất cả, đã in sâu trong tâm trí và thường xuyên day dứt tâm can Người
Và Người lấy những nỗi đau khổ ấy làm nỗi đau của chính mình, Người nói:
“Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình thì thành nỗi đau của tôi” [47,560 - 561]
Từ đó, Người đã lên án chủ nghĩa đế quốc và chế độ thực dân là “phi nhân tính” cần phải xóa bỏ và đặt con người vào trọng tâm mọi cuộc giải phóng
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh sau khi trở về Tổ quốc
Qua hành trình vạn dặm đi tìm đường cứu nước khắp năm châu, bốn biển
từ năm 1911, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo tư tưởng đạo đức Mác - Lênin trên cơ sở hệ thống đạo đức truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc đã xác lập nên một nền đạo đức mới có giá trị lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, có tính chiến đấu cao trong cuộc đấu tranh chống lại những hành động tàn bạo, phi nhân tính của chủ nghĩa thực dân, các quan điểm sai trái, lỗi thời của đạo đức cũ, mà tiêu điểm là chủ nghĩa cá nhân, bắt đầu từ việc giải quyết chính xác vị trí, vai trò của đạo đức và mối quan hệ giữa hai mặt đức - tài Năm 1941, khi trở về Tổ quốc, trực tiếp tham gia và chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Bằng việc kịp thời tổng kết kinh nghiệm hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc bản chất hiếu chiến, ngoan cố, tàn bạo của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời Người cũng hiểu sâu sắc thế
Trang 26phải lấy yếu thắng mạnh, chống lại kẻ thù có vũ khí tối tân và hiện đại, cho nên việc phát huy sức mạnh tinh thần, sức mạnh của đạo đức là một vấn đề cực kỳ quan trọng
Có thể nói, nhận thức sâu sắc về thực tiễn cách mạng Việt Nam là một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa đến việc Hồ Chí Minh coi trọng vị trí, vai trò của đạo đức
Hơn ai hết, và trước tất cả mọi người, ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Người đã thấy và đề phòng nguy cơ cán bộ, đảng viên thoái hóa trong điều kiện có chức, có quyền Trong đó, rất đáng chú ý những căn bệnh như quan liêu, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, "hữu danh vô thực", xu nịnh a dua, kéo bè kéo cánh, mất dân chủ, nhũng lạm, dìm người tài Suốt
từ ấy cho đến khi tạ thế, Người thường xuyên cảnh báo, nhắc nhở cán bộ, đảng viên về vấn đề này
Đầu năm 1947, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Hỏi đáp về “Đời sống mới”
để giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện lối sống mới, đạo đức mới nói chung, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính nói riêng Người khẳng định:
“Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”[44,452]
Tháng 10 năm 1947, Người lại viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”,
trong đó có phần quan trọng nói về tư cách và đạo đức cách mạng Người căn dặn phải rèn luyện đạo đức cách mạng, ra sức chống những thói hư tật xấu Thực tiễn lịch sử chứng minh quyền lực khi nó là tuyệt đối, có khả năng làm thoái hóa, biến chất con người Tiền bạc, nhan sắc, danh lợi và các cám
dỗ vật chất khác trong thời bình cũng có thể quyến rũ và khuất phục ngay cả người có dũng khí cách mạng nhất Cho nên tháng 3 năm 1951, Người nhắc nhở những cán bộ, đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam là:
Trang 27
“Giàu sang không quyến rũ,
Nghèo khó không chuyển lay,
Uy lực không khuất phục” [43,184]
Đầu năm 1955, sau khi Chính phủ từ Việt Bắc về tiếp quản thủ đô Hà Nội,
Hồ Chí Minh đã viết bài “Đạo đức công dân” để giáo dục nhân dân làm tròn nghĩa vụ công dân, người chủ nước nhà Tiếp đó, Người viết bài “Đạo đức cách
mạng” để phê phán những biểu hiện suy thoái về đạo đức của một số cán bộ, đảng
viên đã quên mất tác phong gian khổ phấn đấu… xa rời Đảng, xa rời quần chúng Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức của người cách mạng, sa vào tham ô hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân Sau đó,
Người viết bài báo “Tự phê bình và phê bình” mà Người coi đó là “vũ khí sắc
bén nhất” giúp cho cán bộ, đảng viên sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, tiến bộ không ngừng
Năm 1958, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, trong đó
Người nêu lên bản chất và nội dung của đạo đức cách mạng, đặc trưng của chủ nghĩa cá nhân và phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân
Từ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đặc điểm của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Do chỗ xuất phát từ nền kinh tế nhỏ, chủ yếu
là nông nghiệp lạc hậu, lại phải kết hợp hai chiến lược: vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc cách mạng giải phóng miền Nam Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tất yếu là hết sức gian khổ, lâu dài, đòi hỏi nhiều hy sinh to lớn về người và của Từ năm 1965 đến năm
1972, chúng ta lại phải đánh trả chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc Trong cuộc chiến tranh này, kẻ thù đã sử dụng hầu như tất cả các loại vũ khí tối tân nhất của chúng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Trang 28càng khó khăn, gian khổ gấp bội lần Sự nghiệp cách mạng lúc này đòi hỏi phải có những con người đầy đủ những phẩm chất, đạo đức cách mạng, mà theo Người, đó là những con người xã hội chủ nghĩa
Năm 1961, phục vụ cho việc chỉnh huấn cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh có bài nói chuyện về vấn đề “Xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa” với luận điểm quan trọng là “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người
xã hội chủ nghĩa” [47, 159]
Ngày 3 tháng 2 năm 1969, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam, Hồ Chí Minh viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét
sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong đó Người phê phán bệnh cá nhân chủ nghĩa
Cuối cùng trong Di chúc để lại cho chúng ta trước khi vĩnh biệt, Người
căn dặn Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải giữ gìn đạo đức cách mạng và chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên nói chung Như vậy, qua mỗi chặng đường lịch sử, tùy theo từng thời kỳ cách mạng, từng bước phát triển của thực tiễn, Người đã đề ra những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người phấn đấu nhằm hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn và phức tạp hơn
1.1.2 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển truyền thống đạo đức dân tộc
Mỗi dân tộc có truyền thống đạo đức đặc trưng cho dân tộc mình Đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là một thành tố của hệ giá trị tinh thần dân tộc, là sự kết tinh những phẩm chất tốt đẹp, quý báu được hình thành, gìn giữ trong suốt chiều dài lịch sử Những giá trị đạo đức truyền thống đó được
cô đúc, thử thách và tái tạo qua nhiều thế hệ, trải qua những thăng trầm của cuộc sống, nó có sức mạnh to lớn giúp cho dân tộc ta trường tồn và phát triển Trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống đó, chủ nghĩa yêu nước được coi là bậc thang cao nhất, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ truyền thống đến
Trang 29hiện đại Đó là tình yêu quê hương, đất nước, dân tộc, nơi mỗi người Việt Nam sinh ra và lớn lên, có cây đa, bến nước, sân đình, có gia đình, ông bà, tổ tiên, có
bà con, hàng xóm, nơi mỗi con người một nắng, hai sương, tần tảo trong lao động để duy trì và xây dựng cuộc sống của mình Vì thế, tình yêu quê hương đất nước là một tình cảm hết sức thiêng liêng đối với mỗi con người Việt Nam Khi
Tổ quốc bị xâm lăng, quê hương bị giày xéo, thì lòng yêu nước ấy biến thành sức mạnh vô cùng to lớn trong cuộc chiến chống quân thù Đến khi đất nước được hòa bình thì nó trở thành động lực phi thường giúp người dân Việt Nam tôn tạo quê hương, xây dựng đất nước
Từ thuở vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến thời đại Hồ Chí Minh,
là thời kỳ lịch sử oai hùng phát huy tinh thần yêu nước ấy, trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc (179 TCN - 938 SCN), kẻ thù phương Bắc mưu toan nô dịch, đồng hóa dân tộc ta bằng mọi thủ đoạn nham hiểm và sức mạnh của chúng, nhưng chúng không thể khuất phục nổi một dân tộc khi mà tình yêu quê hương đất nước của mỗi người Việt Nam đã thấm sâu vào từng làn da, thớ thịt, trở thành ý chí độc lập, tự cường sẵn sàng hy sinh bản thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước
Lịch sử đã ghi nhận chủ nghĩa yêu nước của ông cha ta thể hiện ở hệ thống tư tưởng, quan điểm, quan niệm về độc lập, chủ quyền của dân tộc, về
sự ngang hàng của nước ta đối với quốc gia phương Bắc, về việc đặt niên hiệu, quốc hiệu đất nước, về việc hình thành những hệ tư tưởng mới phù hợp với yêu cầu của thời đại, về ý thức tự tôn, tự hào dân tộc, về lấy ý dân, lòng dân làm cơ sở cho đường lối trị nước
Các cuộc khởi nghĩa từ hai Bà Trưng (năm 40 - 43 ); Bà triệu (năm 248); cho đến chiến thắng Bạch Đằng (năm 938) đã chứng minh cho ý chí quật cường của dân tộc Với chiến thắng Bạch Đằng, nước ta giành được quyền độc lập, bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên Đại Việt Song, kẻ thù vẫn không
Trang 30để chúng ta yên, chúng tiếp tục kéo quân xâm chiếm đất nước ta, bắt đầu là cuộc xâm lăng của nhà Tống (năm 981) kéo dài đến nhà Thanh (năm 1787) nhưng dân tộc ta vẫn không cúi đầu khuất phục
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân nghĩa - yêu thương con người là một trong những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, nó có nguồn gốc sâu xa từ trong sinh hoạt công xã nông thôn, được củng cố và phát triển qua quá trình khai sơn, phá thạch để xây dựng cuộc sống, giữ gìn quê hương Tấm lòng nhân nghĩa đó là cơ sở cho cách đối nhân, xử thế ở đời mà người Việt Nam đã đúc kết thành triết lý sống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” Vì quan niệm “trồng cây đức để con ăn” nên người Việt Nam rất căm ghét những kẻ tàn ác, táng tận lương tâm, sống phụ tình, bạc nghĩa, những kẻ “rước voi về giày mồ”
Từ trong lắng sâu của lịch sử, lòng nhân ái Việt Nam còn thể hiện ở lòng vị tha cao thượng, không cố chấp đối với những người lầm đường, lạc lối, nhưng biết lập công chuộc tội, trở về với chính nghĩa Ông, cha ta đã có câu “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” Và tư tưởng “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là sự thể hiện đỉnh cao của lòng nhân ái đó Vì thế, sau khi quân Minh thua trận, vì lòng hiếu sinh mà Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã cấp lương thực cho mười vạn quân binh về nước
Truyền thống cần cù, thông minh, sáng tạo là một giá trị đạo đức có từ bao đời của dân tộc Việt Nam Nó được hình thành và phát triển trong điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, xã hội không ít khó khăn, khắc nghiệt ngay từ những buổi đầu dựng nước và giữ nước
Về mặt tự nhiên, Việt Nam là một quốc gia nằm giữa Đông Nam Á, với
địa hình chạy dài theo bờ biển, có ba vùng: miền núi, đồng bằng, bờ biển Khí
Trang 31hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều nên nước ta vừa nhận được những thuận lợi do thiên nhiên ưu đãi, đồng thời cũng phải gánh chịu những thiên tai như hạn hán, bão lụt…
Về mặt xã hội, Việt Nam là một quốc gia nhỏ hẹp, lại phải trải qua rất
nhiều cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần Vì lẽ
đó, để tồn tại và phát triển buộc người Việt Nam phải mưu tính trước sau trong cuộc chiến chống thiên tai, địch họa Trí thông minh, sáng tạo của người Việt Nam được nảy sinh từ đó Nhờ có trí thông minh, sáng tạo mà trong lao động sản xuất người Việt Nam đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quí báu, trong chiến đấu đã kết hợp khéo léo giữa đánh và đàm để đảm bảo sự trường tồn của một quốc gia nhỏ bé bên cạnh các quốc gia hùng mạnh và hiếu chiến cùng thời Sống trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ như vậy, nên người Việt Nam rất cần cù và sáng tạo trong lao động Với quan niệm: “tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, và tinh thần lao động bền bỉ “kiến tha lâu cũng đầy tổ”, “có công mài sắt, có ngày nên kim”, mà từ đôi bàn tay trắng, cha ông ta đã mở mang bờ cõi, xây dựng nên giang sơn gấm vóc nước nhà
Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng hòa vào dòng chảy của đạo đức truyền thống dân tộc Đây chính là nhân tố tinh thần để dân tộc Việt Nam khẳng định sức mạnh của mình trong quá trình tồn tại và phát triển Truyền thuyết “Trăm trứng nở trăm con” cho đến lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam theo tiếng trống Hùng Vương để mười lăm bộ lạc hợp thành một quốc gia Văn Lang thống nhất đã khẳng định cho sự đoàn kết ấy
Từ những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ những khái niệm, những phạm trù đạo đức quen thuộc từ lâu đời, Hồ Chí Minh đã phát triển trong điều kiện lịch sử mới, đưa vào đó những nội dung mới, đồng thời bổ sung những khái niệm, những phạm trù đạo đức của thời đại mới, làm
Trang 32cho những giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam được nâng lên một tầm cao mới, mang một sắc thái mới
Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa những tinh hoa đạo đức nhân văn phương Đông và phương Tây
Do vị trí địa lý của đất nước, do yêu cầu của sự phát triển, Việt Nam sớm giao lưu văn hóa với bên ngoài, người Việt Nam không hẹp hòi, thủ cựu hay bài ngoại cực đoan, trong giao thương không bao giờ “bế quan tỏa cảng”
mà ngược lại luôn mở rộng giao lưu Nhờ biết giữ gìn, bảo vệ và tôn vinh bản sắc dân tộc nên người Việt Nam đã biết chắt lọc, tiếp thu và Việt hóa những cái hay, cái đẹp của các dân tộc khác để chuyển hóa thành những giá trị của riêng mình Trong đó có những tư tưởng đạo đức phương Đông, chủ yếu là đạo đức của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Mặc gia Tuy có những hạn chế nhất định nhưng những tôn giáo và học thuyết chính trị này vẫn có những yếu
tố tích cực, được người Việt Nam tiếp nhận qua khúc xạ lăng kính của mình
để hình thành nên những nét đặc trưng riêng có của dân tộc Việt Nam
Tư tưởng, cuộc sống đời thường, những hoạt động thực tiễn cách mạng, phong cách làm việc, lối sống ứng xử của Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động
và trọn vẹn của tinh thần kế thừa có chọn lọc đó
Nho giáo Trung Hoa là một học thuyết chính trị - xã hội do Khổng Tử sáng lập, du nhập vào Việt Nam ở những năm đầu thế kỷ, nhưng đây là một học thuyết chính trị do kẻ xâm lược áp đặt, cho nên trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam, mãi đến năm 1070,
Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Khổng Tử, Nho giáo mới được tiếp
nhận chính thức Những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo: Trung - hiếu;
Thiện - ác; Nhân – nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính…được người Việt Nam tiếp
nhận để làm giàu cho truyền thống đạo đức của mình Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển những mặt tích cực đó
Trang 33Trong quan niệm về “Thiện - Ác”, Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại
ở tư tưởng của Nho giáo với quan niệm: “Nhân chi sơ tính bổn thiện” của Mạnh Tử và “Nhân chi sơ tính bổn ác” của Tuân Tử, nói lên những đức tính
bẩm sinh tốt đẹp mà con người nên làm và những tính xấu xa, độc ác mà con người nên tránh Hồ Chí Minh đã tiến xa hơn một bước ở chỗ Người đã hiện thực hóa chúng thành những hành vi ở những con người cụ thể, trở thành nghĩa vụ của mỗi người đối với nước, với dân Người nói: “Thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”[45, 276] Và Người khuyên bảo tất cả mọi người: “Việc thiện thì nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”[42,645]
Trong quan niệm về “Nhân - nghĩa”, Hồ Chí Minh đã tách trong cụm
từ “ngũ thường” là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho giáo vốn được coi là
những quy phạm đạo đức không thể thiếu trong mỗi người nhằm duy trì trật
tự xã hội đang loạn lạc thời Khổng Tử để xây dựng nên những yếu tố đạo đức cần thiết của người cách mạng, trở thành tình cảm thiêng liêng, nghĩa vụ cao
cả của mỗi người đối với vận mệnh của dân tộc, với tình cảnh của nhân dân trước gót giày của ngoại xâm
Ngoài ra, những khái niệm về Trung, hiếu”; “Cần, kiệm, liêm, chính” …của
Nho giáo được Hồ Chí Minh lĩnh hội để xây dựng thành những chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà
Không chỉ tiếp thu tư tưởng đạo đức của Nho giáo, Hồ Chí Minh còn chắt lọc những gì tinh túy nhất trong tư tưởng đạo đức Phật giáo
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI TCN, du nhập vào Việt Nam trực tiếp từ Ấn độ, khoảng thế kỷ IV-V thì Phật giáo đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa cũng truyền vào Việt Nam Tuy vào Việt Nam sau Nho giáo, nhưng vì du nhập bằng con đường hòa bình nên Phật giáo được nhân dân ta dễ dàng tiếp nhận
Trang 34Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã kết hợp với chủ nghĩa yêu nước, với bản chất nhân đạo, bác ái của người nông dân, nên đã tạo thành lực lượng trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc
Vận dụng những yếu tố tích cực của Phật giáo vào hoàn cảnh Việt Nam,
Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm làm việc thiện, tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp, chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó với dân, với nước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống
kẻ thù dân tộc
Trên tinh thần của Phật giáo, để giải quyết nạn đói trước mắt của nước
ta sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ đề nghị với đồng bào cả nước cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba
bữa để đem gạo đó cứu dân nghèo Trong bài Sẻ cơm, nhường áo Hồ Chí Minh
viết: “Tôi chắc rằng đồng bào ta, ai cũng sẵn lòng cứu khổ, cứu nạn mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị của tôi”[41,31] Còn trong bài nói chuyện với quốc dân Việt Nam, Hồ Chí Minh căn dặn: “Không được báo thù, báo oán Đối với những kẻ đi lầm đường, lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng Lấy lời khôn, lẽ phải mà bày cho họ”[41, 420]
Cùng với ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo gia của Lão Tử cũng góp phần làm phong phú thêm cho truyền thống vốn có của dân tộc ta Du
nhập vào nước ta từ cuối thế kỷ thứ II, Đạo gia chủ trương “xuất thế”, “vô
vi”, sống thanh đạm, gần gũi với thiên nhiên, không màng đến công danh,
phú quí, quyền lợi Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của tư tưởng đó Song,
ở Hồ Chí Minh, cái tinh thần hòa quyện vào tự nhiên ấy được nâng lên thành tình yêu thiên nhiên tha thiết và sâu đậm Việc hưởng thụ cảnh điền viên, thanh nhàn chỉ có thể có được khi nước nhà đã giành được độc lập, nhân
Trang 35dân đã được ấm no, hạnh phúc Đầu năm 1946, trả lời các nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra mặt trận Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui Tôi chỉ có một
sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”[41,161]
Mặc gia chủ trương “kiêm ái”, nhưng là sự kiêm ái một chiều, kiêm ái
siêu thực, còn ở Hồ Chí Minh kiêm ái là yêu thương mọi kiếp người đau khổ
và đấu tranh để giải phóng những con người đau khổ đó
Hồ Chí Minh không chỉ làm giàu tư tưởng đạo đức của mình bằng những tinh hoa đạo đức nhân văn phương Đông mà còn bồi bổ thêm chúng bằng những yếu tố nhân văn, tiến bộ của văn hóa phương Tây Tư tưởng tiến
bộ của cách mạng Pháp về “Tự do, bình đẳng, bác ái” đã ảnh hưởng mạnh
mẽ đến Hồ Chí Minh, là một trong những động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh
ra đi tìm đường cứu nước
Trong quá trình học tập và hoạt động trong môi trường văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh có điều kiện, tìm hiểu, nghiên cứu và trực tiếp trải nghiệm qua các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội ở đây Người trực tiếp tìm hiểu tư tưởng dân chủ, nhân văn của các nhà khai sáng là Vônte, Rúttxô, Môngtetkiơ qua các tác phẩm của họ Người đã tới Pháp, Mỹ, Anh và trực tiếp khảo sát mọi mặt tại những nơi khởi nguồn của ba cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới Tư tưởng cách mạng tiến bộ của các cuộc cách mạng này đã tác động mạnh mẽ tới Hồ Chí Minh, đó là những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa
Trang 36dân tộc và nhân văn trong cách mạng tư sản Mỹ và Pháp với quyền dân tộc, quyền con người, và tư tưởng dân chủ mà nội dung của nó là Tự do - Bình đẳng - Bác ái Đây là những điểm mới về tư tưởng trong tinh hoa văn hóa phương Tây có ảnh hưởng đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh tiếp thu các nguyên lý đạo đức của chủ nghĩa Mác- Lênin
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX như một tất yếu lịch sử, do điều kiện kinh tế - xã hội quy định, đồng thời kế thừa và phát triển những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại nhằm giải đáp về lý luận những vấn đề của thời đại đặt ra Chủ nghĩa Mác tiếp tục được Lênin kế thừa, bổ sung và phát triển trong giai đoạn lịch sử mới
Đứng trên thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăgghen đã có những
tư tưởng sâu sắc về đạo đức xã hội Trong các tác phẩm của mình các ông đã lên
án chế độ tư bản bởi sự bóc lột giá trị thặng dư, làm tha hóa con người và lấy đồng tiền làm chuẩn mực Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ tư hữu tư bản về tư liệu sản xuất đã tập trung những tư liệu sản xuất
cơ bản của xã hội vào trong tay một số nhà tư bản, một số tập đoàn tư bản làm tuyệt đại đa số người lao động trở thành vô sản Nhu cầu sinh tồn đã buộc những con người không có tư liệu sản xuất này tự nguyện một cách cưỡng bức đến với các nhà tư bản và họ trở thành những người làm thuê cho nhà tư bản Và do đó, quá trình người bóc lột người, quá trình lao động bị tha hóa đã diễn ra Từ đó các ông chủ trương thực hiện một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức, xây dựng một kiểu đạo đức hoàn toàn mới so với đạo đức của giai cấp bóc lột Đó là kiểu đạo đức tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị, thoát khỏi sự tha hóa con người, đạt tới sự giải phóng và phát triển toàn diện con người, kiểu đạo đức đó
có vai trò chủ đạo trong xã hội tương lai, như Ph Ăngghen đã chỉ rõ: “Tất cả thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ đạo đức hiện tại, biểu hiện cho
Trang 37lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản - là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự lâu dài”[8,136]
Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn phát triển tột cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc, các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản với những biểu hiện tàn ác và tinh vi hơn, Lênin đã có những tác phẩm lý luận về chủ nghĩa
đế quốc và chủ nghĩa thực dân, lên án chủ nghĩa đế quốc bởi chế độ chính trị của nó Kế thừa các quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen về đạo đức, Lênin
đã đưa ra một kiểu đạo đức mới - đạo đức của giai cấp công nhân, hoàn toàn đối lập với mọi kiểu đạo đức của giai cấp bóc lột Ông viết: “Chúng ta nói rằng đạo đức của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra …Cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục, và nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tất cả mọi lợi ích phải phục tùng cuộc đấu tranh này Và đạo đức cộng sản của chúng ta cũng phải phục tùng nhiệm vụ này Chúng ta nói rằng: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy
xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản
Đạo đức cộng sản là đạo đức phục vụ cuộc đấu tranh ấy, là đạo đức nhằm đoàn kết những người lao động chống mọi sự bóc lột, chống mọi chế độ
tư hữu nhỏ, vì chế độ tư hữu nhỏ trao cho một cá nhân thành quả lao động do toàn xã hội sáng tạo ra”[37,367 - 369]
Đặc biệt từ khi thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin đã đề cập đến một số chuẩn mực đạo đức cơ bản trong giai đoạn cách mạng mới, đó là sự trung thành với lý tưởng, với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, với hạnh phúc của con người, lên án thói kêu ngạo cộng sản, chống các tệ nạn quan liêu và tham ô Lênin cũng cho rằng cái gì phục vụ cho thắng lợi của chủ
Trang 38nghĩa cộng sản cái ấy là đạo đức Cơ sở nền tảng của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản Nền đạo đức cộng sản chủ nghĩa ấy đối lập với chủ nghĩa vị kỷ của đạo đức tư sản, và ông đã xác định những nguyên tắc đạo đức mới, đó là: chủ
nghĩa tập thể với phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình.”; lao
động tự giác và sáng tạo; chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả; chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Đạo đức chủ nghĩa cộng sản ấy sẽ trở thành nền đạo đức có ý nghĩa phổ biến toàn nhân loại khi không còn hệ thống tư bản chủ nghĩa và nói chung không còn giai cấp nữa
Sự hấp dẫn của những quan điểm đạo đức Mác - Lênin đối với Hồ Chí Minh
là ở chỗ giải phóng triệt để con người mà trước hết là giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động; rằng sự giải phóng con người do chính con người đảm nhiệm và quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử Điều đó làm cho tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa Tổ quốc và nhân loại, giữa cá nhân và xã hội, giữa truyền thống
và hiện đại, giữa hôm nay và mai sau
Như vậy, C Mác và Ph Ăngghen là những người đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành, phát triển của đạo đức mới - đạo đức cộng sản, và Lênin kế tục xuất sắc tư tưởng của các ông, Lênin đã nêu một mẫu mực về sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn cách mạng nhằm đáp ứng những yêu cầu của cuộc đấu tranh cách mạng của nước Nga Xôviết, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa Nhưng các ông đứng ở giác độ của những người cộng sản sống ở chính quốc để nhìn
và lý giải về thuộc địa Hồ Chí Minh đã bổ sung cho lý luận của các ông bằng cách nhìn từ phía các dân tộc bị áp bức và Người kết tội chủ nghĩa đế quốc và chế độ thuộc địa bởi sự tàn bạo của nó bằng hình ảnh con đỉa hai vòi, Người nói: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở
Trang 39chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi.” [39,298]
1.1.3 Truyền thống quê hương, gia đình và những phẩm chất, đạo đức riêng có của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh, lúc nhỏ tên Nguyễn Sinh Cung, sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một vùng quê vừa giàu truyền thống văn hóa, vừa giàu truyền thống lao động và đấu tranh chống ngoại xâm Ở tuổi ấu thơ của mình, Hồ Chí Minh là một học trò thông minh chăm học, thích tìm hiểu những điều mới lạ, được khai tâm bằng chữ Hán, Người ham đọc thơ ca yêu nước, thích nghe những câu chuyện
về anh hùng dân tộc Những câu chuyện về thời cuộc thông qua sự giáo dục của người cha là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, ảnh hưởng bởi bản tính nhân hậu của thân mẫu Hoàng Thị Loan, tinh thần cách mạng của chị gái Nguyễn Thị Thanh và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm
Tất cả, đã nuôi dưỡng những tình cảm ban đầu của Hồ Chí Minh đó là lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, kính trọng người già, thương yêu và giúp
đỡ mọi người, căm ghét sự bất công và tàn bạo
Khi lớn lên, Người theo cha vào kinh thành Huế, theo học ở trường tiểu học Đông Ba và Quốc học Huế, lúc này Người mang tên Nguyễn Tất Thành Tại đây, Người có điều kiện bổ sung vốn kiến thức Nho học một cách có hệ thống và tiếp thu một số kiến thức về văn minh phương Tây Trong những kỳ nghỉ hè Nguyễn Tất Thành được theo cha đi đến một số vùng thuộc miền Trung và miền Bắc Việt Nam Ở đâu, Người cũng thấy thực dân Pháp bóc lột
dã man và đàn áp đồng bào mình, bất bình trước thái độ yếu hèn của triều đình Huế, lại tận mắt chứng kiến sự thất bại liên tiếp của phong trào yêu nước và các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta lúc bấy giờ Từ đây đã hình thành ở người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành hoài bão cứu nước
Trang 40Với nhãn quan chính trị sắc sảo, Nguyễn Tất Thành thấu hiểu được sức mạnh của ý chí độc lập tự cường dân tộc, lại bị cuốn hút bởi sự hấp dẫn của
các từ “Tự do, bình đẳng, bác ái” từ các cuộc cách mạng tư sản Pháp, cách
mạng tư sản Mỹ lan truyền đến Việt Nam Người nhận thấy rằng không thể đi theo đường mòn của thế hệ cha ông Tuy rất khâm phục các bậc tiền bối như Phan Bội châu, Phan Chu Trinh, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám… nhưng Hồ Chí Minh đã chọn cho mình một hướng đi hoàn toàn mới, con đường đi đến phương Tây với tinh thần tìm hiểu xem thế giới làm gì rồi trở về giúp đồng bào mình Kế thừa những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, được trang bị những hệ thống tri thức lớn của nhân loại, lại được lăn lộn trong thực tế đấu tranh cách mạng sục sôi của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống
kẻ thù xâm lược và tận mắt chứng kiến thực tiễn khổ đau của hệ thống thuộc địa Á, Phi, Mỹ La tinh; thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản trong các nước
tư bản phát triển; thực tiễn đấu tranh anh dũng, vẻ vang của Cách mạng Tháng Mười Nga, và cuộc khai sinh đầy máu và nước mắt của nhà nước Công nông Trung Hoa trong cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật xâm lược và sự phản bội của Tưởng Giới Thạch, đã hình thành trong Hồ Chí Minh một trái tim nhân hậu, một tấm lòng yêu nước thương dân nồng nàn, một chí khí cách mạng kiên cường, nghị lực phi thường, bản lĩnh chính trị kiên định vượt qua mọi hy sinh, gian khổ vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, đức tính giản dị, khiêm nhường, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Tất cả, tạo nên những phẩm chất, đạo đức riêng có của Hồ Chí Minh, thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Với tư tưởng về đạo đức của Người, đạo đức không chỉ thể hiện sức mạnh của nó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời đại mới, mà nó còn phát huy sức mạnh trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên phạm vi toàn thế giới